Chính vì vậy, xuất phát từ ý nghĩa, vai trò tiêu thụ hàng hoá cùng với việc nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán bán hàng trong toàn bộ công tác hạch toán kế toán của các D
Trang 1kết quả tại Công ty TNHH sản xuất và
thương mại Rạng Đông
Trang 2
Lời nói đầu
Hiện nay nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó, các quan
hệ hàng hoá - tiền tệ ngày càng được mở rộng và phát triển Trong điều kiện đó, để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước thì đối với mỗi Doanh nghiệp sản xuất hay Doanh nghiệp thương mại, việc tiêu thụ hàng hoá vẫn là vấn đề quan trọng và cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp mình Vì thế, bằng nhiều phương pháp khác nhau như : quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại… các Doanh nghiệp phải đầu tư nhiều và chú trọng đến công việc tiêu thụ hàng hoá của mình
Hơn nữa, kế toán là một môn khoa học quản lý, là kỹ thuật ghi chép, phân loại, tập hợp, cung cấp số liệu về hoạt động sản xuất kinh doanh , về tình hình tài chính của Doanh nghiệp và giúp nhà quản lý đưa ra những quyết định phù hợp Hạch toán kế toán là một hệ thống thông tin và kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh, là quá trình quan sát và ghi nhận, hệ thống hoá
và ss lý các hiện tượng kinh tế phát sinh trên góc độ tiền tệ Do vậy, việc tổ chức đúng đắn, khoa học, nghiệp vụ bán hàng có ý nghĩa quyết định đối với công tác kế toán tại các Doanh nghiệp thương mại, giúp cho lãnh đạo xử lý và nắm bắt được các thông tin cần thiết Từ đó có quyết định quản lý chính xác nhằm nâng cao hiệu quả quá trình kinh doanh Vì thế kế toán bán hàng và xác định kết quả là mối quan tâm hàng đầu của mọi Doanh nghiệp
Chính vì vậy, xuất phát từ ý nghĩa, vai trò tiêu thụ hàng hoá cùng với việc nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán bán hàng trong toàn bộ công tác hạch toán kế toán của các Doanh nghiệp kinh doanh thương mại nói chung và Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đông nói riêng, đồng thời được trang bị kiến thức lý luận ở trường và sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Trần Thị Thuý Nga cùng các anh chị trong phòng kế toán của Công ty, sau
một thời gian tìm hiểu từ thực tế của Công ty em quyết định chọn đề tài: “Kế toán nghiệp vụ bán hàng và xác định kết quả tại Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đông”
Chuyên đề tốt nghiệp của em ngoài phần mở bài và kết luận gồm có 3 phần sau:
Trang 3Phần I: Lý luận chung về kế toán nghiệp vụ bán hàng ở các Doanh nghiệp thương mại Phần II: Thực trạng và tổ chức công tác kế toán bán hàng ở Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đông
Phần III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp kế toán nghiệp vụ bán hàng ở Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đông
Do hạn chế về thời gian và kiến thức nên chuyên đề của em không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo cùng các anh chị trong phòng kế toán của Công ty để chuyên đề được hoàn thiện hơn
Phần I Những lý luận chung về nghiệp vụ kế toán bán hàng ở các Doanh nghiệp thương mại
1 Vai trò (vị trí) của nghiệp vụ kế toán bán hàng trong quá trình sản xuất sản phẩm xã hội nói chung và trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng
Trong xã hội hiện nay, nhu cầu con người về sản phẩm hàng hoá đòi hỏi ngày càng cao hơn, đa dạng và phong phú hơn Vì vậy các nhà sản xuất cần áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến và nắm bắt nhu cầu tâm lý của con người để sản xuất ra những sản phẩm hàng hoá phù hợp với nhu cầu thị hiếu của từng đối tượng khách hàng Sản phẩm hàng hoá sản xuất ra có tiêu thụ được thì quá trình tái sản xuất mới được thực hiện Do đó, bán hàng xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì đó là điều kiện tái sản xuất sản phẩm xã hội, còn xét trong hoạt động sản xuất kinh doanh bán hàng góp phần điều hoà giữa sản xuất với tiêu dùng, giữa tiền và hàng, giữa khả năng và nhu cầu… Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường thì bán hàng là vấn đề cần quan tâm, chú trọng hơn cả và ngày càng trở nên quan trọng
Kết thúc quá trình bán hàng là khép kín một vòng chu chuyển vốn Nếu quá trình tiêu thụ thực hiện tốt, Doanh nghiệp sẽ tăng nhanh vòng chu chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để thoả mãn nhu cầu ngày càng lớn của xã hội Cũng qua đó Doanh nghiệp thực hiện được giá trị lao động thặng dư ngoài việc bù đắp những chi phí bỏ ra để tiêu thụ sản phẩm hàng hoá Đây chính là nguồn để Doanh nghiệp nộp Ngân Sách Nhà Nước, lập các quỹ cần thiết và nâng cao đời sống cho người lao động
Trang 4Những thông tin từ kết quả hạch toán bán hàng là thông tin rất cần thiết đối với các nhà quản trị trong việc tìm hướng đi cho Doanh nghiệp Mỗi Doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình và tình hình bán hàng trên thị trường mà đề ra kế hoạch sản xuất tiêu thụ cho phù hợp Việc thống kê các khoản doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh chính xác, tỉ mỉ, khoa học sẽ giúp cho các nhà quản trị Doanh nghiệp có được thông tin chi tiết về tình hình tiêu thụ cũng như hiệu quả sản xuất của từng mặt hàng tiêu dùng trên thị trường khác nhau Từ đó, nhà quản trị có thể tính được mức độ hoàn thành kế hoạch, xu hướng tiêu dùng, hiệu quả quản lý chất lượng cũng như nhược điểm trong công tác tiêu thụ của từng loại sản phẩm hàng hoá Trên cơ sở đó Doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh, thực tế lãi cũng như
