1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành giáo dục tiểu học, trường Đại học hoa lư

75 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Vẽ Trang Trí Của Sinh Viên Ngành Giáo Dục Tiểu Học, Trường Đại Học Hoa Lư
Tác giả ThS. Nguyễn Thị Thanh Nga
Trường học Đại học Hoa Lư
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Ninh Bình
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu (7)
  • 2. Tính cấp thiết của nhiệm vụ KH&CN (10)
  • 3. Mục tiêu của nhiệm vụ KH&CN (12)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của nhiệm vụ KH&CN (12)
  • 5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu (12)
  • Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA VẼ TRANG TRÍ (25)
    • 1.1. Một số khái niệm cơ bản (14)
      • 1.1.1. Trang trí (14)
      • 1.1.2. Bố cục (14)
      • 1.1.3. Họa tiết trang trí (15)
      • 1.1.4. Màu sắc (15)
    • 1.2. Phương pháp thực hiện bài vẽ trang trí (16)
      • 1.2.1. Tìm ý tưởng, phác thảo mảng (16)
      • 1.2.2. Tìm họa tiết (18)
      • 1.2.3. Phác thảo đen trắng (19)
      • 1.2.4. Phác thảo màu (19)
      • 1.2.5. Làm bản hình (20)
      • 1.2.6. Thể hiện bài trang trí (20)
    • 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến vẽ trang trí (20)
      • 1.3.1. Yếu tố khách quan (21)
      • 1.3.2. Yếu tố chủ quan (22)
  • Chương 2 THỰC TRẠNG VẼ TRANG TRÍ CỦA SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC (0)
    • 2.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu (25)
      • 2.1.1. Vài nét về ngành Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Hoa Lư (25)
        • 2.1.2.1. Chương trình môn Mĩ thuật ở Tiểu học (26)
        • 2.1.2.2. Chương trình học phần Mĩ thuật và PPDH mĩ thuật ở Tiểu học trong chuyên ngành đào tạo Giáo dục Tiểu học (29)
    • 2.2. Tổ chức nghiên cứu (32)
      • 2.2.1. Mục đích khảo sát (32)
      • 2.2.2. Nội dung khảo sát (32)
      • 2.2.3. Cách thức, thời gian tiến hành khảo sát (33)
        • 2.2.3.1. Phương pháp đàm thoại trò chuyện (33)
        • 2.2.3.2. Phương pháp điều tra trên phiếu khảo sát (33)
      • 2.2.4. Tiêu chí và thang đánh giá (33)
        • 2.2.4.1. Tiêu chí (33)
        • 2.2.4.2. Thang đánh giá (34)
    • 2.3. Thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Hoa Lư (34)
      • 2.3.1. Nhận thức của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học với hoạt động vẽ trang trí (34)
      • 2.3.2. Thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Hoa Lư (35)
    • 2.4. Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành vẽ trang trí của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Hoa Lư (43)
    • 1. Kết luận (53)
    • 2. Kiến nghị (54)

Nội dung

Nghiên cứu và học hỏi những công trình nghiên cứu đi trước của các tác giả, cùng với đó là những thực trạng mà bản thân ghi nhận được trong quá trình tiếp xúc, giảng dạy các đối tượng si

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trang trí là nghệ thuật làm đẹp, phản ánh nhu cầu vốn có của con người từ thời kỳ cổ xưa Từ những hình vẽ trên vách đá hang động đến những món trang sức bằng xương thú và đồng thau, nhu cầu thưởng thức cái đẹp đã hình thành Trên dải đất hình chữ S, nhiều hiện vật như bộ trống đồng Đông Sơn và nghệ thuật trang trí thời Lý – Trần với họa tiết hoa sen, hoa cúc, vân mây đã minh chứng cho sự sáng tạo của cha ông Nghệ thuật trang trí sứ men lam thời Lê sơ cũng thể hiện sự tinh xảo và chau chuốt Ngày nay, nhu cầu sáng tạo và thưởng thức cái đẹp ngày càng rõ nét ở mọi độ tuổi, tầng lớp và vùng miền Nghệ thuật trang trí hiện diện trong đời sống hàng ngày, làm cho cuộc sống thêm phần hấp dẫn và thú vị Điều này cho thấy nghệ thuật trang trí là lĩnh vực màu mỡ cho các nhà khoa học, nhà văn hóa và nghệ sĩ nghiên cứu và khai phá.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông mới, nhằm thực hiện tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Trung ương Chương trình này hướng tới việc phát triển phẩm chất và năng lực của người học, cung cấp kiến thức cơ bản, thiết thực và hiện đại, đồng thời chú trọng đến sự hài hòa giữa đức, trí, thể và mĩ Mục tiêu là giúp học sinh linh hoạt vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong học tập và cuộc sống.

Nghiên cứu các vấn đề về Mĩ thuật nói chung và nghệ thuật trang trí nói riêng đã có rất nhiều công trình khoa học có giá trị:

Trong cuốn giáo trình "Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật" của tác giả Nguyễn Quốc Toản (2007), các kiến thức cơ bản về Mĩ thuật như vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh, và tập nặn được tổng kết rõ ràng Tác giả cũng cung cấp khái niệm về trang trí, kiến thức về màu sắc, họa tiết, và phương pháp thực hiện bài trang trí cơ bản Bên cạnh đó, giáo trình còn hướng dẫn phương pháp dạy học Mĩ thuật ở Tiểu học theo cách tích cực, nhằm nâng cao năng lực chuyên môn và đổi mới nội dung, phương pháp dạy học cũng như kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục Tiểu học theo chương trình sách giáo khoa Đây là tài liệu chính được tổ Mĩ thuật sử dụng trong giảng dạy và xây dựng đề cương chi tiết cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học tại Trường Đại học Hoa Lư.

Cuốn "Giáo trình Mĩ thuật cơ bản" của tác giả Ngô Bá Công (2009) cung cấp kiến thức nền tảng về Mĩ thuật và tạo hình, đồng thời hướng dẫn các phương pháp thực hành từ những bài tập đơn giản đến nâng cao.

Tác giả Tạ Phương Thảo đã đề cập trong cuốn Giáo trình trang trí, (2004)

Nội dung của cuốn giáo trình cung cấp kiến thức về nguồn gốc và lịch sử phát triển của nghệ thuật trang trí, cũng như vai trò của nó trong đời sống và hội họa Bên cạnh đó, cuốn sách còn tập trung vào những kiến thức cơ bản liên quan đến nghệ thuật trang trí.

Trong cuốn "Giáo trình trang trí" của tác giả Phạm Ngọc Tới (2007), tác phẩm cung cấp những kiến thức cơ bản về bộ môn Trang trí, bao gồm cả trang trí ứng dụng Tài liệu này đóng vai trò định hướng quan trọng trong việc áp dụng kiến thức vào quá trình dạy và học nghệ thuật trang trí.

Tác giả Nguyễn Thế Hùng và Nguyễn Thị Nhung trong Giáo trình trang trí (2005) đã nêu rõ tính ứng dụng của trang trí trong đời sống xã hội, nhấn mạnh nhu cầu thẩm mỹ của con người trong việc tìm tòi và sáng tạo cái đẹp phục vụ cho cuộc sống tinh thần Giáo trình còn trình bày trang trí như một loại hình nghệ thuật đa dạng về chất liệu sáng tạo, gắn bó chặt chẽ với cuộc sống con người.

Trong cuốn sách "Trang trí ứng dụng" (2016), các tác giả Phạm Ngọc Tới, Phạm Thị Gấm và Trần Việt Hùng đã trình bày những kiến thức cơ bản về nghệ thuật trang trí Họ cũng giới thiệu cách áp dụng những kiến thức và hình thức trang trí cơ bản vào thực tiễn trang trí ứng dụng.

Bài viết của Bùi Thị Thanh, "Những khó khăn trong đào tạo Mĩ thuật ở các trường địa phương," đăng trên Tạp chí Mĩ thuật năm 2012, nêu rõ những thách thức trong việc dạy và học Mĩ thuật cho sinh viên bán chuyên tại các trường Đại học địa phương, đặc biệt là trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy Đồng thời, nghiên cứu của Phạm Thị Gấm mang tên "Tìm hiểu thực trạng ứng dụng nghệ thuật trang trí của sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học Trường Đại học Hoa Lư" đã phân tích khả năng ứng dụng nghệ thuật trang trí của sinh viên vào đời sống hàng ngày cũng như trong hoạt động học tập tại trường Đại học Hoa Lư và trong quá trình thực tập tại các trường tiểu học.

Các nghiên cứu này cho thấy sự quan tâm đáng kể của các tác giả đối với kiến thức cơ bản về Mĩ thuật và nghệ thuật trang trí, cũng như các nghiên cứu liên quan đến trang trí ứng dụng.

Nghiên cứu về thực trạng thực hành vẽ trang trí cơ bản của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học vẫn còn hạn chế, mặc dù nghệ thuật trang trí cơ bản là nền tảng quan trọng Việc nắm vững kiến thức lý thuyết và thực hành nghiêm túc sẽ giúp sinh viên tích lũy kinh nghiệm quý báu cho cuộc sống và sự nghiệp sau này Do đó, tác giả mong muốn tìm hiểu chất lượng học tập môn Mĩ thuật và thực hành vẽ trang trí của sinh viên, nhằm đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng thực hành vẽ trang trí tại Trường Đại học Hoa Lư.

Tính cấp thiết của nhiệm vụ KH&CN

Trong bối cảnh giáo dục toàn cầu phát triển, giáo dục Việt Nam hướng tới việc phát triển toàn diện người học qua các yếu tố “Đức – Trí – Thể - Mĩ” Học sinh không chỉ tiếp thu tri thức từ các môn học tự nhiên và xã hội mà còn được rèn luyện phẩm chất đạo đức, phát triển thể lực và hình thành thị hiếu thẩm mỹ Để thực hiện định hướng này, giáo viên tiểu học đóng vai trò quan trọng trong việc giảng dạy Sinh viên sư phạm ngành giáo dục tiểu học cần xác định mục tiêu học tập rõ ràng, tích lũy kiến thức và kỹ năng đa dạng Ngoài kiến thức chuyên môn về Toán và Tiếng Việt, giáo viên tiểu học cũng cần nắm vững kiến thức cơ bản về các môn khoa học tự nhiên, xã hội và nghệ thuật để đáp ứng yêu cầu giảng dạy.

Trường Đại học Hoa Lư là cơ sở đào tạo uy tín duy nhất tại tỉnh Ninh Bình cung cấp đội ngũ giáo viên Tiểu học có trình độ cử nhân giáo dục Tiểu học Sinh viên tốt nghiệp cần có chuyên môn vững vàng để nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học và phát triển toàn diện cho học sinh Trong chương trình đào tạo, học phần “Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật ở tiểu học” đóng vai trò quan trọng, không chỉ cung cấp kiến thức và kỹ năng nền tảng cho môn Mĩ thuật, mà còn giúp sinh viên thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy theo chương trình giáo dục hiện hành, đồng thời cung cấp cho xã hội đội ngũ giáo viên có trình độ thẩm mỹ nhất định.

Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Mĩ thuật không chỉ là một phần của giáo dục nghệ thuật mà còn có mối liên hệ chặt chẽ với các môn học khác và thực tiễn cuộc sống, thể hiện qua các chủ đề như thiên nhiên, con người, gia đình và xã hội Nội dung môn học bao gồm tri thức văn hóa, đạo đức, tự nhiên và xã hội, liên quan đến nhiều môn học như Tiếng Việt, Lịch sử, Địa lí và Âm nhạc, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh Sau khi hoàn thành học phần “Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật ở tiểu học”, sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học sẽ nắm vững kiến thức về các kỹ năng như vẽ theo mẫu, vẽ trang trí và nặn tạo dáng Đặc biệt, nhu cầu thẩm mỹ của xã hội ngày càng cao, đòi hỏi sinh viên cần không ngừng nâng cao kỹ năng thực hành vẽ trang trí, phục vụ cho việc trang trí lớp học và thực hiện các nhiệm vụ giáo dục khác.

Theo chương trình đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, học phần “Mĩ thuật và phương pháp dạy học Mĩ thuật ở Tiểu học” tại trường Đại học Hoa Lư hiện có 3 tín chỉ, bao gồm 30 tiết lý thuyết và 30 tiết thực hành Nội dung học phần này cung cấp kiến thức lý thuyết về mĩ thuật và phương pháp dạy học, cùng với thực hành các kỹ năng vẽ, nặn và thiết kế kế hoạch dạy học Tuy nhiên, sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học không có đủ thời gian để rèn luyện kỹ năng mĩ thuật, đặc biệt là vẽ trang trí, do nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của việc thực hành Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tiếp thu lý thuyết và phát triển kỹ năng thực hành của sinh viên.

Xuất phát từ mong muốn nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành vẽ trang trí cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Hoa Lư” Nghiên cứu này nhằm giúp sinh viên áp dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tiễn nghề nghiệp trong tương lai.

Mục tiêu của nhiệm vụ KH&CN

Nghiên cứu thực trạng thực hành vẽ trang trí trong học phần “Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật ở tiểu học” của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học tại Trường Đại học Hoa Lư nhằm đánh giá hiệu quả giảng dạy và khả năng thực hành của sinh viên Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng vẽ trang trí, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện chương trình học để nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng và định hướng phát triển môn học Mĩ thuật trong giáo dục tiểu học.

Để nâng cao chất lượng thực hành vẽ trang trí của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học trong học phần “Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật ở tiểu học”, cần đề xuất một số biện pháp như tăng cường đào tạo kỹ năng vẽ cơ bản, tổ chức các buổi workshop thực hành với sự hướng dẫn của giảng viên có kinh nghiệm, và khuyến khích sinh viên tham gia các hoạt động ngoại khóa liên quan đến nghệ thuật Bên cạnh đó, việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy mĩ thuật cũng sẽ giúp sinh viên tiếp cận các phương pháp mới và sáng tạo hơn trong việc trang trí.

Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

- Lý thuyết - Thực trạng – Biện pháp

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Thu thập và hệ thống hóa thông tin về Mĩ thuật và nghệ thuật trang trí là cần thiết để phân tích tài liệu và xác định các vấn đề liên quan, từ đó xây dựng cơ sở vững chắc cho đề tài nghiên cứu.

5.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Tiến hành trò chuyện trực tiếp với sinh viên để hiểu rõ tình hình học tập và kiến thức cơ bản về mỹ thuật Qua đó, nắm bắt sở thích và khả năng của sinh viên nhằm vận dụng các kỹ năng vào hoạt động thực hành vẽ trang trí.

* Phương pháp quan sát khoa học:

Quan sát quá trình sinh viên áp dụng kỹ năng vẽ hình, tô màu, cách điệu họa tiết và sắp xếp bố cục trong hoạt động thực hành giúp đánh giá thực trạng vẽ trang trí của sinh viên.

Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi được áp dụng để thu thập thông tin từ sinh viên D14 ngành Giáo dục Tiểu học về các nội dung liên quan đến vẽ trang trí Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá mức độ nhận thức của sinh viên đối với chủ đề vẽ trang trí, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về khả năng hiểu biết và ứng dụng của họ trong lĩnh vực này.

* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:

Tổ chức cho sinh viên D14 ngành Giáo dục Tiểu học thực hành vẽ trang trí, thu thập và phân tích sản phẩm thực hành của họ Qua đó, đánh giá thực trạng kỹ năng vẽ trang trí của sinh viên nhằm cải thiện chất lượng đào tạo.

5.2.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Sử dụng toán thống kê, thu thập và xử lý các số liệu đúng trên thực tế điều tra được

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA VẼ TRANG TRÍ

1.1 Một số khái niệm cơ bản

Theo từ điển thuật ngữ mỹ thuật, trang trí được định nghĩa là nghệ thuật làm đẹp, phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của con người Những yếu tố trang trí không chỉ mang lại giá trị thẩm mỹ mà còn nâng cao giá trị sử dụng cho các vật dụng Do đó, trang trí được xem là một phần của nghệ thuật ứng dụng, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong đời sống con người như ăn mặc, ở, lao động, học tập và nghỉ ngơi giải trí.

Nghệ thuật trang trí bao gồm nhiều chuyên ngành khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người Trang trí nội thất tập trung vào việc làm đẹp và tối ưu hóa không gian sống và làm việc, trong khi trang trí ngoại thất nâng cao vẻ đẹp của không gian bên ngoài như vườn cây và hồ nước Trang trí phục trang sáng tạo các kiểu quần áo và phụ kiện phù hợp với từng độ tuổi và hoàn cảnh Trang trí mĩ nghệ làm đẹp cho các sản phẩm như gốm sứ và đồ trang sức Trang trí ấn loát liên quan đến việc thiết kế và in ấn sách báo, còn trang trí sân khấu điện ảnh phục vụ cho các yếu tố mỹ thuật của biểu diễn Cuối cùng, trang trí công nghiệp thiết kế cho các sản phẩm như ô tô và máy bay Nghệ thuật trang trí không chỉ phản ánh đời sống con người mà còn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử.

Bố cục là sự sắp xếp kích thước và tương quan của các yếu tố như đường nét, hình dáng, màu sắc trong một tác phẩm nghệ thuật Nó giúp thể hiện ý đồ sáng tác của nghệ sĩ thông qua sự hài hòa của màu sắc, ánh sáng, bóng tối và vị trí các nhân vật Họa sĩ quyết định cách bố trí các yếu tố này để tạo ra những tác phẩm độc đáo Trong giờ học Mĩ thuật, thuật ngữ “bố cục” được nhấn mạnh để hướng dẫn người học cách tổ chức các yếu tố hình ảnh trong khung hình Ngoài hội họa, “bố cục” còn được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác như kiến trúc, nhiếp ảnh và sân khấu.

Họa tiết trang trí, theo từ điển thuật ngữ mỹ thuật, là hình vẽ trong các tác phẩm như thảm, khăn trải bàn, vải vóc và quần áo, tạo nên sự phong phú với nhiều lớp họa tiết khác nhau Những họa tiết này không chỉ mang đến vẻ đẹp riêng mà còn phản ánh phong cách nghệ thuật đặc trưng của từng dân tộc thông qua hình ảnh hoa, lá, người và động vật Để đạt được hiệu quả thẩm mỹ, họa tiết trang trí cần có hình thể rõ ràng với đường nét cụ thể và độc đáo, được sáng tạo theo phong cách vẽ đơn giản hóa và cách điệu hóa, thường được lặp lại theo phương pháp đối xứng hoặc xen kẽ.

Màu sắc là các màu khác nhau trong thiên nhiên và màu bản thân của từng vật thể, như màu lá cây xanh, màu đỏ của quốc kỳ Việt Nam, và màu vàng của ngôi sao Ánh sáng làm cho màu sắc phong phú và đa dạng, trong khi bóng tối làm mất đi màu sắc Màu sắc được tạo ra từ sự pha trộn hóa chất, khoáng vật và động thực vật Ở Việt Nam, “màu” và “sắc” thường được dùng đồng nghĩa, nhưng trong giới mỹ thuật, các thuật ngữ này được phân biệt rõ ràng “Màu” chỉ những màu nguyên chất, trong khi “sắc” là những màu đã biến đổi hoặc pha trộn Sự phối hợp màu sắc trên tranh tạo thành hòa sắc, và nghiên cứu về màu sắc do Niu-tơn khởi xướng đã giúp nghệ thuật mô tả tự nhiên trở nên phong phú Mặc dù khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu màu sắc, khái niệm về màu sắc vẫn chưa được xác định rõ ràng, dẫn đến ý nghĩa tương đối của thuật ngữ này.

1.2 Phương pháp thực hiện bài vẽ trang trí

Vẽ trang trí là một môn nghệ thuật sáng tạo, yêu cầu khả năng tư duy logic trong việc xây dựng hình mảng và đường nét, cũng như sử dụng màu sắc hợp lý Để thực hiện một bài trang trí đạt yêu cầu về cân đối bố cục, họa tiết trang trí đẹp mắt và màu sắc hài hòa, người học cần tuân theo các bước cụ thể.

1.2.1 Tìm ý tưởng, phác thảo mảng

Để tìm ý tưởng phù hợp, cần bám sát nội dung và chủ đề yêu cầu Người vẽ sẽ xác định hình ảnh thích hợp, cách thể hiện ý tưởng trang trí theo sở thích cá nhân, đồng thời phát huy tính sáng tạo.

Sau khi tìm được ý tưởng, bước tiếp theo là làm bản phác thảo Phác thảo áp dụng các nguyên tắc trang trí cơ bản để sắp xếp hình mảng một cách hài hòa Mỗi bài trang trí cần có mảng chính và mảng phụ, trong đó mảng chính thường nằm ở trung tâm và có kích thước cân đối Xung quanh mảng chính là các mảng phụ, được sắp xếp theo các nguyên tắc như đối xứng, xen kẽ và nhắc lại, tạo nên sự phong phú cho hình mảng Đặc biệt, mảng phụ cần đảm bảo sự hài hòa và cân đối với mảng chính cũng như tổng thể bài trang trí.

Khi phác thảo trang trí hình tròn, các mảng họa tiết chính và phụ cần tập trung quanh trục theo xu thế hướng tâm để giữ vững bố cục và tránh sự rời rạc Đối với trang trí hình vuông và hình chữ nhật, việc tạo bố cục khép kín là cần thiết để đảm bảo các góc cạnh được chặt chẽ và cân đối.

Để tạo ra họa tiết trang trí phù hợp, cần lựa chọn hình ảnh từ các mảng chính, phụ và thực hiện cách điệu, đảm bảo tính đơn giản hóa từ các đối tượng thực tế Nên chọn những họa tiết tiêu biểu và đẹp mắt cho mảng trung tâm, đồng thời sắp xếp hoa văn theo hình thức đối xứng qua các trục để đạt được hình thức hợp lý Cần có cái nhìn tổng thể để tránh sự rườm rà, và các họa tiết cần hỗ trợ lẫn nhau, ví dụ như kết hợp giữa họa tiết cấu trúc mảng và nét, hay giữa họa tiết mềm mại và khỏe khoắn Khi vẽ họa tiết, cần chú ý đến việc tạo hình cho các khoảng trống để tạo nhịp điệu cho toàn bộ hình mảng và liên kết các họa tiết thành một thể thống nhất.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA VẼ TRANG TRÍ

Một số khái niệm cơ bản

Trang trí, theo từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, là nghệ thuật làm đẹp nhằm phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của con người Những yếu tố trang trí không chỉ mang lại giá trị thẩm mỹ mà còn nâng cao giá trị sử dụng cho các vật dụng Do đó, trang trí được xem là một phần của nghệ thuật ứng dụng, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong đời sống con người như ăn mặc, ở, lao động, học tập và nghỉ ngơi giải trí.

