1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo nghiên cứu khoa học ''''định tội danh trong trường hợp một hành vi thỏa mãn dấu hiệu của nhiều cấu thành tội phạm''''

23 634 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 161,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỊNH TỘI DANH TRONG TRƯỜNG HỢP MỘT HÀNH VI THỎA MÃN DẤU HIỆU CỦA NHIỀU CẤU THÀNH TỘI đề này, hiện nay về mặt lý luận cũng như thực tiễn xét xử ở nước ta chưa được giải quyết một cách th

Trang 1

ĐỊNH TỘI DANH TRONG TRƯỜNG HỢP MỘT

HÀNH VI THỎA MÃN DẤU HIỆU CỦA NHIỀU CẤU THÀNH TỘI

đề này, hiện nay về mặt lý luận cũng như thực tiễn xét xử ở nước ta chưa được giải quyết một cách thỏa đáng Chính vì vậy, việc giải quyết vấn đề này về mặt

lý luận có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn, giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật xét xử đúng người,

Trang 2

đúng tội, đúng pháp luật, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm

Căn cứ vào mối quan hệ giữa các CTTP mà hành vi phạm tội thỏa mãn dấu hiệu, chúng ta có thể chia các hành vi phạm tội thành 2 nhóm như sau:

- Nhóm thứ nhất, các CTTP có mối quan hệ giữa cấu thành chung và cấu thành riêng

- Nhóm thứ hai, các CTTP không có mối quan hệ giữa cấu thành chung và cấu thành riêng

I Trường hợp các CTTP có mối quan hệ giữa cấu thành chung và cấu thành riêng:

Cấu thành chung là CTTP phản ánh những dấu hiệu

có tính chung của hành vi phạm tội và cấu thành riêng là CTTP phản ánh những trường hợp đặc thù của hành vi phạm tội Trong trường hợp này, hành vi phạm tội thỏa mãn dấu hiệu của cấu thành riêng thì cũng đồng thời thỏa mãn dấu hiệu của cấu thành chung Chẳng hạn: cấu thành tội vô ý làm chết người

Trang 3

(Điều 98) là cấu thành chung so với cấu thành của các tội: vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 99 BLHS), vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 BLHS), vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 208 BLHS), vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 212 BLHS); hoặc cấu thành tội giết người (Điều 93 BLHS) là cấu thành chung so với cấu thành các tội: giết con mới đẻ (Điều 94 BLHS), giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95 BLHS), giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96 BLHS), v.v…

Cơ sở lý luận để định tội danh trong các trường hợp này là lý luận của triết học Mác – Lênin về mối quan

hệ của cặp phạm trù cái chung và cái riêng Theo đó thì “cái chung là một bộ phận của cái riêng, còn cái

Trang 4

riêng không gia nhập hết vào cái chung”1 Do đó, các cấu thành riêng bao giờ cũng chứa đựng tất cả các dấu hiệu của cấu thành chung và ngoài ra nó còn chứa đựng các dấu hiệu khác chỉ có ở nó Chính vì vậy, trong trường hợp này, chúng ta xác định tội danh của hành vi phạm tội theo tội có cấu thành riêng

II Trường hợp các CTTP không có mối quan hệ giữa cấu thành chung và cấu thành riêng:

1 Để giải quyết vấn đề này, chúng ta có thể nêu một vài ví dụ sau đây:

- Ví dụ 1: Hành vi sử dụng vũ khí để thực hiện tội phạm thì theo hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 7/1/1995 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ nội vụ thì đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về 2 tội: “Tội

sử dụng vũ khí trái phép quân dụng” và tội phạm đã thực hiện theo điều luật tương ứng của BLHS Nếu tội phạm đã thực hiện mà điều luật có quy định “sử

Trang 5

dụng vũ khí” là tình tiết định khung hình phạt, thì phải truy cứu TNHS về khoản tương ứng của điều luật”

- Ví dụ 2: Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 89/HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi dùng vũ lực để tẩu thoát sau khi thực hiện các tội trộm cắp, cướp giật… thì xét xử theo các tội tương ứng với tình tiết định khung tăng nặng là “hành hung để tẩu thoát” Nếu việc dùng vũ lực dẫn đến hậu quả là chết người thì kẻ phạm tội bị kết án thêm về tội giết người Nếu hậu quả của việc dùng vũ lực là gây thương tích dẫn đến chết người thì bị kết án thêm về tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người

01 Ví dụ 3: Hành vi cố ý gây thương tích cho người khác từ 11% trở lên nhằm chiếm đoạt tài sản: đều thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội cố ý gây thương tích

và tội cướp tài sản nhưng chỉ bị xét xử về tội cướp tài

Trang 6

sản Tuy nhiên, trong trường hợp giết người để cướp tài sản thì lại xét xử về tội 2 tội: tội giết người (Điều

93 BLHS) và tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS)

2 Vấn đề đầu tiên đặt ra là trong trường hợp nào thì xét xử một tội, trường hợp nào xét xử nhiều tội? Cơ

sở lý luận để giải thích vấn đề này như thế nào?