số thuế phải nộp Ngân sách Nhà Nước Và cuối cùng nhà quản trị sẽ đề ra được kế hoạch sản xuất của từng loại sản phẩm trong kế hoạch kỳ tới, tìm ra biện pháp khắc phục những yếu điểm
để hoàn thiện công tác bán hàng trong Doanh nghiệp
2 Đặc điểm nghiệp vụ bán hàng ở các Doanh nghiệp thương mại
phải biết cạnh tranh, phải biết nghiên cứu thị trường, xác định cung cầu trên thị trường, trong từng thời kỳ cần phải mua hàng gì để tung ra thị trường thu được lợi nhuận cao nhất, phục vụ nhu cầu trên thị trường mà lại phù hợp với khả năng của mình Các Doanh nghiệp phải chủ động tổ chức hoạt động bán hàng, phải tự hạch toán lỗ lãi để bảo tồn vốn và phát triển, tìm ra được thị trường ổn định của mình đồng thời mở rộng quan hệ mua bán với thị trường nước ngoài theo luật pháp và chính sách kinh tế – xã hội của Nhà Nước, phải chủ động sáng tạo, nhạy bén trong mọi quyết định về kinh doanh từ khâu bắt đầu của quá trình sản xuất kinh doanh và nghiên cứu thị trường đến khâu cuối cùng của khâu bán hàng
Hoạt động kinh tế cơ bản của Doanh nghiệp kinh doanh Thương mại là bán hàng và xác định kết quả bán hàng nhằm nối liền sản xuất và tiêu dùng xã hội, trong đó bán là mục đích, mua là phương tiện đạt được mục đích Thông qua hoạt động bán hàng của Doanh nghiệp kinh doanh Thương mại giúp cho các đơn vị sản xuất tiêu thụ hàng hoá nhanh chóng, thu hồi vốn và giảm được chi phí dự trữ, lưu thông hàng hoá, lưu thông hàng từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng nhanh hơn, đồng thời mua được yếu tố đầu vào thích hợp Tổ chức khoa học hợp lý kế toán nghiệp vụ bán hàng và xác định kết quả bán hàng là điều kiện để quản lý chặt chẽ, bảo đảm an
Trang 5toàn cho hàng hoá có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng công tác kế toán và Doanh nghiệp Thương mại
2.1 Khái niệm chung về bán hàng
Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình kinh doanh của các Doanh nghiệp thương mại để thực hiện giá trị hàng hoá, lao vụ, dịch vụ, Doanh nghiệp phải cung cấp lao vụ, dịch vụ cho khách hàng, được khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán, quá trình này gọi là quá trình tiêu thụ
Về phương diện xã hội: Bán hàng là khâu cốt yếu trong quá trình lưu thông hàng hoá, kích thích nhu cầu và luôn tạo ra nhu cầu mới Trong quá trình tiêu thụ, người ta có thể dự đoán được nhu cầu xã hội nói chung hay nhu cầu của từng loại thị trường nói riêng đối với từng loại sản phẩm Trên cơ sở đó, Doanh nghiệp sẽ xây dựng được các kế hoạch phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
2.3 Các phương thức bán hàng chủ yếu trong Doanh nghiệp thương mại
Quá trình bán hàng ở Doanh nghiệp thương mại được thực hiện theo 2 hình thức là : bán buôn và bán lẻ Bán buôn là bán hàng cho các tổ chức bán lẻ hoặc các đơn vị xuất nhập khẩu
để tiếp tục quá trình bán hàng và xác định kết quả kinh doanh Bán lẻ là hình thức bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng
Trang 6* Phương thức bán buôn:
- Bán buôn hàng hoá qua kho: Bán buôn hàng hoá qua kho là phương thức bán buôn hàng hoá
mà trong đó hàng hoá phải được xuất từ kho bảo quản của Doanh nghiệp Bán buôn hàng hoá qua kho có thể thực hiện dưới hai hình thức:
+ Bán buôn hàng hoá qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức này thì bên mua căn cứ vào hợp đồng đã ký kết, cử đại diện đến kho của Doanh nghiệp thương mại để nhận hàng Doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hoá giao trực tiếp cho đại diện bên mua Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá được chấp nhận là tiêu thụ
+ Bán buôn hàng hoá qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết, Doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hoá dùng phương tiện vận tải của mình hoặc đi thuê ngoài, chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một địa điểm nào đó bên mua quy định trong hợp đồng Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp thương mại, chỉ khi nào bên mua kiểm lại, thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì số hàng chuyển giao mới được coi là tiêu thụ, người bán mất quyền sở hữu về số hàng đã giao
- Bán buôn vận chuyển thẳng: Theo phương thức bán buôn vận chuyển thẳng, hàng hoá bán
cho bên mua được giao thẳng từ kho của bên cung cấp hoặc giao hàng thẳng từ nhà ga, bến cảng… mà không qua kho của Doanh nghiệp bán buôn Trong phương thức này đựơc thực hiện bằng hai hình thức sau:
+ Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán: Doanh nghiệp bán buôn vừa tiến hành thanh toán với bên cung cấp về mua hàng, đồng thời vừa tiến hành thanh toán với bên mua về bán hàng, nghĩa là đồng thời phát sinh cả hai nghiệp vụ mua hàng và bán hàng ở đơn vị bán buôn Chứng từ bán hàng là hoá đơn bán hàng do đơn vị bán buôn lập Nếu hàng giao thẳng cho đơn vị bán buôn vận chuyển, cho bên mua hàng bằng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài thì số hàng này vẫn thuộc quyền sở hữu của đơn vị bán buôn hoặc chỉ chuyển quyền sở hữu khi bên mua đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán, còn bên mua đến nhận hàng trực tiếp khi giao hàng xong, số hàng này được coi qlà tiêu thụ
Trang 7+ Bán buôn vận chuyển thẳng không tham gia thanh toán: Đây thực chất là hình thức môi giới trung gian trong quan hệ mua bán và hưởng hoa hồng hoặc thủ tục do bên mua hoặc bên bán trả
* Phương thức bán lẻ:
- Phương thức bán lẻ thu tiền trực tiếp:
Người bán hàng thu tiền trực tiếp của khách hàng mua hàng và trực tiếp giao hàng cho khách hàng Người bán phải chịu trách nhiệm vật chất về số lượng hàng đã nhận ra quầy hàng
