Các chế độ, chính sách về tiền lương và các khoản trích theo lương được nhà nước quy định khung chung, trên cơ sở đó các cơ quan đơn vị, doanh nghiệp tùy theo đặc điểm tổ chức sản xuất k
Trang 2
Lời nói đầu
Trong mọi nền kinh tế, tiền lương là sự cụ thể hóa của quá trình phân phối của cải vật chất do chính người lao động trong xã hội tạo ra Tiền lương có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với người lao động bởi nó là nguồn thu chủ yếu giúp họ bảo đảm được cuộc sống của bản thân và gia đình, vì vậy, tiền lương có thể trở thành động lực để tăng năng suất lao động nếu tiền lương được trả tương xứng và hợp lí với sức lao động bỏ ra
và trong trường hợp ngược lại nó sẽ làm giảm năng suất lao động, trì hoãn sản xuất Do
đó, việc xây dựng thang bảng lương lựa chọn các hình thức trả lương hợp lý để sao cho tiền lương vừa đảm bảo một phần về nhu cầu tinh thần và vật chất cho người lao động và vừa làm cho tiền lương thực sự trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy người lao động làm việc tốt hơn là việc luôn được các nhà quản lý quan tâm Gắn với tiền lương là các khoản trích theo lương gồm BHXH, BHYT và KPCĐ, đây là quỹ xã hội thể hiện sự quan tâm đến nhau giữa các thành viên trong cộng đồng
Các chế độ, chính sách về tiền lương và các khoản trích theo lương được nhà nước quy định khung chung, trên cơ sở đó các cơ quan đơn vị, doanh nghiệp tùy theo đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và tính chất công việc mà vận dụng các chế độ chính sách đó một cách linh hoạt, đúng đắn và có hiệu quả
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trong quá trình thực tập tại Công
ty Cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng em đã quyết định chọn đề tài “Công tác hạch toán
tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng” để viết chuyên đề cuối khóa của mình
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp
Chương 2: Công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng
Chương 3: Những kiến nghị về công tác hạch toán tiền lương và các khoản
Trang 31.1.1 Khái niệm và bản chất kinh tế của tiền lương
Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp đồng thời, cũng là quá trình tiêu hao các yếu tố cơ bản (lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động) Trong đó lao động là hoạt động chân tay và trí óc con người sử dụng các tư liệu lao động nhằm tác động biến đổi các đối tượng lao độngthành các vâth phẩm có ích phục vụ nhu cầu sinh hoạt Để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình sản xuất, trước hết cần phải tái sản xuất sức lao động, nghĩa là lao động mà con người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động Tiền lương (tiền công) chính là phần thù lao lao động được biểu hiện bằng tiền mà doanh ngiệp trả cho người lao động căn cứ vào thời gian, khối lượng và chất lượng công việc của họ Về bản chất, tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động Mặt khác, tiền lương còn là đòn bẩy kinh tế khuyến khích tinh thần hăng hái lao động, kích thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả công việc của họ Nói cách khác, tiền lương chính là nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động
Trang 4
1.1.2 ý nghĩa của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
Hạch toán chính xác lao động, tiền lương và các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp có một ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý Điều đó thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
- Giúp cho công tác quản lý lao động có nề nếp, thúc đẩy công nhân viên chấp hành kỷ luật lao động, tăng năng suất laođộng và hiệu quả công việc Đồng thời tạo
cơ sở cho việc trả lương, trả theo đúng nguyên tắc phân phối lao động
- Giúp cho việc quản lý chặt chẽ quỹ lương, trên cơ sở đó bảo đảm việc chi trả lương và trích các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ theo đúng chế độ quy định
- Giúp cho việc phân tích, đánh giá cơ cấu lao động, cơ cấu tiền lương cũng như hiệu quả sử dụng lao động, hiệu quả sử dụng tiền lương được chính xác
1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
Hạch toán lao động kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương không chỉ liên quan đến quyền lợi của nguời lao độngmà còn liên quan đến chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp liên quan đến tình hình chấp hành các chính sách về lao động tiền lương của nhà nước
Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương phải thực hịên các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổ chức hạch toán đúng thời gian, số lượng, chất lượng và kết quả lao động của người laođộng, tính toán và thanh toán kịp thời tiền lưyơng và các khoản liên quan khác cho người lao động
- Tính toán, phân bổ hợp lí, chính xác chi phí tiền lương,tiền công và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ cho các đối tượng liên quan
- Định kỳ tiến hành phân tích sử dụng lao động, tình hình quản lý và chi tiêu quỹ lương Cung cấp các thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan
1.2 Hình thức tiền lương, quỹ lương và các khoản trích theo lương
1.2.1 Các hình thức trả lương
