1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo nghiên cứu khoa học ''''một số nhận xét về nội dung chương trình phân môn tập đọc lớp 2, lớp 3 và phương pháp dạy học phù hợ''''

12 1,4K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số nhận xét về nội dung chương trình phân môn tập đọc lớp 2, lớp 3 và phương pháp dạy học phù hợp
Tác giả Nguyễn Đình Tuấn
Trường học Đại học Vinh
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 148,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng lý thuyết hội thoại, chúng tôi nêu lên cách dạy phù hợp: Dạy đọc cho học sinh luôn gắn với ngữ cảnh; với nhân vật giao tiếp; với nội dung nghĩa của phát ngôn.. Nội dung dạy Tập

Trang 1

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007 Một số nhận xét về nội dung chương trình phân môn Tập

đọc lớp 2, lớp 3 và phương pháp dạy học phù hợp

Nguyễn Đình Tuấn (a) Tóm tắt Bài viết này đi sâu tìm hiểu nội dung chương trình phân môn Tập đọc (ở sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 và lớp 3), trong đó có văn bản hội thoại Vận dụng

lý thuyết hội thoại, chúng tôi nêu lên cách dạy phù hợp: Dạy đọc cho học sinh luôn gắn với ngữ cảnh; với nhân vật giao tiếp; với nội dung nghĩa của phát ngôn

1 Đặt vấn đề

Tập đọc là một trong những phân

môn có vị trí quan trọng trong việc dạy

tiếng Việt ở trường tiểu học, nó thể hiện

tính tích hợp cao trong rèn luyện các kỹ

năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh

Tập đọc cùng với các phân môn như:

Học vần, Tập viết là nhóm phân môn

khởi đầu giúp học sinh biết đọc, biết

viết để học tập tiếng Việt cũng như các

môn học khác, nhằm chiếm lĩnh kho

tàng tri thức trong nhà trường và tri

thức của nhân loại nói chung Chính vì

vậy, việc quan tâm đến nội dung

chương trình cũng như đề ra phương

pháp dạy học môn Tập đọc là một yêu

cầu đặt ra hết sức cấp bách

2 Nhận xét chung về nội dung

chương trình

2.1 Nguyên tắc chỉ đạo

Các nguyên tắc chỉ đạo việc soạn

thảo chương trình và sách giáo khoa là

nguyên tắc giao tiếp, nguyên tắc tích

cực hoá hoạt động của học sinh, tận

dụng những kinh nghiệm sử dụng

tiếng Việt của học sinh, nguyên tắc

tích hợp, đặc biệt chú ý kết hợp dạy

tiếng Việt với dạy văn hoá và văn học

Nội dung dạy Tập đọc theo quan điểm

giao tiếp trong SGK tiếng Việt lớp 2,

lớp 3 được thể hiện ở sự đa dạng của

các loại hình văn bản: truyện kể, thơ, văn bản miêu tả, văn bản khoa học, văn bản báo chí, văn bản giao dịch thông thường Sự đa dạng của các loại văn bản tạo điều kiện cho học sinh

được tiếp xúc với nhiều mảng hiện thực, mở rộng hiểu biết về cuộc sống,

đồng thời cũng giúp các em làm quen với nhiều phong cách tạo lập văn bản, ứng dụng được những kiểu văn bản trong thực hành giao tiếp Trong cuộc sống hàng ngày, người ta không chỉ đọc các tác phẩm văn học mà còn phải đọc nhiều loại văn bản khác, vì vậy sự có mặt của nhiều loại văn bản đọc trong phân môn Tập đọc là một yêu cầu cần thiết Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tập đọc còn được thể hiện ngay trong từng bài đọc, đó là sự xuất hiện khá nhiều văn bản đọc có lời thoại Trong giờ Tập đọc, học sinh chủ yếu luyện đọc trơn, đọc hiểu và cả tập nói, nghe Việc thực hiện yêu cầu đọc hiểu còn ở mức độ thấp Học sinh học xong bài cần nhớ nội dung vừa đọc và

kể lại, thuật lại nội dung đó Với một số bài có yêu cầu các em hiểu đựơc ý nghĩa hiển ngôn của văn bản

2.2 Nội dung chương trình

ở lớp 2, mỗi tuần có 4 tiết Tập đọc Sách giáo khoa chia làm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị được thực hiện trong 2 tuần, Nhận bài ngày 03/12/2006 Sửa chữa xong 01/2/2007

Trang 2

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

được sắp xếp như sau:

Tuần 1: Một truyện kể (2 tiết)

Một văn bản thông thường (1

tiết)

Một văn bản thơ (1 tiết)

Tuần 2: Một truyện kể (2 tiết)

Một văn bản miêu tả (1 tiết)

Một truyện vui (1 tiết)

ở lớp 3, mỗi tuần có khoảng 3,5 tiết

Tập đọc (mỗi tuần có một bài 2 tiết

chung với kể chuyện) Phần Tập đọc

trong mỗi đơn vị học được sắp xếp như

sau:

Tuần 1: Một truyện kể ≈ 1,5 tiết

Một văn bản thơ = 1 tiết

Một văn bản thông thương = 1

tiết

Tuần 2: Một truyện kể ≈ 1,5 tiết

Một văn bản thơ = 1 tiết

Một văn bản miêu tả = 1 tiết

2.3 Nhận xét về các văn bản đọc có

lời thoại trong sách giáo khoa tiếng Việt

lớp 2, lớp 3

2.3.1 Nhận xét chung về thể loại

văn bản

Qua khảo sát, chúng tôi thấy thể

loại văn bản ở lớp 2, lớp 3 có những đặc

điểm sau:

a Thời lượng dành cho việc học

đọc các văn bản là văn xuôi nhiều hơn

thơ Trong văn bản văn xuôi bài đọc có

lời thoại chiếm tỉ lệ khá lớn, ở lớp 2 cao

hơn lớp 3: ở lớp 2 là 59,1% và ở lớp 3 là

41,38% Văn bản đọc có lời thoại gồm các

thể loại: truyện, báo chí, tản văn

Truyện bao gồm những câu

chuyện nguyên bản hoặc những trích

đoạn tác phẩm (có thể điều chỉnh chút

ít cho phù hợp với dung lượng của tiết

học và yêu cầu rèn luyện kỹ năng tiếng

Việt cho học sinh), truyện thường có cốt

truyện, nhân vật Truyện bao gồm truyện cổ dân gian (trong và ngoài nước), truyện dân gian do các nhà văn sáng tác dành riêng cho trẻ em sau này, trong đó có cả truyện đồng thoại - một thể loại mang những đặc điểm hình thức khá giống truyện ngụ ngôn

Báo chí (còn gọi là văn bản truyền thông) được dùng với mục đích thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức Tuy nhiên, ở lớp 2, lớp 3, văn bản báo được sử dụng chủ yếu với mục đích phổ biến kiến thức Văn bản báo chí có lời thoại như Một trường Tiểu học vùng cao; Người con của Tây Nguyên

Tản văn (được phân biệt với truyện ở mức độ và dung lượng thể hiện) là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả, khắc hoạ nhân vật, không nhất thiết có cốt truyện, nhân vật hoàn chỉnh Mục đích của tản văn là tái hiện

đựơc các nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ của tác giả Đây chính là cơ

sở để coi các bài văn miêu tả, văn xuôi trữ tình, được sử dụng trong SGK là tản văn Khi dạy đọc các văn bản này, giáo viên cần giúp học sinh cảm thụ

được giá trị nội dung và nghệ thuật của chúng

b Hầu hết các văn bản có lời thoại là những văn bản có cốt truyện, có nhân vật Một số kiểu câu hội thoại thông thường đều được các nhân vật trong bài đọc dùng để giao tiếp Đây chính là một lợi thế để các em vận dụng vào giao tiếp hàng ngày trong môi trường hoạt động lứa tuổi

c Hầu hết các văn bản đều có yêu cầu về kỹ năng đọc thành tiếng rõ

Trang 3

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

ràng, rành mạch, thể hiện đúng tình

cảm, thái độ của nhân vật, các tình tiết,

hình ảnh trong tất cả bài đọc Tất

nhiên, trong các bài đọc có lời thoại, yêu

cầu này được thể hiện rõ nét hơn Đồng

thời trong các bài đọc có lời thoại, tính

tích hợp liên phân môn trong rèn luyện

các kỹ năng cho học sinh cũng được bộc

lộ nhiều hơn Và cũng qua các bài đọc có

lời thoại, các em được rèn luyện kỹ năng

đọc diễn cảm tốt hơn, đọc phân vai tốt

hơn

d Các câu hỏi tìm hiểu bài trong

SGK cũng đã định hướng và giúp các

em tìm hiểu nhân vật, cốt truyện của

bài Đặc biệt, việc tìm hiểu các truyện

vui giúp các em rèn luyện óc tưởng

tượng, khiếu hài hước ở lớp 2 hầu hết

các chủ điểm đều có truyện vui

e Các bài đọc có lời thoại trong

phân môn Tập đọc lớp 2, lớp 3 thể hiện

tính uyển chuyển, linh hoạt thích hợp

với nhu cầu và tâm lí lứa tuổi tiểu học

Bên cạnh kênh chữ, SGK môn tiếng

Việt nói chung và phân môn Tập đọc

nói riêng rất quan tâm đến vai trò của

kênh hình Để tăng tính hấp dẫn, kênh

hình được lựa chọn vừa hàm chứa nội

dung bài, vừa mang dấu ấn ngộ nghĩnh

của tuổi thơ Điều này tạo hứng thú

hơn khi các em học Tập đọc nói riêng

và tiếng Việt nói chung

2.3.2 Nhận xét về kiểu câu

trong các bài đọc có lời thoại ở lớp 2, lớp

3

Trong các văn bản đọc có lời

thoại ở lớp 2 và lớp 3, các kiểu câu hội

thoại được dùng khá đa dạng và phong

phú Nhóm câu tường thuật (trong đó

gồm cả câu khẳng định và câu phủ

định) chiếm tỉ lệ khoảng 49,81%; tiếp

theo là nhóm câu hỏi chiếm 16,24%; nhóm câu cầu khiến khoảng 14,98%; nhóm câu cảm thán khoảng 12,65%; nhóm câu khác khoảng 4,86% Vì vậy,