để bán lẻ Để quản lý và ghi chép phản ánh số lượng hàng hoá nhận và đã bán, người bán hàng phải phản ánh số lượng hàng hoá, ghi chép hạch toán nghiệp vụ trên các thẻ quầy hàng ở quầy hàng thẻ quầy hàng được mở ra theo dõi cho từng loại mặt hàng để ghi chép sự biến động của hàng hoá từng ca, từng ngày
- Phương thức bán lẻ thu tiền tập trung:
Là phương thức bán hàng mà nghiệp vụ giao hàng và thu tiền bán hàng tách rời nhau, ở quầy hàng có nhân viên thực hiện viết hoá đơn bán hàng, giao cho người mua hàng, đồng thời thu tiền bán hàng Người mua hàng mang hoá đơn bán hàng vừa nhận đến nhận hàng ở quầy hàng và trả hoá đơn cho người bán hàng Cuối ngày hoặc cuối ca bán hàng, nhân viên viết hoá đơn và thu tiền bán hàng trong ngày, kiểm tiền, làm giấy nộp tiền bán hàng Người bán hàng căn cứ vào số lượng hàng đã giao theo hoá đơn đã nhận hoặc kiểm hàng hoá cuối ngày, cuối ca
để xác định số hàng đã giao cho khách hàng và lập báo cáo bán hàng Chứng từ làm căn cứ ghi
sổ kế toán các nghiệp vụ bán lẻ hàng hoá là giấy nộp tiền và báo cáo bán hàng
- Bán hàng theo phương thức gửi đại lý:
Bán hàng gửi đại lý, ký gửi là phương thức mà bên chủ hàng (gọi là bên giao đại lý) xuất hàng giao cho bên nhận đại lý, ký gửi để bán Bên nhận đại lý sẽ được hưởng thu lao đại
lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá
Trang 8Theo phương thức trả góp, về mặt hạch toán khi giao hàng cho người mua hàng thì lượng hàng chuyển giao được gọi là bán hàng Về thực chất chỉ khi nào người mua thanh toán hết tiền hàng thì Doanh nghiệp mới mất quyền sở hữu về hàng hoá
2.4 Các phương thức thanh toán
Cùng với việc đa dạng phương thức bán hàng thì các Doanh nghiệp cũng áp dụng đa phương thức thanh toán Việc thanh toán theo phương thức nào là do hai bên mua – bán thoả thuận,lựa chọn sao cho phù hợp rồi ghi vào hợp đồng Phương thức thanh toán thể hiện sự tín nhiệm giữa hai bên, đồng thời nó cũng nói lên sự vận động giữa hàng hoá và tiền vốn, đảm bảo cho bên mua và bên bán cùng có lợi Tuỳ vào lượng hàng giao dịch, mối quan hệ giữa hai bên
và hình thức bán hàng mà hai bên lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp, hiệu quả nhất
Hiện nay các Doanh nghiệp thường áp dụng một số phương thức thanh toán sau:
* Phương thức thanh toán ngay:
Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được di chuyển từ người mua sang người bán ngay sau khi quyền sở hữu hàng hoá được chuyển giao Hình thức thanh toán
có thể bằng tiền mặt, ngân phiếu, séc hoặc bằng hàng hoá (nếu bán theo phương thức đổi hàng) ở phương thức này sự vận động của hàng hoá gắn liền với sự vận động của tiền tệ
* Phương thức thanh toán sau:
Theo phương thức này, quyến sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng thời gian kể từ thời điểm chuyển giao quyền sở hữu về hàng hoá cho người mua, tức là người bán giao hàng cho người mua thì người mua không thanh toán ngay mà ký nhận nợ phải thu cần được hạch toán quản lý chi tiết cho từng đối tượng phải thu và ghi chép rõ theo từng lần thanh toán ở hình thức này sự vận động của hàng hoá và tiền tệ có khoảng cách về không gian
và thời gian Hết thời hạn tín dụng, theo thoả thuận bên mua có nghĩa vụ phải thanh toán hết số tiền hàng cho bên bán Việc thực hiện thanh toán có thể thực hiện dưới nhiều hình thức: tiền mặt, ngân phiếu, séc… Phương thức thanh toán này thường được áp dụng trong trường hợp hai bên có mối quan hệ mua bán thường xuyên và có tín nhiệm lẫn nhau
2.5 Hình thức thanh toán
* Thanh toán bằng tiền mặt:
Trang 9Là hình thức thanh toán trực tiếp giữa người mua và người bán Khi nhận được hàng hoá, vật tư, lao vụ, đã hoàn thành thì bên mua xuất tiền ở quỹ trả trực tiếp cho người bán hoặc người cung cấp lao vụ, dịch vụ Hình thức thanh toán theo hình thức này đảm bảo khả năng thu tiền nhanh, tránh được rủi ro trong thanh toán nhưng thường chỉ áp dụng trong trường hợp hàng hoá có giá trị không lớn
* Thanh toán không dùng tiền mặt:
- Hình thức thanh toán qua Ngân hàng:
Là hình thức thanh toán được thực hiện bằng cách chuyển từ tài khoản của Doanh nghiệp hoặc thanh toán bù trừ giữa các Doanh nghiệp thông qua cơ quan trung gian là Ngân hàng
Thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm:
Thanh toán bằng séc
Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu
Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi
là mua một hàng hoá khác tương ứng Việc giao hàng diễn ra hầu như là đồng thời Hiện nay, đôi lúc có thể dùng tiền để thanh toán một phần thiếu hụt
3 Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ bán hàng
3.1 Phạm vi và thời điểm xác định bán hàng
* Phạm vi hàng bán:
Hàng hoá được coi là đã hoàn thành việc bán trong Doanh nghiệp thương mại, được ghi nhận doanh thu bán hàng phải đảm bảo các điều kiện nhất định Theo quy định hiện hành, được xem là hàng bán phải thoả mãn điều kiện sau:
Trang 10 Hàng bán phải thông qua quá trình mua, bán và thanh toán theo một phương thức thanh toán nhất định
Doanh nghiệp thương mại mất quyền sở hữu về hàng hoá và nắm bắt được quyền sở hữu về tiền tệ hoặc có quyền được đòi tiền khách hàng
Hàng hoá bán ra phải thuộc diện kinh doanh của Doanh nghiệp, do Doanh nghiệp mua vào hoặc gia công chế biến hay nhận góp vốn, nhận cấp phát, tặng thưởng,…
Ngoài ra trong một số trường hợp sau cũng được coi là hàng bán:
Hàng hoá xuất để đổi lấy hàng hoá khác, còn được gọi là hàng đối lưu hay hàng đổi hàng
Hàng hoá xuất để thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho công nhân viên
Hàng hoá xuất để làm quà biếu, quà tặng, quảng cáo chào hàng
