1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 nâng cao

132 919 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Và Lựa Chọn Hệ Thống Bài Tập Tự Luận Và Trắc Nghiệm Khách Quan Dùng Để Phát Huy Tính Tích Cực Của Học Sinh Trong Dạy Học Phần Hóa Học Hữu Cơ Lớp 12 Nâng Cao
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông
Chuyên ngành Hóa Học
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008 - 2009
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định hướng này đã được pháp chế hoá trong luật Giáo dục điều 24.2, trong Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sán

Trang 1

học hữu cơ lớp 12 nâng cao

Trang 2

PHẦN I: MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập với cộng đồng quốc tế Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước, đổi mới nền giáo dục là trọng tâm của sự phát triển Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con người Công cuộc đổi mới này đòi hỏi nhà trường phải tạo ra những con người lao động năng động, sáng tạo làm chủ đất nước, tạo nguồn nhân lực cho một xã hội phát triển

Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4 ( khoá VII) đã xác định: phải khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề

Định hướng này đã được pháp chế hoá trong luật Giáo dục điều 24.2,

trong Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh

Đổi mới phương pháp học tập nhằm phát huy tối đa sự sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thí nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay… Chính vì thế trong thời gian gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo khuyến khích giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm hoạt động hoá người học

Năm học 2008 -2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai trên phạm vi toàn quốc chương trình sách giáo khoa lớp 12 mới THPT và năm học với

Trang 3

nhiệm vụ được xác định là “Năm học đẩy mạnh công nghệ thông tin, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

Trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phát triển tư duy cho học sinh ở mọi bộ môn, trong đó có bộ môn hoá học Hoá học là môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết, vì thế bên cạnh việc nắm vững lý thuyết, người học cần phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo mọi vấn đề thông qua hoạt động thực nghiệm, thực hành giải bài tập

Một trong những phương pháp dạy học tích cực là sử dụng bài tập hoá học trong hoạt động dạy và học ở trường phổ thông Bài tập hoá học đóng vai trò vừa là nội dung vừa là phương tiện để chuyển tải kiến thức, phát triển tư duy

và kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất Bài tập hoá học không chỉ củng cố nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn là phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thức mới Rèn luyện tính tích cực, trí thông minh sáng tạo cho học sinh, giúp các em có hứng thú học tập, chính điều này đã làm cho bài tập hoá học ở PT giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy và học hoá

học, đặc biệt là sử dụng hệ thống bài tập để phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học

Đã có nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu các vấn đề về bài tập hoá học và cũng có nhiều công trình được áp dụng ở mức độ khác nhau Tuy nhiên hệ thống bài tập hoá học lớp 12 NC phần hóa học hữu cơ và việc nghiên cứu sử dụng chúng để phát huy tính tích cực của học sinh vẫn còn là cái mới Với mong muốn tìm hiểu và sử dụng hiệu quả các bài tập hoá học nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trung học phổ thông, tôi đã lựa chọn đề

tài “Xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách

quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 nâng cao trường THPT”

Trang 4

Đây là hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm dùng để hình thành khái

niệm mới, củng cố kiến thức, nâng cao kiến thức rèn kỹ năng tư duy logic và

để kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh trên lớp

II Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu các phương pháp dạy học tích cực áp dụng trong môn hóa học

-Thiết kế, xây dựng và tuyển chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm

thuộc chương trình hoá học lớp 12 nâng cao dùng để phát huy tính tích cực

của học sinh trong dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 NC trường THPT

và dùng để củng cố, nâng cao kiến thức, đánh giá kết quả học tập của học

sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hoá học trong giai đoạn hiện nay

III Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của các phương pháp dạy học tích cực

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về bài tập hóa học:

+ Trắc nghiệm tự luận

+ TNKQ

- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung chương trình và sách giáo khoa hoá

học lớp 12 nâng cao

- Tuyển chọn xây dựng hệ thống bài tập tự luận và TNKQ dạng nhiều

lựa chọn theo chương trình hoá học lớp 12 NC dùng để phát huy tính tích

cực của học sinh

- Nghiên cứu sử dụng hệ thống bài tập trên để phát huy tính tích cực

của học sinh trong quá trình dạy học hóa học lớp 12NC

- Thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả của hệ thống bài tập đã

xây dựng

- Xử lý kết quả thực nghiệm bằng toán học thống kê

IV Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học ở trường THPT

- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bài tập hoá học phần hữu cơ lớp 12

NC nhằm phát huy tính tích cực của học sinh

Trang 5

V Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên nắm được nội dung phương pháp dạy học tích cực thì sẽ biết cách thiết kế và sử dụng bài tập tự luận và TNKQ trong giảng dạy một cách có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học hóa học, phát triển tư duy, trí thông minh, phát huy tính tích cực của học sinh đáp ứng yêu cầu cao về chất lượng học tập

VI Phương pháp nghiên cứu

a Nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các văn bản, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và đào tạo có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học, tâm lý học, giáo dục học

và các tài liệu liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa hoá học THPT đặc biệt là chương trình hoá học lớp 12 NC phần hóa học hữu cơ

- Căn cứ vào nhiệm vụ đề tài, dựa trên chương trình hoá học 12 nâng cao, dựa trên cơ sở lý thuyết về câu hỏi TN để xây dựng hệ thống bài tập tự luận và TNKQ nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS khi học phần hóa học hữu cơ lớp 12 NC

b Nghiên cứu thực tiễn

Thăm dò trao đổi ý kiến với các giáo viên dạy hoá THPT về nội dung, hình thức diễn đạt, số lượng câu hỏi tự luận và TNKQ của mỗi bài học và sử dụng trong quá trình dạy học

Trang 6

VII Điểm mới của đề tài

- Lần đầu tiên tuyển chọn và biên soạn hệ thống bài tập tự luận và TNKQ theo các mức độ biết, hiểu, vận dụng thuộc chương trình hoá học 12

NC, phần hóa học hữu cơ

- Đề xuất phương hướng sử dụng hệ thống bài tập này nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học hóa học ở trường THPT

- Góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa và tác dụng của BTHH trong quá trình phát triển tư duy và phát huy tính tích cực của HS trong dạy học hoá học THPT

VIII Phạm vi ứng dụngcủa đề tài

- Sử dụng trong quá trình dạy học hóa học lớp 12NC phần hóa học hữu cơ

- Dùng để củng cố và nâng cao kiến thức, kỹ năng hoá học của học sinh lớp 12 nâng cao sau mỗi bài học

- Dùng trong kiểm tra- đánh giá kiến thức hoá học của học sinh lớp 12

NC phần hóa học hữu cơ

Trang 7

PHẦN II:NỘI DUNG

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

I.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TÍCH CỰC

I.1.1 Tính tích cực nhận thức [36]

I.1.1.1 Tính tích cực nhận thức

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người Con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội

Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển xã hội

I.1.1.2 Tính tích cực học tập

Tính tích cực con người được thể hiện trong hoạt động, đặc biệt trong những hoạt động chủ động của chủ thể

Tính tích cực trong hoạt động học tập, về thực chất là tính tích cực nhận thức và được đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết đến mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích luỹ được Tuy nhiên, trong học tập học sinh cũng “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân dưới sự tổ chức và hướng dẫn của GV

nỗ lực của chính mình Nhưng khi đạt tới một trình độ nhất định thì sự học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng có thể tạo ra những tri thức mới cho khoa học

Trang 8

I.1.1.3 Những dấu hiệu của tính tích cực học tập

Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như:

- Hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên đặt ra, tích cực bổ sung các câu trả lời của bạn

- Thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra và có lập luận

để bảo vệ ý kiến đó

- Hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ

và đi sâu vào bản chất của sự kiện

- Chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, tập trung chú ý vào vấn đề đang học

- Kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản chí trước những tình huống khó khăn…

Tính tích cực học tập được sắp xếp theo những cấp độ từ thấp đến cao như:

- Bắt chước: gắng sức là theo các mẫu hành động của thầy, của bạn… Bắt chước thường được biểu hiện trong các tiết thực hành: học sinh bắt chước các kĩ năng biểu diễn thí nghiệm của giáo viên và khi đạt được ở mức

độ cao hơn thì biến thành kỹ năng của mình

- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau về một vấn đề…, được biểu hiện khi học sinh tự giải bài tập hoá học hay tự tiến hành thí nghiệm theo hướng nghiên cứu…

- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu

Tính tích cực trong hoạt động học tập liên quan trước hết đến động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Tính tích cực tạo ra nếp tư duy độc lập Tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo

Sự biểu hiện và cấp độ từ thấp đến cao của tính tích cực học tập, mối liên quan giữa động cơ và hứng thú trong học tập được diễn đạt trong sơ đồ sau:

Trang 9

I.1.1.4 Những nguyên tắc sƣ phạm cần đảm bảo để nâng cao tính tích cực nhận thức cho học sinh

Qua những cơ sở lý luận trên ta nhận thấy muốn nâng cao tính tích cực nhận thức của học sinh cần dảm bảo những nguyên tắc sau:

- Việc dạy học phải được tiến hành ở mức độ gắng sức đối với HS Cần phải lôi cuốn học sinh vào hoạt động nhận thức tích cực, kích thích sự ham hiểu biết của học sinh, có chú trọng đến năng lực và khả năng của học sinh sao cho mỗi học sinh phải huy động hết mức trí lực của mình Giáo viên không nên làm cho hoạt động học tập trở nên khó khăn với học sinh bằng bài

- Khao kh¸t häc,h¨ng h¸i tr¶ lêi c©u hái

Trang 10

tập tình huống khó mà phải tạo cho học sinh một chướng ngại nhận thức bằng những bài tập sáng tạo và rèn luyện ý chí nhận thức

- Việc nắm vững kiến thức lý thuyết phải chiếm ưu thế Cần giúp học sinh nắm vững một cách sâu sắc nội dung lý thuyết, đi sâu vào bản chất của các hiện tượng và các chất nghiên cứu nhằm lĩnh hội những quan điểm và khái niệm quan trọng nhất Nội dung lý thuyết, khái niệm là cơ sở cho tư duy hoạt động trí tuệ

- Trong quá trình dạy học phải duy trì nhịp độ khẩn trương của việc nghiên cứu tài liệu, còn những kiến thức đã lĩnh hội sẽ được củng cố khi nghiên cứu kiến thức mới Qua thực tế đã chứng minh việc dừng lại lâu để nghiên cứu một nội dung học tập sẽ chóng làm học sinh mệt mỏi vì tính chất đơn điệu của nó, nên khi học sinh đã hiểu một số vấn đề rồi thì phải chuyển sang nghiên cứu vấn đề khác Như vậy hoạt động của học sinh sẽ được liên tục, không bị nhàm chán

- Trong dạy học phải tích cực chăm lo sự phát triển trí tuệ của tất cả các đối tượng học sinh (khá giỏi, trung bình, yếu kém) Giáo viên điều khiển, chỉ đạo hoạt động trí tuệ của học sinh theo năng lực của họ làm cho học sinh tư duy tích cực để vượt qua chướng ngại nhận thức bằng hoạt động tự lực, độc lập

Như vậy những nguyên tắc trên đều hướng tới các hoạt động điều khiển của giáo viên nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong đó

có chú trọng đến việc dạy học sinh phương pháp học tập, phương pháp hoạt động trí tuệ, hình thành năng lực giải quyết vấn đề và khả năng tự đánh giá kết quả học tập của mình

I.1.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá học

I.1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học [16]

Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học

Trang 11

I.1.2.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá học [36]

Từ thực tế của ngành giáo dục, cùng với yêu cầu đào tạo nguồn nhân

lực cho sự phát triển đất nước chúng ta đang tiến hành đổi mới phương pháp dạy học chú trọng đến việc phát huy tính tích cực, chủ động của HS, coi học sinh là chủ thể nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học

Nguyên tắc này đã được nghiên cứu, phát triển mạnh mẽ trên thế giới và được xác định là một trong những phương hướng cải cách giáo dục phổ thông Việt Nam Những tư tưởng, quan điểm, những tiếp cận mới thể hiện nguyên tắc trên đã được chúng ta nghiên cứu, áp dụng trong dạy học các môn học và được coi là phương pháp dạy học tích cực

Những quan điểm, những tiếp cận mới dùng làm cơ sở cho việc đổi mới phương pháp dạy học hoá học:

a Dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Đây là một quan điểm được đánh giá là tích cực vì hướng dạy học chú trọng đến người học để tìm ra những phương pháp dạy học có hiệu quả Quan điểm này đã chú trọng các vấn đề:

- Về mục tiêu dạy học: Chuẩn bị cho HS thích ứng với đời sống, xã hội Tôn trọng nhu cầu, hứng thú, khả năng và lợi ích của HS

- Về nội dung: Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức, năng lực giải quyết vấn đề học tập và thực tiễn, hướng vào sự chuẩn bị thiết thực cho HS hoà nhập với xã hội

- Về phương pháp: Coi trọng rèn luyện cho HS phương pháp tự học, tự khám phá và giải quyết vấn đề, phát huy sự tìm tòi tư duy độc lập sáng tạo của

HS thông qua các hoạt động học tập Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Học sinh chủ động tham gia các hoạt động học tập Giáo viên là người tổ chức, điều khiển, động viên, huy động tối đa vốn hiểu biết, kinh nghiệm của từng HS trong việc tiếp thu kiến thức và xây dựng bài học

Trang 12

- Về hình thức tổ chức: Không khí lớp học thân mật tự chủ, bố trí lớp học linh hoạt phù hợp với hoạt động học tập, đặc điểm của từng tiết học

- Về kiểm tra đánh giá: Giáo viên đánh giá khách quan, học sinh tham gia vào quá trình nhận xét đánh giá kết quả học tập của mình (tự đánh giá), đánh giá nhận xét lẫn nhau Nội dung kiểm tra chú ý đến các mức độ: biết, hiểu, vận dụng

- Kết quả đạt được: Tri thức thu được vững chắc bằng con đường tự tìm tòi, học sinh được phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm, hành vi, tự tin trong cuộc sống

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm đặt vị trí của người học vừa là chủ thể, vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, phát huy tối đa những tiềm năng của từng người học Do vậy vai trò tích cực, chủ động, độc lập sáng tạo của người học được phát huy Người giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn động viên các hoạt động độc lập của học sinh, đánh thức các tiềm năng của mỗi học sinh giúp họ chuẩn bị tham gia vào cuộc sống

Như vậy bản chất của “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” là đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, chú trọng đến những phẩm chất, năng lực riêng của mỗi người, họ vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, phấn đấu cá thể hoá quá trình dạy học để cho các tiềm năng của mỗi cá nhân được phát huy tối đa Tư tưởng của quan điểm này đã được thể hiện qua các định hướng chỉ đạo hoạt động dạy học ở nước ta với các phong trào: “ Tất cả vì học sinh thân yêu”, “ Thầy chủ đạo, trò chủ động”, “ Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”, “học sinh là chủ thể sáng tạo trong học tập”

b Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học

Định hướng hoạt động hoá người học đã chú trọng đến việc giải quyết vấn đề dạy học thông qua hoạt động tự giác tích cực và sáng tạo của người

Trang 13

học, hình thành công nghệ kiểm tra đánh giá, sử dụng phương tiện kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin trong quá trình dạy học

Theo định hướng hoạt động hoá người học các nhà nghiên cứu đã đề xuất:

- Học sinh phải được hoạt động nhiều hơn và trở thành chủ thể hoạt động đặc biệt là hoạt động tư duy

- Các phương pháp dạy học hoá học phải thể hiện phương pháp nhận thức khoa học hoá học như: thực nghiệm hoá học, phân tích lí thuyết, dự đoán

lí thuyết, mô hình hoá… và tận dụng khai thác nét đặc thù của môn hoá học để tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng phong phú của học sinh trong giờ học

- Chú trọng dạy học sinh phương pháp tự học, phương pháp tự nghiên cứu trong quá trình học tập

Nét đặc trưng cơ bản của định hướng hoạt động hoá người học là sự học tập tự giác và sáng tạo của học sinh Để học sinh học tập tích cực, tự giác cần làm cho học sinh biết biến nhu cầu của xã hội thành nhu cầu nội tại của bản thân mình Để có tư duy sáng tạo thì phải tập luyện hoạt động sáng tạo thông qua học tập Như vậy ngay trong bài học đầu tiên của môn học phải đặt học sinh vào vị trí của người nghiên cứu, người khám phá, chiếm lĩnh tri thức mới và coi việc xây dựng phong cách “ học tập sáng tạo” là cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học

Biện pháp hoạt động hoá người học áp dụng trong dạy học hoá học là:

- Khai thác nét đặc thù môn hoá học tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng, phong phú của học sinh trong giờ học như:

+Tăng cường sử dụng thí nghiệm hoá học, các phương tiện trực quan (mô hình, tranh vẽ…), phương tiện kĩ thuật trong dạy học hoá học (máy chiếu, máy tính, các phần mềm dạy học…)

+ Trong giờ học cần sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động phong phú của học sinh như: thí nghiệm, dự đoán lí thuyết, mô hình hoá, giải thích, thảo luận nhóm… giúp học sinh được hoạt động tích cực chủ động

