Ngân hàng trung ương giám sát hoạt động của các ngân hàng, điều hành vĩ mô thị trường tiền tệ thông qua các công cụ chủ yếu là nghiệp vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu, tỷ lệ dự tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN KHOA TÀI CHÍNH - KẺ TOÁN
oJ
DE TAI:
NGAN HANG TRUNG UONG VIET NAM
Tiểu luận môn: Lý thuyết tài chính tiền tệ GVHD: Tiến sĩ Võ Đức Toàn
Mã học phần: 832107 - Thực hiện: Nhóm 7
Tên các thành viên nhóm:
Nguyễn Thị Kim Anh - 3121420039 Phan Thi Qué Anh — 3121420047 Phạm Ánh Dương — 3121420100
Vũ Trúc Linh — 3121420200
Lê Thị Thanh Ngân — 3121420004 Ngô Thị Thùy Nhung — 3121420291 Đoàn Thị Diễm Quỳnh — 3121420347
Trang 2A.MO DAU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự hình thành và phát triển của thị trường tài chính là một vấn đề rất quan trọng Nếu trong nền kinh tế hang hoá,
thị trường nói chung là tiền đề của quá trình sản xuất kinh doanh thì trong nền kinh
tế thị trường giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, tiền tệ - von ngày càng trở nên quan trọng
Tham gia vào thị trường tiền tệ gồm có rất nhiều chủ thể với những mục đích khác
nhau: Chủ thê phát hành, chủ thê đầu tư, chủ thể kiểm soát hoạt động của thị
trường Trong đó Ngân hàng trung ương là chủ thê quan trọng trên thị trường tiền
tệ Ngân hàng trung ương có nhiệm vụ cung cấp cho hệ thông ngân hàng khả năng thanh toán cần thiết để đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế, tương ứng với mục tiêu của chính sách tiền tệ Ngân hàng trung ương giám sát hoạt động của các ngân hàng, điều hành vĩ mô thị trường tiền tệ thông qua các công cụ chủ yếu là nghiệp
vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, kiểm soát hạn mức
tín dụng, quản lý lãi suất của các ngân hàng thương mại làm cho chính sách tiền
tệ luôn được thực hiện theo đúng mục tiêu của nó Thị trường tiền tệ Việt Nam đã
góp phân tháo gỡ khó khăn cho các ngân hàng trong việc bảo đảm khả năng thanh toán, an toàn hệ thông cũng như mở rộng hệ thống cho vay Đạt được những kết quả đó, một phần lớn là do vai trò điều tiết tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Những đổi mới trong quá trình điều tiết, kiểm soát tiền tệ trong , kiểm soát thị trường những năm qua đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng hệ thống tài
chính và phát triển thị trường tiền tệ
Trong bài tiêu luận này, nhóm chúng em sẽ trình bày những kiến thức cơ bản về Ngân hàng Trung ương Việt Nam
B NỘI DUNG
1 Tổng quan về Ngân hàng Trung ương
1.1 Bản chất của Ngân hàng Trung ương
Về mặt bản chất, ngân hàng trung ương là ngân hàng phát hành công quản, có thể biệt lập hoặc phụ thuộc chính phủ, vừa thực hiện chức năng độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng vào lưu thông, vừa thực hiện quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng - ngân hàng
Ngoài ra, ngân hàng trung ương chỉ giao dịch với kho bạc và ngân hàng trung gian
mà sẽ không giao dịch với công chúng
Trang 3Ví dụ: Khi muốn mở thẻ ngân hàng hay thực hiện các giao dịch tài chính thì chúng
ta sẽ đến các ngân hàng thương mại, chứ không đến ngân hàng trung ương Ngân hàng trung ương thực hiện việc quản lý nhà nước thông qua các nghiệp vụ
mang tính chất kinh doanh có đem lại lợi nhuận
Mục đích hoạt của ngân hàng trung ương là cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế, điều hòa lưu thông tiền tệ và quản lý hệ thống ngân hàng, nhằm đảm bảo cho lưu thông
tiền tệ 6n định, tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm và kiêm soát lạm
phát
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Trung ương Việt Nam
Thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp, chính quyền thực dân Pháp đã quản lý và phát
hành tiền tệ thông qua Ngân hàng Đông Dương, một ngân hàng có vai trò là ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại trên khu vực Đông Dương thuộc Pháp Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng bước xây dựng nên tài chính tiền tệ độc lập
Ngày 6 tháng 5 năm 1951, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam với các nhiệm vụ: phát hành giấy bạc, quản lý kho
bạc, thực hiện chính sách tín dụng đề phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch đề quản lý tiền tệ và đầu tranh tiền tệ với thực dân Pháp (đây cũng chính là ngày
truyền thống hàng năm kỷ niệm thành lập của ngành ngân hàng Việt Nam)
Ngày 21 tháng I năm 1960, Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia đã thừa ủy quyền
của Thủ tướng Chính phủ ký Thông tư số 20/VP-TH đối tên ngân hàng này thành
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Sau năm L975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã
tiếp quản và "quốc hữu hóa" Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của Việt Nam Cộng hòa và thông qua danh nghĩa của chủ nhà băng này đề thừa kế vai trò hội viên của Ngân hàng VNCH nảy trong các tô chức tài chính quốc tế như: IMF, WB, ADB Tháng 7 năm 1976, Việt Nam thống nhất về phương diện nhà nước, đôi tên nước là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, về ngành ngân hàng, hợp nhất về mặt thể
chế, tô chức từ 1976 và hợp nhất Ngân hàng về mặt tiền tệ vào mùa xuân năm 1978
qua việc đổi tiền
Tháng 7 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 218/CT cho phép làm thử
việc chuyên hoạt động của Ngân hàng sang kinh doanh Xã hội Chủ nghĩa
Tháng 3 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐÐBT với định
hướng cơ bản là chuyên hăn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh
2
Trang 4Thang 5 năm 1990, Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố 2 Pháp lệnh là Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng
và công ty tài chính
Tháng 10 năm 1993, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân
hàng Thê giới, Ngân hàng Phát triển châu Á được tái lập và khơi thông
Ngày 2 tháng 12 năm 1997, Quốc hội khóa X thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam và Luật Các tô chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/10/1998
Ngày 16 tháng 6 năm 2010, Quốc hội khóa XI thông qua Luật Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/01/2011
Ngày LI tháng L1 năm 2013, Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cầu tô chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện theo Nghị định số
156/2013/NĐ-CP ngày L1/11/2013 của Chính phủ Theo đó, Ngân hàng Nhà nước
có 27 đơn vị trực thuộc
2 Các mô hình tô chức của Ngân hàng Trung ương
2,1 Ngân hàng Trung ương độc lập với Chính phủ
Theo mô hình này, chính phủ không có quyền can thiệp vào hoạt động của Ngân
hàng Trung ương, đặc biệt là trong việc xây dựng và thực thị chính sách tiền tệ
Ngân hàng Trung ương trực thuộc chính phủ có thể sẽ bị chính phủ lợi dụng công
cụ phát hành đề bù đắp bội chỉ ngân sách, từ đó gây ra lạm phát, mặt khác làm cho Ngân hàng Trung ương mắt đi tính độc lập và chủ động trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ
2.2 Ngân hàng Trung ương trực thuộc Chính phủ
Mô hình này cho thấy Chính phủ có sức ảnh hưởng lớn đối với ngân hàng trung ương trong mọi việc, thậm chí chính phủ còn can thiệp trực tiếp vào việc xây dựng
và thực thi chính sách tiền tệ
Quan điểm tạo ra mô hình này chính là chính phủ là cơ quan hành pháp thực hiện chức năng quản lý kinh tế vĩ mô, do đó chính phủ phải nắm trong tay các công cụ kinh tế vĩ mô để sử dụng và phối hợp một cách đồng bộ, hiệu quả các công cụ đó
