NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TỔNG HỢP BACTERIOXIN CỦA LOÀI Lactobacillus plantarum L24 Nguyễn Thị Hoài Hà, Phạm Văn Ty, Nguyễn Thị Kim Quy Trung tâm Công nghệ Sinh học, Đại học Quốc gia Hà
Trang 1NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TỔNG HỢP
BACTERIOXIN CỦA LOÀI Lactobacillus plantarum L24
Nguyễn Thị Hoài Hà, Phạm Văn Ty, Nguyễn Thị Kim Quy
Trung tâm Công nghệ Sinh học, Đại học Quốc gia Hà Nội
I MỞ ĐẦU
Vi khuẩn lactic thuộc vi khuẩn Gram (+), không sinh bào
tử, có khả năng lên men đường để tạo axitlactic Vi khuẩn lactic được sử dụng rộng rãi trong đời sống như chế biến thức ăn lên men, ủ chua thức ăn cho gia súc, sản xuất
axitlactic và xử lý môi trường để tránh mùi hôi thối Tuy nhiên vi khuẩn lactic còn được quan tâm nhiều do chúng có khả năng sinh bacterioxin, một loại protein có khả năng tiêu diệt các vi khuẩn khác do sự tạo thành các kênh làm thay đổi tính thấm của màng tế bào, nhiều loại bacterioxin còn có khả năng phân giải ADN, ARN và tấn công vào
Trang 2peptidoglycan để làm suy yếu thành tế bào Vì vậy
bacterioxin được dùng nhiều trong bảo quản thực phẩm, sữa tươi, nước giải khát cũng như trong xử lý môi trường, chế biến thức ăn chăn nuôi Trong báo cáo này chúng tôi giới thiệu một chủng vi khuẩn lactic sinh bacterioxin mới phân lập tù nước dưa
II NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a Vi sinh vật
Chủng vi sinh vật được phân lập từ nước dưa và được giữ
và bảo quản tại Bảo tàng Giống chuẩn Vi sinh vật, Trung tâm Công nghệ Sinh học - Đại học Quốc gia Hà Nội
b Môi trường MRS dùng trong nghiên cứu có thành phần sau (g/l): Casein peptone, tryptic digest 10, cao thịt - 10, cao nấm men - 5, glucose -20 Tween 80, K2HPO4 - 2, Na-acetate - 5, (NH4)2 citrate - 2.00, MgSO4 7 H2O - 0.20, MnSO4 H2O - 0.05, nước 1000 ml, pH to 6.2 - 6.8 Khử trùng 121oC trong 15 phút
Trang 3c Xác định hàm lượng bacterioxin theo phương pháp
Brarford [1]
d Xác định bacterioxin trên gel polyacrylamit
(SDS-PAGE) theo phương pháp của Laemmli [4 5]
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
a Đặc điểm hình thái nuôi cấy
Chủng vi khuẩn L24 phân lập từ nước dưa có khuẩn lạc tròn, nhẵn, màu trắng sữa, tế bào đều có dạng hình que, bắt màu Gram dương, không có khả năng di động, không sinh bào tử, phản ứng catalaza âm tính, có khả năng đồng hoá cacbonhydrat amygdalin, arabinnoza, xenlobioza, fructoza, glucoza, lactoza, maltoza, manitol, melezitoza, saccaroza, nhưng không sử dụng sorbitoi Căn cứ vào các đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hoá, dựa theo khoá phân loại
Bergey’s [5], chủng L24 được xác định thuộc chi
Lactobacillus
Trang 4Hình 1 Đặc điểm hình thái tế bào chủng vi khuẩn lactic
L24 chụp dưới kính hiển vi điển tử ở độ phóng đại x 20 000 lần
b Xác định thành phần của axit diaminopimelic (DAP) trong thành tếa bào của chủng vi khuẩn lactic L24
Các tác giả Schliifer và Kandlu [3] cho rằng đồng phân DAP có trong thành phần peptidoglycan của thành tế bào vi khuẩn Gram dương đặc biệt đối với xạ khuẩn và vi khuẩn lactic Để xác định đồng phân DAP của chủng L24 chúng tôi tiến hành lấy 50mg tế bào ướt cho vào ống thuỷ tinh nút xoáy (cỡ 3x100mm), thuỷ phân bằng 1ml 6N HCl trong nồi
ổn nhiệt 100oC trong 16 giờ Làm nguội dịch thuỷ phân tới nhiệt độ phòng Dùng giấy sắc ký bản mỏng TLC để xác
Trang 5định meso-DAP Chấm chừng 3 l dung dịch lên giấy sắc
ký bản mỏng TLC Dùng 1l của 0,01M DL-
diaminopimelic axit (Sigma Chemical Co., St Louis, MO, USA) làm dung dịch chuẩn Đặt giấy sắc ký bản mỏng