Trang 14

- Tăng thời gian hoạt động của học sinh trong giờ học Hoạt động của giáo viên chú trọng đến việc thiết kế, hướng dẫn điều khiển các hoạt động và

tư duy hay hoạt động nhóm Giáo viên cần động viên học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học, giảm tối đa các hoạt động nhận thức thụ động

- Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động của học sinh thông qua việc lựa chọn nội dung và hình thức sử dụng các câu hỏi, bài tập có sự suy luận, vận dụng kiến thức một cách sáng tạo

Như vậy tư tưởng chủ đạo của định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học là học sinh được phát huy tính tích cực nhận thức học tập đến mức tối đa thông qua các hoạt động chủ động, độc lập, sáng tạo trong giờ học

I.1.2.3 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học [6]

Cốt lõi của đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập tích cực, chống lại thói quen học tập thụ động Đổi mới nội dung và hình thức hoạt động của giáo viên và học sinh, đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới hình thức tương tác xã hội trong dạy học với định hướng:

- Chuyển từ mô hình dạy học truyền thụ một chiều sang mô hình dạy học hợp tác hai chiều

- Chuyển từ xu hướng dạy học “ lấy GV làm trung tâm” sang quan điểm dạy học “ lấy HS làm trung tâm”, “ hoạt động hóa người học”

- Dạy cách học, bồi dưỡng năng lực tự học và tự đánh giá

- Sử dụng các PPDHTC

- Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc các phương pháp dạy học hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các phương pháp dạy học truyền thống

- Tăng cường sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học, lưu ý đến ứng dụng của công nghệ thông tin

Trang 15

I.1.3 Phương pháp dạy học tích cực [36]

I.1.3.1 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực là khái niệm nói tới những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học

Vì vậy phương pháp dạy học tích cực thực chất là các phương pháp dạy học hướng tới việc giúp học sinh học tập chủ động, tích cực, sáng tạo chống lại thói quen học tập thụ động

Phương pháp dạy học tích cực chú trọng đến hoạt động học và vai trò của người học trong quá trình dạy học theo các quan điểm, tiếp cận mới về hoạt động dạy học như: “ Lấy người học là trung tâm”, “Hoạt động hoá người học”

I.1.3.2 Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực có những dấu hiệu đặc trưng cơ bản như:

- Dạy học có chú trọng đến việc tổ chức, chỉ đạo để người học trở thành chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết

Trong giờ học học sinh được tổ chức, động viên tham gia vào các hoạt động học tập qua đó vừa nắm được kiến thức, kĩ năng mới vừa nắm được phương pháp nhận thức, học tập Trong phương pháp dạy học tích cực việc tổ chức để học sinh học được tri thức, kĩ năng, phương pháp học tập luôn gắn quyện vào nhau theo quá trình học kiến thức- hoạt động đến biết hoạt động và muốn hoạt động, qua đó mà phát triển nhân cách người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo Người học- đối tượng của hoạt động “ dạy” đồng thời là chủ thể của hoạt động “ học”- được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ

- Dạy học có chú trọng rèn luyện kĩ năng, phương pháp và thói quen tự học, từ đó mà tạo cho HS hứng thú, lòng ham muốn, khát khao học tập, khơi

dậy những tiềm năng vốn có trong mỗi HS để giúp họ dễ dàng thích ứng với cuộc sống của xã hội phát triển PPDHTC xem việc rèn luyện phương pháp

Trang 16

học tập không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học

- Dạy học chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động học tập của từng học sinh, hoạt động hợp tác trong tập thể nhóm, lớp học thông qua tương tác giữa GV với HS, giữa HS với HS Bằng sự trao đổi, tranh luận, thể hiện quan

điểm của từng cá nhân, sự đánh giá nhận xét những quan điểm của bạn mà học sinh nắm được kiến thức, cách tư duy, sự phối hợp hoạt động trong một tập thể

Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan

hệ hợp tác giữa các cá thể trên con đường chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng

Thông qua thảo luận, tranh luận ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của HS, lớp học sẽ sinh động và kích thích được sự hứng thú học tập nhờ sự động viên khích lệ của thầy, của bạn

Học hợp tác làm tăng hiệu quả học tập nhất là khi xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung

Trong việc học hợp tác tính cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, tính ỷ lại được uốn nắn, ý thức tổ chức, tình bạn, tinh thần tương trợ được phát triển, lớp học sẽ trở nên thân thiện hơn

- Dạy học có sự phối hợp sử dụng rộng rãi các phương tiện trực quan nhất là các phương tiện kĩ thuật nghe nhìn, máy vi tính, phần mềm dạy học…tăng tính năng động cho người học đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt

động học tập theo năng lực và nhu cầu của mỗi học sinh, giúp các em tiếp cận

được với các phương tiện hiện đại trong xã hội phát triển

- Dạy học có sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá đa dạng, khách quan, tạo điều kiện để học sinh được tham gia tích cực vào hoạt động

tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau Nội dung, phương pháp, hình thức kiểm tra

đánh giá phải đa dạng, phong phú với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật,

Trang 17

máy tính và phần mềm kiểm tra để đảm bảo tính khách quan, phản ánh trung thực tình trạng kiến thức của học sinh và quá trình đào tạo Sự thay đổi khâu đánh giá sẽ có tác dụng mạnh mẽ là động lực để đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực

I.1.3.3 Sự đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực

Sự đổi mới phương pháp dạy học hoá học theo hướng dạy học tích cực được dựa trên cơ sở quan niệm về tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh

và dạy học hướng vào học sinh Dạy học tích cực áp dụng trong dạy học hoá học được đặt ra do yêu cầu đổi mới mục tiêu giáo dục, đổi mới nội dung môn học và được tiến hành đồng bộ với đổi mới kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh

Như vậy đổi mới phương pháp dạy học có quan hệ mật thiết với việc đổi mới mục tiêu, nội dung dạy học và cách thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

a Đổi mới hoạt động dạy của giáo viên

Hoạt động dạy học hoá học không chỉ là quá trình truyền thụ kiến thức, thông báo thông tin mà chủ yếu là quá trình giáo viên thiết kế, tổ chức, điều khiển các hoạt động học tập của học sinh để đạt được các mục tiêu cụ thể ở mỗi bài học

Như vậy hoạt động cụ thể của giáo viên sẽ là:

- Thiết kế giáo án (kế hoạch giờ dạy) gồm các hoạt động của học sinh theo những mục tiêu cụ thể của mỗi bài học mà học sinh cần đạt được

- Tổ chức các hoạt động trên lớp để học sinh hoạt động theo cá nhân hoặc theo nhóm như: nêu vấn đề cần tìm hiểu, tổ chức hoạt động tìm tòi, phát hiện tri thức và hình thành kĩ năng hoá học, kĩ năng nghiên cứu hoá học

- Định hướng điều chỉnh các hoạt động của học sinh: giáo viên có nhiệm vụ làm chính xác hóa các khái niệm, kết luận, nhận xét về các hiện

Trang 18

tượng, bản chất của quá trình hoá học mà học sinh đã tự tìm tòi trong hoạt động học tập của mình và thông báo thêm một số thông tin có liên quan đến bài học mà học sinh không thể tự tìm tòi được qua hoạt động trên lớp

- Thiết kế và thực hiện việc sử dụng các phương tiện trực quan, thí nghiệm hoá học, hiện tượng thực tế như là nguồn kiến thức để học sinh tìm tòi, phát hiện những kiến thức kĩ năng cần nghiên cứu, tiếp thu

Trong quá trình tổ chức, điều khiển luôn tạo điều kiện để học sinh được bộc

lộ và vận dụng nhiều hơn những kiến thức đã có của mình để giải quyết các vấn

đề học tập và các vấn đề có liên quan đến hoá học trong đời sống sản xuất

b Đổi mới hoạt động học tập của học sinh

Quá trình học tập hoá học không phải là quá trình tiếp nhận một cách thụ động kiến thức mà chủ yếu là quá trình tự học, tự nhận thức, tự khám phá, tìm tòi các tri thức hoá học một cách chủ động, tích cực Đó chính là quá trình tự phát hiện và giải quyết các vấn đề hay là quá trình tập nghiên cứu khoa học dưới sự điều khiển của giáo viên Như vậy trong giờ học, học sinh được tiến hành các hoạt động như:

- Tự phát hiện vấn đề hoặc hiểu được vấn đề, nhiệm vụ do giáo viên nêu ra

- Hoạt động cá nhân hoặc hợp tác theo nhóm để tìm tòi phát hiện vấn đề, giải quyết các vấn đề đặt ra Tuỳ theo nội dung và nhiệm vụ đặt ra mà học sinh cần thực hiện các hoạt động như: dự đoán lý thuyết, làm thí nghiệm, quan sát, mô tả hiện tượng, giải thích rút ra kết luận hoặc phán đoán, suy luận,