Tiền lương của người lao động do 2 bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động, nó
Trang 5
theo thời gian làm việc hoặc khối lượng công việc hoàn thành… Kết hợp với chế độ phụ
cấp, tiền lương, tiền ngoài giờ… Việc tính trả chi phí lao động có thể thực hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau tùy theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc
và trình độ quản lý của doanh nghịêp
Trên thực tế, các doanh ngiệp thường áp dụng 2 hình thức trả lương sau:
- Hình thức trả lương theo sản phẩm
- Hình thức trả lương theo thời gian
1.2.1.1 Hình thức tiền lương theo thời gian
Là hình thức trả lương theo thời gian làm việc, cấp bậc và thang bảng lương do
Nhà nước quy định và hợp đồng lao động đối với người lao động
Tiền lương thời gian với đơn giá cố định được gọi là tiền lương thời gian giản đơn
Tiền lương thời gian có thể kết hợp chế độ tiền thưởng để khuyến khích người lao động
hăng hái làm việc, tạo nên thời gian có thưởng
Để áp dụng trả lương theo thời gian doanh nghiệp phải theo dõi ghi chép thời
gian làm việc của người lao động và mức nlương thời gian của họ, dựa vào bảng chấm
công hàng ngày để tính trả lương cho công nhân viên
Các doanh nghiệp chỉ được áp dụng mức lương thời gian cho những công việc
chưa xây dựng được định mức lao động, chưa có đơn giá tiền lương sản phẩm Thường
đựoc áp dụng cho lao động làm công tác văn phòng như hành chính quản trị, thống kê, tổ
chức lao động , tài vụ, kế toán…
Tiền lương thời gian có thể tính theo giờ, theo ngày, theo tháng
Lương tháng : Là tiền lương cố định hàng tháng trên cơ sở những quy định về
chế độ lương của Nhà nước
Lương ngày: Là tiền lương trả cho một ngày làm việc và được xác định bằng
cách lấy tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc trong tháng
Trang 61.2.1.2 Hình thức trả lương theo sản phẩm
Là hình thức trả lương tính theo số lượng, chất lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành đảm bảo yêu cầu chất lượng và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, công việc đó
ưu điểm của hình thức trả lương này là đảm bảo thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, gắn chặt chất lượng lao động với ssố lượng lao động, động viên người lao động sáng tạo, có trách nhiệm cao với công việc Tuy nhiên hình thức này phải tính toán phức tạp, phải xác định mức lao động cụ thể cho từng sản phẩm, từng công việc, cấp bậc
Bởi vậy, Khi áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm, vấn đề quan trọng là phải xây dựng các định miứckỹ thuật để làm cơ sỏ cho việc xây dựng đơn giá lương đối với từng loại sản phẩm, từng công việc một cách hợp lí
Thực tế doanh nghiệp có thể áp dụng các đơn giá sản phẩm khác nhau:
- Tiền lương sản phẩm giản đơn
Trang 7
- Tiền lương sản phẩm lũy tiến
- Tiền lương theo sản phẩm khoán
Trả lương theo sản phẩm giản đơn (Trực tiếp) Công thức:
Tiền lương trả
trong kỳ =
Số lượng sản phẩm đúng quy cách x
Đơn giá tiền lương của một đơn
vị sản phẩm
- Hình thức trả lương này có ưu điểm đơn giản, dễ hiểu quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, đây là hình thức được các doanh nghuệp sử dụng phổ biến khi tính lương cho lao động trực tiếp Tuy nhiên cách trả lương này cũng có hạn chế là đề cao lợi ích cá nhânm không khuyến khích người lao động quan tâm đến lợi ích tập thể
Trả lương theo sản phẩm có thưởng
Là hình thức tiền lương theo sản phẩm giản đơn kết hợp với tiền thưởng khi người lao động đạt những chỉ tiêu mà doanh nghiệp quy định như: Thưởng về chất lượng sản phẩm, thưởng về năng suất lao động, thưởng tiết kiệm vật tư…
Trả lương theo sản phẩm lũy tiến
Theo hình thức này ngoài tiền lương sản phẩm trực tiếp còn căn cứ vào miức độ hoành thành tỷ lệ lũy tiến Mức lũy tiến này còn cóthể quy định bằng hoặc cao hơn định mức sản lượng Những sản phẩm dưới miức khởi điểm lũy tiến được tính theo đơn giá tiền lương chung cố định, những sản phẩm vượt mức càng cao thì suất lũy tiến càng lớn
Lương trả theo sản phẩm lũy tiến có tác dụng kích thích tăng năng suất lao động
và làm tăng khoản mục chi phí nhân công trong giá thành Vì vậy, hình thức này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp phải thực hiện gấp một đơn đặt hàng nào đó, được áp dụng ở những khâu trả lương quan trọng, cần thiết để đẩy nhanh tốc độ sản xuất
Tiền lương theo sản phẩm khoán
- Khoán công việc
- Khoán quỹ lương
+ Khoán công việc: Theo hình thức này, doanh nghiệp quy định miức tiền lương cho mỗi công việc hoặc khối lượng sản phẩm hoàn thành Người lao động căn cứ vào
Trang 8
mức lương này có thể tính được tiền lương của mình thông qua khối lượng công việc mình đã hoàn thành
Công thức tính:
Tiền lương khoán = Mức lương quy định cho từng công việc
Cách trả lương này áp dụng cho những công việc lao động đơn giản cótính chất đột xuất như bốc dĩư hàng hóa, sữa chữa nhà cửa…
+ Khoán quỹ lương: Theo hình thức này, người lao động biết trước được số tiền lương mà họ sẽ nhận sau khihoàn thành công việc và thời gian hoàn thành công việc được giao Căn cứ vào khối lượng công việc hoặc khối lượng sản phẩm Và thời gian cần thiết để hoàn thành mà doanh nghiệp tiến hành khoán quỹ lương
1.2.2 Quỹ tiền lương
