1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo nghiên cứu khoa học ''''một số giải pháp phát triển kinh tế dải ven biển thanh - nghệ - tĩnh đến năm 2015''''

10 644 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 216,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vùng biển và DVBTNT có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển và là địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng cả về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng; là cửa ngõ để đẩy mạnh giao lưu kinh

Trang 1

Báo cáo nghiên cứu

khoa học:

"Một số giải pháp phát triển kinh tế dải

ven biển Thanh -

Nghệ - Tĩnh đến năm

2015"

Trang 2

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

Một số giải pháp phát triển kinh tế dải ven biển

Thanh – Nghệ - Tĩnh đến năm 2015 Hoàng Phan Hải Yến (a)

Tóm tắt Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về tiềm năng, hiện trạng phát triển kinh tế của dải ven biển Thanh Hoá - Nghệ An - Hà Tĩnh, bài báo này đưa ra một số giải pháp góp phần phát triển kinh tế của dải ven biển Thanh Hoá - Nghệ An - Hà Tĩnh đến năm 2015

I Đặt vấn đề

Thanh Hoá - Nghệ An - Hà Tĩnh là

3 tỉnh ven biển thuộc khu vực Bắc

Trung Bộ của Việt Nam có đường bờ

biển dài 321 km Dải ven biển Thanh -

Nghệ - Tĩnh (DVBTNT) có diện tích

rộng 4686,2 km2 và dân số 2.893.018

người (năm 2005), chiếm 13,9% diện

tích tự nhiên và 36,2% dân số của 3

tỉnh [1], [2], [3]

Vùng biển và DVBTNT có nhiều

tiềm năng, lợi thế phát triển và là địa

bàn chiến lược cực kỳ quan trọng cả về

kinh tế, chính trị và an ninh quốc

phòng; là cửa ngõ để đẩy mạnh giao lưu

kinh tế và hội nhập quốc tế; là địa bàn

rất thuận lợi để thu hút đầu tư, làm

động lực thúc đẩy sự phát triển của các

tỉnh khác trong khu vực nói riêng và

các tỉnh khác trong cả nước nói chung

Các tài nguyên ở biển và ven biển khá

phong phú, đa dạng, trong đó có một số

tiềm năng lớn là những nguồn lực phát

triển kinh tế quan trọng như hải sản,

vật liệu xây dựng, điều kiện xây dựng

cảng, cảnh quan du lịch

II Khái quát về thực trạng

phát triển kinh tế

Mặc dù có nhiều tiềm năng để phát

triển, song thực trạng phát triển kinh

tế ở DVBTNT đang còn nhiều vấn đề

bất cập Cụ thể:

- Tiềm năng của DVBTNT rất lớn nhưng hiện nay mức độ khai thác còn thấp, chỉ khoảng từ 30 - 40% tiềm năng

đó [7] Ví dụ: tài nguyên khoáng sản tuy rất đa dạng nhưng hiện nay mới khai thác một số mỏ như đá, xi măng, vật liệu xây dựng và một ít titan ở quy mô nhỏ Các nguồn lợi khác ở biển như năng lượng biển, các hoá chất từ nước biển và các khoáng sản khác ở biển chưa được điều tra nghiên cứu Điều này do năng lực khai thác còn yếu kém, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu

- Về cơ bản, các hoạt động kinh tế ở DVBTNT mới khởi phát, chủ yếu là các hoạt động khai thác tự nhiên với trình

độ công nghệ còn thấp hơn nhiều so với các vùng khác trong cả nước; các ngành kinh tế mũi nhọn chưa nhiều Vì vậy, vai trò của DVBTNT trong kinh tế của cả vùng chưa nổi bật, chưa đáp ứng

được yêu cầu phát triển của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Bước đầu đã hình thành một số mô hình kinh tế ở DVBTNT như: mô hình đô thị - cảng biển, mô hình thị xã

du lịch ven biển, mô hình khu công nghiệp - cảng biển nhưng chưa rõ nét, chủ yếu mang tính tự phát, thiếu quy hoạch ở tầm vĩ mô và lâu dài Chưa thực sự có những mô hình tiên tiến và hiệu quả, có tính khoa học cao để phát triển nhanh dải ven biển, làm động lực

Nhận bài ngày 07/11/2007 Sửa chữa xong 22/10/2008.