Để giải quyết vấn đề này, theo tôi, cần phải xuất phát

từ cơ sở triết học Mác – Lênin về vấn đề chất – lượng của sự vật, hiện tượng Theo triết học Mác – Lênin thì chất là sự tổng hợp các thuộc tính vốn có của sự vật và mỗi sự vật có muôn vàn chất Tuy nhiên “Ở mỗi sự vật chỉ có một chất căn bản, đó là loại chất mà

sự tồn tại hay mất đi của nó quy định sự tồn tại hay mất đi của bản thân sự vật”2

Như vậy, một sự vật, hiện tượng chỉ có một chất căn bản và có thể có nhiều chất không căn bản Và theo

đó, trong mối quan hệ giữa chất căn bản và chất không căn bản của sự vật, hiện tượng thì chất căn bản

Trang 7

phải “mạnh” để chi phối và thu hút các chất không căn bản “yếu hơn” Chất căn bản của sự vật, hiện tượng không thể thu hút vào sự vật, hiện tượng một chất khác “mạnh” tương đương hoặc mạnh hơn để trở thành chất không căn bản

Dựa trên cơ sở đó, nếu xem một tội phạm cụ thể là một chất và tội nào có mức cao nhất của khung hình phạt cao hơn thì tội phạm đó mạnh hơn, chúng ta có thể giải quyết vấn đề định tội đối với trường hợp một hành vi phạm tội thỏa mãn nhiều CTTP như sau:

- Trường hợp thứ nhất: nếu một tội phạm cụ thể mạnh hơn một tội khác thì tội mạnh hơn sẽ thu hút tội yếu hơn và do đó chúng ta chỉ xét xử về một tội: tội mạnh hơn Trong trường hợp này, tội yếu hơn sẽ bị thu hút thành tình tiết định khung của tội mạnh hơn hoặc tình tiết của vụ án Chẳng hạn: trong trường hợp hành vi cố ý gây thương tích cho người khác từ 11% trở lên nhằm chiếm đoạt tài sản thì tội cướp tài sản

Trang 8

thu hút tội cố ý gây thương tích thành tình tiết định khung tăng nặng của tội cướp tài sản

(Lưu ý: đây mới chỉ là điều kiện cần khi xét xử về một tội, còn điều kiện đủ đề nghị bạn đọc xem thêm mục II.3)

- Trường hợp thứ hai: nếu một tội cụ thể không đủ mạnh để thu hút một tội khác mạnh tương đương thì

sẽ xét xử về nhiều tội Chẳng hạn: trong trường hợp giết người để cướp tài sản vì tội cướp và tội giết người mạnh tương đương nhau nên không thể thu hút lẫn nhau, do đó chúng ta xét xử về tội 2 tội: tội giết người (Điều 93 BLHS) và tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS)

3 Vấn đề thứ hai là khi chúng ta xét xử, có trường hợp xét xử một tội, có trường hợp xét xử nhiều tội thì

có đảm bảo mức hình phạt đối với từng trường hợp tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho

Trang 9

xã hội của hành vi phạm tội hay không, có đảm bảo công bằng hay không đối với người phạm tội?

Trong trường hợp chúng ta xét xử về một tội hay nhiều tội thì hành vi phạm tội trên thực tế bao giờ cũng là một chỉnh thể thống nhất được cấu tạo bởi sự liên kết giữa các chất (các tội) trong hành vi phạm tội

đó Chính sự liên kết này giữa các chất (các tội) trong cùng một hành vi phạm tội đã làm cho hành vi phạm tội có tính nguy hiểm cao hơn so với tổng tính nguy hiểm của từng chất (từng tội) độc lập cộng lại với nhau Về mặt triết học, đây chính là sự thể hiện của quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại Chúng

ta có thể thể hiện điều này bằng công thức sau:

Trang 10

b: Tính nguy hiểm của tội 1

c: Tính nguy hiểm của tội 2

D: Độ tăng tính nguy hiểm do các chất (các tội) liên kết với nhau trong hành vi phạm tội