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lương tính theo số cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp trực tiếp quản lý và chi trả lương Bao gồm: Tiền lương thời gian tính theo sản phẩm và tiền lương khoán; Tiền lương trả cho người lao động sản xuất ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy định; Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan, trong thời gian điều động công tác làm nghĩa vụ theo chế độ quy định, thời gian nghỉ phép, thời gian đi học; Các loại phụ cấp làm đêm, thêm giờ, phụ cấp độc hại; Các khoản tiền thưởng có tính chất thường xuyên
Trong doanh nghiệp để phục vụ công tác hạch toán tiền lương có thể được chia thành 2 loại: Tiền lương lao động trực tiếp và tiền lương lao động gián tiếp trong đó chi
Trang 91.2.3 Quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ
1.2.3.1 Quỹ BHXH
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi học gặp phải biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sự dụng một quỹ tài chính tập tring do sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội
Quỹ BHXH hình thnàh bằng cách trích theotỷ lệ quyđịnh trên tổng số quỹ lương
cơ bản và các khoản phụ cấp (Phụ cấp chức vụ, Phụ cấp chức vụ bầu cử, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp thâm niên), quỹ này do cơ quan BHXH quản lý
Theo chế độ hiện hành, tỷ lệ trích BHXH là 20% trong đó: 15% do đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động đóng và khoản này được tính vàochi phí sảm xuất kinh doanh, còn lại 5% do người lao động đóng góp được tính vào trừ vào thu nhập của người lao động
Quỹ BHXH được chi tiêu trong những triường hợp sau đây: Người lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất,
Chi quỹ BHXH cho người lao động theo chế độ căn cứ vào: Mức lương ngày của người lao động, Thời gian nghỉ (Có chứng nhậnhợp lệ), Tỷ lệ trợ cấp BHXH
1.2.3.2 Quỹ BHYT
BHYT là sự taid trợ cho việc phòng, chữa và chăm sóc sức khỏe cho người lao động khihọ gặp rủi ro, ốm đai, tai nạn… Bằng cách hình thành và sử dụng lao dộng và người lao động và người lao động nhằm đảm bảo sức khỏa cho người lao động
Quỹ BHYT được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quyđịnh trên tổng số lương cơ bản và các khoản phụ cấp của congười lao động thực tế phát sinh trong kỳ
Trang 101.2.3.3 Kinh phí công đoàn
Công đoàn là tổ chức đại diện cho người lao động, nguồn kinh phí cho hoạt động của tổ chức này là quỹ KPCĐ, quỹ này được hình thành do viểctích lập theo một tỷ lệquyđịnh trên tổng số tiềnlương thựctế phải trả cho ngườilao động thực tế phát sinh trong tháng tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, hiện nay tỷ lệ trích là 2%
Số KPCĐ của doanh nghiệp được trích một phần nộp lên cơ quan quản lý công đoàn cấp trên, một phần để lại để chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại đơn vị
1.3 Hạch toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương
1.3.1 Chứng từ hạch toán lao động, tính lương và các khoản trợ cấp BHXH
1.3.1.1 Chứng từ hạch toán lao động
Tại các doanh nghiệp, tổ chức hạch toán về lao động thường do bộ phận tổ chức lao động, nhân sự của doanh nghiệp thực hiện Tuy nhiên, các chứng từ ban đầu về lao động là cơ sở để tính trả lương và các khoản phụ cấp, trợ cấp cho người lao động
Các chứng từ ban đầu gồm có:
- Một số: 01- LĐTL- Bảng chấm công: Do các tổ sản xuất hoặc các phòng ban lập, theo dõi nhằm cung cấp chi tiết số ngày công của từng người lao động theo tháng hoặc theo tuần (tùy theo cách chấm công và trả lương của doanh nghiệp)
- Mẫu số: 03- LĐTL – Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội: Chứng
từ này do các cơ sở y tế được phép lập riêng chi từng cá nhân người lao động, nhằm cung cấp số ngày người lao động được nghỉ và hưởng các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội bảo hiểm y tế
- Mẫu số: 06- LĐTL- Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành
Mục đích lập chứng từ này nhằm xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân người lao động làm cơ sở để lập bảng thanh toán tiền lương hoặc
Trang 11
lương thu nhận và ký duyệt trước khi chuyển đến kế toán làm chứng từ hợp pháp để trả lương
- Mẫu số: 07-LĐTL – Phiếu báo làm thêm giờ
- Mẫu số: 08- LĐTL – Hợp đồng giao khoán: Phiếu này là bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận khoán về khối lượng công việc, thờ gian làm việc, trách nhiệm
và quyền lợi mỗi bên khi thực hiện công việc đó, đồng thời, là cơ sở thanh toán tiền công lao động cho người nhận khoán
- Mẫu số: 09- LĐTL – Biên bản điều tra tai nạn lao động- Biên bản này nhằm xác định chính xác, cụ thể tai nạn lao động xảy ra tại đơn vị để có chế độ bảo hiểm cho người lao động một cách thỏa đáng và trên cơ sở biên bản đó có các biện pháp đảm bảo an toàn lao động, ngăn ngừa tai nạn xảy ra tạo đơn vị
Trên cơ sở các chứng từ ban đầu, bộ phận lao động tiền lương thu thập, kiểm tra, đối chiếu với chế độ của nhà nước, doanh nghiệp và thỏa thuận theo hợp đồng lao động sau đó ký xác nhận chuyển cho kế toán tiền lương làm căn cứ lập các bảng thanh toán lương, thanh toánbảo hiểm xã hội
Trang 12đó theo các phương pháp chia lương nhất định, nhưng phải đảm bảo công bằng hợp lí