Mà chính sách tiền tệ là một trong những bộ phận chủ yếu của chính sách kinh tế vĩ
Trang 53.1 Độc quyền phát hành giấy bạc và điều tiết khối lượng cung ứng
Khi Ngân hàng Trung ương ra đời và hoạt động thì toàn bộ việc phát hành giấy bạc ngân hàng được tập trung vào ngân hàng trung ương theo chế độ nhà nước độc quyên phát hành tiền Ngân hàng Trung ương trở thành trung tâm phát hành tiền của đất nước
Giấy bạc ngân hàng do Ngân hàng Trung ương phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp, làm chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán Do đó việc phát hành tiền của Ngân hàng Trung ương có tác động trực tiếp đến tình hình lưu thông tiền tệ của đất nước Để cho giá trị đồng tiền được ôn định, đòi hỏi việc phát hành tiền phải tuân theo những nguyên tắc nghiêm ngặt Đó là: Phát hành tiền
dựa vào dự trữ vàng
Giấy bạc ngân hàng phát hành vào lưu thông phải có vàng nằm trong kho của ngân hàng làm đảm bảo Mức đảm bảo ở mỗi nước có sự co giãn khác nhau Nhìn chung
có 3 hình thức duy trì đảm bảo sau đây:
+ Nhà nước quy định một hạn mức phát hành, khối lượng phát hành phải nằm trong
hạn mức pháp định
+ Nhà nước quy định tối đa lượng giấy bạc trong lưu thông và không quy định mức
dự trữ vàng làm đảm bảo cho lượng giấy bạc đó
+ Nhà nước quy định mức dự trữ vàng tôi thiêu cho khối lượng giấy bạc phát hành
Phát hành tiền có đảm bảo bằng giá trị hàng hóa thông qua cơ chế tín dụng Việc phát hành giấy bạc được thực hiện qua cơ chế tín dụng ngắn hạn trên cơ sở dam bao bang gia trị hàng hóa thê hiện trên kỳ phiếu thương mại và các chứng từ
nợ khác Điều này làm cho việc phát hành giấy bạc gắn với nhu cầu thực tế của lưu thông hàng hóa, đảm bảo cho tông lượng tiền tệ phù hợp với tông giá trị hàng hóa
và dịch vụ trên thị trường Việc phát hành này của ngân hàng trung ương được thực hiện bằng phương pháp tái chiết khấu các chứng từ có giá của các tô chức tín dụng Việc phát hành tiền thông qua cơ chế tín dụng có ý nghĩa quan trọng Thứ nhất, khối lượng tiền phát hành vào lưu thông xuất phát từ nhu cầu tiền tệ phát sinh do
tăng trưởng kinh tế đòi hỏi Giấy bạc ngân hàng được đảm bảo bằng khối lượng
hàng hóa và dịch vụ Thứ hai, tạo khả năng để Ngân hàng Trung ương thực hiện kiểm soát khối lượng tiền tệ cung ứng theo nhu cầu của mục tiêu Ôn định tiền tệ Hiện nay, trong điều kiện lưu thông giấy bạc ngân hàng không được tự do chuyên đối ra vàng theo luật định, các nước trên thế giới đều chuyển sang chế độ phát hành giấy bạc thông qua cơ chế tái cấp vốn cho các ngân hàng và hoạt động trên thị
4
Trang 6trường mở của Ngân hàng Trung ương Bên cạnh đó, với việc độc quyền phát hành tiền, Ngân hàng Trung ương thực hiện việc kiểm soát khối lượng tiền cung ứng được tạo ra từ các ngân hàng thương mại bằng quy chế dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu
Vậy nên, ngân hàng trung ương không chỉ độc quyền phát hành tiền tệ mà còn quản
lý và điều tiết lượng tiền cung ứng, thực hiện chính sách tiền tệ, đảm bảo ôn định
giá trị đồng tiền nước mình
3.2 Ngân hàng Trung ương là ngân hàng của các ngân hàng
Ngân hàng Trung ương không tham gia kinh doanh tiền tệ, tín dụng trực tiếp với các chủ thê trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các ngân hàng trung gian
3.2.1 NHTW mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian Tất cả ngân hàng trung gian đều mở tài khoản tại Ngân hàng Trung ương do điều
đó mang lại lợi ích cho ngân hàng trung gian và theo quy định của pháp luật Ngân hàng Trung ương đảm trách việc nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian
trên cả nước, dưới dạng tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền dự trữ thanh toán
- Tiền dự trữ bắt buộc: áp dụng bắt buộc đối với các ngân hàng trung gian có huy động vốn tiền gửi Mục đích là đề giới hạn mức tín dụng tôi đa mà ngân hàng trung gian có thể cung cấp tránh trường hợp mắt khả năng thanh toán phương hại đến người gửi nói riêng và nền kinh tế nói chung
- Tiền gửi thanh toán: các ngân hàng trung gian gửi một khoản tiền thanh toán tại ngân hàng trung ương, mục đích là để đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên giữa các ngân hàng với nhau và đề điều chỉnh mức dự trữ bắt buộc khi cần 3.2.2 Ngân hàng Trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian Họat động cho vay của Ngân hàng Trung ương đối với các ngân hàng trung gian là một nghiệp vụ phát hành Ngân hàng Trung ương sẽ cho ngân hàng trung gian vay thông qua nghiệp vụ tái chiết khẩu, tái cầm cố các chứng từ có giá Thông qua hành
vi mua lại này, Ngân hàng Trung ương đã là tăng lượng vốn khả dụng cho hoạt động của ngân hàng trung gian, tạo điều kiện cho các ngân hàng này mở rộng các hoạt động tín dụng Việc cấp tín dụng không chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khẩu các chứng từ có giá à còn bao gồm cả các khoản cho vay ứng trước có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuân, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại Ngân hàng Trung ương
Trang 7Trong trường hợp một ngân hàng có nguy cơ phá sản, Ngân hàng Trung ương có thể sẽ cung cấp những khoản tín dụng không hạn chế nhằm giúp cho ngân hàng đó tránh khỏi đồ vỡ.Tuy nhiên không phải mọi ngân hàng đều nhận được sự hỗ trợ này chỉ khi sự sụp đồ của ngân hàng đó có ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại va an toàn của
hệ thống ngân hàng thì Ngân hàng Trung ương mới can thiệp Mức lãi suất cho vay của Ngân hàng Trung ương khi đó cũng thường là lãi suất phạt và ngân hàng nhận hỗ trợ phải chịu nhều qui định ngặt nghèo của Ngân hàng Trung ương 3.2.3 Ngân hàng trung ương thực hiện việc quản lý nhà nước đối với hệ thông ngân hàng
Ngân hàng Trung ương thấm định và cấp giấy chứng nhận hoạt động cho ngân hàng trung g1an
Điều tiết các hoạt động kinh doanh của ngân hàng trung gian bằng những biện pháp
kinh tế và hành chính
Thanh tra và kiểm soát một cách thường xuyên và toàn diện mọi mặt hoạt động của ngân hàng trung gian
3.3 Ngân hàng Trung ương là ngân hàng của Nhà nước
Ngân hàng Trung ương thuộc sở hữu của nhà nước Tham gia xây dựng chiến lược
phát tiên kinh tế xã hội, soạn thảo chính sách tiền tệ, kiểm soát việc thực hiện chính
sách tiền tệ (chính sách về tín dụng, chính sách về lãi suất, chính sách kiềm chế lạm
phát ) Ngân hàng Trung ương quản lý các hoạt động tiền tệ-tín dụng ngân hàng
và thanh toán đối nội cũng như đôi ngoại của đất nước
Ngân hàng Trung ương nhận tiền của kho bạc nhà nước, tô chức thanh toán giữa kho bạc với ngân hàng trung gian, là đại lý phát hành các loại trái phiêu nhà nước, quản lý dự trữ quốc gia, cho chính phủ vay đề cân đối thu chỉ ngân sách trong trường hợp cần thiết
4 Chính sách tiền tệ và công cụ thực thi chính sách tiền tệ
4.1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
4.1.1 Phát triển kinh tế, gia tăng sản lượng
Với chức năng là trung tâm tín dụng, sự chỉ đạo của Ngân hàng Trung ương thông qua chính sách tiền tệ, các ngân hàng trung gian sẽ huy động một cách triệt dé các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, trên cơ sở đó phân phối lại cho các đơn
vị kinh té str dung dé sung dụng thêm một bộ phận tài nguyên trong và ngoài nước
vào phát tiên kinh tế.