Hàng hoá xuất dùng nội bộ, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp
Hàng hoá hao hụt, tổn thất trong quá trình vận chuyển bán ra theo hợp đồng bên bán chịu
Hàng xuất là nguyên vật liệu để sản xuất chế biến sản phẩm rồi bán ra
Hàng xuất để tham gia hội chợ triển lãm
Hàng xuất để góp vốn liên doanh,…
* Thời điểm xác định hàng bán:
Trường hợp giao hàng trực tiếp cho khách hàng tại kho của Doanh nghiệp hoặc vận chuyển hàng trực tiếp: thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm đại diện bên mua ký nhận đủ hàng thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ chủ hàng
Trường hợp giao hàng cho khách hàng tại kho của Doanh nghiệp hoặc vận chuyển theo hình thức chuyển hàng: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm thu được tiền của bên mua hoặc bên mua xác nhận đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán
3.2 Yêu cầu quản lý nghiệp vụ bán hàng
Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện bán hàng cho từng thời kỳ trong quá trình thực hiện
kế hoạch cần căn cứ vào điều kiện cụ thể để có biện pháp kịp thời
Trang 11Quản lý chặt chẽ thường xuyên số lượng và chất lượng thành phẩm đem bán, đảm bảo giá thành, giá bán, đảm bảo chi phí giá thành hợp lý
Nắm bắt theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng, từng thể thức thanh toán, từng loại thành phẩm đem bán cho từng khách hàng như đôn đốc thu hồi nhanh chóng tiền hàng, tránh tình trạng bị chiếm dụng vốn
Tính toán xác định kết quả từng loại hoạt động và thhực hiện nghiêm túc cơ chế phân phối lợi nhuận
Trong các Doanh nghiệp thương mại, thời điểm ghi chép vào sổ sách kế toán về hàng hoá là thời điểm hàng hoá được xác định bán Thời điểm đó được quy định theo từng phương thức, hình thức bán hàng sau:
- Đối với phương thức bán buôn, việc bán hàng có thể thanh toán ngay hoặc chưa thanh toán thì thời điểm được xác định là hàng bán là khi nhận được tiền của bên mua hoặc nhận được báo có của Ngân hàng hoặc chấp nhận thanh toán của bên mua
- Đối với phương thức bán lẻ thì việc chuyển quyền sử dụng hàng hoá được xác định ngay trên quầy Vì vậy thời điểm ghi chép là ngay sau khi kế toán nhận được báo cáo bán hàng và giấy nộp tiền
* Quản lý doanh thu: Xác định doanh thu hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp một cách
đúng đắn sẽ cung cấp thông tin chính xác về tình hình kinh doanh của Doanh nghiệp Chính vì vậy, điều này đòi hỏi Doanh nghiệp phải quản lý theo phương thức và hình thức bán, quản lý doanh thu cho từng điểm bán, từng ngành hàng, nhóm hàng hay từng lần bán hàng một cách cẩn thận và đảm bảo chính xác
* Quản lý tình hình công nợ : Để đảm bảo việc thu hồi tiền bán hàng một cách nhanh chóng
và đầy đủ, xác định kết quả kinh doanh người quản lý phải tính đúng, đủ và theo dõi tình hình doanh thu của từng khách hàng Đồng thời, Công ty cần phải trích lập dự phòng phải thu đối với khách hàng có khoản thu khó đòi để tránh tình trạng số nợ không thu hồi được này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cửa Công ty
* Về quản lý hàng hoá : Giá cả hàng hoá là một trong những yếu tố cạnh tranh vì vậy đòi hỏi
nhà quản lý phải định giá cho thật hợp lý phải xây dựng biểu giá cho từng mặt hàng, nhóm hàng, từng phương thức bán hàng phù hợp cho từng địa điểm kinh doanh và quản lý việc thực
Trang 12hiện giá bán hàng, chú trọng giám sát việc thi hành giá của nhân viên bán hàng tránh những biểu hiện tiêu cực như tuỳ ý nâng giá Để quản lý tốt thì Doanh nghiệp phải sử dụng kế toán như công cụ đắc lực và sắc bén nhất
Bên cạnh viêc tính toán mức độ hợp lý của hàng bán ra Doanh nghiệp còn quan tâm đến việc xác định chính xác trị giá vốn của hàng hoá vì nó ảnh hưởng rất lớn tới việc xác định đúng đắn kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp
3.3 Nhiệm vụ kế toán bán hàng
Để tạo điều kiện cung cấp thông tin kịp thời , chính xác , cho người quản lý ra được các quyết định hữu hiệu và đánh giá được chất lượng toàn bộ hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp, kế toán bán hàng có nhiệm vụ sau:
- Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời khối lượng hàng hoá tiêu thụ, ghi nhận doanh thu bán hàng và các chỉ tiêu liên quan khác(giá vốn, doanh thu thuần)
của chỉ tiêu lãi gộp hàng hoá
cấp kịp thời về tình hình tiêu thụphục vụ cho lãnh đạo Doanh nghiệp điều hành hoạt động kinh doanh thương mại
4 Nội dung kế toán nghiệp vụ bán hàng và phương pháp kế toán nghiệp vụ bán hàng
4.1 Đánh giá hàng hoá
* Các phương pháp xác định giá vốn hàng bán:
Trị giá vốn hàng bán của hàng hoá xuất bán của Doanh nghiệp thương mại chính là trị giá mua của hàng hoá xuất kho chi phí của hàng xuất kho phân bổ trong kỳ Hàng hoá của các Doanh nghiệp từ các nguồn khác nhau với giá nhập khác nhau, đợt nhập khác nhau Do vậy, khi xác định giá vốn hàng xuất bán, kế toán có thể sử dụng nhiều phương pháp tính khác nhau nhưng phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của Doanh nghiệp để xác định phương pháp tính giá vốn nào cho phù hợp với Doanh nghiệp mình
Trang 13_ Phương pháp tính giá vốn thực tế đích danh: Theo phương pháp này giá thực tế của hàng hoá xuất kho được căn cứ vào giá nhập kho của từng lô hàng, từng lần nhập và số lượng xuất kho từng lần
_ Phương pháp bình quân gia quyền:
*
*
_ Phương pháp thực tế nhập trước – xuất trước (FIFO)
Phương pháp này giả định lô hàng nào nhập trước sẽ xuất sử dụng trước Do đó số lượng hàng hoá xuất kho thuộc lần nhập kho nào thì tính theo giá trị thực tế của hàng hoá nhập tồn kho cuối kỳ, chính là giá thực tế nhập kho thuộc các lần nhập sau
