Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định 3 vấn đề trung tâm thì vấn đề này trở nên vô cùng quan trọng vì nếu doanh nghiệp nào tổ chức tốt nghiệp vụ tiêu thụ
Trang 2Phần mở đầu
Bán hàng và xác định kết quả bán hàng là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp thương mại nói riêng Thực tiễn cho thấy thích ứng với mỗi cơ chế quản lý, công tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng được thực hiện bằng các hình thức khác nhau Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung Nhà nước quản lý kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh Các cơ quan hành chính kinh tế can thiệp sâu vào nghiệp vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm về các quyết định của mình Hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá trong thời kỳ này chủ yếu là giao nộp sản phẩm, hàng hoá cho các đơn vị theo địa chỉ và giá cả do Nhà nước định sẵn Tóm lại, trong nền kinh tế tập trung khi mà ba vấn đề trung tâm: Sản xuất cái gì ? Bằng cách nào? Cho ai ? đều do Nhà nước quyết định thì công tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng chỉ là việc tổ chức bán sản phẩm, hàng hoá sản xuất ra theo kế hoạch
và giá cả được ấn định từ trước Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định 3 vấn đề trung tâm thì vấn đề này trở nên vô cùng quan trọng vì nếu doanh nghiệp nào tổ chức tốt nghiệp vụ tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá đảm bảo thu hồi vốn, bù đắp các chi phí đã bỏ ra và xác định đúng đắn kết quả kinh doanh sẽ có điều kiện tồn tại và phát triển Ngược lại, doanh nghiệp nào không tiêu thụ được hàng hoá của mình, xác định không chính xác kết quả bán hàng sẽ dẫn đến tình trạng “ lãi giả, lỗ thật” thì sớm muộn cũng đi đến phá sản Thực tế nền kinh tế thị trường đã và đang cho thấy rõ điều đó
Để quản lý được tốt nghiệp vụ bán hàng thì kế toán với tư cách là một công cụ quản
lý kinh tế cũng phải được thay đổi và hoàn thiện hơn cho phù hợp với tình hình mới
Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của vấn đề trên, qua quá trình thực tập ở Công ty
Cổ Phần Kinh Doanh Thương Mại Và Sản Xuất Việt An được sự hướng dẫn tận tình của thầy Thái Bá Công cùng với sự giúp đỡ của các cán bộ kế toán trong phòng Kế toán công ty
em đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp của mình với đề tài: “ Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ Phần Kinh Doanh Thương Mại Và Sản Xuất Việt An”
Chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 phần:
Phần I : Một số lý luận chung về kế toán bán hàng và xác điịnh kết quả bán hàng
Trang 3Phần II : Thực trạng về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty
Cổ Phần Kinh Doanh Thương Mại Và Sản Xuất Việt An
Phần III : Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Công ty Cổ Phần Kinh Doanh Thương Mại Và Sản Xuất Việt An
Do thời gian có hạn nên chuyên đề này không tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết Kính mong sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để chuyên
đề này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Phần I Một số lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh
nghiệp
I Những vấn đề chung về bán hàng và xác định kết quả bán hàng
1 Khái niệm về bán hàng và xác định kết quả bán hàng :
Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm,hàng hoá gắn với phần lớn lợi ích hoặc rủi roc ho khách hàng,đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.Quá trình bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất-kinh doanh, nó có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp,bởi vì quá trình này chuyển hoá vốn từ hình tháI hiện vật sang hình thán giá trị tiền tệ,giúp cho các doanh nghiệp thu hồi vốn để tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo
Bán hàng là một chức năng chủ yếu của doanh nghiệp, bất kỳ một doanh nghiệp Thương mại nào cũng phải thực hiện hai chức năng mua và bán Hai chức năng này có sự liên hệ với nhau: mua tốt sẽ tạo điều kiện cho bán tốt Để thực hiện tốt các nghiệp vụ trên đòi hỏi phải có sự tổ chức hợp lý các hoạt động đồng thời tổ chức nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhu cầu người tiêu ding Như vậy bán hàng là tổng thể các biện pháp về mặt tổ chức và nắm bắt nhu cầu của thị trường Tóm lại, quá trình bán hàng ở các doanh nghiệp thương mại có những đặc điểm chính sau đây:
+ Có sự thoả thuận trao đổi giữa người mua và người bán: Người bán đồng ý bán, người mua đồng ý mua họ trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền
+ Có sự thay đổi quyền sở hữu về hàng hoá: Người bán mất quyền sở hữu còn người mua có quyền sở hữu về hàng hoá đã mua bán
+ Trong quá trình tiêu thụ hàng hoá các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng một khối lượng hàng và nhận lại khách hàng một khoản tiền gọi là doanh thu bán hàng Số doanh thu này là cơ sở để đơn vị xác định kết quả kinh doanh của mình
- Kết quả bán hàng là chênh lệch giữa doanh thu thuần với trị giá vốn hàng bán ra và chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho số hàng đã bán
Trang 5Việc xác định kết quả bán hàng thường được tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý ở từng đơn vị kinh tế
2 Vai trò của bán hàng và xác định kết quả bán hàng :
Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình tuần hoàn vốn ở đơn vị (T-H-T’) Chỉ