Trang 3

Hoàng Phan Hải Yến Một số giải pháp phát triển kinh tế, TR 93-101

Bảng 1: So sánh khối l−ợng hàng hoá thông qua một số cảng biển của DVBTNT với

một số cảng biển khác của Việt Nam

Đơn vị: 1.000 tấn

[7],[9],[10] Bảng 2: So sánh trữ l−ợng và khả năng khai thác cá biển của DVBTNT với

một số dải ven biển khác của Việt Nam năm 2004

thác

Độ sâu

đáy

Bắc Bộ

đáy

Thanh - Nghệ -

Tĩnh

đáy

Nam Trung Bộ

Đông Nam Bộ

[4],[8],[9]

Trang 4

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

thúc đẩy kinh tế cả vùng và làm đầu

tàu lôi kéo các khu vực nội địa

- Hệ thống kết cấu hạ tầng

DVBTNT tuy được cải thiện một bước

song nhìn chung còn nhiều yếu kém,

đặc biệt là vùng ven biển của Hà Tĩnh,

gây trở ngại lớn cho việc phát triển tăng

tốc, đồng thời chưa tạo được sự hấp dẫn

để thu hút mạnh đầu tư bên ngoài Khó

khăn trong việc triển khai Dự án khai

thác sắt ở Thạch Khê (huyện Thạch Hà,

tỉnh Hà Tĩnh) và xây dựng nhà máy

luyện thép lớn nhất Việt Nam ở đây là

một ví dụ điển hình

- Kỹ thuật - công nghệ khai thác

biển và DVBTNT còn lạc hậu, năng

suất, chất lượng và hiệu quả chưa cao

Công tác điều tra cơ bản còn nhiều hạn

chế Nhiều loại tài nguyên chưa được

điều tra nghiên cứu đầy đủ cả về trữ lượng và sự phân bố Cơ sở dữ liệu điều tra cơ bản về biển và dải ven biển (cả về

điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh

tế - xã hội) rất thiếu và không đồng bộ, chưa đủ độ tin cậy để hoạch định chính sách và các chương trình khai thác biển

và dải ven biển lâu dài Đây cũng là khó khăn chung của dải ven biển cả nước

- Nguồn nhân lực ở DVBTNT khá dồi dào nhưng chất lượng thấp, phần lớn là chưa qua đào tạo Hiện còn rất thiếu đội ngũ cán bộ quản lý, các nhà doanh nghiệp giỏi và lực lượng lao động

có trình độ kỹ thuật cao để phát triển dải ven biển với tốc độ nhanh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là đối với các ngành đặc thù ở DVBTNT

Bảng 3: So sánh trình độ, chất lượng lao động của DVBTNT so với một số

dải ven biển khác của Việt Nam năm 2005

Đơn vị: % Chỉ tiêu

DVB cả

nước

DVB Bắc

Bộ

DVB TNT

DVB Nam Trung

Bộ

DVB Nam

Bộ

2 Lao động theo chuyên môn kỹ

thuật

[1],[2],[3],[7],[9]

Trang 5

Hoàng Phan Hải Yến Một số giải pháp phát triển kinh tế, TR 93-101

III một số giải pháp

Để phát triển kinh tế biển đến năm

2015 đúng với định hướng và mục tiêu

đã vạch ra, cần phải thực hiện một số

giải pháp chủ yếu sau:

3.1 Giải pháp về nguồn nhân

lực

Nguồn nhân lực là một trong những

yếu tố quan trọng đảm bảo việc thực

hiện thắng lợi các mục tiêu cũng như

định hướng phát triển kinh tế đối với

DVBTNT, cần cụ thể hoá các chính sách

sử dụng và phát triển nguồn nhân lực

theo các hướng sau:

3.1.1 Đào tạo và bồi dưỡng

Trước mắt phải có các chính sách

hiệu quả đào tạo lại, bồi dưỡng nguồn

nhân lực hiện có của DVBTNT Đồng

thời phải đặc biệt chăm lo đào tạo đội

ngũ cán bộ quản lý, lực lượng chuyên

gia kỹ thuật, các nhà doanh nghiệp và

đội ngũ lao động có kỹ năng tay nghề

cao, gắn với nội dung phát triển kinh tế

- xã hội của DVBTNT Cụ thể:

- Đào tạo lại đội ngũ cán bộ kỹ

thuật hiện có bằng việc tổ chức các lớp

học có thời hạn, cử chuyên gia có kỹ

thuật về giảng dạy đúng chuyên ngành,

phù hợp với yêu cầu trong các lĩnh vực

phát triển kinh tế của vùng

- Cử cán bộ đi học ở các trung tâm

đào tạo ngành nghề hoặc đi học hỏi

kinh nghiệm ở các mô hình sản xuất đạt

hiệu quả cao trong và ngoài nước

- Nâng cấp các trường dạy nghề ở

DVBTNT bằng việc đầu tư cơ sở vật

chất, nâng cao trình độ chuyên môn

nghiệp vụ của cán bộ, phát triển đa

dạng hoá ngành nghề trong trường,

thực hiện đào tạo theo địa chỉ nguồn

nhân lực phục vụ cho các huyện ven

biển và trên phạm vi cả vùng

- Đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành: nuôi trồng thuỷ sản, ngành du lịch, ngành kinh tế cảng (sửa chữa và

đóng tàu, dịch vụ vận tải biển), chăm sóc và nhân giống các cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu của DVBTNT [5],[6],[9]

3.1.2 Khuyến khích và thu hút nhân tài

Nhân tài là nguồn nhân lực đặc biệt, vùng cần có chính sách thu hút về với vùng, làm nòng cốt cho sự phát triển kinh tế - xã hội không chỉ của DVBTNT

mà còn của cả ba tỉnh

- Liên hệ với các trường đại học, cao

đẳng, dạy nghề, trên địa bàn ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh cũng như cả nước để tuyển dụng nhân tài phù hợp với ngành nghề theo yêu cầu của DVBTNT

- Đối với những người giỏi của vùng, cần phải có các chính sách đặc biệt để sau khi được đào tạo họ trở về phục vụ cho địa phương Ví dụ như: hỗ trợ về học phí, về phương tiện đi lại, về điều kiện sống, đảm bảo khi đào tạo xong họ

sẽ được bố trí các công việc phù hợp với trình độ chuyên môn kỹ thuật

- Tạo điều kiện về vật chất và môi trường làm việc tốt cho những người lao

động có trình độ chuyên môn kỹ thuật 3.1.3 Đổi mới cơ cấu nguồn nhân lực Trên cơ sở phát triển về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chung trong các ngành kinh tế - xã hội, phải chuyển đi đào tạo một phần lao động nông nghiệp sang các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch

vụ ở dải ven biển theo xu hướng tăng lao

động có tay nghề kỹ thuật qua đào tạo, giảm lao động giản đơn

Trang 6

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

3.2 Giải pháp về khoa học công

nghệ

3.2.1 Đối với sản xuất nông - lâm

nghiệp

sinh học, chủ yếu là về giống cây, giống

con vào sản xuất để đạt năng suất, sản

lượng cao và chất lượng tốt

- Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất -

kỹ thuật của các cơ sở nghiên cứu và

chuyển giao công nghệ từ tỉnh đến

huyện, nhất là phục vụ cho sự phát

triển nông nghiệp - nông thôn ở

DVBTNT Nhiệm vụ của các trung tâm

là nghiên cứu, tiếp nhận các giống cây

trồng, vật nuôi, sản xuất thử nghiệm

nếu thấy phù hợp với điều kiện của địa

phương thì thực hiện việc nhân giống

và chuyển giao cho các trang trại, các

hộ nông dân và các tổ chức kinh tế khác

trong nông thôn của DVBTNT Nghiên

cứu lai tạo các giống mới, bảo tồn các

giống bản địa có chất lượng tốt Đồng

thời nghiên cứu và chuyển giao các công

nghệ bảo quản, công nghệ sau thu

hoạch, đáp ứng yêu cầu của sản xuất

theo hướng sản xuất hàng hoá

- Ưu tiên cấp vốn cho việc thực hiện

chương trình giống cây trồng, vật nuôi

từ tỉnh xuống huyện, nhất là các vùng

trọng điểm sản xuất nông nghiệp, lâm

nghiệp

- Tăng nguồn vốn đầu tư cho các

trung tâm khuyến nông, khuyến lâm từ

tỉnh xuống huyện để tập trung nghiên

cứu các đề tài, các chương trình ứng

dụng kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm

trên địa bàn của DVBTNT Tăng cường

đội ngũ cán bộ khuyến nông - khuyến

lâm ở cấp cơ sở để thực hiện việc chuyển

giao tiến bộ công nghệ đến từng hộ

nông dân

3.2.2 Đối với ngành thuỷ sản

Mở rộng hợp tác với các cơ quan nghiên cứu khoa học trung ương, các chuyên gia trong, ngoài nước để đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào phát triển thuỷ sản, cụ thể:

đại để khai thác hải sản vùng khơi

- Từng bước xây dựng quy hoạch khu bảo tồn sinh thái, vùng đánh bắt có thời vụ, có kế hoạch thả giống xuống sông, biển để tái tạo nguồn lợi thuỷ sản

- Trong nuôi trồng thuỷ sản, nghiên cứu và đưa vào nuôi trồng các loại giống thuỷ sản cho năng suất, chất lượng cao như tôm hùm, tôm sú, tôm rảo, cua, ngao, tiếp nhận công nghệ sinh sản tôm càng xanh, tôm he chân trắng Nam

Mỹ, tôm he Nhật Bản [5],[6]; vận dụng kỹ thuật và công nghệ nuôi trồng hiện đại nhằm hoàn thiện quy trình nuôi trồng, đặc biệt là kỹ thuật và công nghệ nuôi hải sản bằng lồng trên biển cho năng suất và giá trị kinh tế cao

- Nâng cấp và đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại trong ngành chế biến thuỷ sản, nhất là chế biến thuỷ sản xuất khẩu Kiên quyết ngăn chặn việc nhập các loại thiết bị công nghệ lạc hậu và gây ô nhiễm môi trường Phát triển sản xuất gắn liền với bảo vệ môi trường tự nhiên

3.2.3 Đối với ngành du lịch

- Xây dựng các khu du lịch gắn với tài nguyên du lịch của từng địa phương trong DVBTNT Ví dụ như xây dựng và

mở rộng thêm các khu nghĩ dưỡng ở Sầm Sơn, Quảng Xương (Thanh Hoá), Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Cửa Lò (Nghệ An), Xuân Thành, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh)

- Xây dựng và nâng cấp các tuyến

du lịch gắn kết chặt chẽ với nhau để

Trang 7

Hoàng Phan Hải Yến Một số giải pháp phát triển kinh tế, TR 93-101

thuận tiện cho khách tham quan và

nghỉ dưỡng

- Đa dạng hoá các loại hình du lịch

để khắc phục tính mùa vụ trong du lịch

của DVBTNT Đây là giải pháp quan

trọng nhất nhằm hạn chế tình trạng

vắng khách trong mùa đông Ví dụ như:

tổ chức các lễ hội gắn với phong tục, tập

quán và nét văn hoá của từng địa

phương; xây dựng các trung tâm vui

chơi giải trí trong mùa đông; phát triển

loại hình ngâm tắm nước khoáng, nước

nóng

- Xây dựng, nâng cấp và hoàn thiện

cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng phục vụ du

lịch nhất là cơ sở ăn uống, cơ sở nghỉ

dưỡng, phương tiện đi lại trên địa bàn

của DVBTNT

trong quản lý và kinh doanh du lịch;

ứng dụng các kỹ thuật và công nghệ

hiện đại trong xây dựng cơ sở hạ tầng

du lịch cũng như trong các loại hình

dịch vụ du lịch

3.2.4 Đối với ngành công nghiệp

- Xây dựng các khu công nghiệp ở

những khu vực có điều kiện về tài

nguyên, kinh tế - kỹ thuật, nguồn nhân

lực Tránh việc xây dựng tràn lan,

không có trọng điểm, gây lãng phí về

sức lực và tiền của Để làm được điều

này, trước hết, các cấp quản lý cần phải

đánh giá đúng thực trạng các nguồn tài

nguyên, các ưu thế của vùng; sau đó,

tính toán, cân nhắc, cần phải xây dựng

các khu công nghiệp như thế nào để

phát huy và khai thác hợp lý thế mạnh

đó

- Ưu tiên đổi mới thiết bị và chuyển

giao công nghệ tiên tiến phục vụ sản

xuất các ngành công nghiệp mũi nhọn

đã được xác định trên địa bàn của

DVBTNT, các thiết bị máy móc nhập

ngoại phải đồng bộ, đảm bảo mức độ tiên tiến trong khu vực Ngăn cấm du nhập các thiết bị cũ tân trang lại, các thiết bị công nghệ gây ô nhiễm môi trường, tăng cường liên doanh, liên kết với các trung tâm khoa học, các viện nghiên cứu và các trường đại học để tư vấn trong việc cải tiến công nghệ, đầu tư chiều sâu, chuyển giao công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và sản xuất các loại sản phẩm có chất lượng cao cho tiêu dùng và xuất khẩu

