Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 11 thông qua xây dựng và sử dụng bài tập thí nghiệm chương Dòng điện không đổi"... trường Đại học Vi
Trang 1Báo cáo nghiên cứu
khoa học:
"Bồi dưỡng năng lực
tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 11 thông qua xây dựng và sử dụng bài tập thí
nghiệm chương Dòng
điện không đổi"
Trang 2trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4a-2008
Bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 11 thông qua xây dựng và sử dụng bài tập thí nghiệm
chương “Dòng điện không đổi”
Nguyễn Quang Lạc (a)
,Bùi Danh Hào (a)
Tóm tắt Bài tập thí nghiệm có tác dụng rất tốt đối với việc bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học Vật lí Tuy nhiên loại bài tập này còn rất ít
được sử dụng trong thực tiễn dạy học của bộ môn Bài báo này trình bày kết quả xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thí nghiệm (qua 6 ví dụ minh hoạ) cho chương
“Dòng điện không đổi" ở Vật lí lớp 11
1 Đặt vấn đề
Dựa trên thực tiễn dạy học Vật lí ở các nước tiên tiến, các chuyên gia giáo dục
đã khẳng định rằng, bài tập thí nghiệm (BTTN) có vai trò và tác dụng rất tốt đối với việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh (HS) như:
- Bồi dưỡng năng lực nhận thấy vấn đề mới trong điều kiện quen biết (tự đặt câu hỏi cho mình và mọi người về bản chất của các hiện tượng vật lí)
- Bồi dưỡng cho HS khả năng huy động những kiến thức đã học vào giải quyết tình huống mới trong thực tiễn
- Bồi dưỡng năng lực biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lí một tình huống mới
Do đó sử dụng BTTN là một trong những hướng đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Vật lí hiện nay Thế nhưng qua điều tra chúng tôi thấy rằng BTTN hầu như không được nhắc đến trong dạy học Vật lí ở các trường THPT Trong khi đó điều kiện để sử dụng BTTN thì không quá ngặt nghèo, nhất là đối với những BTTN chỉ đòi hỏi thiết bị đơn giản, thời gian thực hiện ở ngoài giờ lên lớp
Từ thực trạng đó, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu tiến trình xây dựng và
sử dụng BTTN cho chương “Dòng điện không đổi” ở Vật lí lớp 11 nâng cao THPT Trong tương lai sẽ mở rộng cho những chương khác trong chương trình của bộ môn
2 Xây dựng hệ thống BTTN chương “Dòng điện không đổi” ở Vật lí lớp 11 2.1 Yêu cầu chung
Hệ thống BTTN cho chương “Dòng điện không đổi” được phân ra từng dạng theo cấu trúc nội dung của SGK để tiện lợi cho việc học tập và giảng dạy Các bài tập phải sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp phù hợp cho mọi đối tượng học sinh Nội dung của bài tập phải phù hợp với các kiến thức cơ bản của chương trình SGK và phải thiết thực gần gũi với cuộc sống hàng ngày của HS Các thiết bị TN phải đơn giản,
dễ tìm, dễ chế tạo hoặc có sẵn ở phòng thí nghiệm Các thao tác TN không quá khó
2.2 Các dạng BTTN trong chương dòng điện không đổi
Dựa vào nội dung cơ bản của chương “Dòng điện không đổi" ta có thể đưa ra một số dạng BTTN áp dụng cho chương này như sau:
Nhận bài ngày 25/8/2008 Sửa chữa xong 18/12/2008.