Trang 8chính sách kinh tế vĩ mô của mình, đề giữ cho nhịp độ phát triển đó ôn định, đặc
biệt việc ôn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng, nó thê hiện lòng tin của dân
chúng đối với Chính phủ
Ví dụ: Tăng trưởng kinh tế trong nước trong 7 tháng đầu năm 2021 được các chuyên gia kinh tế đánh giá là đang trên đà phục hồi, nhưng việc đạt được mục tiêu 6,5% mà Quốc hội đề ra là rất khó khăn Đề đạt mục tiêu này thì tăng trưởng kinh
tế những tháng cuối năm phải đạt 7,1% - điều không dé dàng khi làn sóng dịch Covid-19 lần thứ 4 vẫn đang diễn biến phức tạp
4.1.2 Tạo công ăn viêmlàm
Tạo công ăn việc làm đầy đủ là mục tiêu của tất cả các chính sách kinh tế vĩ mô trong đó có chính sách tiền tệ Công ăn việc làm đầy đủ có ý nghĩa quan trọng bởi
ba lý do:
« Chỉ số thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu phản ánh sự thịnh vượng xã hội vì
nó phản ánh khả năng sử dụng có hiệu quá nguồn lực xã hội
+ Thất nghiệp gây nên tinh trạng stress cho mỗi cá nhân và gia đình của họ và là
mam mong của các tệ nạn xã hội
« Các khoản trợ cấp thất nghiệp tăng lên có thê làm thay đôi cơ cau chi tiêu ngân sách và làm căng thăng tình trạng ngân sách
Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ không có nghĩa là tý lệ thất nghiệp bằng 0 mà ở
mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được cấu thành từ tý lệ
thất nghiệp tạm thời (những người đang tìm kiếm công việc thích hợp) và ty lệ thất
nghiệp cơ cầu (thất nghiệp bởi sự không phù hợp giữa nhu cầu về lao động và cung của lao động) Mỗi quốc gia cần xác định được tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên một cách chính xác đề đạt được mục tiêu này Bên cạnh đó, cô gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp tự
nhiên cũng được coi là mục tiêu của chính sách tiền tệ
Ví dụ: Trong năm 2021, mặc dù tỉnh hình dịch bệnh diễn biến phức tạp nhưng thị
trường lao động nước ta có những chuyền biến tích cực:
Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý II năm 2021 là 49,9 triệu người, giảm 65 nghìn người so với quý trước và tăng gần 1.8 triệu người so với cùng kỳ năm trước Xu hướng này cũng thấy được ở khu vực nông thôn và ở nữ giới Lao động có việc làm ở khu vực nông thôn là 31,8 triệu người, giảm 369,3 nghìn người
so với quý trước và tăng 581,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; số có việc
Trang 9làm ở nữ là gần 23,4 triệu người, giảm 110,4 nghìn người so với quý trước và tăng 1,4 triệu người so với cùng kỳ năm trước
Trong quý II năm 2021, lao động có việc làm trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 13,8 triệu người, giảm 2,25% so với quý trước và tăng 3,47% so với cùng kỳ năm trước; lao động có việc làm trong ngành dịch vụ là 19,4 triệu người, giảm 1,32% so với quý trước và tăng 3,79% so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng có l6,6 triệu người dang làm việc, tang 3,19% so voi quý trước, và tăng 3,64% so với cùng kỳ năm trước
Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức quý II năm 2021 là 57,4%, tăng 0,3 điểm phân trăm so với quý trước và tăng 1,6 diém phan trăm so với cùng kỳ năm trước
Tỷ lệ phi chính thức khu vực thành thị là 48,6%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với
quý trước và tăng 1,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 64,5%, tăng 2,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước và tăng 0,4 điểm phần trăm so với quý trước
4.1.3 Kiểm soát lạm phát
Đối với mỗi một quốc gia việc kiểm soát lạm phát để bảo vệ nền kinh tế luôn được đặt lên hàng đầu Có rất nhiều cách để kìm chế lạm phát được áp dụng bao gồm:
- Giảm bớt lượng tiền trong lưu thông
+ Ngừng phát hành tiền vào trong lưu thông nhằm giảm lượng tiền đưa vào lưu thông trong xã hội
+ Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Đây là biện pháp nhằm giảm lượng cung tiền vào thị trường Biện pháp này tác động đến tất cả các ngân hàng và bình đẳng giữa các ngân hàng với nhau