Căn cứ các chứng từ ban đầu có liên quan đến tiền lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội được duyệt, kế toán lập các bảng thanh toán sau:
- Bảng thanh toán tiền lương (Mẫu số: 02- LĐTL)
- Mỗi tổ sản xuất, mỗiphòng ban mở một bảng thanh toán lương trong đó kê tên và các khoản lương được lĩnh của từng người trong đơn vị
- Danh sách người lao động được hưởng trợ cấp BHXH (Mẫu số 04- LĐTL) Bảng này kê họ tên và nội dung từng khoản bảo hiểm xã hội ngườ lao động được hưởng trong tháng
- Bảng thanh toán tiền thưởng (Mẫu số: 05- LĐTL) Bảng này được lập cho từng
tổ sản xuất, từng phòng, ban, bộ phận kinh doanh Các bảng thanh toán này là căn cứ để trả lương và khấu trừ các khoản khác như BHXH, BHYT, bồi thường vật chất … đối với người lao động
1.3.2 Tài khoản kế toán sử dụng
Kế toán tính và thanh toán tiền công, tiền lương và các khoản khác với người lao động tình hình trích lập và sử dụng các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ sử dụng các tài khoản
334, 338, 335
1.3.2.1 Tài khoản 334 “Phải trả người lao động”
Tà khoản này dùng để phản ánh các khoản thanh toán trợ cấp BHXH, tiền thưởng…và các khoản thanh toán khác thuộc về thu nhập của người lao động
Tài khoản này được mở chi tiết theo 2 tài khoản cấp 2
TK 3341- Phải trả công nhân viên: Phản ánh các khoản phải trảvà tinhd hình thanh toán các khoản phải trả cho công nhân viên của doanh nghiệp về tiền lương, tiền thưởng
Trang 14
1.3.3 Tổng hợp phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương
Tiền lương phải trả trong kỳ theo từng đối tượng sử dụng, hàng tháng kế toán tiến hành tổng hợp và tính trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo chế độ hiện hành Tổng hợp phân
bổ tiền lương, tính trích BHXH, BHYT, KPCĐ được thực hiện trên bảng “ Phân bổ tiền lương BHXH” theo mẫu số 01 –BPB
Trên bảng phân bổ ngoài tiềnlương, BHXH, BHYT, KPCĐ còn phản ánh việc trích trước các khoản chi phí phải trả, cụ thể kỳ tính trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất…
Bảng phân bổ tiền lương và BHXH được lập hàng tháng trên cơ sở các chứng từ
về lao động và tiền lương trong tháng, kế toán tiến hành phân loại tiền lương, tiền công phải trả theo từng đối tượng sử dụng lao động trực tiếp từng loại sản phẩm ở phân xưởng, quản lý và phục vụ sản xuất ở từng phân xưởng theo quản lýchung của toàn doanh nghiệp, trong đó phân biệt tiền lương, các khoản phụ cấp và các khoản khác để ghi vào các cột thuộc phần ghi có TK 334”Phải trả cho công nhân viên” ở các dòng phù hợp
Căn cứ vào tiền lương thực tế phải trả và căn cứ vào tỷ lệ trích quy định về BHXH, BHYT, KPCĐ để tính trích và ghi vào cột phần ghi có TK 338 “Phải trả phải nộp khác” thuộc các TK 3382, 3383, 3384 ở các dòng phù hợp
Căn cứ vào các tài liệu liên quan và căn cứ vào việc tính trước tiền lương nghỉ phépcủa công nhân viên phân xưởng để ghi cột cóTK 335 “Chi phí phải trả” tổng hợp số liệu phân bổ tiền lương, các khoản trích theo lương và các khoản trích trước được sử dụng cho kế toán tập hợp chi phí để ghi sổ kế toán tập hợp chi phí sản xuất cho đối tượng
sử dụng
1.3.4 Kế toán tổng hợp tiền lương, tiền công và các khoản trích theo lương
Kế toán tổng hợptiền lương và các khoản trích theo lương có thể khái quát theo sơ
đồ sau:
(1): Hàng tháng trích tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp có tính chất tiền lương, tiền ăn giữa ca, các khoản khác mang tính chất lương, phải trả cho người lao động
Trang 15(5): Tính số BHXH phải trả công nhân viên
(6): Khoản khấu trừ vào thu nhập của CNV như: Tiền điện, tiền nước, tạm ứng (7)Thuế thu nhập cá nhân mà CNV phải nộp doanh nghiệp thu hộ cho nhà nước (8): Thanh toán tiền lương, thu nhập khác cho CNV bằng SP, HH, DV
(9: Thanh toán tiền lươn, thu nhập khác cho CNV
(10): Chuyển tiền nộp BHXH, BHYT, KPCĐ cho cơ quan quản lý cấp trên và chỉ tiêu KPCĐ tại doanh nghiệp
Trang 17
Chương 2: Công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần vật tư vận tải xi măng
2.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quản lý sản xuất kinh doanh của Công
ty Cổ phần vật tư vận tải xi măng
Tên Công ty: Công ty Cổ phần vật tư vận tải xi măng
Tên giao dịch: Công ty Cổ phần Vật tư Vận tải măng
Trụ sở chính: 21B – Cát Linh - Đống Đa – Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Công ty cổ phần vật tư vận tải xi măng tiền thân là xí nghiệp cung ứng vâth tư vận tải xi măng được thành lập ngày 01/7/1981 theo QĐ số 179/BXD/TCCB trực thuộc liên hiệp các xí nghiệp xi măng (Nay là Tổng công ty xi măng Việt Nam)
Ngay từ khi mới thành lập, xí nghiệp cung ứng vật tư vận tải thiết bị xi măng có chức năng, nhiệm vụ là cung ứng vận tải nguyên vật liệu và tham gia tiêu thụ sản phẩm xímăng theo kế hoạch của Liên hiệp các xí nghiệp xi măng giao cho nhằm đảm bảo cho
sự hoạt động liên tục, đem lại hiệu quả cao trong sản xuất của toàn ngành xi măng Bên cạnh đó, xí nghiệp còn sản xuất vỏ bao cho các doanh nghiệp sản xuất Xi măng nhỏ của các địa phương và các ngành khai thác tuyển, xỉ, thải dùng cho sản xuất xi măng và cung cấp các dịch vụ sữa chữa ôtô và kinh doanh vận tải đường bộ
Do yêu cầu sản xuất theo đề nghị của liên hiệp các xí nghiệp xi măng, Công ty Vật tư vận tải xi măng được thành flập theo QĐ số 824/BXD- TCCB ngày 3/12/1990 của