Trang 3N Q Lạc, B D Hào Bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo , TR 47-55
Dạng 1: Các BTTN về nguồn điện, định luật Ôm đối với đoạn mạch chỉ có
điện trở thuần
Dạng bài tập này sẽ giúp ta nghiên cứu cấu tạo và hoạt động của nguồn điện một chiều (pin và acquy), nghiên cứu về các đại lượng đặc trưng cho dòng điện không
đổi: cường độ dòng điện, hiệu điện thế (HĐT), điện trở của đoạn mạch chỉ có điện trở thuần Khi giải các bài tập dạng này, yêu cầu HS phải nắm được nguyên tắc cấu tạo, hoạt động của pin và acquy, vận dụng được định luật Ôm cho đoạn mạch chỉ có điện trở thuần HS biết làm một số thao tác cơ bản: Lắp ráp mạch điện, quan sát hiện tượng, đo đạc một số đại lượng: I, U, R…bằng các dụng cụ thông thường
Dạng 2: Các BTTN về điện năng, công suất điện Định luật Jun-Len-xơ Dạng bài tập này chủ yếu nghiên cứu về điện năng tiêu thụ, công suất của các dụng cụ tiêu thụ điện năng Khi giải bài tập dạng này yêu cầu HS phải biết vận dụng các công thức về công và công suất của dòng điện chạy qua một đoạn mạch, công và công suất của nguồn điện, công và công suất của các dụng cụ tiêu thụ điện Biết tiến hành một số thao tác cơ bản như: lắp ráp mạch điện, sử dụng ampe kế, vôn
kế để đo cường độ dòng điện, HĐT, đo công suất…
Dạng 3: Các BTTN về định luật Ôm đối với toàn mạch, định luật Ôm đối với các loại đoạn mạch điện Mắc các nguồn điện thành bộ
Dạng bài tập này chủ yếu nghiên cứu các đại lượng đặc trưng cho dòng điện không đổi trong mạch điện có chứa các nguồn điện và máy thu điện Khi giải dạng bài tập này yêu cầu HS phải nắm vững định luật Ôm cho toàn mạch, định luật Ôm cho các loại đoạn mạch, cách mắc các nguồn điện thành bộ Đề xuất được các phương
án, lắp ráp, đo đạc được một số đại lượng nhằm đáp ứng yêu cầu của bài toán thực tiễn
2.3 Phương pháp xây dựng BTTN Vật lí
Hiện nay trong sách bài tập Vật lí 11 của chương trình nâng cao đã có một số BTTN (có 4 BTTN trong tổng số 71 bài tập của chương), còn chương trình cơ bản thì hầu như không có, do đó chúng ta cần phải xây dựng, tuyển chọn thêm các BTTN theo các hướng sau:
- Dựa vào bài tập thông thường trong SGK, sách bài tập Vật lí, bằng cách thay đổi các dữ kiện trong đó để được một BTTN
- Sưu tầm các tài liệu kĩ thuật có liên quan đến Vật lí học Từ đó tìm tư liệu sát thực
để xây dựng các BTTN
- Xuất phát từ những sự kiện, những yêu cầu do cuộc sống đòi hỏi, kết hợp với yêu cầu của chương trình môn học để sáng tạo thêm những BTTN
3 Hướng dẫn HS giải BTTN Vật lí
Trong quá trình dạy học cần hướng dẫn HS giải một BTTN Vật lí theo các bước sau đây:
3.1 Tìm hiểu đề bài:
Đọc kĩ đề bài để thấy được:
+ Yêu cầu của nội dung bài toán?
+ Bài toán này thuộc dạng nào?
+ Bài toán đã cho những đại lượng, thiết bị nào?
+ Đại lượng nào cần phải tìm?
Trang 4trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4a-2008
3.2 Xác lập mối liên hệ của các dữ kiện xuất phát với cái phải tìm
- Đối chiếu với dữ kiện xuất phát và cái phải tìm, xem xét bản chất vật lí của tình huống để nhận ra các định luật, công thức lí thuyết có liên quan
- Xác lập mối liên hệ cụ thể của cái phải tìm với các dữ kiện xuất phát
3.3 Lập phương án thí nghiệm, lựa chọn thiết bị, có thể phải cải tiến, chế tạo một số thiết bị và lắp ráp TN như phương án đã được xác lập
3.4 Tiến hành TN, quan sát hiện tượng, đo đạc số liệu, lập biểu bảng số liệu, và
xử lí kết quả
3.5 Rút ra kết luận và trả lời các câu hỏi của bài toán
BTTN có hai bước đặc biệt khác với loại bài tập khác là bước 3, 4
Nói chung các bước giải một BTTN có liên quan với các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm
4 Các ví dụ minh hoạ
Chúng tôi đã tiến hành xây dựng được 16 BTTN cho chương “Dòng điện không
đổi” Trong đó dạng 1 gồm 5 bài, dạng 2 gồm 5 bài, và dạng 3 gồm 6 bài
Ví dụ 1 (dạng 1) Một acquy bị mất ký hiệu các cực dương và cực âm Chỉ bằng hai dây dẫn và một cốc nước (nước uống thông thường) làm cách nào có thể xác định lại các cực của acquy Hãy nêu phương án thực hiện
1 Phân tích bài tập
- Với các thiết bị đã cho làm thế nào để có được một mạch điện kín?