ở phần nội dung chính của bài viết này, chúng tôi đi sâu phân tích hai nhóm câu hỏi và câu cầu khiến (thể hiện rõ nhất đặc điểm lời thoại nhân vật) và

đưa ra phương pháp dạy phù hợp 2.3.3 Nhận xét về nhân vật, ngữ cảnh và nội dung trong các bài đọc có lời thoại ở lớp 2, lớp 3

a Về thế giới nhân vật Trong văn bản có lời thoại ở lớp

2, lớp 3, ta bắt gặp thế giới nhân vật khá đa dạng: nhân vật là những người thật, hay được hư cấu, hoặc là những loài vật được nhân hoá

Về nhân vật thật, nhân vật xuất hiện nhiều nhất là các em thiếu nhi, học sinh, ông, bà, bố, mẹ Tiếp đó, ta bắt gặp nhân vật là thường dân, viên quan,

ông vua, người làm đồ chơi, bác bán kính, nhà bác học, bác sĩ Tiếp theo, hình ảnh Bác Hồ, anh bộ đội cũng là các nhân vật có trong các văn bản đọc

Về thế giới nhân vật thần linh,

ta bắt gặp các vị thần: Thần Chết, Thần

Đêm tối, Thần Gió, Thượng đế…

Về thế giới các loài vật được nhân hoá, ta bắt gặp: Hoa Giấy, Mít, Chồn, Gà Rừng, Cò, Cuốc, Sói, Ngựa, Lừa, Khỉ, Tôm, Cá, Cây cối,…

Về nhân vật là các sự vật, hiện tượng được nhân hoá ta bắt gặp: Đất,

Hồ Nước, mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông,…

Sự đa dạng của thế giới nhân vật

đã đưa các em vào một thế giới muôn màu, muôn vẻ, sống động và lí thú

Điều này tạo cho học sinh hứng thú học tập cao

Trang 4

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

b Về ngữ cảnh

Ngữ cảnh là không gian-thời

gian trong đó lời thoại nhân vật được

thể hiện Ngữ cảnh mà các kiểu câu hội

thoại thường xuất hiện trong văn bản ở

lớp 2, lớp 3 cũng hết sức phong phú Sự

phong phù này là do: a/ sự xuất hiện

của khá nhiều thể loại văn bản, b/ sự đa

dạng về thế giới nhân vật Chẳng hạn

như vua, quan thì thời gian để lời thoại

xuất hiện phải là ngày xưa, trong Triều

đình; Thượng đế thì gắn với Thiên đình;

Cá, Tôm phải dưới nước; ông bà, bố, mẹ

thì trong gia đình… Tuy vậy, ngữ cảnh

mà các kiểu câu hội thoại diễn ra nhiều

hơn cả là: Gia đình, nhà trường, thế giới

cư trú của loài vật

d Về nội dung

Nội dung mà các nhân vật

thường đề cập đến là những vấn đề thật

đơn giản, có ý nghĩa giáo dục Do đặc

điểm tâm sinh lí, nhận thức của học

sinh tiểu học mà các tác giả biên soạn

sách giáo khoa xây dựng theo hai trục

chủ điểm và kỹ năng Trục kĩ năng

thường gắn với yêu cầu cụ thể của mỗi

bài Còn chủ điểm là những nội dung

xung quanh cuộc sống, hoạt động lứa

tuổi của các em Thông qua các bài đọc,

các nhân vật trong sách giáo khoa tiếng

Việt lớp 2, lớp 3 nói chung và trong văn

bản đọc có lời thoại nói riêng nhằm giáo

dục tình cảm gia đình gắn bó, giáo dục

tình yêu quê hương đất nước, mở rộng

hiểu biết cho các em về thế giới xung

quanh…

Tóm lại, chương trình tiếng Việt

lớp 2, lớp 3 nhằm đáp ứng mục tiêu rèn

luyện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết

cho học sinh tiểu học Mục tiêu rèn

luyện kỹ năng đọc đã được tập trung

dạy với nhiều loại văn bản đọc đa dạng, phong phú về nội dung và thể loại, tạo

được nhu cầu và hứng thú học tập cho học sinh Chương trình này cũng coi trọng vai trò của viêc thực hành giao tiếp trong dạy học Tập đọc Đây chính

là cơ sở để phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt nói chung và phát triển kỹ năng đọc cho học sinh tiểu học nói riêng Trên cơ sở thực tiễn đã khảo sát, phân tích chương trình và yêu cầu dạy học của phân môn Tập đọc, chúng tôi đề xuất phương pháp dạy học đối với các văn bản có lời thoại

3 Vận dụng lý thuyết hội thoại

để dạy Tập đọc cho học sinh lớp 2, lớp 3 theo các nhân tố hữu quan 3.1 Dạy đọc câu hội thoại trong văn bản phải tính đến đặc điểm nhận thức của học sinh

a Đặc điểm tâm sinh lí: Các nhà tâm lí học đã nghiên cứu và chỉ ra một

số đặc điểm tâm sinh lí ảnh hưởng đến việc học tiếng mẹ đẻ của trẻ nhỏ:

- Giai đoạn thứ nhất là trẻ ở độ tuổi

6 đến 9 hoặc 10 tuổi tương ứng với trẻ ở các lớp 1, 2, 3 Giai đoạn này tri giác của các em còn đậm tính cảm xúc, số lượng chi tiết và tri giác ít Trẻ thường

bị thu hút bởi các chi tiết ngẫu nhiên, khả năng tổng hợp, quan sát kém Hoạt

động phân tích, tổng hợp về hình thức cũng như nội dung còn mang tính trực quan rất rõ rệt Trong hoạt động khái quát hoá, các em thường căn cứ vào các dấu hiệu bề ngoài cụ thể, chứ chưa lưu

ý tới dấu hiệu chung, bản chất,… các

em thường phán đoán theo một chiều, dựa vào dấu hiệu duy nhất Tuy nhiên,

ở lứa tuổi này, các em đã có nhu cầu khám phá thế giới xung quanh, nhu cầu

Trang 5

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

được thể hiện mình Để thoả mãn nhu

cầu ấy phải thông qua giao tiếp Thông

qua các cuộc thoại với bạn bè, với thầy

cô, với người lớn mà dần các em khám

phá ra thế giới của mình Bởi vậy, ngay

từ giai đoạn đầu các em phải được cung

cấp các nghi thức lời nói để các em

tham gia vào môi trường giao tiếp theo

lứa tuổi Câu là đơn vị tối thiểu để tham

gia giao tiếp Do đặc điểm tâm sinh lí

mà việc dạy câu hội thoại chỉ nên dừng

ở những kiểu câu đơn giản (có trọng

điểm hỏi, yêu cầu, đề nghị rõ ràng,

ngắn gọn), gắn với những tình huống,

ngữ cảnh, nhân vật cụ thể Đồng thời

các em phải được thực hành nhiều

- Giai đoạn thứ hai là trẻ ở lứa tuổi

từ 10 đến 11 hoặc 12 tuổi, tương ứng với

trẻ ở các lớp 4, 5 Trẻ ở giai đoạn này đã

biết tìm các dấu hiệu đặc trưng cho sự

vật, biết phân biệt các sắc thái của chi

tiết để đi đến so sánh, tổng hợp Trẻ đã

có khả năng tri giác sự vật như một

chỉnh thể, có tính mục đích và phương

hướng rõ ràng Khi khái quát các em đã

bắt đầu biết dựa vào dấu hiệu bản chất

bên trong, những dấu hiệu chung để

tìm ra khái niệm, qui luật Các em đã

nhìn thấy một sự vật có thể diễn biến

theo nhiều hình thức, một hiện tượng co

thể có nhiều nguyên nhân Các em có

khả năng lập luận phán đoán của mình

Trong bài viết này chúng tôi chỉ

tập trung chú ý vào đặc điểm tâm sinh

lí của trẻ ở giai đoạn thứ nhất, tương

ứng với học sinh lớp 1, 2, 3

b Đặc điểm vốn ngôn ngữ của học

sinh lớp 2, lớp 3

Như chúng ta đã biết tiếng Việt đối

với học sinh tiểu học không chỉ là môn

học cung cấp tri thức mà nó còn là

phương tiện để nhận thức Từ khi lọt lòng mẹ trẻ đã biết giao tiếp với mẹ của chúng và những người xung quanh bằng các cử chỉ, hành động Dần dần trẻ

được học nói cũng thông qua giao tiếp với mẹ và những người xung quanh Và như vậy tiếng Việt đã được trẻ lĩnh hội

từ trước tuổi đến trường Trẻ đã biết nói câu đầy đủ để mọi người hiểu, đã biết cách hô gọi thông thường Song đó chỉ là cách học tự phát Trước khi trẻ được vào lớp 1 thì ở trường mầm non trẻ được hoà vào cuộc sống lứa tuổi và có sự chỉ bảo của cô giáo Vì vậy, vốn ngôn ngữ của các em cũng được rèn giũa trong sáng hơn qua từng câu nói Tuy nhiên, chỉ khi được vào học ở trường tiểu học trẻ mới được học tiếng Việt một cách chính qui

Như vậy, khi lên đến lớp 2, lớp 3 thì trẻ đã có một trình độ ngôn ngữ nhất định, trình độ hiểu biết về câu của học sinh đã phong phú hơn Mặc dù vậy, trẻ cũng mới chỉ biết dùng các câu