đề ra giả thuyết, trả lời câu hỏi, tìm dữ kiện để khẳng định hoặc bác bỏ giả thuyết đề ra Nếu nhiệm vụ đòi hỏi hoạt động nhóm, học sinh cần chuẩn bị ý kiến, tham gia thảo luận nhóm rút ra kết luận và báo cáo kết quả hoạt động của cá nhân hoặc nhóm của mình

- Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải thích hiện tượng hoá học xảy

ra trong đời sống, sản xuất và giải các dạng bài tập hoá học

Trang 19

- Tự đánh giá và đánh giá việc nắm kiến thức của bản thân, của bạn, của nhóm Như vậy sự đổi mới phương pháp dạy học hoá học là cần phải làm cho học sinh được hoạt động nhiều hơn, tư duy một cách tích cực chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh kiến thức và kỹ năng Học sinh phải luôn có ý thức và biết cách vận dụng kiến thức hoá học vào thực tế đời sống Thông qua các hoạt động điều khiển của giáo viên, học sinh không chỉ nắm được các tri thức, kĩ năng hoá học

mà còn nắm được kĩ năng hoạt động tìm tòi, phát hiện vấn đề học tập và kĩ năng hoạt động tích cực để giải quyết vấn đề một cách linh hoạt và sáng tạo

Cùng với sự đổi mới hoạt động dạy, hoạt động học thì cũng cần có sự đổi mới hình thức tổ chức dạy học

c Đổi mới hình thức tổ chức dạy học và sử dụng phương tiện dạy học

Theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học thì hình thức tổ chức dạy học cũng cần thay đổi cho phù hợp với các phương pháp dạy học được sử dụng trong bài học Hình thức tổ chức lớp học phải đa dạng phong phú cho phù hợp với việc tìm tòi của cá nhân, hoạt động nhóm và cả lớp Địa điểm học của HS không chỉ diễn ra trên lớp mà còn thực hiện ở phòng bộ môn, phòng học đa phương tiện, ở ngoài trường học…HS thu nhận thông tin qua nhiều kênh khác nhau như SGK, băng, đĩa, mạng internet…

Khi lựa chọn các hình thức tổ chức lớp học giáo viên cần chú ý tạo ra môi trường học tập đảm bảo được mối liên hệ tương tác giữa hoạt động của giáo viên, hoạt động của học sinh và nhằm đảm bảo cho học sinh tiến hành các hoạt động học tập có hiệu quả, chất lượng cao

Các phương tiện dạy học được đa dạng hóa , không chỉ là phấn, bảng, sách vở…mà còn là dụng cụ thí nghiệm, mô hình , mẫu vật, máy chiếu, bản trong, máy tính, phần mềm ứng dụng dạy học Phương tiện dạy học, thí nghiệm hóa học được sử dụng như là nguồn kiến thức để HS tìm tòi, phát hiện, thu nhận kiến thức

Trang 20

d Sử dụng phối hợp, linh hoạt các phương pháp đặc thù của hóa học

Với yêu cầu đổi mới quá trình dạy học hoá học, GV cần chú ý đến việc khai thác các yếu tố tích cực trong từng phương pháp dạy học được sử dụng

để tạo điều kiện cho HS được hoạt động nhiều hơn, tích cực, chủ động hơn trong giờ học Sử dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực đóng vai trò quan trọng, có tính chất quyết định đến chất lượng dạy và học hoá học Trong dạy học hoá học có nhiều phương pháp được sử dụng theo hướng dạy học tích cực như: sử dụng các PPDH dạy học truyền thống theo hướng tích cực, sử dụng thí nghiệm, phương tiện dạy học, sử dụng bài tập hoá học …, tiếp thu có chọn lọc những phương pháp dạy học hiện đại như: dạy học kiến tạo, dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ, dạy học tương tác…

I.1.3.4 Một số phương pháp dạy học tích cực [6]

- Nhóm phương pháp trực quan: Sử dụng thí nghiệm hay các phương tiện trực quan theo PP nghiên cứu, để kiểm nghiệm giả thuyết, thí nghiệm đối chứng, thí nghiệm nêu vấn đề…, sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng… để tổ chức các hoạt động dạy học

- Nhóm phương pháp thực hành: Về mặt hoạt động nhận thức thì các PP thực hành là “tích cực” hơn các PP trực quan, các PP trực quan là “tích cực” hơn các PP dùng lời Trong nhóm các PP thực hành, HS được trực tiếp tác động vào đối tượng (quan sát mẫu chất, lắp dụng cụ thí nghiệm, làm thí nghiệm …) tự lực khám phá tri thức mới

- Đàm thoại tìm tòi : Trong số các PP dùng lời thì đàm thoại tìm tòi là một PPDHTC Trong đàm thoại tìm tòi, GV là người tổ chức sự tìm tòi, còn

HS là người tự lực phát hiện kiến thức mới

- Dạy học nêu và giải quyết vấn đề: Dạy học nêu và giải quyết vấn đề giúp cho HS không chỉ nắm được tri thức mới mà còn nắm được cả phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội: phát hiện kịp thời và giải quyết

Trang 21

hợp lí các vấn đề nảy sinh

- Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ: Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 em Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ ý, được duy trì ổn định hoặc thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hoặc những nhiệm vụ khác nhau bằng phiếu giao việc Nhóm cử nhóm trưởng phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác

I.2 BÀI TẬP HOÁ HỌC TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC [30]

I.2.1 Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hoá học trong dạy học tích cực

Trong dạy học hoá học, bản thân bài tập hoá học đã được coi là phương pháp dạy học có hiệu quả cao trong việc rèn luyện kỹ năng hoá học Nó giữ vai trò quan trọng trong mọi khâu, mọi loại bài dạy hoá học Song tính tích cực của phương pháp này còn được nâng cao hơn khi được sử dụng như là nguồn kiến thức để học sinh tìm tòi chứ không phải để tái hiện kiến thức Với tính đa dạng của mình bài tập hoá học có tác dụng:

- Đối với học sinh, nó là phương pháp học tập tích cực, hiệu quả và

không có gì thay thế được giúp học sinh nắm vững kiến thức hoá học, phát triển tư duy, hình thành kĩ năng, vận dụng kiến thức hoá học vào thực tiễn, từ

đó làm giảm nhẹ sự nặng nề căng thẳng của khối lượng kiến thức lý thuyết và gây hứng thú say mê học tập cho học sinh

- Đối với giáo viên, bài tập hoá học là phương tiện, là nguồn kiến thức để

hình thành khái niệm hoá học, tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học Cụ thể là:

+ Bài tập hoá học được sử dụng như là nguồn kiến thức để học sinh tìm tòi, phát triển kiến thức, kỹ năng

+ Bài tập hoá học dùng để mô phỏng một số tình huống thực tế đời sống

Trang 22

để học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề của thực tế đặt ra + Sử dụng bài tập để tạo tình huống có vấn đề kích thích hoạt động tư duy tìm tòi sáng tạo và rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề học tập, nâng cao hứng thú học tập bộ môn

Như vậy bài tập hoá học được coi như là một nhiệm vụ học tập cần giải quyết, giúp học sinh tìm tòi, nghiên cứu đi sâu vận dụng kiến thức hoá học một cách sáng tạo từ đó giúp học sinh có năng lực phát hiện vấn đề - giải quyết vấn đề học tập hoặc thực tiễn đặt ra có liên quan đến hoá học

I.2.2 Phân loại bài tập hoá học

I.2.2.1 Dựa vào nội dung có thể phân bài tập hoá học thành 4 loại

*Bài tập định tính: là các dạng bài tập có liên hệ với sự quan sát để mô

tả, giải thích các hiện tượng hoá học Các dạng bài tập định tính:

- Giải thích, chứng minh, viết PTHH của các phản ứng

*Bài tập định lượng (bài toán hoá học): là loại bài tập cần dùng các kỹ

năng toán học kết hợp với kỹ năng hoá học để giải

Căn cứ vào nội dung có các dạng bài tập định lượng như:

- Xác định nguyên tố hóa học

- Dựa vào thành phần để xác định công thức hoá học

- Tính theo công thức, phương trình hoá học

- Tính toán với các chất khí

- Tính độ điện li, hằng số phân li axit, bazơ

- Bài tập về nồng độ dung dịch

Trang 23

*Bài tập thực nghiệm: là dạng bài tập có liên quan đến kĩ năng thực

hành như:

- Lắp dụng cụ thí nghiệm

- Quan sát để mô tả, giải thích các hiện tượng thí nghiệm

- Làm thí nghiệm để nghiên cứu tính chất của một chất hoặc một hiện tượng hóa học