- Khi nhúng hai dây dẫn vào cốc nước thì
có hiện tượng gì xảy ra?
- Hiện tượng xảy ra giải thích thế nào; từ
đó suy ra các cực của acquy
2 Tiến hành giải
- Giải thích hiện tượng điện phân nước:
Một phân tử nước được tạo bởi 2 nguyên tử
hiđrô và 1 nguyên tử ôxi Trong quá trình điện
phân, số nguyên tử hiđrô được giải phóng nhiều
gấp đôi so với ôxi, do đó điện cực có nhiều bọt
khí là điện cực mà tại đó hiđrô được giải phóng
Nhưng các Ion hiđrô tích điện dương nên khí
này phải được giải phóng ở cực âm
- Nối hai dây dẫn vào hai cực của acquy
rồi nhúng hai đầu tự do vào cốc nước (H.1)
- Quan sát hiện tượng: ở phía đầu dây nào
có nhiều bọt khí hơn là cực âm, cực còn lại là
cực dương
3 Nhận xét Đây là một bài tập định tính mang tính thực tiễn, việc giải bài tập này bồi dưỡng cho học sinh khả năng phân tích một hiện tượng vật lí, liên hệ hiện tượng quan sát được với kiến thức đã học Khi giải được bài tập này HS đã biết vận dụng các kiến thức một cách sáng tạo vào tình huống thực tiễn
Ví dụ 2 (dạng 1) Một điện trở R1 chưa biết giá trị Hãy lập các phương án để
đo giá trị điện trở đó nếu cho thiết bị:
H.1
Trang 5N Q Lạc, B D Hào Bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo , TR 47-55
- Một nguồn điện một chiều 12 V
- Một vôn kế (hoặc một ampe kế) một chiều
- Một điện trở R2 đã biết và các dây nối (điện trở không đáng kể)
1 Phân tích bài toán Hướng dẫn để HS tìm hai phương án:
a) Nếu hai điện trở R1, R2 mắc nối tiếp thì tỉ số ?
U U
2
1
=
- Đo HĐT U1,U2 như thế nào?
b) Nếu hai điện trở R1, R2 mắc song song
thì tỉ số ?
I
I
2
1
=
- Đo cường độ dòng điện I1, I2 như thế
nào?
2 Tiến hành giải
Phương án a Mắc mạch điện gồm R1, R2
nối tiếp vào nguồn điện (H.2a)
- Dùng vôn kế lần lượt đo HĐT giữa hai
đầu điện trở R1 và R2 được U1 và U2
- Vận dụng định luật Ôm:
2 1 2
1
R
R U
U
= Suy
ra R1= 2
2
1
R
U
U
Phương án b Mắc mạch điện gồm R1 và R2 song song
vào nguồn điện (H 2b)
- Dùng ampe kế lần lượt đo cường độ dòng điện qua R1
và R2 được I1 và I2
- áp dụng định luật Ôm:
1 2 2
1
R
R I
I
= Vậy R1= 2
1
2
R I
I
3 Nhận xét
Đây là một bài tập định lượng
Thông qua bài tập này giúp học sinh củng
cố định luật Ôm cho đoạn mạch chỉ có R, bồi
dưỡng cho HS khả năng vận dụng kiến thức
để đề xuất các phương án thí nghiệm một
cách sáng tạo
Ví dụ 3 (dạng 2) Cho các dụng cụ sau:
- Một đèn Đ1: 220V- 15W
- Một đèn Đ2: 220V- 100W
- Một khoá K (đóng ngắt điện đơn)
- Một nguồn điện 220V (xoay chiều)
- Các dây nối (điện trở không đáng
kể)
V
R1 R 2
-H.2a
A
R1
R2
+
-H.2b
H.2c
Trang 6trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4a-2008
Hãy mắc một mạch điện sao cho khi K đóng thì đèn Đ2 sáng, đèn Đ1 tối và khi K ngắt thì hai đèn tối sáng ngược lại
1 Phân tích bài toán
- Nếu mắc song song hai bóng đèn thì có thoả mãn thì có thoả mãn yêu cầu bài toán không?