đơn giản như câu có trạng ngữ chỉ địa

điểm (trên, dưới, trong, ngoài…) hay câu có trạng ngữ chỉ thời gian (sáng, trưa, chiều, tối, hôm nay, ngày mai, hôm qua…) mà ít dùng câu có trạng ngữ chỉ mục đích (vì, để,…), chỉ điều kiện (nếu, giá, giá mà,…), chỉ nguyên nhân (do, vì, bởi…) Nhưng một điều khá thú vị là về mặt ngữ pháp, trẻ ở lứa tuổi 7 - 8 tuổi có thể liên kết được nhiều câu và đã biết sử dụng cả câu tỉnh lược Qua những phân tích trên, ta thấy trình độ ngôn ngữ của học sinh lớp 2, lớp 3 đã phát triển và các em có đủ khả năng để lĩnh hội tri thức về tiếng Việt

mà nhà trường cung cấp, trong đó có cả vấn đề về hội thoại Điều đó cho phép

Trang 6

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

giáo viên có thể thiết kế, tổ chức giờ học

Tập đọc theo hướng hội thoại để dạy

câu hội thoại

3.2 Dạy đọc câu hội thoại trong

văn bản phải gắn với ngữ cảnh

Có thể nói, ngữ cảnh là nhân tố

chung chi phối nội dung, thái độ, cảm

xúc của lời thoại nhân vật, vì vậy, có

thể xem đây là nhân tố cơ bản bao trùm

lên toàn bộ văn bản, đưa đến cách đọc

khác nhau

Không gian, thời gian chính là ngữ

cảnh của hoạt động giao tiếp khi có hai

(hoặc hơn hai) người giao tiếp với nhau

Cuộc giao tiếp đó có thể chỉ có dạng một

cặp thoại, một tham thoại (trường hợp

lời đáp là một sự im lặng) hoặc lớn hơn

thì nó cũng phải diễn ra trong một

không gian, thời gian nhất định

Không gian hội thoại thường là

không gian sinh tồn gắn với mỗi thời

đại mà cá nhân đó sinh sống Không

gian có thể là khoảng rộng lớn như:

rừng núi (Bác sĩ Sói, TV2, T2, tr.44;

Bảo vệ như thế là rất tốt, TV2, T2,

tr.113; Voi nhà, TV2, T2, tr.56;…),

thành thị (Người làm đồ chơi, TV2, T2,

tr.33; Nắng phương Nam, TV3, T1,

tr.94;…)… có thể là một khoảng nhỏ

hẹp như: bến xe (Nhà bác học và bà cụ,

TV3, T2, tr.31); trường, lớp học (Chiếc

bút mực, TV2, T1; Bím tóc đuôi Sam,

TV2, T1; Mẫu giấy vụn, TV2, T1…);

nhà riêng (Câu chuyện bó đũa, TV2, T1;

Bán chó, TV2, T1)… Chính cái không

gian này chi phối nhân vật sử dụng vốn

từ ngữ, cách vào đề, cách nói chuyện,

nội dung, cách giải quyết,…

(1) Trong bài “Người liên lạc nhỏ”

(TV3, T1)

Nghe đằng trước có tiếng hỏi:

- Bé con đi đâu thế?

Kim Đồng nói:

- Đón thầy mo về cúng cho mẹ

ốm

Từ “thầy mo” cho ta thấy không gian hội thoại ở đây là vùng miến núi phía Bắc Vì dân tộc Tày có thầy mo chữa bệnh bằng cách cúng bái Câu hỏi với thái độ trịch thượng, nên người hỏi nhận được câu đáp trống không Câu trao đọc với giọng trịch thượng, hống hách Câu đáp lại đọc sẵng giọng, láu lỉnh

(2) Trong bài Cậu bé thông minh (TV3, T1)

Vua cho gọi vào, hỏi:

- Cậu bé kia, sao dám đến đây làm

ầm ĩ?

- Muôn tâu Đức Vua - cậu bé đáp -

bố con mới đẻ em bé, bắt con đi xin sữa cho em Con không xin được, liền bị

đuổi đi

Từ “Đức Vua” cho ta biết không gian giao tiếp ở trong Triều đình ngày xưa và rất nghiêm nghị Câu trao đọc giọng trách móc, lớn tiếng, oai nghiêm Câu đáp giọng kính trọng, khiêm nhường của bầy tôi Về thời gian hội thoại thì có thể là thời gian hồi tưởng hoặc thời gian đồng hiện Thời gian hồi tưởng là thời gian là nhân vật tái hiện qua hồi ức hay sự hồi tưởng

(3) Trong bài Người thầy cũ (TV3, T1, tr.56)

Chú liền nói:

- Thưa thầy, em là Khánh, đứa học trò năm nào trèo cửa sổ bị thầy phạt

đấy ạ!

Thầy giáo cười vui vẻ:

Trang 7

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

- à, Khánh Thầy nhớ ra rồi

Nhưng… hình như hôm ấy thầy có phạt

em đâu!

Người học trò đã gợi cho thầy giáo

về một quãng thời gian trong quá khứ,

nó được thể hiện qua từ “hôm ấy”