trong bồn thuỷ tinh chứa 50ml hỗn hợp methanol - nước - 6N HCl - pyridine (80:26:4:10, v/v) trong 3 giờ hoặc lâu hơn Phun dung dịch 0,2% ninhydrin (trong nước bão hoà n
- butanol) lên giấy sắc ký bản mỏng, đặt trong tủ sấy ở
nhiệt độ 100oC trong 5 phút) Vết meso-DAP tách rời, xuất hiện từ TLC như là các vết màu xanh đen
Hình 2 Kết quả xác định meso-DAP của chủng vi khuẩn
lactic trên sắc ký bản mỏng
Trang 6Chú thích: Chẩm 1 - meso-DAP chuẩn (Sigma)
Chấm 4: Meso - DAP của chủng L24
Kết quả sắc ký cho thấy chủng L24 chứa meso-DAP và do
đó vi khuẩn có thành tế bào thuộc nhóm IV Dựa vào các đặc điểm sinh lý, sinh hoá và typ thành tế bào của chủng L24, đối chiếu với khoá phân loại của Ber’sgey có thể xác
định chủng này thuộc chi Lactobacilus [2]
Việc đưa các chủng vi sinh vật sống vào môi trường là một việc làm hệ trọng, phải đảm bảo chắc chắn rằng chủng đó không gây hậu quả xấu đối với sức khoẻ con người và môi trường, do vậy chúng tôi tiến hành xác định trình tự rADN 16S để định danh chính xác đến loài Sau khi tiến hành
phản ứng PCR, trình tự rADN 16S được đọc trên máy đọc trình tự tự động 3100 Avant bằng đoạn mồi đặc hiệu Trình
tự đoạn gen được tổng hợp có chiều dài 645bp Đây là đoạn
ít bền vững so với trình tự đoạn rADN 16S của
Lactobacillus plantarum, ký hiệu AL 935261 trong ngân
hàng dữ liệu gen của Nhật Bản thì độ tương đồng lên đến
Trang 798%
Dưới đây là số liệu vế kết quả so sánh trình tự gen của sản phẩm đã được tổng hợp bằng phản ứng PCR với trình tự của đoạn gen trong ngân hàng dữ liệu gen Nhật Bản
Hình 3 Điện di sản phẩm PCR của chủng L24 trên gel
agaroza 5%, được nhuộm bạc Chú thích: M - ADN chuẩn 1kb Ladder (10 000bp) Băng 1 biểu hiện đoạn được tổng hợp của chủng L24
Trang 8c Xác định bacterioxin của loài Lactobacillus plantarum L24 trên gel polyacrylamit 15%
Bacterioxin do vi khuẩn lactic sinh ra là các phân tử protein
Trang 9mang điện tích dương, kích thước nhỏ gồm 30 - 60 axit amin, có điểm đẳng điện cao và có khả năng ức chế các vi khuẩn có quan hệ chủng loại gần với vi khuẩn sinh ra
bacterioxin đó [4]
Bacterioxin có mặt trong tất cả các nhóm của vi khuẩn
lactic như: Lactobacillus, Lactococcus, Enterococcus,
Streptococcus, Leuconostoc và, Pediococcus, Trong đó,
hai nhóm chính là: Lactobacillus, Lactococcus đóng vai trò
quan trọng Theo hệ thống phân loại do Kleen - hammer, các bacterioxin được chia thành 4 nhóm, dựa trên trọng lượng phân tử, độ bền nhiệt, sự có mặt của các axit amino
Do đó, để xác định rõ Lactobacillus plantarum L24 chúng
tôi nghiên cứu thuộc nhóm sinh bacterioxin nào Chủng L24 được nuôi cấy tĩnh sau 24 giờ tiến hành phá vỡ tế bào
và hạ pH xuống 2.5, để qua đêm ở 4oC Sau đó chỉnh pH về 7,0 và đem tủa với aceton 100%, lạnh (giữ ở -22oC) với thể tích bằng thể tích mẫu Ly tâm 10000vòng trong15 phút Làm khô mẫu và hoà tan trở lại bằng dung dịch đệm l mẫu bacterioxin thô được tra vào mỗi giếng trên gelmSorensen
pH = 7,0 Lấy 10 polyacrymit 15% Chạy với cường độ
Trang 10dòng điện 1,5A/giếng Cuối cùng nhuộm bạc
Kết quả được trình bày ở hình 34
Hình 4 Điện di đồ gel polyacrylamit 15%
Chú thích: Giếng 1 protein chuẩn 200 kDa (Sigma) Giếng 2 băng bacterioxin của Lactobacillus plantarum L24,
trọnglượng phân tử 15kDa
Kết quả cho thấy trọng lượng phân tử của bacterioxin của
Lactobacillus plantanrum L24 thuộc nhóm lớn, nhóm
bacterioxin II, protein kháng khuẩn có trọng lượng phân tử nhỏ từ 10 - 30kDa
d Ảnh hưởng của nguồn nitơ (N) vô cơ đến khả năng
Trang 11sinh trưởng và sinh tổng hợp bacterioxin của
Lactobacillus plantarum L24