có thông qua việc bán hàng giá trị sản phẩm, dịch vụ mới được thực hiện do đó mới có điều kiện để thực hiện mục đích của nền sản xuất hàng hoá và tái sản xuất kinh doanh không ngừng được mở rộng Doanh thu bán hàng sẽ bù đắp được các chi phí bỏ ra đồng thời kết quả bán hàng sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Bán hàng tự thân nó không phải là một quá trình của sản xuất kinh doanh nhưng nó lại là một khâu cần thiết của tái sản xuất xã hội Vì vậy bán hàng góp phần nâng cao năng suất lao động, phục vụ sản xuất, tiêu dùng và đời sống xã hội Nhờ có hoạt động bán hàng, hàng hoá sẽ được đưa đến tay người tiêu dùng và thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, việc tiêu thụ hàng hoá góp phần cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng Doanh nghiệp càng tiêu thụ được nhiều hàng hoá thì sức mạnh của doanh nghiệp càng tăng lên Như vậy bán hàng sẽ quyết định sự sống còn của doanh nghiệp, có bán được hàng hoá thì doanh nghiệp mới có khả năng tái sản xuất Ngoài ra việc xác định chính xác khối lượng hàng hoá tiêu thụ là cơ sở để xác định các chỉ tiêu kinh tế tài chính, đánh giá trình độ hoạt động của đơn vị như xác định số vòng luân chuyển vốn, xác định tỷ suất lợi nhuận trên doanh số bán là cơ sở để thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước như nộp thuế TNDN, thuế GTGT , thuế TTĐB,
Việc thúc đẩy bán hàng ở doanh nghiệp là cơ sở để thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ ở các đơn vị kinh tế có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp
Bán hàng góp phần điều hoà giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa tiền và hàng, giữa khả năng và nhu cầu, .là điều kiện để đảm bảo sự phát triển cân đối trong từng ngành, từng vùng cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân Bán hàng là cơ sở để xác định kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh ( lợi nhuận) của đơn vị Đây là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa quan trọng quá trình sản xuất kinh doanh, là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của đơn vị Có lợi nhuận doanh nghiệp mới có điều kiện để mở
Trang 6rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống cho người lao động, tạo nguồn tích luỹ quan trọng cho nền kinh tế quốc dân
Qua những điều trên ta thấy rằng bán hàng có vai trò vô cùng quan trọng, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều không thể thiếu đi chức năng này
3 Sự cần thiết phải quản lý bán hàng và các yêu cầu quản lý:
Sau một quá trình hoạt động, doanh nghiệp xác định được kết quả của từng hoạt động, trên cơ sở so sánh doanh thu và chi phí của từng hoạt động.Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phảI được phân phối và sử dụng theo đúng mục đích phù hợp với cơ chế tài chính quy định cho từng loại hình doanh nghiệp cụ thể
Yêu cầu quản lý:
- Quản lý sự vận động và số hiện có của từng loại sản phẩm,hàng hoá theo chỉ tiêu
số lượng,chất lượng chủng loại và giá trị cuả chúng
- Quản lý chất lượng,cải tiến mẫu mã và xây dung thương hiệu sản phẩm là mục tiêu cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
- Tìm hiểu, khai thác và mở rộng thị trường, áp dụng các phương thức bán hàng phù hợp và có các chính sách sau bán hàng “hậu mãi”nhằm không ngừng tăng doanh thu,giảm chi phí của các hoạt động
- Quản lý chặt chẽ các chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và các chi phí hoạt động khác nhằm tối đa hoá lợi nhuận
II Kế toán bán hàng và chi tiết nghiệp vụ bán hàng-xác định kết quả kinh doanh
1 Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng:
Để đáp ứng được các yêu cầu quản lý về thành phẩm,hàng hoá,bán hàng xác định kết quả và phân phối kết quả của các hoạt động.Kế toán phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
- Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và sự biến động của từng loại sản phẩm, hàng hoá theo chỉ tiêu số lượng,chất lượng,chủng loại và giá trị
Trang 7- Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác các khoản doanh thu,các khoản giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanh nghiệp.Đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu của khách hàng
- Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động,giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và tình hình phân phối kết quả các hoạt động
- Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập Báo cáo tài chính và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng, xác định và phân phối kết quả
2 Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
2.1 Tài khoản sử dụng
Để hạch toán các nghiệp vụ bán hàng kế toán sử dụng các TK sau:
* Đối với phương pháp kê khai thường xuyên
+ TK 511 “ Doanh thu bán hàng”: Tài khoản này dùng để phản ánh tổng số doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp và các khoản giảm trừ doanh thu từ đó tính ra doanh thu thuần về tiêu thụ trong kỳ
TK 511 gồm 4 tài khoản cấp 2:
+ TK 512 “Doanh thu bán hàng nội bộ”: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của số hàng hoá tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một Công ty, hạch toán toàn ngành Ngoài ra TK này còn sử dụng để theo dõi một số nội dung được coi là tiêu thụ nội bộ khác như sử dụng sản phẩm, hàng hoá để trả lương công nhân viên,
TK 512 được chi tiết thành 3 tài khoản cấp 2:
TK 5121: Doanh thu bán hàng hoá
TK 5122: Doanh thu bán sản phẩm
TK 5123: Doanh thu cung cấp dịch vụ
TK 5111 “Doanh thu bán hàng hoá”
TK 5112 “Doanh thu bán các thành phẩm”
TK 5113 “Doanh thu cung cấp
Trang 8+ TK 521 “Chiết khấu thương mại”: Được sử dụng để theo dõi toàn bộ các khoản chiết khấu thương mại cho khách hàng trên giá bán đã thoả thuận do khách hàng đã mua hàng với khối lượng lớn
+ TK 531 “ Hàng bán bị trả lại”: TK này dùng để theo dõi doanh thu của số hàng hoá đã tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại Đây là tài khoản điều chỉnh của tài khoản 511
để tính toán doanh thu thuần
+ TK 532 “Giảm giá hàng bán”: Được sử dụng để theo dõi toàn bộ các khoản giảm giá hàng bán cho khách hàng trên giá bán đã thoả thuận Được hạch toán vào tài khoản này bao gồm các khoản bớt giá, hồi khấu và khoản giảm giá đặc biệt do những nguyên nhân thuộc về người bán
+ TK 632 “Giá vốn hàng bán”: Dùng để theo dõi trị giá vốn của hàng hoá, dịch vụ xuất bán trong kỳ
+ TK 156 “Hàng hoá”: Dùng để phản ánh giá thực tế hàng hoá tại kho, tại quầy, chi tiết theo từng kho, loại, nhóm, .hàng hoá
TK 156 được chi tiết thành 2 tài khoản cấp 2:
TK 1561 “Giá mua hàng hoá”
TK 1562 “Chi phí thu mua hàng hoá”