Giọng câu trao kể lể, hồi tưởng Giọng

câu đáp ngập ngừng, thắc mắc

Thời gian đồng hiện là thời gian mà

lời nhân vật được hiện thực hoá trong

đó, hay nói cách khác, thời gian đồng

hiện là những khoảng thời gian cụ thể

để các hành động ngôn ngữ diễn ra

trong đó, cho phép câu nói đó có tính

hiện thực hay không hiện thực, đúng

hay sai Như vậy bất kì câu thoại nào

cũng đều có thời gian đồng hiện của nó

Tương ứng với mỗi không gian thì

có những cách đọc khác nhau: Không

gian là nhà riêng thì giọng đọc trầm

ấm, thân mật; không gian là lớp học, với

bạn bè thì giọng đọc suồng sã, thân

thiết, với thầy cô thì giọng đọc nghiêm

nghị, kính trọng; không gian là quán

ăn, bến xe thì giọng đọc bình dân, mộc

mạc

Như vậy, khi dạy câu hội thoại cho

học sinh giáo viên cần tính đến ngữ

cảnh của câu thoại, từ đó mới xác định

được ý đồ nghệ thuật của tác giả và làm

cho học sinh hiểu đúng nghĩa của từng

câu thoại mà nhân vật thể hiện trong

văn bản, đồng thời giúp học sinh vận

dụng chính xác vào các tính huống giao

tiếp thường nhật của bản thân Đặc biệt

chỉ khi dựa vào ngữ cảnh mới có thể

nhận diện được nghĩa hàm ngôn của

câu Và cũng chỉ có như vậy, giáo viên

mới có thể hướng dẫn học sinh đọc đúng

và diễn cảm được

3.3 Dạy đọc câu hội thoại trong văn bản gắn với vai giao tiếp cụ thể 3.3.1 Dạy đọc câu hội thoại trong văn bản cần lưu ý đến giới tính, nghề nghiệp, tuổi tác, vị thế phát ngôn của các vai giao tiếp

Nói đến hội thoại là nói đến vai giao tiếp Vai giao tiếp được thể hiện qua các nhân vật cụ thể Mỗi một vai giao tiếp thường có vị thế xã hội khác nhau, nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, chức vị khác nhau Vì thế cần có những cách đọc khác nhau cho mỗi nhân vật tuỳ theo các đặc điểm trên

(4) Thấy con gái nói vậy, mẹ bối rối:

- Cái áo của Hoà đắt bằng tiền cả hai cái áo của anh em con đấy

Lan phụng phịu:

- Nhưng con chỉ muốn một chiếc áo như thế thôi

Một lúc lâu, bỗng em nghe tiếng anh Tuấn thì thào với mẹ:

- Mẹ ơi, mẹ dành hết tiền mua cái

áo ấy cho em Lan đi Con không cần thêm áo đâu

Giọng mẹ trầm xuống:

- Năm nay trời lạnh lắm Không có

áo ấm con sẽ ốm mất

(Chiếc áo len, TV3, T1, tr 20) Trong các cặp thoại trên có ba vai tham gia hội thoại: mẹ, con trai và con gái Khi tổ chức cho học sinh đọc giáo viên phân vai nam thì bạn nam đọc, vai nữ thì bạn nữ đọc Còn nếu một em đọc cho tất cả các vai thì giọng mẹ trầm, bối rối, nghẹn ngào Chuyển sang giọng con gái thì nhõng nhẽo, vô tư Giọng con trai thì đọc với giọng thủ thỉ, thân mật (5) Một em giơ tay xin nói:

- Thưa Bác, ai ngoan thì được ăn kẹo,

ai không ngoan thì không được ạ!

Trang 8

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

- Các cháu có đồng ý không?

- Đồng ý ạ!

(Ai ngoan sẽ được thưởng, TV2, T2)

Các vai tham gia hội thoại trong ví

dụ này khác nhau về tuổi tác Giọng

người già (Bác Hồ) đọc giọng trầm,

chậm rãi Giọng đọc người nhỏ tuổi (các

cháu nhi đồng) nhanh nhảu, nhí nhảnh,

cao giọng

Mỗi câu hội thoại trong hội thoại

thì luôn gắn với một nhân vật cụ thể

Đó có thể là người lớn, trẻ em, cụ già,

ông vua, viên tướng, anh lính, bác sĩ,

nhà khoa học hoặc đồ vật, sư vật được

nhân hoá,… Thông thường nó tạo ra các

cặp từ xưng hô gắn với nhân vật như:

anh/ em, ông/ cháu, bố/ con, vua/ tôi,

bạn/ tôi… Khi dạy câu hội thoại cho

học sinh tức là hướng học sinh tham gia

vào quá trình giao tiếp thì không thể bỏ

qua được nhân vật hội thoại Vì đây là

nhân vật có khả năng:

a Đưa ra nội dung lời thoại

(6) - Bác đừng về Bác ở đây làm đồ

chơi bán cho chúng cháu

- Nhưng độ này chả mấy ai mua

đồ chơi của bác nữa

(Người làm đồ chơi, TV2, T2, tr.133)

Hai nhân vật bác/ cháu đã đưa ra

nội dung câu thoại Nhân vật cháu đưa

ra nội dung đề nghị ở lời trao, nhân vật

bác đưa ra nội dung phủ định lời đề

nghị ở lời đáp Giọng của người trao là

của em thiếu nhi nên đọc cao giọng,

giọng thể hiện được sự khẩn khoản bày

tỏ lời đề nghị Giọng của người đáp là

một người đứng tuổi giọng trầm, hơi

thấp có thoáng chút buồn trong nội

dung phủ định của mình

b Chọn từ xưng hô phù hợp, đặt

mình trong mối quan hệ trao đáp qua

lại, tự định vị vị thế phát ngôn của mình với nhân vật hội thoại

(7) Em nhấc ống nghe lên, áp một

đầu vào tai:

- Alô! Cháu là Tường, con mẹ Bình nghe đây ạ

Trong ống nghe vang lên một nụ cười quen thuộc:

- Chào con Bố đây mà Hai mẹ con

có khoẻ không?