Bộ trưởng Bộ xây dựng trên cơ sở hợp nhất của xí nghioệp cung ứng vật tư thiết bị xi măng và Công ty vận tải đường bộ xây dựng Công ty chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 05/01/1991
Theo yêu cầu của sự phát triển, ngày 22/02/2006 Bộ Xây dựng đã có quyết định
số 208/QĐ- BXD việc chuyển Công ty Vật tư Vận tải Xi măng thuộc Tổng công ty xi măng Việt nam thành Công ty Cổ phần Vật tư vận tải Xi măng Công ty Cổ phần Vật tư Vận tải Xi măngchính thức đi vào hoạt động ngày 24/04/2006
2.1.2 Nhiệm vụ chức năng của Công ty Cổ phần vât tư Vận tải Xi măng
Trang 18
- Kinh doanh vật tư vận tải chuyên ngành
- Tổ chức khai thác và kinh doanh các phụ gia sản xuất xi măng
- Kinh doanh và dịch vụ vận tải
- Đại lý xi măng, sản xuất vỏ bao xi măng các loại
- Kinh doanh các vật liệu xây dựng
Hoạt động theo cơ chế thị trường và theo kế hoạch của Tổng Công ty xi măng Việt Nam
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần vật tư vận tải
xi măng
Ngoài bộ máy văn phòng của Công ty có trụ sở tại 21B Cát Linh - Đống Đa – Hà Nội , Công ty còn có các chi nhánh đặt rộng khắp tại các tỉnh miền Bắc, thực hiện hạch toán báo cáo sổ và chịu sự quản lý của văn phòng Công ty
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty như sau:
* Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan quyền lực có thẩm quyền cao nhất của công ty gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, họp ít nhất mỗi năm 1 lần Đại hội đồng cổ đông quyết định những vấn đề được pháp luật và điều lệ công ty quy định Đặc biệt, đại hội đồng cổ đông sẽ thông qua các báo cáo tài chính hàng năm của công ty và ngân sách tài chính cho năm tiếp theo, sẽ bầu hoặc bãi nhiệm thành viên hội đồng quản trị và ban kiểm soát của công ty
* Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công
ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mụ đích, quyền lợi của công ty phù hợp với pháp luật Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trừ những vấn đề thuộc quyền của đại hội đồng cổ đông Hiện tại hội đồng quản trị của công ty có 5 thành viên Người đại diện của công ty là Giám đốc công ty (Kiêm chủ tịch hội đồng quản trị)
* Ban giám đốc: Ban giám đốc gồm 01 Giám đốc (Kiêm chủ tịch hội đồng quản trị) và 2 phó giám đốc chịu trách nhiệm về tổng hợp các nhiệm vụ, kế hoạch kinh doanh của công ty Là nơi ra quyết định đến các phòng, ban trực thuộc và nhận được báo cáo trực tiếp kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 19
* Ban kiểm soát: Ban kiểm soát của công ty là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng
cổ đông, do đại hội đồng cổ đông bầu ra, chức năng là tiến hành kiểm soát hoạt động tài chính của doanh nghiệp, giám sát các hành vi của hội đồng quản trị và giám đốc điều hành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
* Các phòng, ban của công ty: Chịu sự giám sát của ban giám đốc bao gồm:
- Phòng kế hoạch: Chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch về sản xuất kinh doanh, phương án giá cả để trình giám đốc ký giao cho các đơn vị thực hiện, tổ chức quýêt toán vật tư, hàng hoá, quản lý công tác hợp đồng kinh tế
- Phòng thông tin điều độ: Tổng hợp số liệu sản xuất kinh doanh toàn doanh nghiệp, lập báo cáo nhanh, tham gia phối hợp điều hành vận tải, thông tin sản xuất giữa các công ty và các nhà máy sản xuất giữa các công ty và các nhà máy sản xuất xi măng, các cơ quan kinh tế có liên quan, đảm bảo công tác tổng đài, thông tin liên lạc toàn công
ty
- Phòng tổ chức lao động tiền lương: Xây dựng kế hoạch các bộ, giải quyết các vấn đề về chế độ, tiếp nhận, đào tạo, sa thải, điều động cán bộ, chính sách của người lao động, lập kế hoạch lao động tiền lương, thưởng theo từng thời kỳ cho toàn công ty, chỉ đạo kế hoạch phòng hộ, an toàn lao động
- Phòng đầu tư xây dựng: Có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch đầu tư, xây dựng mua sắm trang thiết bị để phục vụ công tác sản xuất kinh doanh của công ty
- Phòng kinh doanh vận tải: Chịu trách nhiệm lập các phương án kinh doanh vận tải Cân đối các điều kiện hàng hoá, phương án vận tải, tổ chức sự vận động hợp lý của hàng hoá từ đầu nguồn tới nơi tiêu thụ, đảm bảo hiệu quả kinh doanh trong cơ chế thị trường
- Phòng kinh doanh phụ gia xi măng: Chịu trách nhiệm về phương án kinh doanh các loại phụ gia cung cấp cho các nhà máy xi măng
- Phòng kỹ thuật: Chịu trách nhiệm quản lý về kỹ thuật, chất lượng, sản phẩm hàng hoá
- Phòng Tài chính – kế toán: Chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch tài chính hàng năm, tổ chức công tác hạch toán theo đúng qui định của pháp luật, tổ chức phân tích hoạt
Trang 20* Các chi nhánh trực thuộc công ty: Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc, chịu trách nhiệm về các hoạt động sản xuất kinh doanh của chi nhánh mình, khai thác, quản
lý, vận tải, tiếp nhận, bảo quản và cung ứng các loại hàng hoá phục vụ cho sản xuất xi măng; giao dịch, tổ chức thực hiện hoạt động kinh tế đựơc công ty giao, kiểm hàng hoá trứơc khi xuất nhập hàng; đôn đốc các vấn đề phát sinh trong vận tải bốc xếp, đảm bảo việc giao nhận hàng hoá theo hợp đồng kinh tế, thực hiện việc quản và luân chuyển hàng hoá hợp lý, có hiệu quả