Nghệ thuật trang trí bao gồm nhiều chuyên ngành khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người Trang trí nội thất tạo ra không gian sống và làm việc đẹp, tiện nghi; trang trí ngoại thất làm đẹp cho khu vực bên ngoài như vườn, thảm cỏ, và ánh sáng; trang trí phục trang thiết kế quần áo, mũ nón, và giày dép phù hợp với từng độ tuổi và hoàn cảnh; trang trí mĩ nghệ nâng cao giá trị các sản phẩm như gốm sứ và đồ trang sức; trang trí ấn loát liên quan đến thiết kế và in ấn sách báo; trang trí sân khấu điện ảnh phục vụ cho yêu cầu mỹ thuật trong biểu diễn; và trang trí công nghiệp thiết kế cho các sản phẩm như máy bay và ô tô Nghệ thuật trang trí không chỉ phản ánh đời sống con người mà còn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, luôn phù hợp với thời đại và thể hiện quan điểm, sở thích của con người qua các thời kỳ khác nhau.

Bố cục là sự sắp xếp kích thước và tương quan của các yếu tố như đường nét, hình dáng và màu sắc trong một tác phẩm nghệ thuật, nhằm làm nổi bật ý đồ sáng tác của nghệ sĩ Trong hội họa, bố cục bao gồm sự hài hòa của màu sắc, đường nét, ánh sáng, bóng tối, và sự cân đối giữa các nhân vật Họa sĩ quyết định vị trí và mối liên quan giữa các yếu tố này để tạo ra những bố cục đẹp và độc đáo Thuật ngữ “bố cục” không chỉ được sử dụng trong mỹ thuật mà còn phổ biến trong các lĩnh vực như kiến trúc, nhiếp ảnh và sân khấu, giúp người học biết cách sắp xếp các yếu tố tạo hình một cách hiệu quả.

Họa tiết trang trí, theo từ điển thuật ngữ mỹ thuật, là hình vẽ trong các sản phẩm trang trí như thảm, khăn trải bàn, vải vóc và quần áo Mỗi tác phẩm này thể hiện sự phong phú qua nhiều lớp họa tiết với kích thước và độ phức tạp khác nhau, tạo nên vẻ đẹp độc đáo Những họa tiết như hoa, lá, người và động vật không chỉ mang tính thẩm mỹ mà còn phản ánh phong cách nghệ thuật đặc trưng của từng dân tộc Để đạt được hiệu quả trang trí, họa tiết cần có hình thể rõ ràng với đường nét cụ thể, được sáng tạo theo phong cách vẽ đơn giản hóa và cách điệu hóa, thường được lặp lại theo phương pháp đối xứng hoặc xen kẽ.

Màu sắc, theo từ điển thuật ngữ mỹ thuật, là các màu khác nhau trong thiên nhiên và màu của từng vật thể, như màu lá cây lục hay màu quốc kỳ Việt Nam Màu sắc được hình thành nhờ ánh sáng, tạo ra nhiều sắc độ phong phú mà người họa sĩ cần quan sát Trong bóng tối, màu sắc không còn hiện hữu Màu sắc dùng để vẽ được tạo ra từ sự pha trộn hóa chất, khoáng vật và động thực vật Ở Việt Nam, “màu” và “sắc” thường được sử dụng đồng nghĩa, trong khi trên thế giới, “màu” chỉ những màu nguyên chất, còn “sắc” là những màu đã biến đổi hoặc pha trộn Màu sắc phối hợp trong tranh tạo thành hòa sắc, và khoa học về màu sắc, được Niu-tơn khám phá và phát triển từ thế kỷ XVIII, đã góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật miêu tả tự nhiên Mặc dù nhiều nghiên cứu đã chỉ ra bản chất của một số màu, khái niệm màu sắc vẫn chưa được xác định rõ ràng về nội dung và ranh giới, do đó thuật ngữ này chỉ mang ý nghĩa tương đối.

Phương pháp thực hiện bài vẽ trang trí

Vẽ trang trí là một môn nghệ thuật sáng tạo, yêu cầu người học không chỉ có khả năng tư duy logic mà còn cần hiểu cách xây dựng hình mảng, đường nét và sử dụng màu sắc hiệu quả Để thực hiện một bài trang trí đẹp mắt, đảm bảo cân đối về bố cục và họa tiết, người học cần tuân theo các bước cụ thể nhằm đạt được sự hài hòa về màu sắc và thẩm mỹ.

1.2.1 Tìm ý tưởng, phác thảo mảng

Để tìm kiếm ý tưởng phù hợp, cần bám sát nội dung và chủ đề yêu cầu của đề bài Dựa trên đó, người vẽ sẽ xác định hình ảnh thích hợp, cách thể hiện ý tưởng trang trí theo sở thích cá nhân và phát huy tính sáng tạo.

Sau khi tìm được ý tưởng, bước tiếp theo là tạo bản phác thảo, trong đó áp dụng các nguyên tắc trang trí cơ bản để sắp xếp hình mảng một cách hài hòa Mỗi bài trang trí cần có mảng chính, thường nằm ở vị trí trung tâm và có kích thước cân đối với tổng thể Xung quanh mảng chính, các mảng phụ được bố trí, sử dụng các nguyên tắc như đối xứng, xen kẽ và nhắc lại để tạo sự phong phú Việc xen kẽ giữa mảng lớn và mảng nhỏ không chỉ tạo sự đa dạng mà còn đảm bảo sự hài hòa và cân đối cho toàn bộ bố cục.

Khi thiết kế trang trí hình tròn, các họa tiết chính và phụ cần tập trung xoay quanh trục theo xu thế hướng tâm để giữ vững bố cục Đối với trang trí hình vuông và hình chữ nhật, việc tạo ra một bố cục khép kín là cần thiết để đảm bảo các góc cạnh chặt chẽ và cân đối.

Để tạo ra họa tiết phù hợp với chủ đề trang trí, cần lựa chọn hình ảnh từ các mảng hình chính và phụ, đồng thời thực hiện cách điệu hóa chúng Họa tiết trang trí phải được nghiên cứu từ thực tế nhưng cần đơn giản hóa và cách điệu Nên chọn các họa tiết tiêu biểu, đẹp mắt cho mảng trung tâm và sắp xếp chúng theo hình thức đối xứng qua các trục ngang, dọc, chéo hoặc xoay tròn để đạt được hình thức hài hòa Cần có cái nhìn tổng thể để tránh sự rối mắt khi kết hợp các họa tiết, đồng thời các họa tiết trong một hình trang trí cần hỗ trợ lẫn nhau, ví dụ như kết hợp giữa họa tiết cấu trúc mảng và nét, hay giữa họa tiết mềm mại và khỏe khoắn Khi vẽ họa tiết cho các mảng, cần chú ý tạo hình cho cả những khoảng trống, vì điều này góp phần tạo nên nhịp điệu và kết nối các họa tiết thành một thể thống nhất.

Sử dụng sắc độ của màu đen và trắng để thể hiện tương quan đậm, nhạt trong trang trí là rất quan trọng Tương quan này cần làm nổi bật các yếu tố chính và phụ, với mảng trung tâm thường có độ đậm, sáng mạnh hơn so với các mảng phụ xung quanh Độ đậm và sáng nhất nên tập trung ở mảng chính, nhưng cần được chuyển nhẹ sang các mảng phụ để tránh cảm giác đông cứng Tương quan đậm nhạt ở mảng phụ thường nhẹ nhàng hơn, tuy nhiên không nên quá tách biệt giữa các mảng chính và phụ.

Lựa chọn màu sắc phù hợp với chủ đề trang trí từ bản phác thảo đen trắng là rất quan trọng Sự kết hợp khéo léo giữa các gam màu không chỉ tạo sự cân đối và hài hòa trong bố cục mà còn làm nổi bật ý tưởng của người vẽ Màu sắc cần được điều chỉnh độ đậm nhạt để đạt được sự cân bằng và gợi cảm xúc thẩm mỹ, mang lại vẻ đẹp cho tác phẩm.

Dựa vào bản phác thảo, tiến hành phóng hình theo kích thước quy định cho bài trang trí bằng cách kẻ ô vuông hoặc ô bàn cờ Quá trình phóng hình cần đảm bảo tinh thần của phác thảo, dựng hình chính xác và kỹ lưỡng các họa tiết Trong quá trình này, có thể điều chỉnh hình nếu thấy cần thiết để đạt được kết quả tốt nhất.

1.2.6 Thể hiện bài trang trí

Để tạo ra một bức tranh hoàn chỉnh, hãy bắt đầu bằng cách thể hiện màu sắc theo trình tự hợp lý, vẽ các mảng màu lớn trước và các mảng nhỏ sau Nên tập trung tô màu cho các phần chính và trọng tâm trước, đảm bảo rằng việc tô màu diễn ra mịn màng, phẳng phiu, gọn gàng và sạch sẽ.

Các yếu tố ảnh hưởng đến vẽ trang trí

Nghệ thuật trang trí bắt nguồn từ thực tế đời sống xã hội, phản ánh nhận thức của con người về cái đẹp trong từng giai đoạn lịch sử Mỗi thời kỳ, trang trí có những đặc điểm và yêu cầu riêng, thể hiện qua các loại hình tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau Trang trí không chỉ là nhu cầu thiết yếu của con người mà còn là biểu hiện bản sắc dân tộc, với các hoa văn, họa tiết đặc trưng trong đồ dùng và kiến trúc Cuộc sống hàng ngày xung quanh chúng ta luôn có sự hiện diện của nghệ thuật trang trí, từ những vật dụng nhỏ như sách, bút đến các công trình văn hóa lớn Sự sáng tạo trong trang trí không ngừng phát triển, đáp ứng nhu cầu thưởng thức cái đẹp ngày càng phong phú của xã hội văn minh Hoạt động vẽ trang trí yêu cầu sự sáng tạo và chuẩn bị kỹ lưỡng, bao gồm nắm vững nguyên tắc cơ bản, khả năng phối hợp màu sắc và chuẩn bị môi trường thực hành, cùng với các yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến quá trình này.

Hoạt động thực hành vẽ trang trí chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan như điều kiện cơ sở vật chất và môi trường học tập Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học thường gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động này Để giúp sinh viên nắm vững kiến thức cơ bản về vẽ trang trí, giảng viên mỹ thuật cần cung cấp đầy đủ nội dung giảng dạy và sử dụng đồ dùng trực quan để khơi gợi tư duy sáng tạo Bên cạnh đó, việc tổ chức các hoạt động ôn luyện thực hành cũng rất quan trọng, giúp sinh viên có cơ hội trải nghiệm và tích lũy kiến thức, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm vẽ trang trí.