- Phân biệt các chất

- Tách các chất ra khỏi hỗn hợp…

*Bài tập tổng hợp: là dạng bài tập có tính chất gồm các dạng trên

I.2.2.2 Dựa vào hình thức thể hiện có thể phân bài tập hoá học thành 2 loại [41]

*Bài tập trắc nghiệm khách quan: là loại bài tập hay câu hỏi có kèm

theo câu trả lời sẵn và yêu cầu học sinh suy nghĩ rồi dùng 1 ký hiệu đơn giản

đã quy ước để trả lời

Các dạng bài tập trắc nghiệm khách quan:

- Điền khuyết

- Đúng sai

- Ghép đôi

- Nhiều lựa chọn

Ưu điểm nổi bật của bài tập TNKQ là:

- Trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra được nhiều nội dung kiến thức, tránh được tình trạng học tủ, học lệch

- Việc chấm điểm là khách quan, không phụ thuộc vào người chấm nên

độ tin cậy cao hơn các phương pháp kiểm tra đánh giá khác

- Rèn luyện cho học sinh khả năng nhận biết, khai thác, xử lý thông tin

và khả năng tư duy phán đoán nhanh

- Giúp người học tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập kết quả của mình một cách khách quan

Tuy nhiên loại bài tập trắc nghiệm khách quan cũng có những nhược

Trang 24

điểm đáng kể như:

- Ít góp phần phát triển ngôn ngữ hoá học

- Không thể dùng để kiểm tra kỹ năng thực hành hoá học

- Giáo viên chỉ biết kết quả suy nghĩ của học sinh, rất khó đánh giá khả năng diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ và tư duy của HS để đi đến câu trả lời

Trong 4 loại bài tập trắc nghiệm khách quan trên thì bài tập nhiều lựa chọn là loại hay dùng nhất vì có nhiều ưu điểm hơn như xác suất đúng ngẫu nhiên thấp, dễ chấm

*Bài tập tự luận

Là dạng bài tập yêu cầu học sinh phải kết hợp cả kiến thức hoá học, ngôn ngữ hoá học và công cụ toán học để trình bày nội dung của bài toán hoá học, phải tự viết câu trả lời bằng ngôn ngữ của chính mình

Bài tập tự luận cho phép giáo viên kiểm tra kiến thức của học sinh ở góc độ hiểu và khả năng vận dụng Hình thành cho HS kỹ năng sắp đặt ý tưởng, diễn đạt, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp phát huy tính độc lập, tư duy sáng tạo

Trên thực tế, sự phân loại trên chỉ là tương đối Có những bài vừa có nội dung thuộc bài tập định tính lại vừa có nội dung thuộc bài tập định lượng hoặc trong một bài có thể có phần trắc nghiệm khách quan cùng với giải thích, viết PTHH của phản ứng xảy ra

I.3 SỬ DỤNG BÀI TẬP HOÁ HỌC ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH [36]

Trong dạy học tích cực, bài tập hoá học được sử dụng theo một số phương

hướng sau:

I.3.1 Sử dụng bài tập hoá học để hình thành khái niệm hóa học

Sự hình thành các khái niệm hoá học phải dựa trên các kiến thức thực tiễn đơn giản, vốn kiến thức hoá học mà học sinh có được từ trước hoặc từ các môn học khác thông qua con đường quy nạp từ các hình mẫu - kiến thức, hay từ sự phân tích tính chất, hoặc so sánh đối chiếu rồi tổng hợp Các khái niệm được hình thành phải chính xác, nhất quán để gây ấn tượng mạnh, nhớ

Trang 25

lâu cho học sinh Vì vậy khi hình thành khái niệm hoá học, ta có thể xây dựng

hệ thống các bài tập, câu hỏi về nội dung của khái niệm có liên quan chặt chẽ với nhau để học sinh tìm hiểu một cách đầy đủ khái niệm đó

I.3.2 Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm hoá học

Trong mục tiêu môn học có nhấn mạnh đến việc tăng cường rèn luyện kĩ năng hoá học cho học sinh, trong đó chú trọng đến kĩ năng thí nghiệm hoá học Bài tập thực nghiệm là một phương tiện có hiệu quả cao trong việc rèn luyện kĩ năng thực hành, phương pháp làm việc khoa học, độc lập cho học sinh Giáo viên có thể sử dụng bài tập thực nghiệm khi nghiên cứu, hình thành kiến thức mới, khi luyện tập, rèn luyện kĩ năng cho học sinh, trong giờ thực hành…

I.3.3 Tăng cường sử dụng bài tập thực tiễn

Theo phương hướng dạy học tích cực giáo viên cần tăng cường sử dụng, giúp học sinh vận dụng kiến thức hoá học giải quyết các vấn đề thực tiễn có liên quan đến hoá học Thông qua việc giải bài tập thực tiễn sẽ tạo cho học sinh hứng thú, say mê trong học tập hoá học Các bài tập có liên quan đến kiến thức thực tế còn có thể dùng để tạo tình huống có vấn đề trong dạy học hoá học Các bài tập này có thể ở dạng bài tập lí thuyết hoặc bài tập thực nghiệm

I.3.4 Sử dụng sơ đồ, đồ thị trong việc giải, chữa bài tập

động học tập của học sinh có tác dụng phát triển năng lực quan sát tư duy trừu tượng và khả năng vận dụng kiến thức một cách tổng hợp

Có thể sử dụng sơ đồ ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình dạy học đặc biệt ở giai đoạn ôn tập, củng cố, hoàn thiện, hệ thống hoá kiến thức

I.3.5 Sử dụng các bài toán có nội dung biện luận để tăng cường tính suy

luận cho học sinh khi học tập hoá học

Nhiều bài toán có phần tính toán đơn giản nhưng có nội dung biện luận hóa học phong phú, sâu sắc là phương tiện tốt để tích cực hóa hoạt động của HS trong quá trình dạy học và rèn luyện tư duy hóa học cho học sinh

Trang 26

- Cơ sở lý luận về bài tập hoá học, phân loại bài tập hoá học, ý nghĩa tác dụng của bài tập hoá học

- Đã phân tích cách sử dụng bài tập để phát huy tính tích cực của HS theo các nội dung sau:

+ Sử dụng bài tập hoá học để hình thành khái niệm hóa học

+ Sử dụng bài tập thực nghiệm hoá học khi nghiên cứu, hình thành kiến thức mới

+ Tăng cường sử dụng bài tập thực tiễn

+ Sử dụng bài tập có hình vẽ, sơ đồ, đồ thị, biểu bảng

+ Sử dụng các bài toán có nội dung biện luận để tăng cường tính suy luận cho học sinh khi học tập hoá học

Trang 27

CHƯƠNG II

HỆ THỐNG BÀI TẬP TỰ LUẬN VÀ TRẮC NGHIỆM DÙNG ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN HOÁ HỌC HỮU CƠ LỚP 12 NÂNG CAO TRƯỜNG THPT

II.1 SỬ DỤNG BÀI TẬP HOÁ HỌC ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

Giải bài tập hoá học là phương pháp dạy học hoá học tích cực, song tính tích cực của phương pháp này được nâng cao hơn khi được sử dụng như là nguồn kiến thức để học sinh tìm tòi chứ không phải để học sinh tái hiện kiến thức Với tính đa dạng của mình, bài tập hoá học là phương tiện để tích cực hoá hoạt động của học sinh trong các bài dạy học hoá học, nhưng hiệu quả của nó còn phụ thuộc vào việc sử dụng của giáo viên trong quá trình dạy học hoá học Giáo viên cần phải nghiên cứu mục tiêu mỗi bài học theo chuẩn kiến thức và kỹ năng để xây dựng hệ thống bài tập phù hợp Giáo viên cần phải lựa chọn để giảm bớt khối lượng kiến thức không trọng tâm, dành thời gian để tổ chức các hoạt động học tập tích cực, tăng cường sử dụng các bài tập để phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách giảm bớt những câu hỏi bài tập có tính tái hiện, giảm bớt những kết luận buộc học sinh phải thừa nhận, tăng cường các gợi ý, các câu hỏi, bài tập để học sinh hoạt động một cách tích cực trong quá trình học tập

II.1.1 Sử dụng bài tập hoá học để hình thành khái niệm hoá học, tính chất của các chất

Ngoài việc sử dụng bài tập hoá học để củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng hoá học cho học sinh người giáo viên có thể dùng bài tập để tổ chức,

điều khiển quá trình nhận thức của học sinh hình thành khái niệm mới Trong bài dạy hình thành khái niệm học sinh phải tiếp thu, lĩnh hội kiến thức mới mà