- Chi nhánh Quảng Ninh: Là chi nhánh đầu nguồn, làm mặt hàng than, làm cả công tác chuyển tải than xuất khẩu, xi măng, clinker, phụ gia…
- Chi nhánh Hải Phòng: Là chi nhánh cuối nguồn giữ quan hệ mua bán với nhà máy xi măng Hải Phòng
- Chi nhánh Phả Lại: Quản lý xưởng quyển xỉ, làm ra xỉ phụ gia có chật lượng cao cho các nhà máy xi măng, cung ứng và vận chuyển xỉ về các nhà máy xi măng hay công trình thuỷ lợi, giao thông
- Chi nhánh Hoàng Thạch: Là chi nhánh cuối nguồn giữ quan hệ mua bán với nhà máy xi măng Hoàng Thạch và làm nhiệm vụ vận tải
- Chi nhánh Bỉm Sơn: Là chi nhánh cuối nguồn quan hệ mua bán với nhà máy xi măng Bỉm Sơn, tiếp nhận toàn bộ lượng than của chi nhánh Quảng Ninh gửi về bãi Ninh Bình để vận chuyển bằng đường bộ vào nhà máy xi măng
- Chi nhánh Hà Nam: Là chi nhánh cuối nguồn giữ quan hệ mua bán với nhà máy
xi măng Bút Sơn và làm dịch vụ vận tải
Trang 21- Đoàn vận tải: Có chức năng vận tải hàng hoá theo kế hoạch của công ty, ngoài
ra còn làm hợp đồng vận tải cho các nhà máy xi măng
- Văn phòng đại diện Thành Phố Hồ Chí Minh: Làm vận tải đường biển, tiếp nhận xi măng cung cấp các thị trường miềm Man tiếp nhận và vận chuyển clinker cho nhà máy xi măng Hà Tiên I
Trang 22Giám đốc
Ban kiểm soát
Trang 23- Phó chi nhánh: Thực hiện theo sự phân công của trưởng chi nhánh trong lĩnh vực điều hành sản xuất kinh doanh khi trưởng chi nhánh đi vắng
- Văn phòng: Có tổ chức nội vụ, đời sống, vật chất, tinh thần chế độ bảo hộ lao động cho cán bộ công nhân viên trong chi nhánh
- Tổ điều độ: Có nhiệm vụ nhận thông tin, chỉ thị của công ty, nắm bắt thông tin
- Tổ giao nhận: Đón nhận và giao nhận các mặt hàng vào các nhà máy sau mỗi
ca, mỗi ngày báo số lượng, phẩm chất hàng hoá cho tổ điều độ chi nhánh
- Tổ kế toán: Tập hợp, phân loại phiếu Nhập – xuất, tổng hợp lương tháng, quý, thực hiện chế độ chia lương, thưởng cho cán bộ công nhân viên chi nhánh, BHXH, BHYT, chế độ khác
- Tổ bảo vệ: Thực hiện chức năng bảo vệ tài sản chung cho chi nhánh, áp tải hàng hoá nếu có, bảo vệ hàng hoá trong quá trình vận chuyển, bốc dỡ, lưu kho, lưu bãi
2.1.4 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh
2.1.4.1 Đặc điểm tổ chức kinh doanh
TRưởng
chi nhánh
Phó chi nhánh
Văn
phòng
Tổ điều
độ
Tổ giao nhận
Tổ kế toán
Tổ bảo
vệ
Trang 24
Không phải là một đơn vị sản xuất, cũng không phải là 1 đơn vị thương mại đơn thuần, công ty Cổ phần đầu tư vận tải xi măng là 1 đơn vị kinh doanh thương mại, dịch vụ., làm nhiệm vụ trung gian giữa người sản xuất với người tiêu dùng Với đặc điểm hoạt động vừa mang tính chất kinh doanh, vừa mang tính cung cấp vật tư đầu vào cho các nhà máy sản xuất xi măng và dịch vụ vận tải Vì vậy, cơ cấu doanh thu của công ty chủ yếu từ kinh doanh vật tư đầu vào cho các nhà máy xi măng và doanh thu dịch vụ vận tải
2.1.4.2 Lĩnh lực kinh doanh:
Kinh doanh các loại vật tư dùng cho ngành xi măng
Kinh doanh vật liệu xây dựng
Kinh doanh vận tải và dịch vụ vận tải
Kinh doanh phụ tùng ô tô và bảo dưỡng, sửa chữa ô tô
Kinh doanh khai thác, chế biến các loại phụ gia và xỉ thải phục vụ cho sản xuất xi măng và các nhu cầu khác của xã hội
2.1.5 Tình hình kinh doanh chủ yếu và kết quả hoạt động của công ty Cổ phần vận tư vận tải xi măng
Công ty cổ phần vật tư vận tải xi măng mặc dù mới hoạt động dưới loại hình công ty cổ phần từ tháng 4 năm 2006 nhưng cũng gặt hái được những thành công nhất định Chứng minh được việc chuyển đổi loại hình công ty hoàn toàn đúng đắn Điều này
có thể thấy rõ nét qua việc so sánh kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 2 năm 2005
2 Lợi nhuận thuần 557178,25 539219,45
3 Lợi nhuận trước thuế 1800,00 3969.14
4 Lợi nhuận sau thuế 1296,00 2857,78
Trang 25
6 Tổng số lao động (người) 312,00 286,00
7 Thu nhập bình quân (tháng/ người) 3,10 3,60
Qua số liệu bảng trên ta thấy:
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp không ngừng tăng lên qua các năm Điều đó chứng tỏ quy mô hoạt động của doanh nghiệp ngày càng được mở rộng, kéo theo nó là lợi nhuận sau thuế cũng tăng: Từ 1396trđ năm 2005 tăng lên 2857,78 trđ năm 2006 Đồng thời ta cũng thấy doanh thu thuần năm 2006 giảm so với năm 2005 Điều này cho thấy trong năm 2006 doanh nghiệp chú trọng đầu tư kinh doanh những mặt hàng chất lượng cao, có tỷ suất lợi nhuận lớn
Năm 2006 tổng số lao động của công ty giảm do doanh nghiệp sắp xếp lại cơ cấu
tổ chức nhân sự, giảm bớt số lượng lao động không cần thiết, những lao động có trình độ tay nghề kém Nhờ đó mà năng suất lao động của nhân viên ngày càng tăng, giúp cho thu nhập bình quân mỗi lao động tăng qua các năm: từ 3,1 trđ năm 2005 lên 3,6 trđ năm
2006 Việc tổ chức kinh doanh có hiệu quả giúp cho công ty thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, góp phần làm tăng nguồn thu vào ngân sách Nhà nước
Trang 26
2.1.6 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán của Công ty
2.1.6.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán của Công ty
Tổ chức bộ máy công tác kế toán phù hợp, khoa học với đặc điểm tổ chức quản
lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm phát huy vai trò của kế toán là một yêu cầu quan trọng đối với giám đốc và kế toán trưởng