Trong công thức này, D có độ lớn như thế nào phụ thuộc vào sự liên kết giữa các chất (các tội) trong hành vi phạm tội Sự liên kết càng chặt chẽ thì độ tăng tính nguy hiểm của D càng cao

Và vì hình phạt là thước đo tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cho nên công thức a = b + c + D có thể viết lại dưới dạng hình phạt như sau:

Trang 11

D: Độ tăng mức hình phạt do sự liên kết của các tội với nhau trong cùng hành vi phạm tội

Trong mọi trường hợp độ tăng mức hình phạt D được chuyển hóa vào trong các tình tiết định khung tăng nặng Cụ thể là:

a Trong trường hợp xét xử một tội: nếu tội yếu hơn

bị thu hút thành tình tiết định khung hình phạt thì độ tăng mức hình phạt (D) thể hiện ở mức hình phạt nghiêm khắc hơn của cấu thành tăng nặng của tội thu hút so với hình phạt của tổng 2 cấu thành cơ bản của tội thu hút và tội bị thu hút Điều này được thể hiện bằng công thức sau:

A = B + C + D = B1 (Giả sử tội thứ hai bị thu hút vào tội thứ nhất)

=> D = B1 – (B + C)

Do đó: A = B1 > B + C (Công thức )

Trong đó:

Trang 12

Ví dụ: Hành vi cố ý gây thương tích cho người khác

từ 11% đến 30% nhằm chiếm đoạt tài sản thì hành vi này thỏa mãn dấu hiệu của cấu thành tội cố ý gây thương tích (Điều 104 BLHS) và tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS) nhưng chúng ta chỉ xét xử 1 tội là tội cướp tài sản theo khoản 2 Điều 133 BLHS với tình tiết định khung là “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật

từ 11% đến 30%” Trong trường hợp này tội cố ý gây

Trang 13

thương tích bị thu hút thành tình tiết định khung của tội cướp tài sản Và ta có:

A = B1 = mức hình phạt của khoản 2 Điều 133 BLHS (Cấu thành tăng nặng của tội cướp tài sản) là phạt tù từ 7 năm đến 15 năm

B = Mức hình phạt của khoản 1 Điều 133 BLHS (Cấu thành cơ bản tội cướp tài sản) là phạt tù từ 3 năm đến 10 năm

Trang 14

Từ công thức (*) A = B1 > B + C này có thể rút ra kết luận: trong trường hợp cấu thànnh tăng nặng của tội mạnh hơn có mức hình phạt được luật quy định không đảm bảo công thức (*) nói trên thì sẽ không thu hút tội yếu vào tội mạnh hơn để xét xử một tội mà xét xử về hai tội Ta có thể lấy ví dụ sau đây để chứng minh kết luận trên

Ví dụ: Hành vi sử dụng vũ khí quân dụng để cướp tài sản Giả sử trong trường hợp này chúng ta chỉ xét xử một tội là tội cướp tài sản thì:

A = B1: Mức hình phạt của K2 Điều 133 BLHS (tình tiết định khung là “sử dụng vũ khí”) là phạt tù từ 7 năm đến 15 năm

B: Mức hình phạt của K1 Điều 133 BLHS (cấu thành

cơ bản của tội cướp tài sản) là phạt tù từ 3 năm đến

10 năm

Trang 15

C: Mức hình phạt của K1 Điều 230 BLHS (cấu thành

cơ bản của tội sử dụng vũ khí trái phép) là phạt tù từ

2 năm đến 7 năm

=> 5 năm £ B + C £ 17 năm

Do đó, không đảm bảo công thức: A = B1 > B + C (vì 17 năm > 15 năm) nên chúng ta phải xét xử về 2 tội: tội cướp tài sản và tội sử dụng vũ khí trái phép chứ không thu hút tội sử dụng vũ khí trái phép vào tội cướp tài sản Điều này phù hợp với hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 7/1/1995 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ nội vụ là hành vi này sẽ bị truy cứu TNHS về

2 tội: Tội sử dụng vũ khí trái phép quân dụng và tội cướp tài sản

Từ các lập luận trên, có thể rút ra kết luận là trong trường hợp một hành vi thỏa mãn dấu hiệu của nhiều CTTP thì chỉ xét xử một tội khi thỏa mãn cùng một lúc 2 điều kiện cần và đủ sau:

Trang 16

- Điều kiện cần: Có một tội mạnh hơn thu hút tội nhẹ hơn

- Điều kiện đủ: trường hợp tội nhẹ hơn bị thu hút thành tình tiết định khung thì phải đảm bảo công thức (*)