_ Phương pháp giá thực tế nhập sau – xuất trước (LIFO)
Phương pháp này giả định lô hàng nhập kho sau sẽ được sử dụng trước Do vậy giá thực
tế của hàng tồn kho cuối kỳ là giá thực tế hàng hoá theo giá các lần nhập kho
_ Phương pháp hệ số giá
Phương pháp này áp dụng cho các Doanh nghiệp sử dụng giá hạch toán để hạch toán tình hình nhập xuất của sản phẩm, hàng hoá, cuối kỳ xác định hệ số giá để làm cở sở tính giá thực tế sản phẩm hàng hoá xuất kho trong kỳ
Trang 14của hàng hoá = của hàng hoá x Hệ số giá
Trong đó:
HÖ sè gi¸ = Õ
TrÞ gi¸ hµng ho¸ ®Çu kú + TrÞ gi¸ hµng ho¸ nhËp trong theo gi¸ mua thùc t kú theo gi¸ mua thùc tÕ TrÞ gi¸ hµng tån kho ®Çu + TrÞ gi¸ hµng ho¸ nhËp trong
kú theo gi¸ h¹ ch to¸ n kú theo gi¸ h¹ch to¸ n
4.2 Phương pháp kế toán nghiệp vụ bán hàng
4.2.1 Chứng từ kế toán :
Theo chế độ quản lý chứng từ, chứng từ kế toán bao gồm hai hệ thống:
- Hệ thống chứng từ kế toán bắt buộc : là chứng từ mang bản chất phản ánh mối quan hệ giữa các nhân tố có yêu cầu quản lý chặt chẽ, mang tính phổ biến rộng rãi
- Hệ thống chứng từ hướng dẫn: Chủ yếu là các chứng từ sử dụng trong nội bộ Doanh nghiệp, Nhà nước chỉ giữ vai trò hướng dẫn nội dung để các ngành, các thành phần kinh tế tham khảo, để từ đó xây dựng hệ thống chứng từ cho phù hợp với điều kiện thực tế của Doanh nghiệp
Đối với quá trình bán hàng một số chứng từ mang tính chất bắt buộc như:
+ Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho
+ Hoá đơn giá trị gia tăng, hoá đơn bán hàng
+ Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
+ Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý
+ Báo cáo bán hàng
+ Bảng kê bán lẻ hàng hoá
+ Bảng thanh toán hàng đại lý
+ Thẻ quầy hàng
+ Giấy nộp tiền của nhân viên bán hàng
+ Bảng kê nhận hàng và thanh toán hàng ngày
Kế toán bán hàng trong các Doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng các chứng từ sau đây: + Hoá đơn giá trị gia tăng
Trang 15+ Hoá đơn bán hàng
+ Phiếu xuất kho
+ Thẻ kho
+ Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
4.2.2 Tài khoản sử dung
Kế toán nghiệp vụ bán hàng sử dụng các tài khoản sau:
TK 131 – Phải thu của khách
TK 157 – Hàng gửi đi bán
TK 511 – Doanh thu bán hàng
TK 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ
TK 521 – Chiết khấu thương mại
Tài khoản 131 – “Phải thu của khách hàng”
- Công dụng của tài khoản: tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu của Doanh nghiệp và tình hình thanh toán giữa đơn vị với khách hàng về các khoản phải thu của khách
- Quy định hạch toán: tài khoản 131 là các khoản đơn vị phải thu của người mua sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ, của người giao thầu, xây dựng cơ bản về các khối lượng, công tác xây dựng cơ bản đơn vị đã hoàn thành bàn giao chưa được nhận tiền
- Nội dung và kết cấu của tài khoản :
Trang 16+ Số tiền đã nhận ứng trước, trả trước cho khách
+ Các khoản chiết khấu, doanh thu,giảm giá của hàng bán chưa thu tiền bị khách hàng trả lại
+ Các nghiệp vụ làm giảm khoản phải thu: chênh lệch tỷ giá giảm, thanh toán bù trừ, xoá
sổ nợ khó đòi…
Số dư Nợ phản ánh: số tiền còn phải thu của khách hàng
Tài khoản 131 có thể có số dư Có phản ánh số tiền đã nhận trước hoặc số đã thu nhiều hơn số phải thu của khách hàng
Tài khoản 157 – “Hàng gửi bán”
- Công dụng của tài khoản : Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá hàng hoá, sản phẩm đã gửi hoặc chuyển đến cho khách hàng Hàng hoá, sản phẩm gửi bán đại lý, ký gửi, trị giá dịch
vụ đã hoàn thành bàn giao cho người đặt hàng nhưng chưa được chấp nhận thanh toán Tài khoản này dùng cho tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc mọi lĩnh vực
- Quy định hạch toán:
+ Chỉ phản ánh vào tài khoản này trị giá số hàng hoá, sản phẩm đã gửi bán hoặc dịch vụ đã hoàn thành bàn giao cho khách hàng theo hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng chưa được chấp nhận thanh toán
+ Hàng hoá, thành phẩm phản ánh trên tài khoản này vẫn thuộc quỳên sở hữu của Doanh nghiệp, kế toán phải mở sổ theo dõi chi tiết theo dõi từng loại hàng hoá, thành phẩm, từng lần gửi hàng từ khi gửi đi đến khi chấp nhận thanh toán
+ Chi phí vận chuyển, bốc xếp, tiền ủng hộ khách không phản ánh vào tài khoản này
- Nội dung và kết cấu của tài khoản 157
Bên Nợ:
+ Trị giá hàng hoá,thành phẩm đã gửi đi cho khách hoặc gửi bán đại lý, ký gửi
+ Trị giá dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng nhưng chưa được khách chấp nhận thanh toán
+ Kết chuyển giá trị còn lại cuối kỳ
Bên có:
+ Trị giá hàng hoá đã được khách chấp nhận thanh toán
Trang 17+ Trị giá của hàng bán bị trả lại
+ Kết chuyển trị giá hàng bán tồn đầu kỳ
Số dư bên Nợ: Trị giá hàng, thành phẩm đã gửi đi, dịch vụ đã cung cấp chưa được khách chấp nhận thanh toán
Tài khoản 511 – “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”
- Công dụng của tài khoản: TK này dùng để phản ánh tổng doanh thu bán hàng thực tế, cùng các khoản giảm trừ doanh thu
- Quy định hạch toán : TK 511 chỉ phản ánh doanh thu khối lượng hàng hoá, sản phẩm đã bán trong kỳ Không hạch toán vào TK511 trường hợp hàng xuất giao cho bên ngoài gia công chế biến
- Nội dung và kết cấu:
Bên Nợ:
+ Khoản giảm giá hàng bán và doanh thu của hàng bán bị trả lại
+ Số thuế tiêu thụ phải nộp tính theo doanh thu bán hàng thực tế
+ Kết chuyển doanh thu thuần và tiêu thụ trong kỳ
Bên Có: Phản ánh tổng doanh thu bán hàng thực tế trong kỳ
Tài khoản 511 cuối kỳ không có số dư
Tài khoản này có 4 tài khoản cấp 2 là:
+ TK5111 “Doanh thu bán hàng hoá”
+ TK5112 “Doanh thu bán các thành phẩm”