Điều kiện cơ sở vật chất có ảnh hưởng lớn đến quá trình học tập và thực hành vẽ trang trí trong môn Mỹ thuật Mặc dù nhà trường đã đầu tư vào phòng Mỹ thuật riêng, nhưng diện tích còn chật chội và bố trí bàn ghế giống như phòng học truyền thống, điều này ảnh hưởng đến hoạt động thực hành Để sinh viên có thể thực hiện tốt các bài vẽ, cần một không gian học tập rộng rãi và đủ ánh sáng, giúp họ thoải mái hơn trong quá trình thực hành.

Yếu tố chủ quan như khả năng tư duy, sự sáng tạo và niềm yêu thích của sinh viên đối với môn học có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình học tập Mặc dù phần lớn sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học đạt chuẩn kiến thức lý thuyết, nhưng trong các hoạt động thực hành, những sinh viên có năng khiếu và đam mê sẽ thể hiện khả năng tư duy và sáng tạo tốt hơn trong việc vẽ trang trí.

Việc tổ chức hoạt động thực hành vẽ trang trí cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Để đạt hiệu quả, giảng viên và sinh viên cần phối hợp chặt chẽ, với giảng viên cung cấp kiến thức và kỹ năng cần thiết, trong khi sinh viên chủ động tiếp thu lý thuyết để áp dụng vào thực hành Giảng viên cũng nên thường xuyên theo dõi hoạt động của sinh viên, đưa ra gợi ý và hướng dẫn khi cần thiết Sinh viên cần ý thức trau dồi kiến thức từ tất cả các môn học, trang bị cho mình kiến thức toàn diện, và tích cực tham gia vào hoạt động thực hành để kiểm nghiệm lý thuyết và tích lũy kinh nghiệm.

Hoạt động thực hành vẽ trang trí trong học phần “Mĩ thuật và PPDH mĩ thuật ở Tiểu học” là một phần quan trọng trong chương trình đào tạo sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, giúp sinh viên gắn kết lý thuyết với thực tiễn nghề nghiệp Khi sinh viên chủ động tham gia vào thực hành, kiến thức sẽ được củng cố và kỹ năng sẽ trở nên tinh tế hơn Chương 1 của đề tài đã tổng quan về lý thuyết vẽ trang trí, giải thích các khái niệm như trang trí, bố cục, họa tiết và màu sắc, đồng thời trình bày các phương pháp thực hiện bài vẽ trang trí Ngoài ra, chương này cũng nêu rõ các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động thực hành của sinh viên, từ đó giúp giảng viên và sinh viên hợp tác hiệu quả hơn trong việc nâng cao chất lượng thực hành vẽ trang trí.

THỰC TRẠNG VẼ TRANG TRÍ CỦA SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC

Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Vài nét về ngành Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Hoa Lư

Ngành Giáo dục Tiểu học thuộc khoa sư phạm Tiểu học – Mầm non, trường Đại học Hoa Lư, có lịch sử hơn 60 năm hình thành và phát triển tại xã Ninh Nhất, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Trường được thành lập từ trường Trung học sư phạm Ninh Bình và đã nỗ lực đạt tiêu chuẩn của một trường cao đẳng sư phạm Ngày 28 tháng 4 năm 1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 277/QĐ-TTg thành lập trường cao đẳng sư phạm Ninh Bình, nâng cấp từ trường trung học sư phạm Trường hiện nay đảm nhiệm nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý cho các cấp học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở ở trình độ cao đẳng.

Trường Đại học Hoa Lư được thành lập vào ngày 09/4/2007 theo quyết định số 407/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, dựa trên việc nâng cấp trường cao đẳng sư phạm Ninh Bình Trường có sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước.

Hơn 15 năm qua trường Đại học Hoa Lư đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của nhà trường, đào tạo hàng nghìn sinh viên đạt trình độ cử nhân sư phạm, cử nhân kinh tế,… và trình độ cao đẳng sư phạm; nhà trường đã góp phần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và người lao động có chất lượng cao cho tỉnh Ninh Bình và đất nước

Khoa SP Tiểu học – Mầm non trường Đại học Hoa Lư được thành lập năm 2009 từ sự sát nhập của hai khoa Mầm non và Tiểu học Sau hơn 10 năm phát triển, khoa đã ghi nhận những bước tiến đáng kể, khẳng định thương hiệu thông qua chất lượng đào tạo Ngành Giáo dục Tiểu học không ngừng nỗ lực phát triển, với hầu hết sinh viên ra trường có khả năng giảng dạy vững vàng và chuyên môn cao.

Từ năm 2009 đến nay, số lượng lớp sinh viên tại khoa quản lý trực tiếp đã gia tăng đáng kể, phản ánh sự tăng trưởng của số sinh viên theo từng năm Trong năm học 2023, xu hướng này tiếp tục diễn ra, cho thấy sự phát triển bền vững của khoa.

2024 khoa đang quản lí 23 lớp sinh viên hệ chính quy, với 02 chuyên ngành đào tạo, Giáo dục Mầm non và Giáo dục Tiểu học hệ cao đẳng, đại học

Khóa D14 ngành Giáo dục Tiểu học hiện có khoảng 220 sinh viên, cho thấy đây là một khóa học đông đúc Các sinh viên thuộc lớp D14TH3 và D14TH4 đều thể hiện tinh thần và thái độ học tập tích cực.

Khoa SP Tiểu học – Mầm non hiện đang là một trong những khoa mạnh của trường với hoạt động phong phú và đội ngũ giảng viên chuyên môn vững vàng Các cán bộ, giảng viên luôn tâm huyết, nỗ lực tự học để nâng cao năng lực và hoàn thành tốt nhiệm vụ Khoa có nhiệm vụ đào tạo và quản lý các lớp cao đẳng, đại học chuyên ngành Giáo dục Tiểu học và Giáo dục Mầm non Trong suốt những năm qua, khoa đã đào tạo hàng nghìn sinh viên có trình độ cao đẳng và đại học với năng lực chuyên môn tốt, đáp ứng yêu cầu giáo viên cấp mầm non và tiểu học.

2.1.2.Vài nét về chương trình học phần Mĩ thuật và PPDH mĩ thuật ở Tiểu học trong chuyên ngành đào tạo Giáo dục Tiểu học

2.1.2.1 Chương trình môn Mĩ thuật ở Tiểu học

Mĩ thuật là một môn học quan trọng trong giáo dục nghệ thuật, giúp phát triển năng lực mĩ thuật và thẩm mĩ cho học sinh Chương trình giáo dục phổ thông môn Mĩ thuật không chỉ hình thành các phẩm chất và năng lực chung mà còn thúc đẩy ý thức kế thừa và phát huy văn hóa nghệ thuật dân tộc trong bối cảnh hiện đại Với cấu trúc tuyến tính và đồng tâm, chương trình bao gồm hai nội dung chính là Mĩ thuật tạo hình và Mĩ thuật ứng dụng, tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm và áp dụng mĩ thuật vào cuộc sống Điều này giúp học sinh nhận thức rõ mối liên hệ giữa mĩ thuật với văn hóa, xã hội, đồng thời kết nối môn học với các hoạt động giáo dục khác, từ đó định hướng nghề nghiệp và khuyến khích tham gia vào các hoạt động văn hóa nghệ thuật.

Chương trình Giáo dục 2018 về môn Mĩ thuật tiểu học kế thừa mục tiêu của chương trình Giáo dục 2006 và định hướng đổi mới giáo dục mĩ thuật, đồng thời phù hợp với xu hướng toàn cầu Mục tiêu của chương trình hiện tại là đạt chuẩn kiến thức và kĩ năng theo từng nội dung giáo dục, tập trung vào phát triển phẩm chất và năng lực, đặc biệt là năng lực mĩ thuật Nội dung giáo dục mĩ thuật được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp.

Giai đoạn giáo dục cơ bản ở Việt Nam, mĩ thuật là môn học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 9, giúp học sinh làm quen và trải nghiệm kiến thức nghệ thuật qua nhiều hoạt động Chương trình này không chỉ hình thành khả năng quan sát và cảm thụ nghệ thuật mà còn phát triển nhận thức và biểu đạt về thế giới Học sinh được khuyến khích cảm nhận, tìm hiểu và thể nghiệm các giá trị văn hóa, thẩm mỹ trong đời sống và nghệ thuật.

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp trong môn mĩ thuật giúp học sinh lựa chọn theo nguyện vọng cá nhân, mở rộng và phát triển kiến thức, kĩ năng mĩ thuật từ giai đoạn giáo dục cơ bản Nội dung học tập tiếp cận các ngành nghề liên quan đến nghệ thuật thị giác, hỗ trợ học sinh phát triển tư duy độc lập, khả năng phân tích phản biện và sáng tạo nghệ thuật Qua đó, học sinh hiểu rõ vai trò và ứng dụng của mĩ thuật trong đời sống, từ đó tạo cơ sở cho việc tìm hiểu và định hướng nghề nghiệp phù hợp với bản thân, đáp ứng nhu cầu thực tế và thích ứng với xã hội.

Chương trình môn Mĩ thuật được xây dựng dựa trên quan điểm và định hướng của Chương trình tổng thể, đồng thời chú trọng vào những đặc điểm riêng của môn học Một số quan điểm quan trọng được nhấn mạnh bao gồm việc phát triển tư duy sáng tạo, khuyến khích sự tự do biểu đạt và nâng cao khả năng cảm thụ nghệ thuật của học sinh.

Chương trình môn Mĩ thuật mang đến cho học sinh cơ hội khám phá văn hóa và nghệ thuật dân tộc cũng như thế giới, dựa trên việc áp dụng những kiến thức cơ bản về mĩ thuật kết hợp với các nguyên tắc khoa học giáo dục.

Chương trình môn Mĩ thuật được thiết kế linh hoạt, phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông và đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh Nó đảm bảo các yêu cầu cần đạt thông qua nội dung và hình thức tổ chức dạy học, có khả năng điều chỉnh cho các nhóm đối tượng học sinh và cơ sở giáo dục khác nhau Đồng thời, chương trình cũng được cập nhật thường xuyên để phù hợp với sự phát triển của nghệ thuật và nhu cầu thực tiễn.

Chương trình môn Mĩ thuật nhằm phát triển năng lực mĩ thuật cho học sinh thông qua kiến thức và kĩ năng, giúp các em nhận thức mối liên hệ giữa mĩ thuật với đời sống và các loại hình nghệ thuật khác Học sinh sẽ trân trọng di sản văn hóa, nghệ thuật và ứng dụng kiến thức mĩ thuật vào thực tiễn Bên cạnh đó, chương trình cung cấp hiểu biết về nghề nghiệp liên quan đến nghệ thuật thị giác, đồng thời định hướng nghề nghiệp cho bản thân Qua các hoạt động trải nghiệm và khám phá, học sinh phát triển phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm, cùng với các năng lực tự chủ, tự học, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo.