+ TK 157 “Hàng gửi bán”: Phản ánh trị giá mua thực tế của hàng gửi bán, ký gửi, đại lý chưa được chấp nhận Tài khoản này được mở chi tiết theo từng loại hàng, từng lần gửi hàng từ khi gửi đi đến khi được chấp nhận thanh toán
Ngoài các tài khoản nói trên, trong quá trình hạch toán kế toán còn sử dụng một số tài khoản có liên quan khác như: 131,111, 333, 334,
Đối với phương pháp kiểm kê định kỳ: thì ngoài các tài khoản đã giới thiệu ở trên kế
toán còn sử dụng tài khoản:
TK 611(6112) “Mua hàng hoá”: Tài khoản này phản ánh trị giá hàng hoá mua vào
theo giá thực tế ( giá mua và chi phí thu mua) và được mở chi tiết theo từng thứ, từng kho hàng hoá
Trang 92.2 Phương pháp hạch toán các nghiệp vụ bán hàng
Để hạch toán nghiệp vụ bán hàng kế toán phải phản ánh được trị giá vốn hàng xuất bán, doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu
2.2.1 Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu:
2.2.1.1 Kế toán doanh thu bán hàng:
Khái niệm doanh thu,các loại doanh thu:
Doanh thu là tổng các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ hạch toán,phát sinh từ hoạt động SXKD thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu
Doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại,giảm giá hàng bán và trị giá hàng bán bị trả lại
Các loại doanh thu:Doanh thu tuỳ theo từng loại hình SXKD và bao gồm:
- Doanh thu bán hàng
- Doanh thu cung cấp dịch vụ
- Doanh thu từ tiền lãi,tiền bản quyền,cổ tức và lợi tức được chia
Ngoài ra còn có các khoản thu nhập khác.Khi hạch toán doanh thu và thu nhập khác lưu ý các quy định sau đây:
+ Doanh thu chi được ghi nhận khi thoả mãn các điều kiện ghi nhận cho doanh thu bán hàng,doanh thu cung cấp dịch vụ,doanh thu tiền lãi,tiền bản quyền,cổ tức và lợi tức được chia quy định tại chuẩn mực”Doanh thu và thu nhập khác”.nếu không thoả mãn các điều kiện thì không hạch toán vào doanh thu
+ Doanh thu và chi phí liên quan đến cùng một giao dịch phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp và theo năm tài chính
+ Trường hợp hàng hoá hoặc dịch vụ trao đổi lấy hàng hoá hoặc dịch vụ tương tự về bản chất thì không được ghi nhận là doanh thu
Trang 10+ Phải theo dõi chi tiết từng loại doanh thu,doanh thu từng mặt hàng ngành hàng,từng sản phẩm,theo dõi chi tiết từng khoản giảm trừ doanh thu,để xác định doanh thu thuần của từng loại doanh thu,chi tiết từng mặt hàng,từng sản phẩm,để phục vụ cho cung cấp thông tin kế toán để quản trị doanh nghiệp và lập Báo cáo tài chính
Chứng từ kế toán sử dụng:
Chứmg từ kế toán được sử dụng để kế toán doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng bao gồm:
- Hoá đơn GTGT(mẫu 01-GTKT)
- Hoá đơn bán hàng(mẫu 02-GTKT)
- Bản thanh toán hàng đại lý,ký gửi (mẫu 14-BH)
- Thẻ quầy hàng(mẫu 15-BH)
- Các chứng từ thanh toán(Phiếu thu,séc chuyển khoản,séc thanh toán,uỷ nhiệm
thu,giấy báo có của NH,bản sao kê của NH)
- Tờ khai thuế GTGT(mẫu 07A/GTGT)
- Chứng từ kế toán liên quan khác như phiếu nhập kho hàng trả lại
Để kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ,kế toán sử dụng các TK sau:
TK 511-DTBH và cung cấp dịch vụ
TK 512-Doanh thu nội bộ
TK 3331- Thuế GTGT phảI nộp
TK 3387 Doanh thu chưa thực hiện
Và các tài khoản liên quan khác(TK 111,112,131)
TK 511-Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:TK này phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong 1 kỳ hạch toán của hoạt động SXKD từ các giao dịch và nghiệp vụ sau:
+ Bán hàng:Bán các sản phẩm do DNSX ra và bán hàng hoá mua vào
Trang 11+ Cung cấp dịch vụ: Thực hiện các công việc đã thoả thuận trong 1 hoặc nhiều kỳ kế toán như cung cấp dịch vụ vận tảI,du lịch,cho thuê tài sản theo phương thức hoạt động
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc số thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm,hàng hoán,cung cấp cho khách hàng gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (Nêú có) Kết cấu của TK 511-Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:
TK 511-Không có số dư cuối kỳ và có 4 tài khoản cấp 2:
- TK 5111-Doanh thu bán hàng hoá: Được sử dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá,vật tư
- TK 5112-Doanh thu bán thành phẩm: Được sử dụng ở các doanh nghiệp sản xuất vật chất như: công nghiệp, xây lắp, ngư nghiệp, lâm nghiệp
- TK 5113-Doanh thu cung cấp dịch vụ: Được sử dụng cho các nghành kinh doanh dịch vụ như:Giao thông vận tảI,bưu điện,du lịch,dịch vụ công cộng, dịch vụ khoa học và kỹ thuật
+ TK 5114-Doanh thu trợ cấp, trợ giá: Được dùng để phản ánh các khoản thu từ trợ cấp, trợ giá của nhà nước khi doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ cung cấp hàng hoá, dịch
vụ theo yêu cầu của nhà nước
2.2.1.2 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu
Trang 12Các khoản giảm trừ doanh thu như:chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế GTGT nộp theo phương pháp trực tiếp và thuế xuất nhập khẩu, được tính vào doanh thu ghi nhận ban đầu, để xác định doanh thu thuần, làm cơ sở để tính kết quả kinh doanh trong kỳ riêng biệt trên những tài khoản kế toán phù hợp,nhằm cung cấp các thông tin kế toán để lập Báo cáo tài chính
ở các doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì doanh thu bán hàng không bao gồm thuế GTGT còn ở các doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng là trị giá thanh toán của số hàng đã bán Ngoài ra doanh thu bán hàng còn bao gồm cả các khoản phụ thu
- Kế toán chiết khấu thương mại
Chiết khấu thương mại là khoản tiền mà doanh nghiệp đã giảm trừ, hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua hàng (sản phẩm,hàng hoá) dịch
vụ với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh
tế mua bán hoặc cam kết mua, bán hàng
Để phản ánh chiết khấu thương mại kế toán sử dụng TK 521-Chiết khấu thương mại
- Kế toán hàng bán bị trả lại