+ TK5113 “ Doanh thu cung ứng dịch vụ”
+ TK5114 “Doanh thu trợ cấp, trợ giá”
Tài khoản 512 – “Doanh thu bán hàng nội bộ”
- Công dụng của tài khoản: Tk này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tiêu thụ trong nội bộ Doanh nghiệp và giữa các đơn vị thành viên trong cùng một đơn vị hạch toán toàn ngành
- Quy định hạch toán : tài khoản này chỉ sử dụng ở các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong cùng một đơn vị nhằm phản ánh doanh thu tiêu thụ nội bộ trong một kỳ kế toán Chỉ phản
Trang 18ánh số doanh thu của khối lượng hàng hoá của các đơn vị thành viên cung ứng lẫn cho nhau Không hạch toán các khoản doanh thu bán hàng cho các đơn vị không trực thuộc Công ty
- Nội dung và kết cấu của tài khoản 512:
Bên Nợ:
+ Thuế phải nộp theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ nội bộ thực tế tiêu thụ trong kỳ
+ Các khoản ghi giảm doanh thu nội bộ
+ Kết chuyển sang tài khoản 911 để xác định kết quả thực hiện trong kỳ
Bên có :
+ Phản ánh tổng doanh thu tiêu thụ nội bộ của đơn vị thực hiện trong kỳ kế toán
Tài khoản 512 không có số dư và có ba tài khoản cấp 2 :
+ Tài khoản 5121 – “Doanh thu bán hàng hoá”
+ Tài khoản 5122 – “Doanh thu bán các thành phẩm”
+ Tài khoản 5123 – “Doanh thu cung cấp dịch vụ”
Tài khoản 521 : Chiết khấu thương mại
- Công dụng : tài khoản này dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà Doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua vì lý do mua với khối lượng lớn theo giá thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc cam kết mua bán hàng hoá
- Quy định hạch toán:
thực hiện trong kỳ theo đúng chiết khấu thương mại của Doanh nghiệp đã quy định
loại hàng bán
khoản 521, cuối kỳ khoản chiết khấu thương mại được chuyển sang tài khoản 511 để xác định doanh thu thuần của khối lượng hàng hoá, sản phẩm thực hiện được trong kỳ hạch toán
- Nội dung và kết cấu của tài khoản 521:
Trang 19Bên nợ:
+ Phản ánh khoản chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ
Bên có:
+ Kết chuyển chiết khấu thương mại sang tài khoản 511 vào cuối kỳ
Tài khoản này không có số dư và có 3 tài khoản cấp 2:
Tài khoản 531 – “Hàng bán bị trả lại”
- Công dụng của tài khoản: dùng để phản náh trị giá số hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ, bị khách hàng trả lại do hàng bị mất phẩm chất, không đúng chủng loại, vi phạm hợp đồng kinh tế…
- Quy định hạch toán: chỉ hạch toán vào tài khoản này số hàng bị trả lại trong kỳ hạch toán trị giá hàng bị trả lại vào tài khoản 531, cuối kỳ kết chuyển sang tài khoản 511 và tài khoản 512
để xác định doanh thu thuần của kỳ kế toán
- Nội dung và kết cấu :
Bên nợ: Trị giá của hàng bán bị trả lại, đã trả lại tiền cho người mua hoặc tính trừ vào
nợ phải thu của khách hàng về số hàng hoá đã tiêu thụ
Bên có: Kết chuyển toàn bộ trị giá hàng bán bị trả lại sang tài khoản 511 và TK512 để xác định kết quả doanh thu bán hàng
Tài khoản này không có số dư cuối kỳ
Tài khoản 532 – “Giảm gía hàng bán”
- Công dụng của tài khoản: dùng để phản ánh khoản giảm giá hàng bán thực tế phát sinh trong
kỳ kế toán với giá thoả thuận
- Quy định hạch toán: Chỉ phản ánh vào tài khoản này các khoản giảm trừ do việc chấp thuận giảm giá ngoài hoá đơn
- Nội dung và kết cấu:
+ Bên Nợ: Phản ánh các khoản giảm giá hàng bán đã trả tiền, đã chấp nhận cho người mua
Trang 20+ Bên Có : Kết chuyển toàn bộ khoản giảm giá hàng bán sang TK511, TK512 để xác định doanh thu
Tài khoản này không có số dư cuối kỳ
Tài khoản 632 – “Giá vốn hàng bán”
- Công dụng của tài khoản: dùng để phản ánh trị giá gốc của hàng hoá, sản phẩm, lao vụ, dịch
vụ, giá thành sản xuất của sản phẩm bán trong kỳ
- Nội dung và kết cấu:
Bên Nợ : Phản ánh trị giá vốn của hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ Bên Có :
+ Phản ánh khoản hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm tài chính + Kết chuyển giá gốc của hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ sang tài khoản 911
Tài khoản này cuối kỳ không có số dư
Trang 214.2.3 Các trường hợp kế toán nghiệp vụ bán hàng
4.2.3.1 Áp dụng với doanh nghiệp tính hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên
a, Tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
sơ đồ 1: Trình tự kế toán bán hàng theo phương pháp bán hàng trực tiếp
Ghi chú: (1) :Trị giá thực tế xuất kho
(2) : Phản ánh doanh thu bán hàng
(3) : Thuế tiêu thụ phải nộp
(4) : Các khoản làm giảm trừ doanh thu
(5) : Thuế tiêu thụ (VAT) được giảm trừ
TK 521,531,532
(6) TK111,112,131
TK1532
(1a)
(4)
(3) (5)
TK3331 TK156TK156
Trang 22(6): Kết chuyển các khoản khấu trừ làm giảm doanh thu bán hàng (7): Kết chuyển giá vốn hàng bán
(8): Kết chuyển doanh thu thuần
(1a): Trị giá bao bì xuất kho
Sơ đồ 2: Trình tự kế toán bán hàng theo phương thức chuyển hàng
(1a): Trị giá bao bì xuất kho (2): Doanh thu bán hàng (3): Thuế VAT phải nộp
(4):Giảm tiền hoặc công nợ phải thu của khách
(5):Giảm VAT phải nộp (6): Kết chuyển các khoản làm giảm trừ doanh thu
TK156 TK157 TK632 TK911 TK511 TK111, 112,131
TK1532
TK111, 112,131
TK521, 531,532
Trang 23(7): Trị giá xuất kho của hàng hoá đã tiêu thụ
(8): Kết chuyển doanh thu bán hàng
(9): Kết chuyển giá vốn hàng bán
Sơ đồ 3: trình tự kế toán bán hàng đại lý, ký gửi
Doanh nghiệp xác định ngay hoa hồng
* Đối với bên giao đại lý:
Ghi chú:
(1) : Trị giá hàng xuất gửi bán
(2a) : Phản ánh doanh thu
(2b): VAT phải nộp
(3a) : Hoa hồng trả cho cơ sở đại lý bằng tiền
(3b) : Hoa hồng trả cho cơ sở đại lý trừ vào doanh thu
Trang 24* Đối với bên nhận đại lý:
sơ đồ4:Trường hợp bán với giá cao