Là một đơn vị kinh doanh thương nghiệp với các cửa hàng, các chi nhánh nằm rải rác trên khắp địa bàn phân công Do vậy, công ty tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức vừa tập trung, vừa phân tán để phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình Thực vậy, để thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của công tác kế toán, công ty đã cố gắng
tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, phù hợp với đơn vị hạch toán độc lập và thích hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh, tổ chức quản lý của công ty
Nhiệm vụ của các phòng kế toán cụ thể:
- Kế toán trưởng: Là người phụ trách duy nhất chịu trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra các công việc do nhân viên kế toán thực hiện, tổ chức lập báo cáo kế toán theo yêu cầu quản lý và phân công trách nhiệm cho từng người, từng bộ phận có liên quan, chịu trách nhiệm về các thông tin báo cáo trước giám đốc và Tổng công ty
- Kế toán tổng hợp: Có nhiệm vụ tập hợp các số liệu của các nhân viên đem lại, làm lại các bảng biểu kế toán, sau đó trình lên kế toán trưởng ký
- Kế toán tiền lương: Có nhiệm vụ lập bảng phân phối hoặc theo dõi tiền lương, thưởng thực tế
- Kế toán tài sản cố định, vật tư hàng hoá: Hàng tháng kế toán vật tư căn cứ vào phiếu nhập, xuất để lên chứng từ hàng hoá nhập xuất Đồng thời, căn cứ vào tình hình thực tế tăng, giảm TSCĐ qua các biên bản bàn giao, ngượng bán…TSCĐ để ghi chép sổ sách có liên quan
- Kế toán chi nhánh: Có nhiệm vụ tập hợp số liệu, chứng từ phát sinh lên công ty theo định kỳ
- Kế toán mua bán hàng: Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ mua bán các mặt hàng trước khi ghi chép các sổ sách có liên quan và làm thủ tục thanh toán (thu)
Trang 30Tổng số cán bộ công nhân viên của công ty năm 2006 là 286 người
Trong đó, khối văn phòng công ty là 117 người, bao gồm 08 phòng ban như: phòng kinh tế kế hoạch, phòng kỹ thuật, văn phòng công ty, phòng tổ chức lao động công đoàn, phòng đầu tư phát triển, phòng kinh doanh phụ gia, phòng kế toán thống kế tài chính
Các chi nhánh trực thuộc công ty là 169 người trực tiếp làm công tác vận chuyển, giao nhận hàng hoá như: xi măng, clinker từ các nhà máy xi măng vào miền trung, miền nam, lực lượng này rất hùng hậu cung cấp kịp thời vật tư cho các nhà máy xi măng
2.2.1.2 Chất lượng lao động
Chất lượng lao đông là chỉ tiêu phản ánh rõ nét nhất tình hình sử dụng lao động, năng suất lao động tăng lên không ngừng là mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp, là điều kiện để tăng tích luỹ và đảm bảo thu nhập cho người lao động
Công ty có lực lượng công nhân viên hùng hậu, được đào tạo trong các trường Đại học trong và ngoài nước, các trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp…
Hiện nay, công ty thường xuyên tổ chức tập huấn đào tạo, bồi dưỡng hội thảo, phân tích các hoạt động kinh tế, đánh giá rút kinh nghiệm để cho cán bộ công nhân viên có thể nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Ngoài ra, công ty còn có chính sách ưu tiên đối với những cán bộ công nhân viên có trình độ, có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác tiếp thị, giao nhận,có thành tích trong hoạt động sản xuất kinh doanh, năng động với cơ chế thị trường Các cán bộ công nhân viên có sức khoẻ kém không phù hợp với công việc thì sẽ bố trí làm công việc thích hợp hoặc giải quyết theo chế độ của công ty và theo chế độ của Đảng va nhà nước
Trang 31
2.2.2 Hình thức trả lương và quỹ tiền lương ở công ty Cổ phần vật tư vận tải Xi măng
2.2.2.1 Hình thức trả lương áp dụng tại đơn vị
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền, là phần sản phẩm xã hội dùng để bù đắp cho lượng lao động cần thiết đã hao phí mà nhà nước và chủ doanh nghiệp trả cho người lao động phù hợp với chất lượng của từng người lao động
Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình mà mỗi doanh nghiệp áp dụng lương phải trả khác nhau, tuy nhiên phải đảm bảo các nguyên tắc tổ chức tiền lương đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh
Cũng như hầu hết các đơn vị kinh doanh khác, công ty Cổ phần vật tư vận tải xi măng đang áp dụng phương pháp trả lương cho người lao động theo sản phẩm
Đối tượng áp dụng: cho tất cả cán bộ công nhân viên đang công tác và được hưởng lương sản phẩm tại công ty theo nguyên tắc phân phối tiền lương như sau:
- Thực hiện phân phối theo lao động, trả lương gần với kết quả hoàn thành công việc cuả từng bộ phận, từng cá nhân Những người thực hiện các công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, tay nghề giỏi, đóng góp nhiều vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty thì được trả lương cao và ngược lại
- Riêng một số đơn vị có thể áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp ca nhân hoặc hình thức trả lương khoán sản phẩm tập thể, tuỳ thuộc vào từng đối tượng lao động cụ thể của đơn vị, hàng tháng các đơn vị báo cáo công ty tình hình phân phối quỹ tiền lương đã được phê duyệt của tháng trước liền kề