Trang 28

học sinh chưa biết hoặc chưa biết chính xác rõ ràng Giáo viên có thể xây dựng, lựa chọn hệ thống bài tập phù hợp để giúp học sinh hình thành khái niệm mới một cách chủ động và vững chắc

Ví dụ 1: Hình thành khái niệm este

Khi dạy bài Este (Bài 1 Hoá học 12 NC): để hình thành khái niệm este giáo viên thường nêu khái niệm, cho ví dụ cụ thể một số este để học sinh hiểu khái niệm Với hình thức hoạt động này, quá trình tiếp thu của học sinh vẫn mang tính thụ động Để tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, giáo viên có thể dùng các bài tập sau cho học sinh tự tìm kiếm, hình thành khái niệm este:

Bài 1:

- Viết PTHH của phản ứng giữa axit axetic và ancol etylic

O

và etyl axetat CH3 - C - OC2H5

O

từ đó rút ra nhận xét về cấu tạo của phân tử este

Sau đó giáo viên sử dụng bài tập số 2 sau:

Bài 2: a Viết công thức cấu tạo các đồng phân mạnh hở ứng với CTPT

C4H8O2

b Gọi tên các đồng phân có chứa nhóm C = O và chỉ rõ đồng phân nào thuộc chức este

Ví dụ 2: Phản ứng thuỷ phân este

Khi dạy về phản ứng thuỷ phân este giáo viên sử dụng các bài tập sau:

(xúc tác axit)

Trang 29

- Hãy nêu đặc điểm của phản ứng este hoá

- Em hãy chỉ rõ chiều thuận và chiều nghịch của phản ứng

- Để cân bằng trên dịch chuyển theo chiều thuỷ phân este thì có thể dùng các biện pháp nào sau đây?

+ Tăng nồng độ ancol hay axit

Từ các câu trả lời của học sinh, giáo viên tổng kết ý kiến

- Este bị thuỷ phân cả trong môi trường axit và bazơ

- Phản ứng thủy phân trong môi trường axit là phản ứng nghịch của phản ứng este hoá

- Phản ứng thủy phân trong môi trường kiềm là phản ứng một chiều và còn được gọi là phản ứng xà phòng hoá

Bài 2: Thủy phân este trong môi trường kiềm nói chung thu được muối

và ancol nhưng có trường hợp thu được muối và anđehit hoặc xeton có trường hợp thu được 2 muối và nước Em hãy cho ví dụ minh họa

Rõ ràng GV đã tạo ra một tình huống nghịch lý cho HS , HS sẽ phải suy nghĩ, đề xuất cách giải quyết vấn đề nêu ra suy luận để tìm ra câu trả lời Ở bài tập này mức độ tư duy đã được nâng lên

Giáo viên tổng kết ý kiến

- Este không no có ancol tương ứng không bền thủy phân trong môi trường kiềm thu được muối và anđehit hoặc xeton

-Este phenyl thủy phân trong môi trường kiềm thu được 2 muối và nước

Trang 30

Như vậy, sau khi giải các bài tập trên và có sự chỉnh lý, bổ sung của GV,

HS đã tham gia một cách tích cực, chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức

Ví dụ 3: Phát biểu nào sau đây không đúng?

A Phản ứng este hoá xảy ra hoàn toàn

B Khi thuỷ phân este no mạch hở trong môi trường axit sẽ cho axit và ancol

C Khi thuỷ phân este no mạch hở trong môi trường kiềm sẽ cho muối và ancol

D Khi thuỷ phân phenyl axetat trong môi trường kiềm sẽ cho 2 muối và nước

Ví dụ 4: Hình thành khái niệm về amin

Khi dạy bài amin (bài 12 - SGK Hoá học 12 nâng cao), để học sinh tiếp thu bài một cách chủ động, giáo viên có thể dùng các câu hỏi và bài tập sau:

CH3

Từ đó hình thành cho học sinh khái niệm về amin và học sinh có thể tự suy luận được tính chất hoá học của amin từ sự giống nhau về cấu tạo của

Ví dụ 5: Sau khi đã hình thành khái niệm về xà phòng và chất giặt rửa

tổng hợp GV có thể dùng bài tập sau để củng cố, khắc sâu kiến thức

Điền nội dung thích hợp vào bảng sau:

Trang 31

HS hoàn thành bài tập vào phiếu học tập, GV chiếu lên màn hình để hệ thống lại kiến thức

ưa dầu mỡ RCOONa với R là gốc hiđrocacbon của axit béo

Cơ chế giặt rửa “Đuôi” dài ưa dầu mỡ thâm nhập vết bẩn, “đầu” ưa nước

kéo ra phía các phân tử nước Chất bẩn bị phân chia thành nhiều hạt nhỏ, phân tán vào nước và bị rửa trôi

không gây ô nhiễm môi trường

- Dùng được trong nước cứng

trong nước cứng

- Gây hại cho da, gây ô nhiễm môi trường

II.1.2 Sử dụng bài tập thực nghiệm hoá học

Bài tập thực nghiệm là một phương tiện có hiệu quả cao trong việc

nghiên cứu hình thành kiến thức mới, rèn kỹ năng thực hành, phương pháp làm việc khoa học cho học sinh Giáo viên có thể sử dụng bài tập thực nghiệm khi nghiên cứu, hình thành kiến thức mới, khi luyện tập, rèn luyện kỹ năng cho học sinh

II.1.2.1 Sử dụng bài tập thực nghiệm hoá học khi nghiên cứu, hình thành kiến thức mới

Khi giải bài tập thực nghiệm, học sinh phải biết vận dụng kiến thức để giải bằng lý thuyết rồi sau đó tiến hành thí nghiệm để kiểm nghiệm tính đúng đắn của những bước giải bằng lý thuyết và rút ra kết luận về cách giải Giáo viên cần hướng dẫn học sinh các bước giải bài tập thực nghiệm:

Bước 1: Phân tích lý thuyết, xây dựng các bước giải, dự đoán hiện tượng, kết quả thí nghiệm, lựa chọn hoá chất, dụng cụ, dự kiến cách tiến hành

Trang 32

Bước 2: Tiến hành thí nghiệm, chú trọng đến các kỹ năng:

+ Sử dụng dụng cụ, hoá chất, lắp thiết bị, thao tác thí nghiệm đảm bảo an toàn, thành công

+ Mô tả đầy đủ, đúng hiện tượng thí nghiệm và giải thích đúng các hiện tượng đó

+ Đối chiếu kết quả thí nghiệm với việc giải lý thuyết và rút ra nhận xét kết luận

Đối với các dạng bài tập khác nhau, thì hoạt động của học sinh có thể thay đổi cho phù hợp

Ví dụ 1: Hãy làm thí nghiệm chứng tỏ phản ứng thủy phân este trong

môi trường axit là phản ứng thuận nghịch, phản ứng thủy phân este trong môi trường kiềm là phản ứng một chiều

Khi giải bài tập này, học sinh phải tiến hành các hoạt động:

- Chọn hoá chất, dụng cụ cần cho các thí nghiệm

- Dự kiến cách tiến hành thí nghiệm

- Dự đoán hiện tượng xảy ra

- Tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng đối với điều dự đoán

- Rút ra kết luận

Cụ thể:

dịch NaOH loãng

- Dự kiến cách tiến hành thí nghiệm: cho vào 2 ống nghiệm mỗi ống 2 ml

ml dung dịch NaOH Lắc đều và đun nóng nhẹ

- Dự đoán các hiện tượng xảy ra có thể là:

+ Ống (1) chất lỏng vẫn phân thành 2 lớp, ống (2) chất lỏng đồng nhất + Ống (1) chất lỏng đồng nhất , ống (2) chất lỏng vẫn phân thành 2 lớp

Trang 33

Hiện tượng: Chất lỏng đồng nhất chứng tỏ phản ứng thuỷ phân trong môi trường kiềm là một chiều

Ví dụ 2:

Hãy làm thí nghiệm để chọn dự đoán đúng trong 2 dự đoán sau:

- Anilin có tính bazơ nhưng là tính bazơ mạnh

- Anilin có tính bazơ nhưng là tính bazơ yếu

Khi giải bài tập này, học sinh phải tự tiến hành các hoạt động sau:

- Học sinh chọn hoá chất là: anilin, dung dịch HCl, giấy quỳ hoặc dd phenolphtalein, dung dịch NaOH

- Dự kiến cách tiến hành thí nghiệm:

+ Cho vào ống nghiệm 2ml anilin, nhỏ thêm vào 2ml dung dịch HCl (thí nghiệm 1)

+ Nhỏ vài giọt dung dịch anilin vào giấy quỳ tím (thí nghiệm 2)