- Điện trở của mỗi bóng đèn là bao nhiêu?
- Nếu mắc nối tiếp hai bóng đèn thì HĐT phân bố ở hai đầu mỗi bóng là bao nhiêu? đèn nào sẽ không sáng, đèn nào sẽ sáng?
- Tìm vị trí để khoá K?
2 Tiến hành giải
- Mắc mạch điện như hình vẽ (H.3a)
- Khi K đóng đèn Đ1 (15W) sẽ tắt
(do bị nối tắt), còn đèn Đ2 (100 W) sáng
bình thường
- Khi K mở thì đèn Đ1 sẽ sáng, còn
đèn Đ2 gần như không sáng
Giải thích Điện trở của mỗi bóng
Ω
=
= 3226
P
U
R
1
2
1
P
U R
2
2 2 2
Ta có U1+ U2 = 220V,
484
3226 R
R U U
2 1 2
1
=
= Vậy
U1 =190V, U2= 30V Như vậy U1=190V, HĐT
này nhỏ hơn HĐT định mức một chút nên đèn
Đ1 sáng yếu hơn bình thường Còn HĐT U2
=30V rất nhỏ hơn HĐT định mức nên đèn Đ2
gần như không sáng Ngoài ra còn có nguyên
nhân điện trở tăng theo nhiệt độ làm cho hiện
tượng càng rõ rệt
3 Nhận xét:
Qua việc giải bài tập này giúp HS hiểu rõ
hơn về khái niệm HĐT định mức, công suất định mức Khi giải bài tập này HS phải trải qua tư duy lí thuyết, suy luận, lập luận rồi mới tiến hành làm thí nghiệm Do vậy rèn luyện cho HS khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết một tình huống mới
Ví dụ 4 (dạng 2).Trong một hộp đen để lộ ra 3 bóng đèn: Đ1: 220V- 40W,
Đ2: 220V- 100 W, Đ3: 220V- 150W chưa biết cách mắc các bóng đèn
- Nếu tháo 1 trong 3 bóng đèn sẽ thấy như sau:
+ Khi tháo đèn Đ1 (40W), đèn Đ2(100W) sáng hơn đèn Đ3 (150W)
+ Khi tháo đèn Đ3 (150W), đèn Đ1 (40W) sáng hơn đèn Đ2 (100W)
+ Khi tháo đèn Đ2 (100W) thì hai dèn kia đều tắt
+ Nếu nối tắt đèn Đ2 (100W) thì hai đèn kia sáng bình thường
Xác định cách mắc các bóng đèn trên
K
Đ1 Đ2
H.3a
H.3b
Trang 7N Q Lạc, B D Hào Bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo , TR 47-55
1 Phân tích bài toán
- Hãy so sánh điện trở của 3 bóng đèn? (R= U2đ/Pđ công suất càng lớn điện trở càng bé)
- Hai đèn có cùng HĐT định mức nhưng có công suất khác nhau khi mắc vào cùng một HĐT thì đèn nào sáng hơn? vì sao? (
2 1 1 2 2
1
P
P R
R P
P
=
= , đèn có công suất lớn thì sáng hơn)
- Khi mắc hai đèn có cùng HĐT định mức nối tiếp nhau vào một HĐT bằng HĐT định mức thì đèn nào sáng hơn? Vì sao? (
1 2 2 1 2
1
P
P R
R P
P
=
= , đèn nào có công suất
định mức nhỏ thì sáng hơn)
2 Tiến hành giải
- Theo bài ra: Khi tháo đèn Đ1 (40W), đèn Đ2(100W) sáng hơn đèn Đ3 (150W) Suy ra các bóng không thể mắc nối tiếp hoặc song song Do đó các bóng phải được mắc hỗn hợp
- Khi tháo đèn Đ1, đèn Đ2 sáng hơn đèn Đ3 nên khi tháo đèn Đ1, đèn Đ2 mắc nối