Hàng bán bị trả lại là số sản phẩm,hàng hoá doanh nghiệp đã xác định tiêu thụ, nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh tế như: hàng kém phẩm chất, sai qui cách, chủng loại.Hàng bán bị trả lại phải có văn bản đề nghị của người mua ghi rõ lý do trả lại hàng,số lượng hàng bị trả lại,giá trị hàng bị trả lại, đính kèm hoá đơn(nếu trả lại toàn bộ) hoặc bản sao hoá đơn (nếu trả lại một phần hàng)
Để phản ánh giá trị hàng bán bị trả lại kế toán sử dụng TK 531-Hàng bán bị trả lại, tài khoản này phản ánh doanh thu của số thành phẩm, hàng hoá đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do lỗi của doanh nghiệp
- Kế toán giảm gía hàng bán
Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ được doanh nghiệp (bên bán) chấp thuận một cách đặc biệt trên giá đã thoả thuận trên hoá đơn, vì lý do hàng bán bị kém phẩm chất, không đúng qui cách,hoặc không đúng thời hạn ghi trong hợp đồng
Trang 13Để phản ánh các khoản giảm gía hàng bán kế toán sử dụng TK 532-Giảm giá hàng bán
- Kế toán thuế GTGT nộp theo phương pháp trực tiếp, thuế tiêu thụ đặc biệt,thuế xuất khẩu phải nộp
Thuế GTGT, thuế TTDB, thuế xuất khẩu là khoản thuế gián thu, tính trên doanh thu bán hàng.Các khoản thuế này tính cho các đối tượng tiêu dùng hàng hoá,dịch vụ phảI chịu, các cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ là đơn vị thu nộp thuế thay cho người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó
Sơ đồ 03: Sơ đồ hạch toán tổng quát doanh thu bán hàng, các khoản giảm doanh thu
Kết chuyển các khoản ghi
giảm doanh
Doanh thu bán hàng
TK 33311 Thuế GTGT phải
nộp theo phương pháp
TK 152,153
Bán hàng theo phương thức hàng
đổi hàng
TK 911
Kết chuyển Doanh thu
TK
33311 Thuế GTGT
phải nộp theo phươngpháp trực
TK 133
Thuế GTGT được khấu
Các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá
hàng bán, hàng bán bị trả lại thực tế phát
sinh
Trang 142.2.2 Kế toán giá vốn hàng bán:
Khái niệm: Giá vốn hàng xuất bán là trị giá vốn của sản phẩm, vật tư, hàng hoá,lao vụ,
dịch vụ đã tiêu thụ Đối với sản phẩm,lao vụ,dịch vụ tiêu thụ giá vốn là giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) Với vật tư tiêu thụ, giá vốn là giá thực tế ghi sổ, còn với hàng hoá tiêu thụ giá vốn bao gồm trị giá mua của hàng tiêu thụ cộng với chi phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ
Để xác định đúng đắn kết quả bán hàng cần xác định đúng đắn trị giá vốn hàng xuất bán
Trị giá vốn hàng xuất bán bao gồm 2 bộ phận: Trị giá mua và chi phí thu mua phân
bổ cho hàng tiêu thụ trong kỳ Đối với các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ trong giá mua không bao gồm thuế GTGT đầu vào còn đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trong giá mua bao gồm cả thuế GTGT đầu vào
* Trị giá mua của hàng tiêu thụ trong kỳ được tính bằng một trong các phương pháp sau:
+ Phương pháp tính theo đơn giá bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ
Công thức tính : = = x Đơn giá
thực tế
Số lượng hàng hoá xuất kho
Trị giá mua hàng xuất bán
Trang 15Trong đó:
Trị giá mua của Trị giá mua của hàng hoá
Đơn giá thực tế hàng hoá tồn đầu kỳ nhập trong kỳ
bình quân Số lượng hàng hoá Số lượng hàng hoá
tồn đầu kỳ nhập trong kỳ
+ Phương pháp tính theo đơn giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập hàng:
Trị giá vốn hàng Số lượng hàng hoá Đơn giá bình quân sau
xuất bán xuất kho mỗi lần nhập
Trong đó:
Đơn giá bình quân Giá thực tế hàng hoá tồn kho sau mỗi lần nhập
sau mỗi lần nhập Lượng thực tế hàng hoá tồn sau mỗi lần nhập
+ Phương pháp giá thực tế đích danh: Cách tính này được sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp quản lý hàng hoá xuất kho theo từng lô hàng nhập Hàng xuất thuộc lô hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập của lô hàng đó để tính.Phương pháp này thường sử dụng với những loại hàng có giá trị cao, thường xuyên có cải tiến về mẫu mã và chất lượng
+ Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO): Theo phương pháp này người ta giả thiết rằng lô hàng nào nhập kho trước thì xuất trước Hàng xuất thuộc lô hàng nhập nào thì lấy đơn giá vốn của lô hàng đó để tính
+ Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO):
Theo phương pháp này người ta giả thiết rằng lô hàng nào nhập sau thì xuất trước.Hàng xuất thuộc lô hàng nhập nào thì lấy đơn giá vốn của lô hàng đó để tính
Sau khi đã tính được trị giá mua hàng hoá xuất kho ta tính được trị giá vốn của hàng hoá đã bán(giá vốn hàng xuất đã bán)
=
+ +
=
Trang 16Trị giá vốn hàng xuất bán = Trị giá mua hàng xuất bán + Chi phí thu mua phân bổ cho hàng đã bán
Trong đó:
Trình tự kế toán giá vốn hàng xuất bán trong doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ được thể hiện trên sơ đồ sau:
Trị giá mua của hàng nhập trong kỳ
Chi phí thu mua phát
Chi phí thu mua phân bổ cho hàng tồn cuối
Chi phí thu mua cần phân
bổ phát sinh trong kỳ
Trị giá mua của hàng tồn
Trị giá mua của hàng tồn cuối
+
+
x
=
Trang 17Sơ đồ 01: Hạch toán giá vốn hàng xuất bán theo phương pháp KKTX
Trình tự kế toán giá vốn hàng xuất bán trong doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ được thể hiện trên sơ đồ sau:
Sơ đồ 02 : Hạch toán giá vốn hàng xuất bán theo phương pháp KKĐK
tế của hàng bán bị trả lại ( nếu có)
TK
156,157
Đầu kỳ kinh doanh kết chuyển trị giá hàng chưa tiêu thụ
Xác định trị giá vốn hàng tiêu thụ trong kỳ
Kết chuyển giá vốn hàng xuất bán
để xác định kết Kết chuyển trị giá
hàng còn lại, chưa
Trang 192.2.3 Kế toán chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp:
Kế toán chi phí bán hàng:
Khái niệm: Chi phí bán hàng là toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình bán sản
phẩm, hàng hoá và cung cấp dịch vụ bao gồm:
+ Chi phí nhân viên bán hàng: Là toàn bộ các khoản tiền lương phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói,bảo quản sản phẩm, hàng hoá, vận chuyển đI tiêu thụ và các khoản tính theo lương(khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ)
+ Chi phí vật liệu bao bì: Là các khoản chi phí về vật liệu, bao bì để đóng gói, bảo quản sản phẩm, hàng hoá,vật liệu dùng để sửa chữa TSCĐ dùng trong khâu bán hàng, nhiên liệu cho vận chuyển sản phẩm hàng hoá