+ Nhỏ dung dịch NaOH vào sản phẩm thu được của thí nghiệm 1(thí nghiệm 3)

- Dự đoán hiện tượng xảy ra:

+ Thí nghiệm 1: Dung dịch đồng nhất

+ Thí nghiệm 2: Giấy quỳ không đổi màu hoặc giấy quì đổi màu xanh

H2SO4

Trang 34

+ Thí nghiệm 3: Chất lỏng thu được sau thí nghiệm có sự phân lớp hoặc thu được dd đồng nhất

- Tiến hành làm thí nghiệm, quan sát hiện tượng xảy ra, so sánh với dự đoán

Ví dụ 3: Hãy làm thí nghiệm để chọn dự đoán đúng trong hai dự đoán sau:

- Bồ kết có tác dụng giặt rửa vì trong đó có những chất oxi hoá mạnh

- Bồ kết có tác dụng giặt rửa vì trong đó có những chất cấu tạo kiểu “đầu phân cực” gắn với “đuôi không phân cực” giống như phân tử xà phòng

Khi giải bài tập này, giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành các hoạt động:

- Chọn hoá chất là: nước bồ kết, nước xà phòng và nước Gia-ven, 3 mẩu giấy màu (hoặc cánh hoa hồng), dầu ăn

- Dự kiến cách tiến hành thí nghiệm:

+ Nhúng vào 3 cốc đựng nước bồ kết, nước xà phòng và nước Gia-ven một mẩu giấy màu

+ Nhỏ vào mỗi cốc một giọt dầu ăn, lắc kỹ và quan sát

- Dự đoán hiện tượng xảy ra

- Tiến hành làm thí nghiệm, quan sát hiện tượng xảy ra, so sánh với dự đoán

- Rút ra kết luận:

Cốc đựng nước bồ kết, nước xà phòng: mẩu giấy màu không bị mất màu Cốc đựng nước Gia-ven: mẩu giấy màu bị mất màu →Chứng tỏ nước bồ kết không có những chất ôxi hoá mạnh

Trang 35

Cốc đựng nước bồ kết, nước xà phòng khi cho dầu ăn vào thì dầu ăn bị phân tán thành những hạt rất nhỏ

Cốc đựng nước Gia-ven: Dầu ăn nổi lên trên và phân lớp

Vậy bồ kết có tác dụng giặt rửa trong đó có những chất cấu tạo kiểu “đầu

phân cực” gắn với “đuôi không phân cực” giống như phân tử xà phòng

II.1.2.2 Sử dụng bài tập thực nghiệm khi luyện tập rèn kỹ năng cho học sinh

Khi giảng bài tập thực nghiệm để nhận biết các dung dịch mất nhãn học sinh phải tiến hành các hoạt động:

a Giải bằng lý thuyết:

+ Phân tích đề bài, tiến hành phân loại các chất cần nhận biết

+ Đề xuất phương án có thể dùng để nhận biết các chất theo điều kiện của đề bài

+Lựa chọn hoá chất dùng để nhận biết từng chất, xác định các dấu hiệu, hiện tuợng phản ứng để kết luận

b Tiến hành thí nghiệm:

+Lựa chọn phương án tối ưu và xây dựng quy trình tiến hành thí nghiệm + Chọn hoá chất, dụng cụ cần thiết

+Xác định cách tiến hành thí nghiệm cụ thể, trình tự tiến hành

+ Tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng và kết luận về từng bước giải

c Kết luận về cách giải và trình bày hệ thống cách giải

Ví dụ 1: Nhận biết các chất lỏng và các dung dịch sau đựng trong các lọ

mất nhãn, riêng biệt: etanal, glucozơ, glixerol

Trong bài tập này, giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành các hoạt động:

- Giải bằng lý thuyết:

+ Phân tích đề bài để phân loại các chất cần nhận biết: đầu bài cho etanal (có nhóm chức anđehit), glixerol (ancol đa chức), glucozơ (có nhóm chức anđehit và ancol đa chức)

Trang 36

+ Đề xuất các phương án có thể dùng để nhận biết:

Phương án 1:

Phương án 2:

etanal Phương án 3:

A

Li pi

t

A Li pi

t

A Li pi

t

Trang 37

- Như vậy, trong khi giải bằng lý thuyết, học sinh đã được làm việc tích cực thông qua việc xây dựng các phương án có thể dùng, dựa vào dấu hiệu, hiện tượng phản ứng xảy ra để kết luận Giáo viên có thể rèn kỹ năng tư duy cho học sinh

+ Kết luận và trình bày cách giải

Ví dụ 2: Chỉ dùng thêm 1 hoá chất hãy phân biệt các dung dịch sau đựng

trong các lọ không nhãn, riêng biệt: etanal, glucozơ, glixerol

Trong bài tập này yêu cầu đã được nâng cao hơn Từ sự phân tích ở

phương án 3 ở VD 1

Ví dụ 3: Để phân biệt glucozơ và fructozơ thì thuốc thử phải dùng là

Trong bài tập này, HS hay chọn phương án A vì thường mắc sai lầm là chỉ có glucozơ tham gia phản ứng tráng bạc Thực tế, cả glucozơ và fructozơ đều tham gia phản ứng tráng bạc

A Li pi

t

Trang 38

Vì fructozơ tuy không chứa nhóm chức CHO nhưng trong môi trường kiềm, đun nóng fructozơ chuyển thành glucozơ

Do đó không dùng phản ứng tráng bạc để phân biệt glucozơ và fructozơ Giáo viên gợi ý học sinh sử dụng phản ứng làm nhạt màu nước brom của các hợp chất có nhóm chức CHO để nhận ra glucozơ

 Chọn phương án C

Ví dụ 4: Trình bày phương pháp phân biệt các chất sau đựng trong

glucozơ, dd fructozơ

Trong bài tập này, điều kiện đã phức tạp, mức độ tư duy đã được nâng lên cao hơn so với các ví dụ trên

Giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành các hoạt động giải bằng lý thuyết:

- Phân tích đề bài để phân loại chất nhận biết: có các loại chất cần nhận biết là axit, muối của axit axetic, este của axit fomic, glucozơ (có nhóm anđehit và ancol đa chức), fructozơ (có nhóm xeton và ancol đa chức)

- Đề xuất phản ứng nhận biết và các phương án dùng để nhận biết:

(A) Nước brom

A Li pi

t

Trang 39

II.1.3 Tăng cường sử dụng các bài tập thực tiễn

Thông qua việc giải các bài tập thực tiễn sẽ làm cho ý nghĩa việc học hoá học tăng lên, tạo hứng thú say mê học tập cho học sinh Các bài tập có liên quan đến kiến thức thực tế còn có thể dùng tạo tình huống có vấn đề trong dạy học hoá học

Ví dụ 1: Khi dạy bài amin giáo viên có thể dùng các bài tập thực tiễn sau:

Bài 1: Tìm phương pháp hoá học để khử mùi tanh của cá trước khi nấu Biết rằng mùi tanh của cá là hỗn hợp các amin (nhiều nhất là trimetyl amin)

và một số tạp chất khác

Nhận xét: Mùi tanh của cá là hỗn hợp các amin và một số tạp chất khác

 muốn khử mùi tanh khi nấu thì có thể rửa cá bằng nước có pha dấm hoặc nấu với các loại quả có vị chua

Bài 2: Để rửa sạch chai, lọ đựng anilin, nên dùng cách nào?