tiếp với đèn Đ3: Ta có H.4a hoặc H.4b, hoặc H.4c Khi tháo đèn Đ3, đèn Đ1 sáng hơn
đèn Đ2 do đó khi tháo đèn Đ3 thì Đ1 mắc nối tiếp với Đ2 Ta có cách mắc như hình H.4c
- Khi tháo đèn Đ2 thì đèn Đ1 và Đ3 tắt
- Nếu nối tắt đèn Đ2 thì hai đèn sáng bình
thường
Như vậy các bóng đèn được mắc như hình H
3c
- Tiến hành kiểm tra kết quả: Dùng các bóng
đèn mắc như hình H.4c vào bảng điện, thực hiện
các thao tác để kiểm tra
Chú ý Khi dùng ở HĐT cao cần đảm bảo an
toàn, lắp ráp xong mới đóng công tắc
3 Nhận xét
Với bài tập hộp đen nêu trên, để giải được nó
HS phải sử dụng kiến thức tổng hợp, phân tích mỗi
quan hệ giữa những dự kiện ở đầu vào và đầu ra của thông tin lấy từ hộp mà tìm
H.4d
Đ2 Đ3
Đ1
H.4a
Đ1
Đ3
Đ2 H.4b
Đ1
Đ2
Đ3 H.4c
Trang 8trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4a-2008
thấy cấu trúc bên trong của hộp, qua đó rèn luyện năng lực nhận thấy vấn đề mới, năng lực vận dụng vận dụng kiến thức vào hoàn cảnh mới, năng lực dự đoán các khả năng có thể xẩy ra của vấn đề
Ví dụ 5 (dạng 3) Người ta có một chiếc pin nhưng lại không biết suất điện động và
điện trở trong của nó Với các dụng cụ:
Một vôn kế, một ampe kế, một biến trở và các dây nối, làm thế nào để xác định được suất điện động và điện trở trong của pin
1 Phân tích bài toán
- Hãy viết biểu thức HĐT mạch ngoài? (U = E –Ir)
- Muốn đo E và r ta cần phải đo những đại lượng nào? cần mấy phương trình?
- Hãy thiết kế sơ đồ mạch điện? (Mạch điện được bố trí như hình H.5a)
2 Tiến hành giải
- Mắc mạch điện
theo sơ đồ (H.5a)
- Điều chỉnh biến
trở tới hai vị trí bất kỳ,
tại hai vị trí này đọc
được hai cặp giá trị của
vôn kế và ampe kế là:
U1,I1 và U2, I2
- Giải hệ phương
trình:
U1 =E –I1r,
U2 = E – I2r
Ta tìm được E và r
3 Nhận xét
Qua việc giải bài tập trên đã giúp HS nắm
vững công thức định luật Ôm cho toàn mạch Bồi
dưỡng cho HS khả năng vận dụng sáng tạo kiến thức
đã học vào tình huống mới, khả năng đề xuất phương
án để giải quyết vấn đề mới
Ví dụ 6 (dạng 3) Có một bóng đèn 6V – 6W, với
chỉ một loại pin e=1,5V, r0= 1Ω và các dây nối điện
trở nhỏ không đáng kể Hỏi cần phải có bao nhiêu
pin mắc thành bộ đối xứng để thắp sáng đèn bình
thường, chọn phương án có hiệu suất cao nhất
1 Phân tích bài toán
- Điều kiện để đèn 6V – 6W sáng bình thường
là gì?
- Giả sử có N pin mắc thành m dãy song song,
mỗi dãy có n pin mắc nối tiếp, hãy xác định m và n
để đèn sáng bình thường?