Tổ chức nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành giáo dục tiểu học tại trường Đại học Hoa Lư, đặc biệt là sinh viên D14, nhằm đánh giá khả năng nắm bắt kiến thức trang trí trong chương trình học phần Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật ở Tiểu học Nội dung nghiên cứu bao gồm các khía cạnh lý thuyết như khái niệm và thể loại trang trí, vai trò của trang trí, màu sắc và cách sử dụng màu sắc, cách điệu họa tiết, nguyên tắc sắp xếp bố cục, cùng với thực hành vẽ trang trí Kết quả sẽ chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong việc học vẽ trang trí của sinh viên D14, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành vẽ trang trí cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học tại trường Đại học Hoa Lư.

Bài viết này phân tích thực trạng lĩnh hội kiến thức lý luận về vẽ trang trí và việc áp dụng trong thực hành của sinh viên khóa D14 ngành giáo dục tiểu học tại trường Đại học Hoa Lư Nghiên cứu tập trung vào mức độ tiếp nhận kiến thức cơ bản về vẽ trang trí, khả năng thể hiện màu sắc (pha màu, tô màu), cách điệu họa tiết, cũng như việc sử dụng các nguyên tắc sắp xếp bố cục trong bài vẽ trang trí, bao gồm nguyên tắc nhắc lại, đăng đối, xen kẽ và phá thế.

Lấy ý kiến trong phiếu điều tra về các nội dung có liên quan đến đề tài của sinh viên D14 ngành Giáo dục tiểu học, trường Đại học Hoa Lư

Tổ chức cho sinh viên thực hiện bài thực hành vẽ trang trí là một hoạt động quan trọng, giúp giảng viên trực tiếp quan sát quá trình thực hiện của sinh viên Việc đánh giá bài thực hành dựa trên các tiêu chí và thang đánh giá cụ thể sẽ đảm bảo tính khách quan và chính xác trong việc nhận xét kết quả học tập của sinh viên.

2.2.3 Cách thức, thời gian tiến hành khảo sát

Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu để đánh giá thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành Giáo dục tiểu học

2.2.3.1 Phương pháp đàm thoại trò chuyện

Mục đích của buổi đàm thoại là trò chuyện trực tiếp với sinh viên hai lớp D14TH3 và D14TH4, nhằm thu thập thông tin phản hồi đa dạng từ từng sinh viên Qua đó, chúng tôi mong muốn hiểu rõ hơn về những thuận lợi và khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình học và thực hành vẽ trang trí.

2.2.3.2 Phương pháp điều tra trên phiếu khảo sát

Mục đích của nghiên cứu này là áp dụng phương pháp phiếu điều tra để thu thập thông tin về thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành giáo dục tiểu học Thông qua việc khảo sát, chúng tôi nhằm đánh giá kỹ năng và sự sáng tạo trong vẽ trang trí của sinh viên, từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện chất lượng đào tạo trong lĩnh vực này.

2.2.4 Tiêu chí và thang đánh giá

Tiêu chí 1: Thực hiện được một trong số các nguyên tắc trang trí (3 điểm)

- Nguyên tắc trang trí theo hình thức đăng đối

- Nguyên tắc trang trí theo hình thức nhắc lại

- Nguyên tắc trang trí theo hình thức xen kẽ

- Nguyên tắc trang trí theo hình thức xoay chiều

- Nguyên tắc trang trí theo hình thức tự do

Tiêu chí 2: Đảm bảo được một số yêu cầu trong bố cục trang trí (4 điểm)

Phân bố hình mảng trong thiết kế mang tính nhịp điệu, kết hợp giữa các mảng lớn và nhỏ, tạo nên sự tương phản giữa mảng đặc và mảng rỗng Đường nét có sự thay đổi linh hoạt, giúp sắp xếp hợp lý giữa mảng chính và mảng phụ Họa tiết được sử dụng một cách đẹp mắt, góp phần làm nổi bật tổng thể bố cục.

Tiêu chí 3: Cách sử dụng màu sắc trong trang trí (3 điểm) bao gồm việc ứng dụng màu sắc phù hợp với nội dung, đảm bảo sự hài hòa và phân bố màu sắc đậm, nhạt một cách hợp lý.

2.2.4.2 Thang đánh giá Đánh giá trên các bài thực hành vẽ trang trí, với các mức độ: giỏi, khá, trung bình, yếu theo thang điểm 10:

Để đạt loại giỏi (9 - 10 điểm), sản phẩm trang trí cần đáp ứng đầy đủ các tiêu chí: đúng thể loại, sử dụng chất liệu hợp lý, tuân thủ nguyên tắc trang trí, họa tiết đẹp, màu sắc hài hòa và thể hiện sự sáng tạo.

Sản phẩm loại khá (7 – 9 điểm) thể hiện tính thẩm mỹ cao với màu sắc phù hợp và đường nét rõ ràng Các chi tiết trong sản phẩm hài hòa và cân đối, đồng thời có yếu tố sáng tạo Tuy nhiên, có thể còn thiếu sót một vài nội dung nhỏ trong từng tiêu chí đánh giá.

Học sinh đạt loại trung bình (5 - 7 điểm) trong bài trang trí cần cải thiện kỹ năng vẽ để tạo ra những tác phẩm đẹp hơn Bài vẽ của họ thiếu sự sáng tạo và linh hoạt trong việc sử dụng màu sắc Họa tiết còn rời rạc và bố cục chưa hợp lý, dẫn đến việc thể hiện nội dung trang trí không rõ ràng.

Bài vẽ trang trí loại yếu thường chỉ đạt được một trong ba tiêu chí cơ bản, với màu sắc không được phân bố rõ ràng giữa đậm và nhạt Họa tiết trong bài vẽ này thường thiếu sự phân định giữa chính và phụ, đồng thời thể hiện sự thiếu sáng tạo trong cách thể hiện.

Thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Hoa Lư

2.3.1 Nhận thức của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học với hoạt động vẽ trang trí Để tìm hiểu, nắm bắt được nhận thức về hoạt động học vẽ trang trí trong học phần “Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật ở tiểu học” của sinh viên khóa D14 ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Hoa Lư, người viết đã nghiên cứu và đưa ra một số câu hỏi liên qua đến hoạt động học vẽ trang trí, kết hợp với việc sử dụng phương pháp đàm thoại trực tiếp với các đối tượng sinh viên D14 ngành Giáo dục tiểu học, Trường Đại học Hoa Lư

Trong chương trình Giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở, học sinh được học về Mĩ thuật, bao gồm cả trang trí và thực hành vẽ Việc này giúp phát triển khả năng sáng tạo và kỹ năng nghệ thuật của học sinh Chương trình học không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn khuyến khích thực hành, cho phép học sinh trải nghiệm và thể hiện bản thân qua các bài trang trí.

Có nhiều sinh viên đưa ra câu trả lời như sau: “Em có được học Mĩ thuật, có thực hành làm bài tập vẽ trang trí”

Bên cạnh đó một số sinh viên trả lời như sau: “Em ít được học các giờ

Mĩ thuật” Đưa ra câu hỏi tiếp để trao đổi với các sinh viên khác:

Mĩ thuật là một lĩnh vực nghệ thuật quan trọng, bao gồm nhiều hình thức biểu đạt khác nhau Trong quá trình học ở Tiểu học và Trung học cơ sở, em đã được tiếp cận với các kiến thức cơ bản về Mĩ thuật, từ lý thuyết đến thực hành Trang trí là một phần không thể thiếu, giúp em hiểu rõ hơn về cách sử dụng màu sắc, hình khối và các yếu tố nghệ thuật để tạo nên những tác phẩm ấn tượng Những kiến thức này không chỉ giúp em phát triển khả năng sáng tạo mà còn nâng cao thẩm mỹ trong cuộc sống hàng ngày.

Một số sinh viên đã nhớ lại kiến thức cơ bản về Mỹ thuật, như màu sắc và đường nét, và hiểu rằng trang trí là cách làm đẹp cho đồ vật hoặc không gian Tuy nhiên, vẫn có nhiều sinh viên không thể nêu lại kiến thức cơ bản về Mỹ thuật.

Tiếp tục trao đổi với các sinh viên về câu hỏi:

“Em có cảm thấy thích và tự tin để làm một bài thực hành vẽ trang trí không?”

Một vài sinh viên đã trả lời: “Em thấy mình không có năng khiếu về mĩ thuật, nên em thử làm thôi ạ”

Có những sinh viên trả lời rằng: “Em cảm thấy thích thú với màu sắc, em muốn được làm bài vẽ trang trí với màu sắc mình yêu thích”

Một số sinh viên thể hiện sự hứng thú với môn học, tự tin chia sẻ: “Em không có năng khiếu nhưng em vẫn thích vẽ và sẵn sàng thực hiện bài vẽ trang trí.”

Sau khi trao đổi với sinh viên D14 ngành Giáo dục tiểu học, tôi nhận thấy rằng nhiều sinh viên không được tham gia đầy đủ các giờ học.

Mỹ thuật ở cấp Tiểu học và Trung học cơ sở đã dẫn đến việc học sinh thiếu kiến thức cơ bản về môn học này Nhiều sinh viên không tự tin khi học mỹ thuật do cho rằng mình không có năng khiếu, trong khi một số khác lại có niềm đam mê thực hành vẽ nhưng lại thiếu nền tảng kiến thức Những ý kiến này cho thấy rằng hoạt động thực hành vẽ trang trí của sinh viên sẽ gặp phải cả thuận lợi và khó khăn do ảnh hưởng từ các yếu tố khách quan và chủ quan.

2.3.2 Thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Hoa Lư

Thông qua khảo sát 107 sinh viên đang học khóa D14 ngành sư phạm

Giáo dục Tiểu học tại Trường Đại học Hoa Lư, cụ thể là sinh viên lớp D14TH3 và D14TH4, tôi thu thập được những thông tin sau

Kết quả từ phiếu điều tra cho thấy sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của việc học và thực hành vẽ trang trí trong môn “Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật ở tiểu học”.

Stt Mức độ Ý kiến SV Tỉ lệ %

Bảng 2.1 Đánh giá của SV về mức độ cần thiết phải học và thực hành vẽ trang trí

Theo khảo sát, 61,7% sinh viên cho rằng việc học và thực hành vẽ trang trí là rất cần thiết, trong khi 38,3% cho rằng nó cần thiết Điều này cho thấy đa số sinh viên nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của nghệ thuật trang trí, ảnh hưởng tích cực đến đời sống hàng ngày và sự nghiệp tương lai của họ.

Khi thực hiện trang trí, cần tuân theo các nguyên tắc chung để sáng tạo phù hợp với chủ đề Nghệ thuật trang trí yêu cầu sự sáng tạo nhằm tạo ra sản phẩm độc đáo và hấp dẫn Nếu không chú ý đến các nguyên tắc, họa tiết và màu sắc có thể trở nên rời rạc, thiếu nhịp điệu và sự liên kết.

Nguyên tắc sắp xếp bố cục trong trang trí

Thường xuyên sử dụng Ít sử dụng Không sử dụng

SL % SL % SL % Đăng đối 92 86% 15 14% 0 0%

Bảng 2.2 Mức độ SV sử dụng các nguyên tắc sắp xếp bố cục TT

Ngôn ngữ nghệ thuật hội họa, đặc biệt là nghệ thuật trang trí, bao gồm các yếu tố như bố cục, đường nét, hình mảng, màu sắc và họa tiết Đây là những kiến thức cơ bản và chất liệu thiết yếu giúp người nghệ sĩ truyền tải cảm xúc và tạo nên sức sống cho các tác phẩm nghệ thuật.