+ Chi phí dụng cụ đồ dùng:Là chi phí về công cụ,dụng cụ,đồ dùng đo lường,tính toán,làm việc ở khâu bán hàng và cung cấp dịch vụ
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Chi phí khấu hao TSCĐ dùng ở khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá và cung cấp dịch vụ như nhà kho, cửa hàng, phương tiện vận chuyển, bốc dỡ
+ Chi phí bảo hành sản phẩm: Là các khoản chi phí bỏ ra để sửa chữa, bảo hành sản phẩm, hàng hoá trong thời gian quy định bảo hành
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ như:chi phí thuê tài sản, thuê kho, thuê bến bãi, thuê bốc vác vận chuyển, tiền hoa hồng đại lý…
+ Chi phí bằng tiền khác: Là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá và cung cấp dịch vụ nằm ngoài các khoản chi phí kể trên như: chi phí tiếp khách,hội nghị khách hàng, chi phí quảng cáo giới thiệu sản phẩm,hàng hoá
TK kế toán sử dụng : TK 641-Chi phí bán hàng
Kết cấu cơ bản của TK này như sau:
Bên nợ: Tập hợp CPBH thực tế phát sinh trong kỳ
Bên có:
+Các khoản ghi giảm CPBH
Trang 20+Cuối kỳ phâm bổ và kết chuyển CPBH để xác định kết quả kinh doanh hoặc chuyển thành chi phí chờ kết chuyển
Sau khi kết chuyển TK này không còn số dư cuối kỳ
TK 641 được mở chi tiết 7 TK cấp 2:
TK6411-Chi phí nhân viên
TK 6412-Chi phí vật liệu
TK 6413-Chi phí dụng cụ,đồ dùng
TK 6414-Chi phí KHTSCĐ
TK 6415-Chi phí bảo hành
TK 6416-Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6417-Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6418-Chi phí bằng tiền khác
Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp:
Khái niệm: Là toàn bộ chi phí có liên quan đến hoạt động quản lý kinh doanh, quản
lý hành chính và quản lý điều hành chung toàn doanh nghiệp
+ Chi phí nhân viên quản lý: Gồm tiền lương, phụ cấp phải trả cho ban giám đốc, nhân viên các phòng ban của doanh nghiệp và khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương nhân viên quản lý theo tỷ lệ quy định
+ Chi phí vật liệu quản lý: Trị giá thực tế các loại vật liệu, nhiên liệu xuất dùng cho hoạt động quản lý của ban giám đốc và các phòng ban nghiệp vụ của doanh nghiệp, cho việc sửa chữa TSCĐ công cụ, dụng cụ dùng chung của doanh nghiệp
+ Chi phí đồ dùng văn phòng: Chi phí về dụng cụ, đồ dùng văn phòng dùng cho công tác quản lý chung của doanh nghiệp
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Khấu hao của những TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp như văn phòng làm việc, kho tàng, vật kiến trúc, phương tiện truyền dẫn
Trang 21+ Thuế phí, lệ phí: Các khoản thuế như thuế nhà, đất, thuế môn bài và các khoản phí,
lệ phí giao thông, cầu phà…
+ Chi phí dự phòng: Khoản trích dự phòng phảI thu khó đòi
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Các khoản chi phí về dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài như tiền điện, nước, thuê sửa chữa TSCĐ dùng chung của doanh nghiệp
+ Chi phí bằng tiền khác: Các khoản chi phí khác bằng tiền ngoài các khoản đã kể trên như chi hội nghị, tiếp khách, chi công tác phí, chi đào tạo cán bộ và các khoản chi khác…
TK kế toán sử dụng TK 642-Chi phí quản lý DN
Bên nợ:
+ Các khoản chi phí QLDN thực tế phát sinh trong kỳ
+ Trích lập và trích lập thêm khoản dự phòng phải thu khó đòi
Bên có:
+ Các khoản ghi giảm chi phí QLDN
+ Cuối niên độ kế toán,hoàn nhập số chênh lệch dự phòng phải thu khó đòi
đã trích lập lớn hơn số phải trích lập cho năm tiếp theo
+ Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp để xác định kết quả kinh doanh hay để chờ kết chuyển
Sau khi kết chuyển TK 642 không có số dư cuối kỳ
TK 642 có 8 tài khoản cấp 2:
-TK 6421-Chi phí nhân viên quản lý
-TK 6422-Chi phí vật liệu quản lý
-TK 6423-Chi phí đồ dùng văn phòng
-TK 6424-Chi phí khấu hao TSCĐ
-TK 6425-Thuế phí, lệ phí
-TK 6426-Chi phí dự phòng
Trang 22-TK-6427-Chi phí dịch vụ mua ngoài
dụng cụ Chi phí vật liệu,
Giá trị ghi giảm chi phí bán hàng
và chi phí quản lý doanh nghiệp
Kết chuyển chi phí bán hàng, chi phí QLDN để xác định kết quả kinh doanh
Trang 232.2.4 Kế toán xác định kết quả bán hàng
Khái niệm: Kết quả bán hàng là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với trị giá vốn
hàng bán ra và chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho số hàng đã tiêu thụ
Kết quả bán hàng được xác định bằng phương pháp sau:
Kết quả hoạt động Doanh thu Giá vốn hàng Chi phí bán hàng và CP bán hàng thuần xuất đã bán QLDN tính cho hàng đã bán
Doanh thu thuần = Tổng doanh thu - Các khoản giảm trừ ( Giảm giá hàng bán + Doanh thu hàng bán bị trả lại+ chiết khấu thương mại + tổng số thuế TTĐB, thuế xuất khẩu, thuế GTGT đối với doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp trực tiếp)
Nếu kết quả bán hàng là (+) chứng tỏ doanh nghiệp có lãi
Nếu kết quả bán hàng là (-) chứng tỏ doanh nghiệp bị lỗ
Việc xác định kết quả bán hàng thường được tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh
Chi phí dịch
vụ mua ngoài
và chi phí bằng tiền khác
Trang 25
Sơ đồ 06: Sơ đồ hạch toán kết quả bán hàng
2.2.5 Sổ kế toán sử dụng trong kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
Hệ thống sổ kế toán sử dụng trong kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý ở từng đơn vị kinh tế, tuỳ thuộc vào hình thức kế toán mà đơn vị áp dụng
Theo chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành các doanh nghiệp có thể sử dụng một trong bốn hình thức kế toán sau:
+ Hình thức kế toán Nhật ký- Sổ Cái
Kết chuyển chi phí
bán hàng và chi phí quản lý doanh
Kết chuyển doanh thu thuần của hoạt động bán
hàng
Kết chuyển lỗ của hoạt động bán hàng
Kết chuyển lãi của hoạt động bán hàng
Trang 26+ Hình thức kế toán Nhật ký chung
+ Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ
+ Hình thức kế toán Nhật ký- chứng từ
Mỗi doanh nghiệp chỉ được sử dụng một hình thức kế toán, căn cứ vào chế độ và đặc
điểm kinh doanh của mình để xây dựng hệ thống sổ tổng hợp, sổ chi tiết sao cho phù hợp, đảm bảo hiệu quả của công tác kế toán