Nguồn nitơ vô cơ dễ hấp thụ nhất đối với vi sinh vật là muối amon còn muối nitrat là nguồn thức ăn không thích hợp đối với nhiều loại vi khuẩn Hầu như các loại vi sinh vật đều có khả năng đồng hoá muối amôn Đôi khi có loài không sử dụng được muối này thì nguyên nhân không phải
do bản chất của NH4+ mà do sau khi đồng hoá gốc amôn, môi trường sẽ tích lũy các gốc anion vô cơ như SO4-,
HPO42-, làm giảm pH của môi trường Đối với vi khuẩn lactic thì đây là một đặc điểm rất quan trọng vì quá trình sinh trưởng của chúng phụ thuộc rất nhiều vào pH
Lactobacillus plantarum L24 được tiến hành nuôi tĩnh ổn
nhiệt trên môi trường dịch thể MRS, với tỷ lệ giống 0.5%,
có bổ sung các nguồn nitơ vô cơ 0,1% khác nhau thời gian nuôi 48 giờ Xác định khả năng sinh trưởng và sinh tổng
hợp bacterioxin của Lactococcus plantarum L24 Kết quả
trình bày trên hình 5
Trang 12Hình 5 Ảnh hưởng nguồn nitơ đến khả năng sinh trưởng
và sinh tổng hợp bacterioxin của loài Lactobacillus plantarum L24
Một điều dễ nhận thấy khi bổ sung vào môi trường một lượng nitơ định trước đã có ảnh hưởng đến sinh trưởng và
sinh tổng hợp bacterioxin của Lactobacillus plantarum
L24 Rõ ràng là amoni photphat là nguồn nitơ vô cơ thích
hợp nhất cho sinh tổng hợp bacterioxin của Lactobacillus
plantarum L24 Nguyên nhân gây ra sự khác nhau này có
Trang 13thể do gốc phọtphat có tính đệm cao và tính axit yếu nên không làm giảm pH của môi trường nhiều như các gốc
khác Trên các môi trường thường sử dụng nguồn nitơ vô
cơ khác, sinh trưởng mật độ OD của tế bào đạt 2 2 và sinh tổng hợp bacterioxin đạt là 52g/ml Điều này rất thuận lợi khi bổ sung các chất khoáng khi nuôi cấy vi sinh vật
IV KẾT LUẬN
Chủng vi khuẩn lactic L24 có khuẩn lạc tròn, nhẵn, màu trắng sữa, tế bào đều có dạng hình que, bất màu Gram
dương, không có khả năng di động, không sinh bào tử,
phản ứng catalaza âm tính Có khả năng đồng hoá
cacbonhydrat đặc biệt là xyloza Chủng L24 vừa có khả năng sinh axitlactic vừa có khả năng sinh bacterioxin II, protein kháng khuẩn có trọng lượng phân tử 10-30kDa Các phân tích trình tự rADN 16S cho thấy chủng L24 là
Lactobacillus plantarum
SUMMARY
Trang 14STUDY ON BACTERIOCIN PRODUCTION OF
NEWLY ISOLATEDSTRAIN Lactobacillus plantarum
L24
Nguyen Thi Hoai Ha et al
The strain of lactic acid bacteriocin L24 was isolated from fermented sour vegetables cell are rods, non sporing, non-notile, catalase negative Metabolision was predominantly fermentative, lactic acid being formed from glucose
homofermentatively, xylose was fermented The analysis of 16S rDNA sequence shows that this strain L24 was
identified as Lactobacillus plantarum Bacteriocin II was
produced Antibacterial protein with molecular weigh
15kDa were detected by using gel electrothesis SDS-PAGE method
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bradford, M M 1976 Arapid and Sensitive- Method for
Trang 15the Quantitation of Laemmli, U K.1970 Nature Vol 227 680-685
2 Buchanan, R.E., and Gillons, N.E Bergey s Manual Determinative Bacteriology 8 Ed William Wilkins Co., Baltimore, 1974
3 Helo, H; Nilssen O; 1991 Lactococcin A, new
bacteriocin from Lactococcus lactis subsp cremoris
isolation and characterization of the protein and it’s gene J Bacteriol 173, 3879 – 3887
4 Kelly, W J 1998 Charaterization of Lactococci isolated from minimally processed fresh fruits and vegetables Int
J Food Microbiol., 45 85-92
5 Yang, R, Johnson, M and Ray, B.1992 Novel method to extract large amounts of bacteriocins from lactic acid
bacteria Appl Environ Microbiol 38 3355-3559