Thường xuyên sử dụng Ít sử dụng Không sử dụng

Bảng 2.3 Mức độ SV sử dụng kiến thức NTTT cơ bản

Bảng khảo sát cho thấy 100% sinh viên nhận thức rằng khi thực hành vẽ trang trí, việc sử dụng kiến thức cơ bản về nghệ thuật hội họa và trang trí, như đường nét, họa tiết và màu sắc, là rất quan trọng Chỉ có 0,9% và 3,7% sinh viên cho rằng không cần thiết phải sử dụng bố cục và hình mảng trong các bài trang trí Điều này chứng tỏ sinh viên đã hiểu rằng kiến thức cơ bản về nghệ thuật trang trí là yếu tố quyết định sự sinh động và hấp dẫn của tác phẩm Một bài vẽ trang trí cần đảm bảo cân đối về bố cục, thể hiện ý tưởng sắp đặt của người vẽ, với bố cục như sợi dây liên kết các ngôn ngữ nghệ thuật Nếu chỉ có đường nét, hình mảng và họa tiết, tác phẩm sẽ thiếu sức hấp dẫn; màu sắc chính là phần hồn, thể hiện tâm tư của người vẽ.

Tìm hiểu kết quả phiếu điều tra cho thấy vần còn nhiều sinh viên thực hành vẽ trang trí không tuân thủ theo trình tự các bước

Biểu đồ 1: SV thực hành vẽ trang trí theo trình tự các bước

Theo số liệu từ biểu đồ, có 42,1% sinh viên thực hành vẽ trang trí không tuân theo trình tự các bước, vì họ cho rằng một số bước không quan trọng và thường bỏ qua Ngược lại, 57,9% sinh viên vẫn thực hiện đúng theo trình tự các bước trong quá trình vẽ trang trí.

Kết quả khảo sát ý kiến của sinh viên về việc thực hành cách điệu họa tiết để sử dụng trong trang trí cho thấy sự quan tâm cao và nhu cầu áp dụng những kỹ thuật mới trong thiết kế Sinh viên đánh giá rằng việc cách điệu họa tiết không chỉ giúp nâng cao tính thẩm mỹ mà còn tạo ra sự độc đáo cho sản phẩm trang trí Nhiều ý kiến cho rằng việc thực hành này cần được chú trọng hơn trong chương trình học để phát triển kỹ năng sáng tạo và khả năng ứng dụng thực tế.

Biểu đồ 2: SV đánh giá mức độ cần thiết cách điệu họa tiết trang trí

Theo biểu đồ so sánh, 65,4% sinh viên từ hai lớp D14GDTH3 và D14GDTH4 cho rằng việc cách điệu họa tiết để trang trí là cần thiết.

Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành vẽ trang trí của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Hoa Lư

Rèn luyện sáng tạo trong môn trang trí giúp sinh viên nhận thức rõ giá trị của cái đẹp và sự sáng tạo, từ đó áp dụng nghệ thuật làm đẹp vào các học phần ứng dụng và mỹ thuật trong cuộc sống Qua nghiên cứu văn hóa dân tộc, sinh viên hiểu sâu sắc về truyền thống thẩm mỹ đặc sắc, nhận thức vai trò quan trọng của nghệ thuật truyền thống trong xã hội và giáo dục thẩm mỹ tại trường mầm non Việc nắm bắt vẻ đẹp của di sản văn hóa cổ truyền, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, không chỉ khơi dậy niềm tự hào mà còn tôn trọng nghệ thuật dân tộc trong quá trình học tập chuyên môn.

Mỗi dân tộc đều có lịch sử văn hóa riêng, và người học vẽ tại các trường mầm non cần hiểu sâu sắc về vốn cổ dân tộc để kế thừa và phát huy trong học tập Tuy nhiên, kế thừa không chỉ là sao chép nguyên bản mà còn phải có cái nhìn nghiêm túc để phát triển sáng tạo Sinh viên cần nhận thức rõ ràng về sự khác biệt giữa kế thừa và nệ cổ, tránh việc bắt chước những mô-típ trang trí hay cách diễn đạt của người xưa mà không thoát ra khỏi tư duy hình tượng của tổ tiên Dù tinh hoa dân tộc đã được tinh lọc qua thời gian, nhưng không nên coi nó là bất biến mà cần tìm tòi để sáng tạo cái mới Để phát huy và kế thừa, trước hết, cần hiểu và đánh giá cái đẹp một cách đúng đắn.

Nền nghệ thuật Việt Nam được truyền thụ qua các thế hệ, kết hợp giữa truyền thống và sự sáng tạo hiện đại Những người làm nghệ thuật không ngừng lao động để tạo ra tác phẩm mới, vừa phát huy giá trị văn hóa dân tộc, vừa phù hợp với thời đại Học viên cần tiếp thu kiến thức từ các tác phẩm dân gian, điêu khắc và kiến trúc để nuôi dưỡng cảm xúc sáng tạo Trong quá trình học, sinh viên sẽ được tìm hiểu về mỹ thuật và lịch sử mỹ thuật Việt Nam một cách hệ thống, tham quan bảo tàng và di tích lịch sử để hiểu sâu hơn về nghệ thuật trang trí dân tộc Qua đó, họ sẽ nhận ra vẻ đẹp của nghệ thuật cổ truyền và tầm quan trọng của việc kế thừa để phát triển trong bối cảnh hiện đại, tạo ra một nền mỹ thuật mang đậm bản sắc dân tộc nhưng vẫn hòa nhập với xu thế toàn cầu.

Nghệ thuật trang trí hiện đại gắn liền với họa tiết dân tộc, thể hiện qua các sản phẩm như gốm, sứ, mây tre đan và đồ gỗ, đã được biến đổi để phù hợp với xu thế toàn cầu, nhưng vẫn giữ được phong cách Việt Nam Trang trí cổ truyền đóng vai trò quan trọng trong việc giúp sinh viên học hỏi và phát triển tính sáng tạo trong thiết kế Qua đó, họ có thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn và trong công tác giảng dạy cho thế hệ trẻ Giáo viên, với nhận thức đúng đắn, sẽ dễ dàng truyền đạt và phân tích kiến thức, kết hợp giữa di sản văn hóa và cái nhìn hiện đại, từ đó làm phong phú thêm nền nghệ thuật trang trí mang đậm bản sắc Việt Nam.

Hiện nay, việc cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam đang là mối quan tâm lớn của các cơ quan quản lý, lãnh đạo trường đại học và giảng viên Mặc dù các phương pháp truyền thống đã có mặt lâu dài và vẫn có hiệu quả nhất định, nhưng chúng cũng bộc lộ nhiều hạn chế Do đó, việc đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập ở bậc đại học là cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên và yêu cầu của xã hội hiện đại.

Mĩ thuật, hay nghệ thuật thị giác, là một môn học đặc thù yêu cầu sử dụng phương pháp và đồ dùng trực quan Đối tượng của mĩ thuật bao gồm những vật thể có thể nhìn thấy và chạm vào, với hình khối, độ đậm nhạt và màu sắc, tất cả đều hiện hữu xung quanh chúng ta, gần gũi và quen thuộc.

Phương pháp dạy học trực quan giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách rõ ràng và cụ thể, từ đó dễ dàng hiểu và ghi nhớ lâu hơn Việc sử dụng các đồ dùng trực quan trong giảng dạy, đặc biệt ở bậc tiểu học, không chỉ giúp học sinh nhớ bài giảng một cách hiệu quả mà còn tạo ra những hình ảnh sống động về các khái niệm trừu tượng, như lịch sử Những hình ảnh này, dù không cần chữ viết, vẫn được lưu giữ vững chắc trong trí nhớ và góp phần hình thành biểu tượng về lịch sử Hơn nữa, phương pháp này còn phát triển khả năng quan sát, tư duy, trí tưởng tượng và ngôn ngữ của học sinh, tạo nên một môi trường học tập thú vị và hiệu quả.

Trong quá trình dạy và học, phương pháp thuyết trình được xem là một trong những phương pháp giảng dạy truyền thống quan trọng, thường xuyên được áp dụng Mô hình này tập trung vào giảng viên, người trình bày kiến thức thông qua các bài giảng dựa trên giáo trình và sách giáo khoa Phương pháp thuyết trình cũng được củng cố bởi nhiều nghiên cứu giáo dục, tạo nền tảng vững chắc cho việc giảng dạy hiệu quả.

Mục đích của phương pháp thuyết trình là hỗ trợ sinh viên trong việc tiếp nhận, xử lý và ghi nhớ thông tin qua khả năng nghe và nhìn Phương pháp này dựa trên cơ sở khoa học rằng khi thông tin được truyền đến bộ não, chúng sẽ được chuyển đổi và lưu trữ trong bộ nhớ ngắn hạn hoặc dài hạn.

Bộ nhớ ngắn hạn là nơi diễn ra các trạng thái tư duy có ý thức, trong khi bộ nhớ dài hạn lưu trữ thông tin để có thể truy cập lại khi cần thiết.

Mỗi người trong chúng ta đều đã từng nghe thuyết trình từ thầy cô khi còn học ở trường Những bài thuyết trình hấp dẫn với nội dung rõ ràng thường tạo động lực học tập cho sinh viên Ngoài ra, cách truyền đạt hài hước và nhẹ nhàng cũng mang lại niềm vui cho người nghe Chính những yếu tố này có thể lý giải tại sao phương pháp thuyết trình vẫn được duy trì cho đến ngày nay.

Phương pháp thuyết trình có một số hạn chế, bao gồm việc không khuyến khích vai trò chủ động của người học, dẫn đến sự thụ động và hạn chế khả năng học tập cũng như tập trung Giảng viên thường truyền đạt thông tin một chiều và cần nỗ lực để hiểu những khó khăn của người học trong việc tiếp thu nội dung Phương pháp này cũng không hỗ trợ người học phát triển kỹ năng tổ chức và tổng hợp thông tin Thêm vào đó, giảng viên không thể kiểm soát thời gian mà người học dành để tìm hiểu và ghi nhớ bài học Để học hiệu quả, người học phải lắng nghe, ghi chép và cố gắng nhớ lại kiến thức, đặc biệt là khi các kỳ thi cuối khóa yêu cầu hồi tưởng thông tin Về mặt tâm lý, người học phải vận dụng trí nhớ một cách đáng kể.

Hiện nay, có nhiều phương pháp hiện đại có thể kết hợp với thuyết trình, tùy thuộc vào bài học, môn học, ngành học và bậc học mà giảng viên cần lựa chọn và áp dụng một cách hợp lý.

Khi tổ chức dạy học nội dung Tạo hình và nghiên cứu vốn cổ dân tộc cho các bài trang trí, giảng viên cần đa dạng hóa phương pháp và kỹ thuật dạy học để kích thích hứng thú và sự sáng tạo của sinh viên Một phương pháp hiệu quả là áp dụng dạy học theo dự án, trong đó giảng viên hướng dẫn sinh viên thực hiện những dự án nhỏ, phù hợp với khả năng và đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình học tập.