Trang 27Phần II Thực trạng về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần
kinh doanh thương mại và sản xuất Việt An
I Đặc điểm tình hình chung về Công ty Cổ phần kinh doanh thương mại và sản xuất
Việt An
1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần kinh doanh thương mại và
sản xuất Việt An
Công ty Cổ Phần Kinh Doanh Thương Mại và Sản Xuất Việt An là doanh nghiệp
được thành lập ngày 22/11/1993 do sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103005989
- Tên công ty: Công Ty Cổ Phần Kinh Doanh Thương Mại và Sản Xuất Việt An
- Tên giao dịch: Viet An Trading Production Businessment Joint Stock Company
- Tên viết tắt: Viet An Traprobussi jsc
- Trụ sở chính: Số 15, Ngách 24/83 Kim Đồng-Giáp Bát-Hoàng Mai -Hà Nội
- Giám đốc công ty: Ông Trịnh Đình Hùng
- Tài khoản: 431101.000601 Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn nam Hà
Nội
- Giấy phép đăng ký kinh doanh số: 0103005989 Sở kế hoạch và đầu tư thành phố
Hà Nội cấp ngày 22/11/1993
- Hình thức sở hữu vốn của công ty: công ty cổ phần kinh doanh thương mại và sản
xuất Việt An thuộc hình thức công ty Cổ phần hoạt động theo luật doanh nghiệp và các quy
định khác của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Ngành nghề kinh doanh: Các sản phẩm về giấy
- Tiền thân của công ty cổ phần kinh doanh thương mại và sản xuất Việt An là tổ sản
xuất Ban đầu công ty chỉ sản xuất một loại sản phẩm là giấy krap dùng cho đệm lót và
đóng hộp Với cơ sở vật chất nghèo nàn lạc hậu chỉ có một dây chuyền cũ mua lại, sản
lượng hàng năm chỉ đạt 300 tấn giấy Krap Đến tháng 11/1993 chuyển đổi thành xí nghiệp
Trang 28cổ phần Việt An công ty đã thành lập chiều sâu, đổi mới công nghệ, xây dựng một dây chuyền mới của Trung Quốc Năng lực sản xuất của công ty tăng lên từ 300 tấn/năm lên 1000 tấn/năm và công ty tiếp tục đầu tư thêm một dây truyền mới sản xuất giâý kráp , công suất hàng năm đạt 2500 tấn/năm
Thành tựu trên của công ty, đã chứng tỏ được sự trưởng thành của mình và khẳng định chỗ đứng trong nền kinh tế thị trường
Một số chỉ tiêu chính của công ty trong năm 2006
Giá trị tổng sản lượng: 12.538.12.000đ
Năng suất lao động BQ: 50.152.000đ/ người
Tổng doanh thu tiêu thu: 13.502.009.000đ
Tổng số lao động: 300 người
Thu nhập BQ tháng: 550.000đ/ người
2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ Phần Kinh Doanh Thương Mại và Sản Xuất Việt An
2.1 Đặc điểm mặt hàng kinh doanh
Mặt hàng sản xuất kinh doanh chủ yếu của công ty bao gồm: các loại giấy Krap, nếu tính trong năm thì doanh thu tiêu thụ giấy knap chiếm khoảng 80% tổng doanh thu của tất
cả các mặt hàng của công ty Trong năm 2006 vừa qua thuế GTGT của giấy lên tới 1400.000.000đ tổng mức nộp ngân sách là 500.000.000đ
2.2 Đặc điểm về quy trình công nghệ và sản xuất
- Giai đoạn khai thác nguyên vật liêu:
Nguyên vật liệu được thu mua hàng ngày theo các tổ đặt tại các trạm để thu mua và được vận chuyển tập trung tại kho bãi nguyên vật liệu của công ty Đối với xí nghiệp sản xuất hộp catong thì vận chuyển nội bộ từ kho của xí nghiệp giấy lên làm nguyên vật liệu và
được tập trung tại kho
- Giai đoạn gia công nguyên liệu và tạo thành sản phẩm
Nguyên vật liệu được tập trung ở trên bãi, qua xử lý thủ công đưa vào hệ thống bể ngân, đưa vào máy nghiền và rửa qua nghiền đĩa 1 sang nghiền đĩa 2, bột đưa vào bể chứa,
Trang 29từ bể chứa được đưa vào bể trung gian pha bột, từ bể trung gian sang bể khuấy tròn, qua bơm seo bột lên lô lưới, qua chăn seo, lên lô sấy, giấy vào băng được sấy khô, qua máy xén
tự động theo ý muốn, cuộn tròn và nhập kho
Trang 30Sơ đồ dây chuyền công nghệ và quy trình sản xuất giấy
Bãi nguyên liệu
Bể ngâm
Máy nghiền rửa
Máy nghiền đĩa
Bể chứa bột
Nguyên vật liệu
Bể trung gian
Khuấy tròn
Máy bơm seo
Máy seo giấy
Trang 312.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất
Công Ty Cổ Phần Kinh Doanh Thương Mại và Sản Xuất Việt An có 02 xí nghiệp, Xưởng sản xuất giấy 1 có nhiệm vụ sản xuất giấy theo đơn đặt hàng khi có lệnh của xí nghiệp, chịu trách nhiệm về chất lượng giấy trong xưởng giấy 1chia thành 4 tổ trực tiếp vận hành máy móc theo nội quy.Phân xưởng của xí nghiệp 2 được chia thành 3 tổ Tổ Sóng chịu trách nhiệm đặt giấy theo kế hoạch và chịu chất lượng phâp và ghim theo đúng đơn đặt
hàng Tổ in chịu trách nhiệm in ấn theo đúng quy định của xưởng
Tổ hoàn thiện
Tổ
in
Trang 32t
Kinh doanh
Kế toán
Kỹ thuậ
t
Kinh doanh
a Giám đốc công ty
Là người đứng đầu bộ máy lãnh đạo của công ty, có năng lực tổ chức chỉ đạo sản xuất kinh doanh đối nội đối ngoại tốt và được tín nhiệm của các thành viên, giám đốc công ty phụ trách chung là người điều hành toàn bộ hoạt động của công ty, có quyền nhân danh
Trang 33công ty trong mọi trường hợp, chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới chịu trách nhiệm với các thành viên khác của công ty Giám đốc chịu trách nhiệm trực tiếp phụ trách công tác tổ chức quản lý, tổ chức công tác tài chính kế toán, kế hoạch sản xuất kinh doanh, ký kết các hợp đồng kinh doanh, Hợp đồng lao động hoặc mời chuyên gia cố vấn (nếu cần) Giám đốc chịu trách nhiệm trước pháp luật Nhà nước về tất cả các hoạt động của công ty
b Phó giám đốc công ty:
Công ty có 2 phó giám đốc giúp giám đốc các mặt công tác do Giám đốc phân xưởng như sản xuất kinh doanh, kỹ thuật và đời sống, an toàn lao động…thay mặt Giám đốc giải quyết các công việc khi giám đốc đi vắng và được Giám đốc uỷ quyền ký kết hợp đồng kinh doanh, giải quyết công việc khi cần thiết
g Phòng kinh doanh, tiếp thị
Có chức năng xây dựng kế hoạch tháng, quỹ, năm điều hành sản xuất kinh doanh trên
cơ sở tiêu thụ sản phẩm, căn cứ vào các nhu cầu thông tin trên thị trường phòng xây dựng giá thành, kế hoạch giá thành, kế hoạch sản xuất nhằm thu lợi nhuận cao nhất Đảm bảo công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm của toàn công ty
4 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của công ty
Trang 34Phòng kế toán đạt dưới sự quản lý, lãnh đạo của giám đốc công ty, các nhân viên kế toán tiêu thụ sự điều hành của kế toán trưởng