A Rửa bằng xà phòng

B Rửa bằng nước

Nhận xét: Anilin là một bazơ không tan trong nước  muốn rửa sạch vết bẩn aniline phải rửa bằng axit nhờ phản ứng:

Muối tạo ra tan được trong nước, do đó chỉ cần rửa lại bằng nước sạch

Ví dụ 2: Khi dạy bài về chất béo giáo viên có thể sử dụng các bài tập

Trang 40

Mỡ là hỗn hợp este trung tính của glixerol và các axit béo Khi để lâu bị chuyển hoá do tác động của oxi trong không khí, men, nước theo các phản ứng: -Thuỷ phân (có xúc tác) sinh ra glixerol và axit béo

- Oxi hoá các nối đôi của axit không no tương tự như phản ứng của các olefin, sinh ra hợp chất chứa oxi như anđehit hoặc polion gây ra mùi hôi của mỡ Khi rán mỡ ở nhiệt độ cao, glixerol bị nhiệt phân hủy, loại ra hai phân tử nước rồi đồng phân hoá thành anđehit acrylic có mùi khét, xốc dễ nhận ra khi đun cháy dầu, mỡ

Bài 2: Xà phòng có tác dụng giặt rửa vì

A xà phòng có cấu trúc gồm một đầu ưa nước gắn với một đuôi dài dưa dầu mỡ

B xà phòng dễ tan trong nước

C xà phòng có tính oxi hoá mạnh

D xà phòng làm sạch vết bẩn nhờ những phản ứng hoá học

Bài 3: Xét các phản ứng sau:

Phản ứng để giải thích sự mất tác dụng tẩy rửa trong nước cứng của xà phòng là

Ví dụ 3: Hãy giải thích các hiện tượng sau:

a Nhỏ dung dịch iot vào một lát chuối xanh thấy chúng chuyển từ màu trắng sang xanh Nước ép của quả chuối chín thì có phản ứng tráng bạc

b Cơ thể con người không tiêu hoá được xenlulozơ trong khi động vật nhai lại (trâu, bò…) lại tiêu hoá một cách dễ dàng

Ngày đăng: 29/06/2014, 12:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Thị Thiên An(2007), Bộ đề thi trắc nghiệm khách quan hóa học, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Thị Thiên An(2007), "Bộ đề thi trắc nghiệm khách quan hóa học
Tác giả: Cao Thị Thiên An
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2007
2. Cao Thị Thiên An (2008), Hệ thống và ôn tập nhanh kiến thức hóa học THPT, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Thị Thiên An (2008), "Hệ thống và ôn tập nhanh kiến thức hóa học THPT
Tác giả: Cao Thị Thiên An
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2008
3. ThS. Cao Thị Thiên An (2007), Phân loại và phương pháp giải các dạng bài tập hóa học tự luận và trắc nghiệm - NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại và phương pháp giải các dạng bài tập hóa học tự luận và trắc nghiệm
Tác giả: ThS. Cao Thị Thiên An
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2007
4. Bộ giáo dục và đào tạo (1993), Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo (nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam - khóa VII về giáo dục và đào tạo), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 1993
6. Bộ giáo dục và đào tạo (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT môn hóa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ giáo dục và đào tạo (2007)," Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT môn hóa học
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Bộ giáo dục và đào tạo (2008), Hướng dẫn thực hiện chương trình; sách giáo khoa lớp 12 môn hóa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ giáo dục và đào tạo (2008)," Hướng dẫn thực hiện chương trình; sách giáo khoa lớp 12 môn hóa học
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
8. Hoàng Thị Bắc, Đặng Thị Oanh (2008), 10 phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm hóa học,NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm hóa học
Tác giả: Hoàng Thị Bắc, Đặng Thị Oanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
9. .Hoàng Chúng (1993), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
10. Nguyễn Cương (2007) Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông và đại học. Một số vấn đề cơ bản, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Cương (2007)" Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông và đại học. Một số vấn đề cơ bản
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
11. Nguyễn Cương “Một số biện pháp phát triển ở học sinh năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học ở trường phổ thông”, kỷ yếu hội thảo khoa học - Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người học, ĐHSP - ĐHQG Hà Nội, trang 24 -36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Cương" “Một số biện pháp phát triển ở học sinh năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học ở trường phổ thông”
13. Cao Cự Giác (2001), Tuyển tập các bài giảng hóa học hữu cơ (Tài liệu dùng cho giáo viên và học sinh chuyên Hóa), Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Cự Giác (2001), "Tuyển tập các bài giảng hóa học hữu cơ (Tài liệu dùng cho giáo viên và học sinh chuyên Hóa)
Tác giả: Cao Cự Giác
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
14. Cao Cự Giác (2006), Phát triển tư duy và rèn luyện kỹ năng thực hành hóa học cho học sinh THPT qua các bài tập hóa học thực nghiệm, Luận án tiến sỹ khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Cự Giác (2006), "Phát triển tư duy và rèn luyện kỹ năng thực hành hóa học cho học sinh THPT qua các bài tập hóa học thực nghiệm
Tác giả: Cao Cự Giác
Năm: 2006
15. Phạm Thị Trinh Mai, Thiết kế bài tập hóa học - một biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh THPT, Tạp chí nghiên cứu giáo dục số chuyên đề 346 - Quý III/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thị Trinh Mai, "Thiết kế bài tập hóa học - một biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh THPT
16. Nguyễn Ngọc Quang (1994), Lý luận dạy học hóa học, tập I, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hóa học, tập I
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1994
17. Nguyễn Ngọc Quang (1981), Lý luận dạy học đại cương, tập I, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Quang (1981), "Lý luận dạy học đại cương, tập I
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1981
18. PGS.TS. Đỗ Đình Rãng, PGS.TS. Đặng Đình Bạch, PGS.TS. Lê Thị Anh Đào, ThS. Nguyễn Mạnh Hà, TS. Nguyễn Thị Thanh Phong (2005), Hóa hữu cơ 3, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa hữu cơ 3
Tác giả: PGS.TS. Đỗ Đình Rãng, PGS.TS. Đặng Đình Bạch, PGS.TS. Lê Thị Anh Đào, ThS. Nguyễn Mạnh Hà, TS. Nguyễn Thị Thanh Phong
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
19. PGS.TS. Đỗ Đình Rãng, PGS.TS. Đặng Đình Bạch, TS. Nguyễn Thị Thanh Phong (2006) Hóa học hữu cơ 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa học hữu cơ 2
Tác giả: PGS.TS. Đỗ Đình Rãng, PGS.TS. Đặng Đình Bạch, TS. Nguyễn Thị Thanh Phong
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
20. PGS.TS. Nguyễn Thị Sửu, TS. Trần Trung Ninh( 2007), 450 câu hỏi và bài tập trắc nghiệm hóa hữu cơ, NXB ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS. Nguyễn Thị Sửu, TS. Trần Trung Ninh( 2007), "450 câu hỏi và bài tập trắc nghiệm hóa hữu cơ
Nhà XB: NXB ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh
21. Nguyễn Trọng Thọ, Phạm Minh Nguyệt, Lê Văn Hồng, Vũ Minh Đức, Phạm Sỹ Thuận (1997), giải toán hóa học 12, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: giải toán hóa học 12
Tác giả: Nguyễn Trọng Thọ, Phạm Minh Nguyệt, Lê Văn Hồng, Vũ Minh Đức, Phạm Sỹ Thuận
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
22. Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Hữu Thạc(2008), Giới thiệu đề thi trắc nghiệm, tự luận tuyển sinh vào đại học - Cao đẳng toàn quốc từ năm học 2002 - 2003 đến 2008 -2009 môn hóa học, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Hữu Thạc(2008), "Giới thiệu đề thi trắc nghiệm, tự luận tuyển sinh vào đại học - Cao đẳng toàn quốc từ năm học 2002 - 2003 đến 2008 -2009 môn hóa học
Tác giả: Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Hữu Thạc
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ BIỂU DIỄN MỐI QUAN HỆ GIỮA HIĐROCACBON VÀ - luận văn  xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong  dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 nâng cao
SƠ ĐỒ BIỂU DIỄN MỐI QUAN HỆ GIỮA HIĐROCACBON VÀ (Trang 46)
SƠ ĐỒ BIỂU DIỄN MỐI QUAN HỆ GIỮA HIĐROCACBON VÀ MỘT - luận văn  xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong  dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 nâng cao
SƠ ĐỒ BIỂU DIỄN MỐI QUAN HỆ GIỮA HIĐROCACBON VÀ MỘT (Trang 111)
Bảng 1: Bảng phân phối kết quả các bài kiểm tra - luận văn  xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong  dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 nâng cao
Bảng 1 Bảng phân phối kết quả các bài kiểm tra (Trang 113)
Bảng 2a: % số học sinh đạt điểm X i  trở xuống - luận văn  xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong  dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 nâng cao
Bảng 2a % số học sinh đạt điểm X i trở xuống (Trang 115)
Đồ thị đường lũy tích - bài1 - luận văn  xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong  dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 nâng cao
th ị đường lũy tích - bài1 (Trang 116)
Bảng 3:Tổng hợp phân loại kết quả học tập. - luận văn  xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong  dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 nâng cao
Bảng 3 Tổng hợp phân loại kết quả học tập (Trang 116)
Đồ thị đường lũy tích - bài 3 - luận văn  xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong  dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 nâng cao
th ị đường lũy tích - bài 3 (Trang 117)
Đồ thị đường lũy tích - bài 4 - luận văn  xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong  dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 nâng cao
th ị đường lũy tích - bài 4 (Trang 117)
Bảng 4: Bảng thống kê các tham số đặc trưng  (giá trị trung bình cộng, phương sai, độ lệch chuẩn và - luận văn  xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong  dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 nâng cao
Bảng 4 Bảng thống kê các tham số đặc trưng (giá trị trung bình cộng, phương sai, độ lệch chuẩn và (Trang 119)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w