Tường mừng quýnh lên

- Con chào bố Con khoẻ lắm Mẹ… cũng… Bố thế nào ạ? Bao giờ bố về?

(Điện thoại, TV2, T1, tr 98) Lúc đầu do chưa biết được vị thế của mình nên nhân vật Tường đã xưng

là cháu, còn nhân vật bố đã biết vị thế của mình nên xưng là bố ngay Và khi biết được vị thế của mình nhân vật Tường đã quy chiếu lại để xưng hô là con cho phù hợp Giọng đọc lúc đầu của người con thì trình trọng, nghiêm túc, sau đó đọc giọng thân thiết, cởi mở, vui mừng Giọng đọc lời thoại của bố thì ân cần, thân mật

c Xử lí các tình huống hội thoại, lựa chọn chiến lược giao tiếp, đánh giá, tiếp nhận hiệu quả giao tiếp và đồng thời nhân vật hội thoại cũng là chủ thể nhận thức, chủ thể hành động nên có những diễn biến tâm lí trong quá trình hội thoại dẫn đến thay đổi từ xưng hô, thay đổi hành vi ngôn ngữ

(8) Khỉ ngạc nhiên:

- Bạn là ai? Vì sao bạn khóc?

- Tôi là Cá Sấu Tôi khóc vì chả ai chơi với tôi

Bơi đã xa bờ, Cá Sấu mới bảo:

- Vua của chúng tôi ốm nặng, phải

ăn một quả tim khỉ mới khỏi Tôi cần quả tim của bạn

Trang 9

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

Khỉ nghe vậy hết sức hoảng sợ

Nhưng rồi trấn tĩnh lại, nó bảo:

- Chuyện quan trọng vậy mà bạn

chẳng bảo trước Quả tim tôi để ở nhà

Mau đưa tôi về, tôi sẽ lấy tim dâng lên

vua của bạn

Tới nơi, Khỉ đu vút lên cành cây,

mắng:

- Con vật bội bạc kia! Đi đi! Chẳng

ai thèm kết bạn với những kẻ giả dối

như mi đâu

(Quả tim khỉ, TV2, T2, tr.50)

Ban đầu vì muốn kết bạn (tạo lập

quan hệ) nên cả Khỉ và Cá Sấu đều

chọn từ xưng hô là bạn/ tôi Trong cặp

thoại này đọc giọng của Khỉ chân

thành, ôn tồn, đọc giọng của Cá Sấu

phụng phịu giả vờ Sau đó Khỉ biết được

âm mưu của Cá Sấu, nhưng đang ở thế

nguy hiểm nên Khỉ phải chọn chiến lược

giao tiếp mềm mỏng và giả vờ tin Cá Sấu

để nhằm thoát hiểm Trong cặp thoại này

đọc giọng của Cá Sấu trơ tráo, cao giọng,

đọc giọng của Khỉ vẫn ân cần, thân thiết,

tự tin Khi đã thoát hiểm, Khỉ không còn

xưng hô bạn/ tôi nữa và lúc này Khỉ

đang ở trạng thái tâm lí tức giận nên đã

chửi mắng Cá Sấu và gọi nhân vật giao

tiếp với mình là “con vật” và “mi” để thể

hiện sự khinh bỉ, câu thoại này đọc với

giọng mắng mỏ, bực tức, cao giọng

3.3.2 Dạy đọc câu hội thoại cần

tính đến yếu tố thái độ, tình cảm, cảm

xúc của người giao tiếp

Khi nhân vật đưa ra lời hội thoại,

họ không chỉ sử dụng các từ mang

nghĩa từ vựng (nghĩa miêu tả) mà còn

cả những từ mang nghĩa tình thái thể

hiện cảm xúc, thái độ đối với hiện thực

Thái độ, tình cảm, cảm xúc của nhân

vật tham gia hội thoại là rất khác nhau:

bực tức, vui vẻ, ngọt nhạt, lấp lửng, dịu dàng, ân cần, cởi mở, hách dịch, trịch thượng, kẻ cả bề trên, Lớp từ tình thái trong lời nhân vật ta bắt gặp khá nhiều chẳng hạn: ơi, à, ư, nhỉ, hả, hở, nhỉ, nhé, nhá

Thái độ, tình cảm, cảm xúc của các nhân vật tham gia hội thoại là khác nhau nên cách đọc lời nhân vật cũng khác nhau Nếu thái độ, tình cảm của nhân vật có biểu hiện dịu dàng thì giọng đọc phải nhẹ nhàng Nếu nhân vật có tình cảm sâu sắc thì không thể

đọc với giọng mạnh mẽ, dồn dập Nếu nhân vật có thái độ bực tức thì cần phải

đọc cao giọng, gay gắt mà không đọc hạ giọng, đều đều và nhẹ nhàng; nếu nhân vật có thái độ thái độ lấp lửng thì cần phải đọc giọng ngập ngừng; nếu nhân vật có thái độ đay nghiến thì phải đọc kéo dài, đay đả Nếu nhân vật có thái