Dự án có thể được thực hiện tại các công trình kiến trúc cổ hoặc làng nghề truyền thống, tạo cơ hội cho giảng viên kết hợp với các môn học khác Sinh viên và giảng viên sẽ trải nghiệm phương pháp dạy học mới mẻ và hấp dẫn, với những trải nghiệm thực tế phong phú và cảm xúc tốt Dự án không chỉ hướng sinh viên theo định hướng của giáo viên mà còn khuyến khích họ khám phá và phát hiện ra những nghiên cứu mới vượt ra ngoài yêu cầu ban đầu.

Kết luận

Vẽ trang trí thể hiện vẻ đẹp qua nghệ thuật sắp xếp đường nét, màu sắc và hình mảng, phản ánh thực tế đời sống xã hội Mỗi thời đại có những đặc điểm và yêu cầu riêng về trang trí, đồng thời cái đẹp cũng được nhìn nhận khác nhau theo từng thời kỳ và tôn giáo Trang trí luôn là nhu cầu thiết yếu của con người và xã hội, đóng vai trò quan trọng trong đời sống Từ xa xưa, trang trí gắn liền với cuộc sống con người, mỗi dân tộc đều có màu sắc và đường nét đặc trưng, thể hiện bản sắc văn hóa riêng Lịch sử trang trí được thể hiện qua hoa văn, họa tiết trên các đồ dùng và công trình văn hóa như đình chùa, lăng tẩm Mọi vật xung quanh đều được trang trí, từ những đồ vật nhỏ như sách, bút đến quần áo, nội thất và các công trình văn hóa, cho thấy sự sáng tạo phong phú của con người trong lĩnh vực trang trí.

Vẽ trang trí là một phân môn quan trọng và được học sinh yêu thích vì nó liên quan mật thiết đến cuộc sống, học tập và vui chơi Hoạt động trang trí không chỉ giúp học sinh tạo ra cái đẹp đa dạng mà còn phát triển khả năng tư duy và khám phá cái mới Học trang trí còn rèn luyện và bồi dưỡng phẩm chất sáng tạo của học sinh, khuyến khích họ trở thành những người lao động sáng tạo không ngừng.

Trong chương trình môn Mỹ thuật tiểu học, phân môn Trang trí không được tách biệt mà được tích hợp linh hoạt với các phân môn khác như Vẽ theo mẫu, Nặn tạo dáng, Vẽ tranh theo đề tài và Thường thức Mỹ thuật, nhằm làm phong phú nội dung giảng dạy.

Phân môn trang trí yêu cầu người học liên tục sáng tạo để tạo ra các bài tập phong phú về hình dáng và màu sắc Học trang trí giúp học sinh phát triển năng lực làm việc, khuyến khích tư duy khoa học và sáng tạo Ngoài ra, vẽ trang trí còn mang tính giáo dục cao, góp phần bồi dưỡng phẩm chất con người lao động, đặc biệt là lao động sáng tạo.

Kiến nghị

Đội ngũ giảng viên tại trường Đại học Hoa Lư và các trường sư phạm khác có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, đáp ứng đủ về số lượng và cơ cấu Họ sở hữu năng lực chuyên môn vững vàng, góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài và hỗ trợ sự nghiệp cách mạng giáo dục của đất nước.

Đội ngũ giảng viên tại đây đang đối mặt với nhiều bất cập, bao gồm số lượng giảng viên có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ còn thấp, hạn chế về năng lực ngoại ngữ và công nghệ thông tin, cũng như khả năng nghiên cứu khoa học Cơ chế và chính sách phát triển đội ngũ giảng viên chưa đồng bộ, dẫn đến tình trạng thiếu hụt giảng viên trong tổ Mĩ thuật Điều này hạn chế cơ hội trao đổi và học hỏi chuyên môn, cũng như thời gian dành cho nghiên cứu khoa học và phát triển các hình thức dạy – học mới Những vấn đề trong cơ chế chính sách ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng đào tạo giáo viên.

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và hội nhập quốc tế, đội ngũ giảng viên các trường sư phạm cần được nâng cao năng lực Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai nhiều giải pháp nhằm cải thiện năng lực giảng viên, đặc biệt tại trường Đại học Hoa Lư với khoa đào tạo giáo viên Giáo dục tiểu học.

Để nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên, cần xây dựng đội ngũ giảng viên cốt cán và chuyên gia đầu ngành làm nòng cốt cho công tác bồi dưỡng thường xuyên Các trường sư phạm cần tổ chức các khóa bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên, đặc biệt chú trọng đến phát triển chương trình đào tạo, giảng dạy theo phương pháp hiện đại, nghiên cứu khoa học, cùng với năng lực ngoại ngữ và công nghệ thông tin.

Cần thiết phải kết nối chặt chẽ giữa hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên với thực tế tại các trường phổ thông Việc triển khai nghiên cứu và ứng dụng khoa học giáo dục trong các nhà trường là rất quan trọng, đồng thời giảng viên cần tham gia vào các hoạt động chuyên môn như hướng dẫn sinh viên thực tập sư phạm, phát triển chương trình, biên soạn sách giáo khoa và các chuyên đề khác Tất cả những hoạt động này cần được thực hiện theo kế hoạch và yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cũng như theo hợp đồng với các địa phương.

Giáo dục cho sinh viên, đặc biệt là sinh viên khối sư phạm, cần được chú trọng để nâng cao ý thức học tập nghiêm túc Sinh viên không nên phân biệt giữa môn học chính và môn học phụ, mà cần coi trọng tất cả các môn học để phát triển toàn diện.

Khuyến khích sinh viên chủ động trong việc tự học và nghiên cứu, đồng thời tự tin thể hiện niềm đam mê sáng tạo của bản thân, đặc biệt trong các môn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực phát triển thẩm mỹ là một nhiệm vụ quan trọng của nhà trường.

Trong tương lai gần, nhà Trường dự định sẽ khắc phục những khó khăn về cơ sở vật chất để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho tổ Mĩ thuật Cụ thể, nhà Trường sẽ trang bị cho phòng học một không gian rộng rãi, đầy đủ ánh sáng, cùng với hệ thống giá trưng bày sản phẩm trực quan và tủ bảo quản sản phẩm thực hành.

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Nguyễn Thị Thanh Nga (2023) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng vẽ trang trí của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học tại Trường Đại học Hoa Lư Nghiên cứu này được công bố trong Tạp chí Giáo dục Việt Nam, số đặc biệt số 5, trang 131 – 132.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Quốc Toản (Chủ biên), Tuấn Nguyên Bình, Nguyễn Thị Ngọc Bích,

Võ Quốc Thạch (2007), Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật – Tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu học, Nxb Giáo dục

2 Ngô Bá Công (2009), Giáo trình mỹ thuật cơ bản, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội

3 Trần Lâm Biền (2001), Trang trí mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

4 Tạ Phương Thảo (2004), Giáo trình trang trí, Nxb Đại học sư phạm

5 Phạm Ngọc Tới (2007), Giáo trình trang trí, Nxb Đại học sư phạm

6 Phạm Thị Chỉnh, Trần Tiểu Lâm (2007), Giáo trình mĩ thuật học, Nxb Đại học sư phạm

7 Nguyễn Thế Hùng (Chủ biên), Nguyễn Thị Nhung (2005), Giáo trình trang trí, Nxb Đại học sư phạm

8 Đặng Thị Bích Ngân (Chủ biên), Trần Việt Sơn, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Trọng Cát (2002), Từ điển thuật ngữ mĩ thuật phổ thông, Nxb Giáo dục

9 Phạm Ngọc Tới, Phạm Thị Gấm, Trần Việt Hùng (2016), Trang trí ứng dụng, Nxb Giáo dục Việt Nam

10 Nguyễn Thị Đông (Chủ biên), Nguyên Hải Kiên, Phạm Đình Bình (2019),

Hướng dẫn dạy học môn Nghệ thuật tiểu học theo chương trình giáo dục phổ thông mới – phần Mĩ thuật, Nxb Đại học sư phạm

11 Phạm Thị Chỉnh (2004), Lịch sử mỹ thuật Việt Nam, Nxb đại học sư phạm

12 Trần Duy (2002), Cảm luận nghệ thuật, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội

13 Thái Duy Tuyên (2001), Giáo dục học hiện đại- Những vấn đề cơ bản, Nxb đại học quốc gia Hà Nội

14 Thái Bá Vân (1997), Tiếp xúc với nghệ thuật, Nxb Viện Mỹ thuật Việt Nam

15 Trịnh Quang Vũ (2002), Lược sử Mỹ thuật Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ

KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Để đánh giá khách quan và toàn diện về nhận thức cũng như khả năng vẽ trang trí của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học tại Trường Đại học Hoa Lư, xin vui lòng cung cấp thông tin cá nhân và ý kiến của bạn về học phần "Mĩ thuật và PPDH mĩ thuật ở tiểu học", đặc biệt là nội dung Vẽ trang trí Ý kiến của bạn sẽ là cơ sở quý giá để cải thiện chất lượng đào tạo cho sinh viên chuyên ngành này.

Phần 1: Thông tin về bản thân (đánh dấu x vào những ô phù hợp)

4 Chuyên ngành được đào tạo:

5 Trình độ được đào tạo: Đại học Cao đẳng

Chính quy Vừa làm vừa học

Phần 2: Các nội dung Để tìm hiểu được thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành Giáo dục

Trường Đại học Hoa Lư mời các bạn học sinh tiểu học tham gia khảo sát bằng cách đánh dấu x vào ô trống hoặc cột tương ứng cho các câu hỏi dưới đây.

Việc học nội dung Vẽ trang trí trong chương 2 của học phần "Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật ở Tiểu học" là rất cần thiết Nội dung này không chỉ giúp giáo viên phát triển kỹ năng giảng dạy mĩ thuật mà còn tạo nền tảng vững chắc cho học sinh trong việc cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật Học Vẽ trang trí còn góp phần nâng cao khả năng tư duy hình tượng và phát triển cảm xúc thẩm mỹ cho học sinh, từ đó khuyến khích sự sáng tạo và tự tin trong việc thể hiện bản thân qua nghệ thuật.

Không cần thiết Cần thiết Rất cần thiết

Câu 2: Anh (chị) hãy cho biết mức độ sử dụng các nguyên tắc sắp xếp bố cục khi thực hành vẽ trang trí?

Số tt Nguyên tắc sắp xếp bố cục trong trang trí

Thường xuyên sử dụng Ít sử dụng

Câu 3: Anh (chị) hãy cho biết mức độ sử dụng những nội dung kiến thức về nghệ thuật trang trí cơ bản khi thực hành vẽ trang trí?

Stt Nội dung kiến thức Thường xuyên sử dụng Ít sử dụng Không sử dụng

Câu 4: Khi thực hành làm bài trang trí em có thực hiện theo trình tự các bước không?

Cách điệu họa tiết trong trang trí là một yếu tố quan trọng, giúp tạo điểm nhấn và tăng tính thẩm mỹ cho không gian Việc sử dụng họa tiết được cách điệu không chỉ mang lại sự mới mẻ mà còn thể hiện cá tính của chủ nhân Do đó, việc áp dụng cách điệu họa tiết trong trang trí là cần thiết để tạo ra một không gian sống hài hòa và ấn tượng.