Nhiệm vụ của phòng kế toán là quản lý tình hình tài chính, hướng dẫn kiểm tra, đôn đốc , việc ghi chép đầy đủ chính xác, thống nhất trong quá trình tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sản xuất của công ty, nhằm phục vụ cho việc điều hành công ty,quản lý các nguồn vốn,tài sản của công ty một cách chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả, tổ chức thực hiện chế độ báo cáo kịp thời và bảo quản lưu trữ hồ sơ tài liệu kế toán theo đúng quy định của Nhà nước
4.1 Chế độ kế toán áp dụng:
Niên độ kế toán bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 hàng năm
Đơn vị tiền tệ sử dụng: Đồng Việt Nam (VNĐ)
Hình thức kế toán: chứng từ ghi sổ
Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: theo phương pháp kê khai thường xuyên Phương pháp hạch toán nguyên vật liệu xuất kho: theo giá trị thực tế xuất kho của nguyên vật liêu
Phương pháp tính thuế GTGT: theo đăng ký mức khấu hao 4 năm
Kỳ tính giá thành và kỳ báo cáo: theo tháng
4.1.1 Hình thức tổ chức công tác kế toán
Có nhiều hình thức tổ chức công tác kế toán khác nhau Công ty đã lựa chọn hình thức
tổ chức công tác kế toán thích hợp, để tổ chức bộ máy kế toán ở công ty xác định rõ được chức trách, nhiệm vụ kế toán trưởng, của từng bộ phận kế toán và từng cán bộ kế toán nhằm thu thập xử lý hệ thống hoá và cung cấp đầy đủ, kịp thời toàn bộ thông tin về hoạt động kinh doanh, tài chính phát sinh ở công ty Điều đó có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả
và chất lượng của công tác kế toán, thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của hạch toán kế toán và phát huy được vai trò của hạch toán trong quản lý kinh tế, tài chính của công ty
4.1.2 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán
Để phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức bộ máy kế toán cho phù hợp với quy mô sản xuất kinh doanh và tình hình thực tế tại đơn vị mình Xuất phát từ cơ cấu tổ chức quản lý và việc sắp xếp các xí nghiệp trực thuộc, cụng ty
Trang 35cổ phần kinh doanh thương mại và sản xuất VIệT AN áp dụng hình thức kế toán tập trung Nghĩa là toàn bộ công tác kế toán đều được thực hiện ở phòng kế toán tài chính từ khâu thu nhập chứng từ, ghi sổ đến khâu xử lý thông tin trên hệ thống báo cáo, phân tích tổng hợp, cụng ty cổ phần kinh doanh thương mại và sản xuất Việt An ngoài 4 nhân viên phòng
kế toán tài chính dưới các xí nghiệp thành viên còn bố trí các nhân viên hạch toán kinh tế nhằm giúp cho phòng một số công việc nhất định như lập bảng tính lương, tập hợp các phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, tập hợp những nghiệp vụ liên quan đến nhiệm vụ được giao
Đứng đầu bộ máy kế toán là trưởng phòng kế toán tài chính là người điều hành giám sát toàn bộ hoạt động của bộ máy kế toán, chịu trách nhiệm và nghiệp vụ chuyên môn kế toán tài chính của công ty.Trưởng phòng kế toán thay mặt thực hiện chế độ, thể lệ quy định của Nhà nước về lĩnh vực kế toán, tài chính của công ty
Phòng phòng kế toán kiêm kế toán tổng hợp: có trách nhiệm trợ giúp kế toán trưởng phụ trách các hoạt động của phòng, đồng thời có trách nhiệm tổng hợp các chứng từ, bảng
kê chứng từ do các kế toán viên cung cấp vào cuối ngày, tháng, quỹ, năm Sau đó tổng hợp vào sổ cái theo từng tài khoản rồi lập báo cáo theo nội dung yêu cầu của công ty
Thủ quỹ chịu trách nhiệm về tiền mặt của công ty.Hàng ngày căn cứ vào phiếu thu, chi qua các chứng từ gốc, theo dõi sử dụng vốn theo đúng mục đích, ghi sổ quỹ, cuối ngày đối chiếu với kế toán quỹ, nếu có sai sót phải sửa kịp thời, khi có yêu cầu của cấp trên thủ quỹ và các bộ phận có liên quan kiểm kê quỹ tiền mặt hiệncó ở sổ Nếu thiếu hụt sẽ phải tìm nguyên nhân và đề ra phương án xử lý
Kế toán quỹ: giám sát việc thu chi qua các chứng từ gốc, theo dõi và sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, đồng thời theo dõi tình hình thanh toán với khách hàng, thanh toán tạm ứng…lập chứng từ ghi sổ, đăng ký chứng từ ghi sổ theo thời gian 3 ngày một lần ghi sổ tài khoản 111,112,113,331,141
Kế toán vật liệu công cụ, dụng cụ: hạch toán chi tiết vật liệu theo phương pháp sổ số
dư Cuối tháng tổng cộng số liệu, lập báo cáo vật liệu cùng với các bộ phận chức năng khác tiến hành kiểm kê tại kho vật tư, đối chiếu với sổ sách kế toán Nếu thiếu hụt thì phải tìm nguyên nhân và có biện pháp xử lý ghi trong biên bản kiểm kê, ghi vào bảng kê mua hàng,
sổ chi tiết vật liệu công cụ dụng cụ ghi vào sổ chi tiết TK 152, 153, 151, 155…
Trang 36Kế toán tiền lương: có nhiệm vụ theo dõi việc chấm công, phiếu nghiệm thu sản phẩm, để làm căn cứ tính lương, thanh toán tiền lương và các khoản phụ cấp cho cán bộ công nhân viên trong công ty Cuối tháng lập bảng thanh toán tiền lương, tập hợp chi phí tiền lương, bảng phân bổ tiền lương để kế toán giá thành lấy số liệu để tính giá thành sản phẩm.Ghi vào TK 334,138,338
Kế toán TSCĐ và nguồn vốn: phân loại tài sản cố định hiện có của công ty và tính khấu hao theo phương pháp đường thẳng.Cuối tháng lập bảng phân bổ khấu hao, lập chứng
từ ghi sổ, đăng ký chứng từ ghi sổ vào sổ vào sổ cái TK 211,214,213
Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành: căn cứ và các phiếu xuất kho vật tư, bảng thanh toán lương, hợp đồng sản xuất, phiếu xuất kho thành phẩm Kế toán tiến hành tính toán, tập hợp chi phí và kiểm tra số liệu do nhân viên hạch toán kinh tế ở các xí nghiệp thành viên gửi lên thực hiện tính giá thành, kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm, ghi vào thẻ tính giá thành, bảng phân bổ, sổ chi tiết TK 621, 622, 627
Kế toán thành phẩm và tiêu thụ sản phẩm: có nhiệm vụ theo dõi quá trình xuất, nhập thành phẩm và xác định chính xác kết quả kinh doanh của công ty
Các nhân viên hạch toán kinh tế ở các xí nghiệp thành viên: có nhiệm vụ theo dõi từ khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất đến khi sản xuất ra thành phẩm nhập kho, tổ hcức tập hợp số liệu chứng từ gửi về phòng kế toán của công ty Để kế toán tổng hợp tính giá thành sản phẩm, xác định kết quả kinh doanh, ghi vào sổ chi tiết các TK 155, 641, 642, 821, 721,