2 Tiến hành giải
- Điều kiện để đèn sáng bình thường là HĐT
V
A
K
R
E, r
H.5a
H.5b
H.6a
Trang 9N Q Lạc, B D Hào Bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo , TR 47-55 mạch điện ngoài U= 6V, khi đó CĐDĐ qua
đèn là: I= 1(A)
U
P
=
- Giả sử có N pin mắc thành m dãy, mỗi
dãy có n pin mắc nối tiếp (H 6b) Ta có
E= ne = 1,5n, r =
m
n r m
n
0 =
áp dụng định luật Ôm: E = U +Ir Suy ra
1,5n = 6 +
mn , ta đi đến phương trình:
n =
2 m 3
8 4
ư + , với m, n là nguyên dương, do đó 3m - 2 = 1, 2,
4, 8 Ta chọn m = 1, 2 Ta tính được n = 12, 6
- Bài toán có hai nghiệm: Dùng 12 pin
ghép thành 1 dãy nối tiếp hoặc hai dãy song song mỗi dãy 6 pin nối tiếp
Hiệu suất của bộ nguồn là:
H =
nguồn bộ của suất công
ngoài mạch suất công
=
E
U
(%)
Cả hai phương án đều có công suất mạch điện ngoài 6W tức HĐT mạch điện ngoài U= 6V, vậy phương án nào có công suất bộ nguồn bé tức suất điện động bé thì có hiệu suất lớn E1 = 12e = 18V, E2 =6e = 9V
Phương án hai có hiệu suất gấp hai phương án 1
- Tiến hành mắc mạch điện điện để kiểm tra kết quả
3 Nhận xét
Qua BTTN này giúp HS nắm vững định luật Ôm, cách tính suất điện động và
điện trở trong của bộ nguồn Rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo, bồi dưỡng năng lực vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn
5 Kết quả sử dụng
Trong thời gian qua chúng tôi đã sử dụng hệ thống BTTN đã xây dựng được vào giảng dạy ở các lớp 11A1, 11A2, Trường THPT Nam Đàn 1 năm học 2007-2008 chúng tôi thấy:
+ HS bước đầu đã làm quen được với BTTN, biết BTTN là gì, bước đầu có được những kĩ năng cơ bản trong việc giải các dạng BTTN như: biết thiết kế sơ đồ thí nghiệm theo yêu cầu của bài tập; lựa chọn thiết bị và lắp ráp thí nghiệm theo sơ đồ thiết kế; tiến hành thí nghiệm theo một trình tự hợp lí;
+ HS bước đầu đã biết lập kế hoạch để giải quyết những vấn đề tương đối phức tạp có nội dung gắn với thực tiễn cuộc sống, đòi hỏi phải vận dụng linh hoạt kiến thức đã học, phải tuân theo những quy tắc nhất định khi sử dụng một số thiết bị kỹ thuật,
+ Qua những hoạt động giải các BTTN mà năng lực hoạt động sáng tạo của HS
được hình thành và dần dần được củng cố
e, r0
H.6b
Trang 10trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4a-2008
+ HS có được trình độ nắm vững kiến thức, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn và năng lực thực hành cao hơn hẳn HS của các lớp khác
Sắp tới chúng tôi dự kiến sẽ tiếp tục mở rộng sang cho các phần khác của chương trình Vật lí phổ thông
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Thế Khôi - Nguyễn Phúc Thuần (đồng chủ biên), Vật lí 11 và bài tập Vật
lí 11, NXB Giáo dục, 2007
[2] Nguyễn Đức Thâm (chủ biên), Phương pháp dạy học Vật lí ở trường phổ thông, NXB ĐHSP, 2002
[3] Phạm Đình Cương, Thí nghiệm Vật lí ở trường trung học phổ thông, NXB Giáo dục, 2003
[4] Nguyễn Quang Lạc - Lê Tùng Lâm, Xây dựng bài tập thí nghiệm Vật lí phần dao
động điện- dòng điện xoay chiều (Vật lí 12), Tạp chí Giáo dục số 185, (3/2008)
Summary
Improving the ability of the creative thought for students in11th form through buiding and using the experimental
exercises of Chapter “Direct Current”
The experimental exercises are useful to improving students’ ability of creative thought in teaching physics However, type of there exercises is used a little
in fact of teaching This article expressed the results of the building and using a system of 16 experimental execises (through 6 illustracted examples) for chapter
“Direct current" in 11th form physics