Công tác tổ chức lao động tiền lương được giao cho phòng tổ chức lao động tiền lương thực hiện Chức năng nhiệm vụ của bộ phận này là nghiên cứu, tham mưu giúp Giám đốc về công tác tổ chức cán bộ còn phải nghiên cứu chính sách của Đảng và Nhà nước, các quy định của cấp trên về tiền lương, bảo hiểm… để từ đó xây dựng cơ chế chính sách tiền lương trong công ty phù hợp với tình hình kinh doanh từng thời kỳ, bộ phận này có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch tiền lương hàng
Trang 32
tháng, quý, năm, tổ chức kiểm tra thực hiện đối với người lao động ở cơ sở, tổng hợp làm báo cáo về lao động và tiền lượng hàng tháng để trình lên công ty
2.2.2.2 Quỹ tiền lương và quản lý quỹ tiền lương
2.2.2.2.1 Quỹ tiền lương sản phẩm bao gồm:
2.2.2.21.1 Quỹ tiền lương giám đốc
Căn cứ thông tư số 08/2005/TT-LĐTBXH ngày 05/01/2005 của Bộ Lao động Thương binh xã hội hướng dẫn thực hiện nghị định 207/2004/NĐ-CPB ngày 14/12/2005 của chính phủ quy định chế độ tiền lương, thưởng và chế độ trách nhiệm của Tổng giám đốc công ty Nhà nước
Hàng năm công ty xây dựng quỹ tiền lương giám đốc với các chỉ tiêu kế hoạch tài chính và sản lượng năm, quỹ lương giám đốc được quyết toán theo lợi nhuận thực hiện và năng suất lao động bình quân của toàn công ty
2.2.2.2.1.2 Quỹ lương sản phẩm của toàn công ty
- Nguồn hình thành quỹ tiền lương sản phẩm của công ty
Quỹ tiền lương từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, theo đơn giá tiền lương sản phẩm của công ty
Quỹ tiền lương theo chế độ của cán bộ chuyên trách làm công tác đoàn thể
do cơ quan có thẩm quyền cấp
Quỹ tiền lương dự phòng từ năm trước chuyển sang
Quỹ tiền lương được trích bổ sung do thực hiện lợi nhuận năm trước vượt mức kế hoạch
- Sử dụng tổng quỹ tiền lương của công ty: Tổng tièn lương của công ty được chia làm 2 phần
Quỹ tiền lương trả trực tiếp cho người lao động hàng tháng chiếm từ 90% - 95% tổng quỹ lương sản phẩm của công ty
Quỹ lương còn lại chiếm từ 5% - 10% tổng quỹ tiền lương của công ty, dùng để chi cho người lao động trong công ty vào những dịp lễ tết giải quyết theo quy định những trường hợp phát sinh và dùng để thưởng theo hình thức trả lương
Trang 33
cho các tập thể, cá nhân của công ty có thành tích xuất sắc, mang lại hiệu quả cao cho công ty
2.2.2.2.1.3 Quỹ tiền lương sản phẩm của đơn vị trực thuộc công ty
- Nguồn hình thành quỹ tiền lương của các đơn vị:
Quỹ tiền lương của những mặt hàng, công việc do công ty giao đơn giá tiền lương
Căn cứ vào kế hoạch lợi nhuận và đơn giá tiền lương đã được hội đồng quản trị công ty phê duyệt, công ty giao đơn giá tiền lương sản phẩm của các đơn vị gắn với kế hoạch sản xuất kinh doanh và đặc điểm sản xuất kinh doanh riêng của từng đơn vị
Quỹ tiền lương từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ khác được giao cho đơn vị thực hiện và đươc duyệt
Những khoản tiền lương từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ khác được giao cho đơn vị thưc hiện và được duyệt
Những khoản tiền lương bổ sung từ quỹ tiền lương dự phòng
- Sử dụng quỹ tiền lương tại các đơn vị
Các đơn vị thực hiện chi trả tiền lương cho người lao động theo nguyên tắc làm công việc gì, giữ chức vụ gì hưởng lương theo hệ số chức danh công việc chức
vụ đó Và có thể áp dụng các hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân hoặc hình thức trả lương khoán sản phẩm tập thể tuỳ vào từng đối tượng lao động
cụ thể của đơn vị, hàng tháng các đơn vị báo cáo công ty tình hình phân phối qũy lương đã được phê duyệt của tháng trước liền kề, hàng tháng các đơn vị quyết toán quỹ tiền lương và các khoản thu nhập khác với công ty vào tháng đầu tiên của quý tiếp theo
2.2.2.2.2 Công thức tính lương và chia lương
* Qũy lương sản phẩm tính theo công thức:
Lsp = Lđg x Hđv
Trong đó:
Lsp: quỹ tiền lương sản phẩm được chia trong tháng của đơn vị
Trang 34
Lđg: Quỹ tiền lương sản phẩm theo đơn giá và các khoản tiền lương từ các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác ngoài đơn giá do đơn vị thực hiện được duyệt
Hđv: Hệ số thi đua tháng của đơn vị
Riêng khối văn phòng công ty hệ số thi đua được coi bằng 1
* Phân phối quỹ tiền lương:
Tiền lương sản phẩm được phân phối dựa trên hệ số chức danh công việc đảm nhận, ngày công thực tế làm việc, hệ số thi đua của từng cán bộ công nhân viên (nếu có) và được tính theo công thức:
Ti = Đqi x Đg
Trong đó:
Ti: tiền lương sản phẩm của người lao động thứ i thuộc đơn vị
Điểm quy đổi của người thứ i thuộc đơn vị và được tính theo công thức: Đqi = hệ số công việc x ngày công thực tế làm việc x hệ số thi đua
Đg: đơn gía 1 điểm quy đổi của người lao động trong đơn vị được tính bằng công thức:
Đg = Qsp / Đqi
Qsp: Tổng số người lao động thuộc đối tượng phân phối sản phẩm trong tháng của đơn vị
2.2.3 Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương
2.2.3.1 Chứng từ tính lương và các khoản trợ cấp bảo hiểm XH
* Các chứng từ sử dụng ban đầu gồm có:
Bảng chấm công
Giấy chứng nhận nghỉ việc việc hưởng BHXH
Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành
Phiếu báo làm thêm giờ
Hợp đồng giao khoán
Biên bản điều tra tai nạn lao động
* Kế toán các bảng thanh toán
Trang 35
Danh sách người lao động hưởng trợ cấp BHXH
Bảng thanh toán tiền thưởng
Bảng thanh toán lương theo phòng
Trang 36
Trong đó: Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng hoặc ghi định kỳ Kiểm tra đối chiếu