độ chê bài thì cần phải đọc kéo dài giọng, nhấn giọng Nếu nhân vật có thái

độ buồn rầu thì cần phải đọc kéo dài giọng, hơ chậm với vẻ mặt buồn phù hợp với giọng nói

(9) Sói đến gần Ngựa, giả giọng hiền lành, bảo:

- Bên xóm mời ta sang khám bệnh

Ta đi ngang qua đây, nếu cậu có bệnh,

ta chữa giúp cho

Ngựa lễ phép:

- Cảm ơn bác sĩ Cháu đau chân quá Ông làm ơn chữa giúp cho Hết bao nhiêu tiền, cháu xin chịu

(Bác sĩ Sói, TV2, T2, tr.41)

Đọc giọng của Sói hơi thấp, hơi kéo dài và nhấn ở đại từ “ta” để thể hiện

được sự giả nhân, giả nghĩa Giọng của Ngựa thấp và chậm rãi thể hiện sự lễ phép giả vờ, sự bình tĩnh

Trang 10

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

(10) Gà Rừng thấy nguy quá, bảo

Chồn:

- Cậu có trăm trí khôn, nghĩ kế gì

đi!

Chồn buồn bã:

- Lúc này trong đầu mình chẳng

còn một trí khôn nào cả

(Một trí khôn hơn trăm trí khôn, TV2, T2,

tr.31)

Gà Rừng đang trong trạng thái lo

lắng, bối rối nên người đọc phải đọc

giọng lúng túng, chậm, còn Chồn đang ở

tâm trạng buồn thì cần đọc trầm, chậm

rãi và rầu rỉ

(11) Nha chưa kịp hỏi, ông cụ đã

cất tiếng chào:

- Chú gác ở đây à?

Nha vội nói:

- Cụ cho cháu xem giấy tờ ạ!

Ông cụ vui vẻ bảo:

- Bác đây mà

(Bảo vệ như thế là rất tốt, TV2, T2,

tr.113)

Đối với lời ông cụ (Bác Hồ), thì đọc

giọng vui vẻ, ân cần, vì đây là trạng

thái tình cảm của Bác vào thời điểm

gặp anh lính gác Còn lời Nha (anh lính

gác) thì cần đọc giọng nghiêm nghị,

dứat khoát

Như vậy, yếu tố tình cảm, cảm xúc,

thái độ của lời thoại nhân vật ảnh

hưởng lớn đến việc thể hiện giọng đọc

Bởi vậy khi dạy các lời thoại nhân vật

giáo viên cần lưu ý khai thác

3.3.3 Dạy câu hội thoại trong văn

bản đọc cần lưu ý đến biểu hiện dáng vẻ

bên ngoài của nhân vật

Dáng vẻ bề ngoài của nhân vật

như: khoan thai, ung dung, từ tốn, hấp

tấp, vội vàng có ảnh hưởng đến câu

thoại nên cách đọc cũng khác nhau

(12) Biết Tuốt la lên:

- Tớ nhảy qua con cá chuối bao giờ?

- Nói cho vần thôi! - Mít giải thích

(Mít làm thơ, TV2, T1, tr.36) Lời của Biết Tuốt phải đọc to, mạnh mẽ vì đây là câu “la” Lời của Mít thì phải đọc thấp và chậm rãi vì đây là lời giải thích

(13) Dọc đường, Lừa mang nặng, mệt quá, liền khẩn khoản xin với Ngựa:

- Chị Ngựa ơi! Chúng ta là bạn

đường Chị mang đỡ tôi với, dù chỉ chút

ít thôi cũng được Tôi kiệt sức rồi Ngựa đáp:

- Thôi, việc ai người nấy lo Tôi không giúp chị được đâu

(Lừa và Ngựa, TV3, T1 tr.57) Dáng vẻ của Lừa là mệt mỏi, bởi vậy không thể đọc với giọng cao và vang

được mà phải đọc giọng nặng nhọc, yếu giọng, phều phào Ngựa thì đang khoẻ mạnh nên đọc từ tốn, to, rõ, hơi mạnh Như vậy dáng vẻ bên ngoài thể hiện trạng thái tâm lí, tình cảm của nhân vật vì vậy nó ảnh hưởng không nhỏ đến việc đọc thể hiện câu thoại Do

đó khi đọc cũng như hướng dẫn học sinh

đọc giáo viên cần lưu ý yếu tố này

3.4 Dạy đọc câu hội thoại trong văn bản đọc phải chú ý đến nội dung ngữ nghĩa

Nội dung ngữ nghĩa của câu thoại, chính là các hành vi ngôn ngữ mà nhân vật giao tiếp sử dụng Nó có thể có nhiều hành vi nhưng có thể qui về các nhóm sau:

Đưa ra chất vấn đòi làm sáng tỏ thông tin, cũng như các vấn đề bức xúc của cuộc sống thường nhật (tồn tại ở dạng câu hỏi)

(14) Trung băn khoăn:

Ngày đăng: 29/06/2014, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w