911, 421
Các thành viên của bộ máy kế toán có nhiệm vụ khác nhau song giữa các bộ phận lại
có sự kết hợp chặt chẽ mật thiết trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ của mình Bộ máy
kế toán của cụng ty cổ phần kinh doanh thương mại và sản xuất Việt An thể hiện qua sơ đồ sau:
Kế toán trưởng
Kế toán TSCĐ và
nguồn vốn
Kế toán quỹ, nợ phải thu, trả
Kế toán vật liệu, công cụ, dụng cụ
Trang 374.2 Hình thức sổ kế toán
Hiện nay công ty cổ phần kinh doanh thương mại và sản xuất VIệT AN đang áp
dụng hình thức chứng từ ghi sổ với trình tự theo mẫu
Hàng ngày định kỳ 5 ngày căn cứ vào chứng từ gốc hoặc bảng kê chứng từ gốc, kế toán tập hợp chứng từ ghi sổ căn cứ vào chứng từ ghi sổ để ghi vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sau đó dùng làm căn cứ để ghi vào sổ cái thẻ kế toán chi tiết
Cuối tháng khoá sổ tính ra tổng số tiền của nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, tính ra tổng số phát sinh nợ, tổng số phát sinh có và số dư từng tài khoản trên sổ cái lập bảng cân đối số phát sinh Sau khi đối chiếu đúng, khớp, số liệu ghi trên sổ cái và bảng tổng hợp chi tiết (được lập các sổ chi tiết)được dùng để làm căn
cứ lập báo cáo tài chính
Sơ đồ trình tự ghi sổ theo hình thức chứng từ ghi sổ của công ty cổ phần kinh doanh thương mại và sản xuất Việt An:
Trang 38Công ty có nhiêm vụ quản lý và sử dụng vốn đúng chế độ hiện hành, phải tự trang trải về tài chính, đảm bảo kinh doanh có lãi Nắm bắt khả năng kinh doanh, nhu cầu tiêu dùng của thị trường để đưa ra các biện pháp kinh doanh có hiệu quả cao nhất, đáp ứng đầy
đủ yêu cầu của khách hàng nhằm thu lợi nhuận tối đa Chấp hành và thực hiện đầy đủ chính sách,chế độ Pháp luật của Nhà nước về hoạt động kinh doanh đảm bảo quyền lợi hợp pháp của công ty và người lao động
II Thực trạng về tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công Ty Cổ Phần Kinh Doanh Thương Mại và Sản Xuất Việt An
1 Kế toán bán hàng tại công ty:
Chứng từ gốc
từ gốc
Sổ, thẻ kế toán chi tiết
Ghi hàng ngày Đối chiếu Báo cáo tài chính
Trang 391.1 Đặc điểm hoạt động bán hàng ở Công ty Cổ Phần Kinh Doanh Thương Mại và Sản Xuất Việt An :
- Hàng hoá kinh doanh của Công ty là các sản phẩm về giấy
- Đối tượng khách hàng của công ty là người tiêu dùng trực tiếp, các đối tác phân phối sản phẩm cho công ty như hệ thống các đại lý,các cửa hàng tại Hà nội, tại các tỉnh và thành phố trên cả nước
Để có thể hoạt động kinh doanh và tồn tại trong nền kinh tế thị trường Công ty Cổ phần kinh doanh thương mại và sản xuất Việt An đã áp dụng nhiều hình thức bán hàng khác nhau bao gồm cả bán buôn, bán lẻ, bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng
Đối với nghiệp vụ bán hàng tại công ty thì cơ sở cho mỗi nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá thường dựa vào các hoá đơn bán hàng hoặc các đơn đặt hàng của khách hàng Trong hoá đơn bán hàng hoặc đơn đặt hàng phải ghi rõ những điểm chính sau: Tên khách hàng, số
TK, chủng loại hàng, số lượng, đơn giá, quy cách, phẩm chất của hàng hoá, thời gian và địa điểm giao hàng, thời hạn thanh toán Căn cứ vào đó để giao hàng và theo dõi thanh toán Hiện nay trong kinh doanh công ty luôn củng cố, phát huy việc bán hàng theo hợp đồng và đơn đặt hàng vì theo hình thức này hoạt động kinh doanh của công ty có cơ sở vững chắc
về pháp luật do đó công ty có thể chủ động lập kế hoạch bán hàng tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kinh doanh của công ty
- Các phương thức thanh toán tiền hàng:
Hiện nay Công Cổ phần kinh doanh thương mại và sản xuất Việt An áp dụng các hình thức thanh toán chủ yếu sau:
Hình thức bán hàng thu tiền ngay: Theo hình thức này thì cùng với việc giao hàng cho khách hàng công ty thu được tiền ngay, khách hàng có thể trả bằng séc, chuyển khoản qua Ngân hàng hoặc bằng tiền mặt
Hình thức bán hàng chưa thu tiền: Theo hình thức này khách hàng mua hàng nhưng chưa thanh toán tiền
Hình thức bán hàng theo hợp đồng đại lý: Theo hình thức này khách hàng sẽ thanh toán theo hợp đồng đã ký với công ty, áp dụng chủ yếu cho hệ thống phân phối sản phẩm của
công ty như hệ thống các siêu thị, hệ thống các đại lý…
Trang 401.2 Kế toán doanh thu bán hàng tại Công Ty Cổ Phần Kinh Doanh Thương Mại và Sản Xuất Việt An:
Hiện nay công ty đang áp dụng hình thức sổ kế toán Chứng từ ghi sổ và kế toán tổng
hợp doanh thu bán hàng được tiến hành theo phương pháp kê khai thường xuyên Theo đó
kế toán tổng hợp doanh thu bán hàng của công ty phải thực hiện các công việc sau:
Hàng ngày khi nhận được các “Hoá đơn bán hàng” kế toán tiến hành phản ánh số lượng hàng hoá bán ra theo mặt hàng, doanh thu bán hàng theo khách hàng trên các tài khoản vào sổ kế toán tổng hợp theo quy định Đồng thời theo dõi bán hàng theo các hình thức thanh toán khác nhau như: thanh toán ngay hay trả chậm, theo dõi thuế GTGT đầu ra,
theo dõi dịch vụ bán hàng kèm theo( vận chuyển, bốc xếp, ) Cuối tháng kế toán phải tổng hợp số liệu để kiểm tra, đối chiếu số liệu kế toán chi tiết và lập các sổ kế toán tổng hợp
theo chế độ kế toán quy định và yêu cầu quản lý của công ty
Mọi công việc trên của kế toán đều được thực hiện trên hệ thống phần mềm kế toán Fast Accounting Kế toán chỉ phải nhập các dữ liệu ban đầu sau đó chương trình sẽ tự xử lý, tổng hợp để cho ra các loại sổ, báo cáo và bảng biểu theo yêu cầu đã được lập trình sẵn
Trình tự kế toán doanh thu bán hàng trên phần mềm kế toán Fast Accounting như sau:
+ Trường hợp bán hàng thu tiền ngay: Căn cứ vào “Hoá đơn bán hàng” kế toán
doanh thu bán hàng chọn thực đơn “Bán hàng”, trong phân hệ kế toán
“Bán hàng” chọn “Hoá đơn bán hàng” Sau đó kế toán tiến hành cập nhật các dữ
liệu cần thiết vào trong màn hình nhập dữ liệu, khi đó kế toán khai báo các thông tin cần thiết và định khoản trên máy theo 3 cặp định khoản:
Giá bán chưa có thuế GTGT
Thuế GTGT đầu ra