+ Nâng lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tiền gửi: Biện pháp này sẽ làm hạn chế các ngân hàng thương mại mang các giấy tờ có giá đến ngân hàng nhà nước đề chiết khấu Ngoài ra việc nâng lãi suất tiền gửi sẽ hút khiến người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn
+ Ngân hàng trung ương áp dụng nghiệp vụ thị tường mở nhằm bán các chứng từ
có giá cho các ngân hàng thương mại
+ Ngân hàng trung ương bán vàng và ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại + Giảm chỉ ngân sách: Đó là giảm chỉ tiêu thường xuyên và cắt giảm đầu tư công
Trang 10+ Tăng tiền thuê tiêu dùng nhằm giảm bớt nhu cầu chỉ tiêu cá nhân trong xã hội,
tăng hàng hóa dịch vụ cung cấp trong xã hội
- Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng nhằm cân bằng với tiền trong lưu thông
+ Khuyến khích tự do mậu dịch
+ Giảm thuế
+ Các biện pháp cho hàng hóa nhập khâu
- ĐI vay viện trợ nước ngoài
- Cải cách tiền tệ
Vi du: Lam phat co ban bình quân năm 2021 tăng 0,81% so với bình quân năm
2020 Lạm phát cơ bản tháng 12/2021 tăng 0,16% so với tháng 11/2021, tăng 0,67% so với tháng 12/2020 Nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Chính phủ 4.2 Nôkdung chính sách tiền tê m
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô được đề ra và thực hiện bởi ngân
hàng trung ương nhằm mục tiêu ôn định giá cả, thúc đây tăng trưởng kinh tế và tao
công ăn việc làm trong xã hội Thực chất chính sách tiền tệ là sự cụ thể hóa những
biện pháp nhằm tác động vào mức cung tiền trong nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến
lãi suất trên thị trường
Chính sách tiền tệ có hai loại: chính sách tiền tệ mở rộng ( tăng cung tiền, giảm lãi
suất đề thúc đây kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng — chính sách
tiền tệ chống thất nghiệp) và chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng
— chính sách tiền tệ ôn định giá trị đồng tiền)
Ví dụ: Để hỗ trợ các doanh nghiệp, đặc biệt các DNVVN bị ảnh hưởng bởi dịch
bệnh, chính phủ cũng đã tung ra nhiều gói cứu trợ kinh tế lên tới hàng trăm nghìn
tỷ đồng Đáng chú ý, bên cạch các gói cứu trợ kinh tế, trong năm 2020, Chính phủ
đã triển khai nhiều giải pháp chính sách thuế linh hoạt như miễn giảm, giãn thuế,
phí và lệ phí, tiền thuê đất với gần 124.000 tỉ đồng, hỗ trợ kịp thời cho doanh
nghiệp, hộ kinh doanh vượt qua khó khăn do dai dich COVID-19 Va đây chính là
chính sách tiền tệ mở rộng nước ta áp dụng
4.2.1 Chính sách cung ứng và điều hna khối tiền
Kiểm soát và điều hòa khối tiền trong giao dịch, tức là kiểm soát và điều hòa được tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế, làm sao cho tốc độ tăng của tổng
phương tiện thanh toán phải phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế và chỉ phí gia
9
Trang 11cả của từng thời kỳ.Đây được coi là bộ phận quan trọng nhất và là hạt nhân của
Chính sách Tiền tệ
Việc cung ứng và điều hòa khối tiền được thực hiện theo các nhu cầu đối ứng, tức
là đi từ gốc theo bốn kênh tạo tiền:
- Cho hệ thống ngân hàng thương mại vay
- Cho ngân sách Nhà nước vay
- Tăng dự trữ ngoại hối ( Phát hành qua thị trường hồi đoái)
- Phát hành qua thị trường mở
Việc cung ứng và điều hòa khối tiền chi có thể được thực hiện một cách tốt nhất
trên cơ sở quan sát các tín hiệu thị trường như: Chỉ số giá cả hàng hóa thiết yếu, giá vàng, biến động của tý giá hối đoái
Những tín hiệu nói trên có biến động tăng hay giảm đều kéo theo sự thay đôi về nhu cầu tiền tệ tăng hoặc giảm tương ứng Vì vậy ta có thể dựa vào đó để cung ứng
và điều hòa khối tiền trong từng thời kỳ cho phù hợp
4.2.2 Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là tổng thê các qui định của ngân hàng về hoạt động tín dụng nhằm đưa ra định hướng và hướng dẫn hoạt động của cán bộ ngân hàng trong việc cấp tín dụng cho khách hàng
Chính sách tín dụng bao gồm nội dung cơ bản sau:
- Chính sách khách hàng
Khách hàng nhận tín dụng của ngân hàng đa dạng, tuy nhiên luật pháp cắm hoặc