Có cần thiết Không cần thiết

Câu 6: Anh (chị) hãy cho biết mức độ sử dụng hình thức phối hợp màu sắc trong bài vẽ trang trí?

Stt Hình thức phối hợp màu sắc

Rất hay sử dụng Ít sử dụng Không sử dụng

1 Phối hợp màu đơn sắc

2 Phối hợp màu tương phản

3 Phối hợp màu tương đồng

4 Phối hợp màu bộ ba

5 Phối hợp màu chữ nhật

6 Phối hợp màu hình vuông

Câu 7: Em hãy cho biết ý kiến của mình về sắp xếp bố cục khi thực hành vẽ trang trí?

Stt Nội dung kiến thức Rất cần thiết

Cần thiết Ít cần thiết

1 Bố cục cân đối hài hòa

2 Sử dụng họa tiết theo nội dung

3 Bố cục các mảng màu theo nguyên tắc trang trí

4 Bố cục mảng chính cân đối, đẹp, đúng nội dung trang trí

5 Bố cục mảng phụ hợp lí, làm nổi bật mảng chính

Câu 8: Trong những yếu tố sau đây, em hãy cho biết yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động thực hành vẽ trang trí của sinh viên?

Stt Nội dung Ảnh hưởng Ít ảnh hưởng

Năng khiếu về mĩ thuật

(cách điệu họa tiết, phối hợp màu sắc)

Nhận thức về vai trò của môn học đối với nghề nghiệp và cuộc sống

Xin cảm ơn các em!

PHỤ LỤC 2 BẢNG ĐIỂM THỰC HÀNH VẼ TRANG TRÍ LỚP D14TH3

Stt Họ đệm Tên Lớp Điểm bài trang trí

Xếp loại theo thang đánh giá

2 Phạm Minh Anh D14TH3 6.5 TB

4 Phạm Thị Ngân Anh D14TH3 8 K

5 Phạm Thị Ngọc Anh D14TH3 6 TB

6 Đinh Thị Minh Ánh D14TH3 9 G

7 Nguyễn Thị Khánh Chi D14TH3 9 G

8 Phạm Thị Thùy Dung D14TH3 6.5 TB

11 Đỗ Thị Minh Hằng D14TH3 6 TB

14 Lê Thị Thúy Hoài D14TH3 6 TB

15 Lê Thanh Huế D14TH3 6 TB

18 Nguyễn Thu Huyền D14TH3 6 TB

19 Phạm Thị Thanh Huyền D14TH3 8 K

20 Vũ Duy Khánh D14TH5 6.5 TB

23 Lê Thị Phương Linh D14TH3 7 K

24 Trương Thị Linh D14TH5 6 TB

25 Nguyễn Thị Phương Loan D14TH3 8 K

26 Vũ Thị Hiền Mai D14TH3 6 TB

30 Nguyễn Thị Quỳnh Nga D14TH3 7.5 K

31 Nguyễn Thị Hồng Ngọc D14TH3 9 G

33 Bùi Thị Thu Nguyệt D14TH3 6.5 TB

35 Phạm Thị Hồng Nhung D14TH5 7.5 K

37 Đinh Thị Kiều Oanh D14TH3 7 K

38 Nguyễn Thị Kiều Oanh D14TH3 7.5 K

40 Vũ Thị Thu Phương D14TH3 6 TB

42 Nguyễn Ninh Khánh Quỳnh D14TH3 8 K

43 Vũ Thị Như Quỳnh D14TH3 8 K

44 Nguyễn Thị Thành Thảo D14TH3 9 G

45 Trần Mai Thảo D14TH3 6.5 TB

47 Mai Thị Hải Thương D14TH3 4.5 Y

50 Nguyễn Thị Kim Trang D14TH3 9 G

51 Nguyễn Thị Minh Trang D14TH3 8 K

52 Hà Thị Hải Yến D14TH3 7.5 K

BẢNG ĐIỂM THỰC HÀNH VẼ TRANG TRÍ LỚP D14TH4

Stt Họ đệm Tên Lớp Điểm bài trang trí

Xếp loại theo thang đánh giá

1 Bùi Thị Lan Anh D14TH4 6 TB

2 Quách Thị Lan Anh D14TH4 9 G

3 Phạm Thị Ngọc Ánh D14TH4 6 TB

5 Đặng Kiều Chinh D14TH4 6 TB

7 Nguyễn Quỳnh Dương D14TH4 6 TB

8 Nguyễn Tùng Dương D14TH4 6 TB

9 Vũ Thị Thùy Giang D14TH4 7 K

11 Trịnh Thị Ánh Hoài D14TH4 9 G

14 Lê Thu Hường D14TH4 6.5 TB

19 Vương Thu Huyền D14TH4 6 TB

20 Nguyễn Quang Khánh D14TH4 6 TB

21 Đặng Thị Thùy Khuyên D14TH4 7.5 K

22 Chu Thị Hồng Liên D14TH4 6 TB

23 Dương Bùi Hoàng Linh D14TH4 7.5 K

26 Vũ Trần Hương Linh D14TH4 9 G

29 Vũ Huyền Mai D14TH4 6 TB

31 Phạm Thị Hồng Ngọc D14TH4 6.5 TB

36 Lê Thị Diễm Quỳnh D14TH4 7.5 K

39 Nguyễn Thị Vân Thanh D14TH5 8 K

41 Nguyễn Thị Thanh Thảo D14TH5 9 G

42 Trần Thu Thảo D14TH5 6.5 TB

44 Doãn Thị Thu Thúy D14TH5 6 TB

45 Dương Thị Hương Trà D14TH5 7 K

47 Khúc Thị Thu Trang D14TH4 9 G

49 Lê Nguyễn Quỳnh Trang D14TH5 7.5 K

50 Lê Thị Kiều Trang D14TH4 4 Y

51 Lê Thị Thu Trang D14TH4 6 TB

53 Phạm Thị Trà Vân D14TH4 7 K

54 Phạm Thị Xuân Vui D14TH5 6 TB

PHỤ LỤC 3 Sinh viên D14GDTH với hoạt động vẽ trang trí

Ngày đăng: 29/11/2024, 12:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Toản (Chủ biên), Tuấn Nguyên Bình, Nguyễn Thị Ngọc Bích, Võ Quốc Thạch (2007), Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật – Tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật – Tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Quốc Toản (Chủ biên), Tuấn Nguyên Bình, Nguyễn Thị Ngọc Bích, Võ Quốc Thạch
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
2. Ngô Bá Công (2009), Giáo trình mỹ thuật cơ bản, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình mỹ thuật cơ bản
Tác giả: Ngô Bá Công
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2009
3. Trần Lâm Biền (2001), Trang trí mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí mỹ thuật truyền thống của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
4. Tạ Phương Thảo (2004), Giáo trình trang trí, Nxb Đại học sư phạm 5. Phạm Ngọc Tới (2007), Giáo trình trang trí, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình trang trí, "Nxb Đại học sư phạm 5. Phạm Ngọc Tới (2007), "Giáo trình trang trí
Tác giả: Tạ Phương Thảo (2004), Giáo trình trang trí, Nxb Đại học sư phạm 5. Phạm Ngọc Tới
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm 5. Phạm Ngọc Tới (2007)
Năm: 2007
6. Phạm Thị Chỉnh, Trần Tiểu Lâm (2007), Giáo trình mĩ thuật học, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình mĩ thuật học
Tác giả: Phạm Thị Chỉnh, Trần Tiểu Lâm
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2007
7. Nguyễn Thế Hùng (Chủ biên), Nguyễn Thị Nhung (2005), Giáo trình trang trí, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình trang trí
Tác giả: Nguyễn Thế Hùng (Chủ biên), Nguyễn Thị Nhung
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2005
10. Nguyễn Thị Đông (Chủ biên), Nguyên Hải Kiên, Phạm Đình Bình (2019), Hướng dẫn dạy học môn Nghệ thuật tiểu học theo chương trình giáo dục phổ thông mới – phần Mĩ thuật, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn dạy học môn Nghệ thuật tiểu học theo chương trình giáo dục phổ thông mới – phần Mĩ thuật
Tác giả: Nguyễn Thị Đông (Chủ biên), Nguyên Hải Kiên, Phạm Đình Bình
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2019
11. Phạm Thị Chỉnh (2004), Lịch sử mỹ thuật Việt Nam, Nxb đại học sư phạm 12. Trần Duy (2002), Cảm luận nghệ thuật, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử mỹ thuật Việt Nam, "Nxb đại học sư phạm 12. Trần Duy (2002), "Cảm luận nghệ thuật
Tác giả: Phạm Thị Chỉnh (2004), Lịch sử mỹ thuật Việt Nam, Nxb đại học sư phạm 12. Trần Duy
Nhà XB: Nxb đại học sư phạm 12. Trần Duy (2002)
Năm: 2002
13. Thái Duy Tuyên (2001), Giáo dục học hiện đại- Những vấn đề cơ bản, Nxb đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học hiện đại- Những vấn đề cơ bản
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: Nxb đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
14. Thái Bá Vân (1997), Tiếp xúc với nghệ thuật, Nxb Viện Mỹ thuật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp xúc với nghệ thuật
Tác giả: Thái Bá Vân
Nhà XB: Nxb Viện Mỹ thuật Việt Nam
Năm: 1997
15. Trịnh Quang Vũ (2002), Lược sử Mỹ thuật Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử Mỹ thuật Việt Nam
Tác giả: Trịnh Quang Vũ
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002
3. Sinh viên lớp: ................................. Khoa Khác
4. Chuyên ngành được đào tạo Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT - Thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành giáo dục tiểu học, trường Đại học hoa lư
BẢNG KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT (Trang 6)
Bảng 2.2 Mức độ SV sử dụng các nguyên tắc sắp xếp bố cục TT - Thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành giáo dục tiểu học, trường Đại học hoa lư
Bảng 2.2 Mức độ SV sử dụng các nguyên tắc sắp xếp bố cục TT (Trang 36)
Hình mảng  93  86,9%  10  9,3%  4  3,7% - Thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành giáo dục tiểu học, trường Đại học hoa lư
Hình m ảng 93 86,9% 10 9,3% 4 3,7% (Trang 37)
Bảng 2.5 Bảng khảo sát nhận thức của sinh viên về sắp xếp bố cục khi - Thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành giáo dục tiểu học, trường Đại học hoa lư
Bảng 2.5 Bảng khảo sát nhận thức của sinh viên về sắp xếp bố cục khi (Trang 40)
Bảng 2.6 Các yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động thực hành vẽ TT của - Thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành giáo dục tiểu học, trường Đại học hoa lư
Bảng 2.6 Các yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động thực hành vẽ TT của (Trang 41)
3  Hình mảng - Thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành giáo dục tiểu học, trường Đại học hoa lư
3 Hình mảng (Trang 59)
BẢNG ĐIỂM THỰC HÀNH VẼ TRANG TRÍ LỚP D14TH4 - Thực trạng vẽ trang trí của sinh viên ngành giáo dục tiểu học, trường Đại học hoa lư
14 TH4 (Trang 63)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w