Ghi chú:
(1a) : Thuế VAT được khấu trừ
(1b) : Hoa hồng trả cho đại lý (hoa hồng + chênh lệch giá)
(1c) : Số tiền phải cho bên nhận đại lý
(2) : Thanh toán tiền cho bên giao đại lý
TK3331
(1a) TK133
Trang 25Sơ đồ 5 : trình tự kế toán bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp
(3) (4)
Trang 26Ghi chú:
(1a) : Trị giá hàng bán bị trả lại, hàng phát sinh giảm giá không VAT
(1b) : Giảm VAT phải nộp Ngân sách Nhà nước
(1) : Phản ánh doanh thu bán hàng
(2) : Khoảng cách hàng hoá bị trả lại, hàng phát sinh giảm giá
Sơ đồ 7 : Trình tự kế toán hàng bán phát sinh chiết khấu thương mại
Trang 27Ghi chú:
(1) : Phản ánh doanh thu bán hàng
(2) : Trị giá hàng phát sinh chiết khấu thương mại
(3) : Giảm VAT phải nộp
(4) : Chi phí hoạt động tài chính
(5) : Kết chuyển hàng phát sinh chiết khấu thương mại
b, Tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp
Trang 28Ghi chú: (1) :Phản ánh doanh thu
(2) : giá vốn hàng bán trong trường hợp vận chuyển thẳng
(3) : giá vốn hàng bán trong trường hợp bán xuất tại kho
(4) : trị giá vốn hàng gửi bán đã tiêu thụ
(5a): Giảm nợ phải thu của khách hoặc trả tiền cho khách
(5b):Kết chuyển các khoản làm giảm doanh thu
(6): Trị giá hàng gửi bán bị trả lại không tiêu thụ được
(7): Thuế VAT phải nộp
Sơ đồ 9: Trình tự kế toán xác định kết quả kinh doanh
Trang 29Ghi chú:
(1) : Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu
(2) : Kết chuyển doanh thu thuần
(3) : Kết chuyển giá vốn hàng bán
(4) : Kết chuyển chi phí bán hàng
(5) : Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp
(6) : Kết chuyển thuế thu nhập doanh nghiệp
(7) : Thuế thu nhập doanh nghiệp
(8a): Xác định kết quả lãi
(6) (7)
Trang 304.2.3.2 áp dụng đối với doanh nghiệp tính hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kì
Sơ đồ 10:
Ghi chú:
(1) Đầu kì kết chuyển trị giá vốn của hàng chưa tiêu thụ
(2) Doanh thu tiêu thụ
(3) VAT phải nộp
(4) Các khoản làm giảm doanh thu
(5) Thuế VAT được giảm trừ
(6) Kết chuyển các khoản làm giảm doanh thu
(7) Kết chuyển doanh thu bán hàng
Trang 314.3.1 Hình thức nhật kí sổ cái (NK-SC)
Đặc điểm của hình thức này là sử dụng một quyển sổ kế toná tổng hợp là NKSC để kết hợp với các nghiệp vụ kinh tế theo thứ tự thời gian( phần nhật kí ) với ghi theo hệ thống vào từng tài khoản kế toán (phần sổ cái) các chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc cùng loại phát sinh trong ngày hoặc định kì ngắn nhất, sau khi được định khoản chính xác, được ghi
Nhật kí chứng từ
Sổ chi tiết,thẻ chi tiết
Sổ quỹ,
báo cáo
quỹ
Bảng tổng hợp chi tiết
Bảng cân đối kế toán và các báo cáo
kế toán khác
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối ngày
Kiểm tra, đối chiếu
số liệu
Trang 32(nhật kí tổng quát) để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế tai chính theo thứ tự thời gian và tưo quan
hệ đối ứng tài khoản, sau đó sử dụng số kiệu ở nhật kí chung để ghi sổ cái (theo tài khoản có liên quan)
Sổ chi tiết, thẻ chi tiết
Sổ cái tài khoản
Bảng tổng hợp chi tiết
Bảng cân đối tài khoản
Bảng cân đối kế toán và các báo cáo
Trang 33Sơ đồ trình tự ghi sổ
4.3.4 Hình thức nhật kí chứng từ
Đặc điểm của hình thức kế toán này là mọi nghiệp vụ đều căn cứ vào chứng từ gốc, sau khi đã kiểm tra phân loại ghi vào NKCT liên quan Sổ NKCT kết hợp ghi chép tổng hợp chi tiết, theo hệ thống với ghi theo trình tự thời gian các nghiệp vụ kinh tế cùng loại được kết hợp vào cùng một sổ
sổ
Sổ cái tài khoản
Bảng tổng hợp chi tiết
Bảng cân đối tài khoản
Bảng cân đối kế toán và các báo cáo kế toán khác
Trang 34Sơ đồ trình tự ghi sổ
4.3.5 Hình thức sổ kế toán trên máy vi tính
Sơ đồ trình tự ghi sổ
Chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc
Bảng
kê và phân bổ
Bảng phân bổ
Nhật kí chứng từ
Sổ chi tiết,thẻ chi tiết
Sổ quỹ,
báo cáo
quỹ
Sổ cái tài khoản
Trang 35Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối ngày
Quan hệ đối chiếu
Phương pháp ghi sổ: Hàng ngày kế toán căn cứ vào chứng từ kế toán hoặc bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra làm căn cứ ghi sổ xác định tài khoản ghi nợ, tài khoản ghi có để nhập dữ liệu vào máy vi tính theo các bảng biểu được thiết kế sẵn trên phần mềm kế toán Theo quy trình của phần mềm các thông tin tự động nhập vào sổ kế toán tổng hợp và các sổ thẻ kế toán chi tiết có liên quan Cuối tháng hoặc bất kỳ thời điểm cần thiết nào kế toán thực hiện lập các thao tac khoá sổ và lập báo cáo tài chính, đối chiếu số liệu tổng hợp và in ra giấy, rồi in sổ kế toán tổng hợp và chi tiết đóng thành quyển và thực hiện các thủ tục pháp lý theo quy định về sổ kế toán
- sổ tổng hợp
- sổ chi tiết
Phần mềm kế toán
Bảng tổng hợp
chứng từ gốc
Báo cáo kế toán Báo cáo quản trị
Trang 36
phần II thực trạng và tổ chức công tác kế toán nghiệp vụ bán hàng tại công ty TNHH
sản xuất và thương mại Rạng đông
1 Đặc điểm, tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đông
Tên Công ty : Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đông
Trụ sở chính của Công ty: Số 24/460 - Đường Khương Đình – Phường Hạ Đình – Quận Thanh Xuân – Hà Nội
Số điện thoại : 04 6813 957
Mặt hàng kinh doanh : thiết bị vệ sinh, điện lạnh, vật tư phục vụ ngành xây dựng
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đông được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0102020376 do sở kế hoạch và đầu tư TP Hà Nội cấp ngày 20/10/2002 Là một Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên Tên giao dịch đối ngoại: RangDong production and trade company limited
Tên viết tắt: Rangdong P T , Co Ltd
Ngành nghề kinh doanh:
+ Buôn bán thiết bị, vật tư phục vụ ngành xây dựng;
+ sản xuất, buôn bán thiết bị điện dân dụng, điện công nghiệp, điện tử, điện máy, điện lạnh;
+ Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá;
+ Xuất nhập khẩu các mặt hàng Công ty kinh doanh;
+ sản xuất và buôn bán các thiết bị vệ sinh;
+ Trang trí nội, ngoại thất./
Hiện nay Công ty đang kinh doanh và sản xuất các mặt hàng thiết bị vệ sinh, điện lạnh, vật tư phục vụ ngành xây dựng Là đối tác lớn của Tập đoàn Hoà Phát, Nhà phân phối Hùng Phát, Công ty INAX, Công ty cosevco, Công ty Đồng Tâm, Công ty Hữu Thảo, Trong thời gian tới Công ty sẽ mở rộng thị trường vào các tỉnh miền Trung và miền Nam
Trang 37
1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hàng tháng, quý, năm về sản xuất và kinh doanh theo sự chỉ đạo của Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đông
+ Quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả
+ Thực hiện đầy đủ các cam kết của hợp đồng nói chung (hợp đồng mua, hợp đồng bán, vận chuyển, ) Quản lý và sử dụng lao động theo đúng pháp luật của nhà nước ban hành, theo phân cấp thoả ước lao động tập thể của Công ty
+ Thực hiện các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế, thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước
1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đông tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng, loại hình này áp dụng hầu hết ở các doanh nhiệp vừa và nhỏ ở nước ta, đặc biệt là các Công ty TNHH Theo mô hình này bộ máy hoạt động của Công ty gọn nhẹ, đảm bảo cho quá trình kinh doanh linh hoạt và có hiệu quả
Sơ đồ 6: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty như sau:
Trang 38+ Phòng kinh doanh:
Điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh của Công ty (đầu ra, đầu vào), tổ chức tiêu thụ hàng hoá, quản lý việc cung ứng nguồn hàng, quản lý sản xuất, khai thác các hợp đồng mua bán
Phòng vật
tư
Phòng bảo vệ
Cửa hàng
số 2
Cửa hàng
số 3
Cửa hàng
số 4
Phân xưởn
Trang 39Bảo vệ tài sản và con người trong Công ty
1.4 Tình hình lao động của Công ty
Với chức năng và nhiệm vụ của Công ty, Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đông cần có một đội ngũ cán bộ công nhân viên phù hợp đảm bảo về sức khoẻ, trình độ học vấn, chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ
Thị trường tiêu thụ hàng hoá ngày càng được mở rộng đòi hỏi số lượng lao động phải tăng để phục vụ cho công việc hàng ngày tốt hơn
Từ khi mới thành lập, tổng cán bộ công nhân viên của Công ty là 65 người trong đó nhân viên quản lý là 12 người, ngoài ra còn có lao động thời vụ Đến nay, Doanh nghiệp đã hoạt động được gần 5 năm (2002 -2007) và số lao động tăng lên thành 105 người vì cùng với thị trường được mở rộng thì lao động cũng tăng lên
Trong số 105 người là cán bộ công nhân viên của Công ty thì phân loại lao động theo cơ chế như sau: lao động quản lý là 21 người, chiếm 20%; lao động có trình độ đại học là 31 người, chiếm 29,52%; lao động có trình độ cao đẳng, tại chức là 25 người chiếm 23,81% tổng lao động; lao động có trình độ trung cấp, sơ cấp là 16 người chiếm 15,24% tổng lao động; còn lại 12 lao động chưa có trình độ
mà chỉ học nghề chiếm 11,43% tổng lao động của Công ty
Như vậy ta thấy trình độ của cán bộ công nhân viên ngày càng được nâng cao, thâm niên trong nghề dày dặn, cán bộ chỉ đạo sáng suốt, luôn chọn phương hướng quản lý và kinh doanh đúng đắn, giám sát chặt chẽ nhân viên Nhân viên cũng hoàn thành tốt mọi công việc được giao, báo cáo mọi tình hình lên cấp trên
để cấp trên kịp thời chỉ đạo, xử lý Với đội ngũ cán bộ công nhân viên rất có tâm huyết với nghề, với Công ty sẽ đưa Công ty kinh doanh ngày càng phát triển và đứng vững trên thị trường
Trang 40
1.5 Mạng lưới kinh doanh của Công ty
Đối tượng kinh doanh của Công ty là tất cả các khách bán lẻ, các cửa hàng, các đại lý, tổ chức có nhu cầu mua hàng
Công ty có 4 cửa hàng tại 4 địa điểm là Cát Linh – Hà Nội, Văn Điển – Hà Nội, Thái Nguyên, Nam Định Là đại lý chuyên cung cấp cho các cửa hàng ở các tỉnh, huyện như Hà Tây, Thái Nguyên, Hà Nam, Việt Trì, Vĩnh Phúc, Nam Định, Hải Phòng, Tuyên Quang, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An Hiện nay Công ty đang mở một cửa hàng tại Nghệ An, tiến tới Công ty sẽ phát triển vào miền Trung
và miền Nam
1.6 Tình hình nguồn vốn của Công ty
Là Công ty TNHH có hai thành viên trở lên, Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đông với số vốn điều lệ thành lập là 8 tỷ đồng và tăng dần nguồn vốn kinh doanh qua các năm cùng với sự phảt triển của Công ty
Cơ cấu vốn phân theo sở hữu:
+ Cổ đông chi phối Công ty là tập đoàn Hoà Phát – là tập đoàn lớn nhất về nội thất tại Việt Nam đại diện phần vốn góp thuộc sở hữu cổ đông của Công ty Có
số vốn góp là 2 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 25% vốn điều lệ
+ Vốn thuộc sở hữu của người lao động trong Công ty là 3,2 tỷ đồng chiếm tỷ
lệ 40% vốn điều lệ của Công ty
+ Vốn thuộc sở hữu của cổ đông khác là 2,8 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ là 35% vốn điều lệ của Công ty
Việc tăng giảm vốn điều lệ của Công ty do đại hội đồng cổ đông quyết định
2 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đông
2.1 Hình thức tổ chức công tác kế toán:
Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đông tổ chức công tác kế toán theo mô hình tập trung Toàn Công ty có một phòng kế toán duy nhất làm nhiệm vụ hạch toán tổng hợp, hạch toán chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh của đơn vị, lập báo cáo kế toán, báo cáo tài chính theo