hạn chế đôi với một số đối tượng nhất định Ngân hàng phân loại khách hàng theo
nhiều tiêu chí khác nhau để có các chính sách khác nhau phù hợp cho mỗi đối
tượng
- Chính sách qui mô và giới hạn tín dụng
Qui mô cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tô như: nhu cầu khách hàng được ngân hàng tính toán lại, khả năng và mức độ ngân hàng được phép cung cấp theo luật pháp và theo năng lực tài chính của ngân hàng,
và giá trị của tài sản bảo đảm
- Lãi suất và phí suất tín dụng
10
Trang 12Chính sách lãi suất và phí suất tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng phụ
thuộc vào nhiều yếu tô: mức độ rủi ro của khách hàng, thời hạn khoản nợ, mức độ cạnh tranh trên thị trường
Mỗi ngân hàng có mức lãi suất tín dụng khác nhau, tùy theo kì hạn, loại tiền Ngân
hàng có thê thực hiện thỏa thuận lãi suất đối với với từng khách hàng cụ thê
Lãi suất tín dụng do ban giám đốc ngân hàng thông qua và phố biến đến mọi cán bộ tín dụng Chính sách lãi suất và phí tín dụng cân linh hoạt, đa dạng
định bằng cách chia tổng dư nợ mỗi đầu kì trả nợ cho tổng dư nợ ban đầu
+ Các khoản đảm bảo
Qui định về loại bảo đảm được chấp thuận, tỉ lệ cấp tín dụng trên tài sản bảo đảm,
đánh giá và quản lí bảo đảm
Chính sách bảo đảm gồm:
+ Các qui định về trường hợp tải trợ cần đảm bảo bằng tài sản
+ Các loại báo đảm cho các loại hình tín dụng
+ Danh mục các loại bảo đảm được ngân hàng chấp nhận
+ Tỉ lệ phần trăm cho vay bảo đám
+ Đánh giá và quản lí tài sản bảo đảm
4.2.3 Chính sách ngoại hối
Chính sách ngoại hối phải thỏa mãn 3 yêu cầu cơ bản:
- Báo vệ độc lập chủ quyền của đồng tiền quốc gia
- Cho phép tập trung các nguồn ngoại hồi vào trong tay nhà nước, đề sử dung 1
cách hợp lí và tiết kiệm cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân
11
Trang 13- Tạo điều kiện để mở rộng các quan hệ về kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao
giữa nước ta và nước ngoài
Về dự trữ ngoại hồi: cần phải tập trung dự trữ ngoại hối năm chặt các nguồn ngoại hồi đề có kế hoạch sử dụng hợp lí Ngân hàng trung ương chủ động mua các nguồn ngoại hồi để làm quỹ dự trữ ngoại hối
Về tỉ giá hồi đoái: tỷ giá hối đoái phản ánh quan hệ cung cầu ngoại tệ, nó tác động
và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động của ngoại thương và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước
Về thị trường hối doai: từng bước hình thành thị trường hồi đoái ở Việt Nam, đưa
thị trường hồi đoái vào hoạt động có tổ chức, thông qua hoạt động của thị trường hồi đoái ngân hàng trung ương thực hiện vai trò điều tiết thị trường
4.3 Nhong công cụ thực thi chính sách tiền tê m
Công cụ thực hiện chính sách tiền tệ là quá trình quản lý cung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ thường là hướng tới một lãi suất mong đề đạt được những mục đích
ồn định và tăng trưởng kinh tế như kiềm chế lạm phát, duy trì ôn định tỷ giá hồi
đoái, đạt được toàn dụng lao động trưởng kinh tế Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thê trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở cửa quy định mức dự trữ bắt buộc hoặc trao đối
trên thị trường ngoại hối
Thông đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính
phủ, vấn đề này được ghi nhận từ điều 11 đến điều 15 Luật Ngân hàng Nhà nước
năm 2010
4.3.1 Dự tro bpt buôơn
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tô chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước dé thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ
bắt buộc đối với từng loại hình tô chức tín dụng và từng loại tiền gửi tại tô chức tín
dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Ngân hàng nhà nước quy định
việc trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc, tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của từng loại hình tô chức tín dụng đối với từng loại tiền gửi
Dự trữ bắt buộc là số tiền được tính bởi tỷ lệ phần trăm trên vốn huy động của các
tô chức tín dụng huy động được dưới hình thức nhận tiền gửi và phát hành các loại
12