Còn ngược lại, trong trường hợp không thỏa mãn các điều kiện trên thì chúng ta xét xử về nhiều tội

b Trong trường hợp xét xử nhiều tội: thì độ tăng mức hình phạt (D) được chuyển hóa thành các tình tiết định khung tăng nặng ở các tội: có trường hợp độ tăng mức hình phạt (D) được chuyển hóa thành một tình tiết định khung tăng nặng, có trường hợp nó được chuyển hóa thành nhiều tình tiết định khung tăng nặng

Trong trường hợp này thì công thức: A = B + C + D được biến đổi dưới các dạng sau:

* Nếu D chỉ chuyển hóa thành một tình tiết định khung hình phạt (ở tội thứ nhất chẳng hạn) thì:

Trang 17

A = B + C + D = B1 + C

Do đó trong trường hợp này: D = B1 – B

Trong đó B1 là mức hình phạt của cấu thành tăng nặng của tội thứ nhất

Ví dụ: Hành vi sử dụng vũ khí quân dụng để cướp tài sản sẽ bị xét xử về 2 tội: tội cướp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng là “Sử dụng vũ khí” (điểm đ K2 Điều 133 BLHS) và tội sử dụng vũ khí trái phép theo K1 Điều 230 BLHS

Trong trường hợp này D chính là độ tăng mức hình phạt do tình tiết định khung “sử dụng vũ khí” được quy định tại K2 Điều 133 BLHS tạo ra so với K1 Điều 133 BLHS (cấu thành cơ bản của tội cướp tài sản)

* Nếu D được chuyển hóa thành hai tình tiết định khung hình phạt (ở cả tội thứ nhất và cả tội thứ hai) thì:

A = B + C + D = B1 + C1

Trang 18

Do đó trong trường hợp này: D = (B1 – B) + (C1 – C)

Ví dụ: Hành vi giết nhiều người để cướp tài sản, thì

sẽ bị xét xử về 2 tội: tội giết người ở K1 Điều 93 BLHS (với 2 tình tiết định khung tăng nặng là “giết nhiều người” và “để thực hiện một tội phạm khác”)

và tội cướp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm c khoản 4 Điều 133 BLHS

“Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” Trong trường hợp này, độ tăng mức hình phạt (D) được chuyển hóa thành 2 tình tiết định khung tăng nặng là “để thực hiện một tội phạm khác” ở tội giết người và “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” ở tội cướp tài sản

Trang 19

Như vậy, dù xét xử một tội hay nhiều tội thì mức hình phạt đối với hành vi phạm tội (A) vẫn được bảo toàn là A = B + C + D, chỉ có điều nó được chuyển hóa thành các công thức khác nhau mà thôi:

A = B + C + D = B1 (trong trường hợp xét xử một tội);

A = B + C + D = B1 + C (trong trường hợp xét xử nhiều tội mà D chuyển hóa thành một tình tiết định khung tăng nặng);

A = B + C + D = B1 + C1 (trong trường hợp xét xử nhiều tội mà D chuyển hóa thành hai tình tiết định khung tăng nặng)

Hay nói cách khác, dù xét xử một hay nhiều tội thì mức hình phạt áp dụng đối với hành vi phạm tội vẫn tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vẫn đảm bảo sự công bằng đối với người phạm tội

Trang 20

4 Vấn đề thứ ba được đặt ra là trong trường hợp độ tăng mức hình phạt (D) được chuyển thành các tình tiết định khung thì có phải các tình tiết đó được sử dụng nhiều lần hay không? Chẳng hạn, ở ví dụ trên, tình tiết “sử dụng vũ khí quân dụng” một mặt được

sử dụng là tình tiết định tội của tội sử dụng vũ khí quân dụng trái phép (Điều 230 BLHS), mặt khác lại được sử dụng làm tình tiết định khung tăng nặng của tội cướp tài sản (điểm đ Khoản 2 Điều 133 BLHS) Vậy tình tiết “sử dụng vũ khí” được sử dụng nhiều lần dưới các dạng tình tiết (tình tiết định tội, tình tiết định khung) khác nhau có trái với quan điểm một tình tiết không được sử dụng nhiều lần trong Luật hình sự hay không?

Theo tôi, trong trường hợp này tình tiết “sử dụng vũ khí” được sử dụng làm tình tiết định khung của tội cướp tài sản phản ánh tính nguy hiểm cao hơn của hành vi sử dụng vũ khí trái phép để cướp tài sản so

Ngày đăng: 29/06/2014, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w