3.2.5 Đối với ngành giao thông vận tải

Nâng cấp, hiện đại hoá một cách

đồng bộ các tuyến đường giao thông quan trọng trên địa bàn DVBTNT; đầu tư về cơ sở hạ tầng, phương tiện, trang thiết bị lưu dữ, bốc dỡ, vận chuyển hàng hoá

3.3 Giải pháp về huy động và thu hút vốn đầu tư

- Thu hút nguồn vốn nội lực bằng việc huy động sức dân đóng góp ngày công lao động và một phần kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và xã hội

- Có chính sách ưu tiên phát triển sản xuất để tạo thêm nguồn thu trên

địa bàn, ngoài các biện pháp chống thất thu, thất nộp

- Huy động các nguồn dự trữ trong dân bằng các hình thức mua công trái quốc gia, huy động vốn tín dụng, trái phiếu để hình thành một thị trường vốn hướng vào đầu tư phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn ở DVBTNT

- Tiết kiệm chi ngân sách thường xuyên, tăng chi cho đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách tỉnh

- Đối với thu hút vốn đầu tư bên ngoài: cần phải lập các dự án đầu tư

Trang 8

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

sản xuất và phát triển hạ tầng từng

ngành trong lĩnh vực kinh tế của

DVBTNT để thu hút vốn chi từ các

chương trình mục tiêu quốc gia, các dự

án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và

các nguồn đầu tư qua bộ, ngành trung

ương vào địa bàn của DVBTNT

- Mở rộng các hình thức tín dụng,

tăng dần vốn vay trung hạn và dài hạn,

thực hiện chính sách ưu đãi về lãi suất

cho các chương trình dự án trọng điểm

của tỉnh

- Tăng cường liên doanh, liên kết với

các tỉnh bạn, với các công ty trong, ngoài

nước trên cơ sở tiềm năng, lợi thế của các

ngành kinh tế DVBTNT

- Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước

ngoài bằng các cơ chế, chính sách ưu

đãi, tăng cường quan hệ đối ngoại, tổ

chức tốt mạng lưới tiếp thị trong, ngoài

nước để vừa tìm kiếm thị trường, vừa

giới thiệu tiềm năng và các chính sách

ưu đãi của DVBTNT cho các nhà đầu tư

để thu hút các nguồn vốn đầu tư từ:

ODA, FDI, NGO vào DVBTNT một

cách có hiệu quả

3.4 Giải pháp về thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, thị

trường là điểm đầu và điểm kết thúc

của quá trình sản xuất Thị trường có

vai trò quyết định đến phát triển kinh

tế và vấn đề mở rộng kinh doanh

Cần phải coi thị trường là một trong

những nhân tố quan trọng tác động và

thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế

DVBTNT Do vậy, ngay trong quá trình

đánh giá tính hợp lý của việc phát triển

kinh tế DVBTNT, xác lập mục tiêu,

định hướng của việc phát triển các

ngành kinh tế chủ yếu trên toàn

DVBTNT cần phải lấy thị trường là một

trong những căn cứ để đánh giá và xác

định

Thị trường luôn biến động, vì vậy, cần thường xuyên theo dõi để có sự điều chỉnh kịp thời, đây là yêu cầu quan trọng trong công tác xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế của DVBTNT

- Nắm bắt được nhu cầu của thị trường trong và ngoài DVBTNT, thiết lập được các mối hợp tác liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh và dịch

vụ Trọng tâm là tổ chức tiêu thụ sản phẩm, giải quyết đầu ra, đáp ứng nhu cầu hàng hoá cho sản xuất và tiêu dùng của thị trường trong toàn DVBTNT và xuất khẩu

- Đối với thị trường trong DVBTNT,

mở rộng thị trường tiêu thụ và trao đổi trên cơ sở củng cố, tổ chức lại mạng lưới thương mại nhà nước đủ mạnh, chủ

động nắm thị trường của DVBTNT, khuyến khích dùng hàng của nội vùng

Tổ chức tiêu thụ hết sản phẩm hàng hoá của địa phương, tăng cường tiếp thị quảng cáo, phát triển các đại lý bán buôn, bán lẻ trên địa bàn toàn vùng, kết hợp với quản lý thị trường

- Đối với thị trường trong nước và nước ngoài: giải pháp chủ yếu là thông qua các tổ chức tư vấn và cá nhân liên doanh với ngoài tỉnh và nước ngoài trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến nông, lâm, thuỷ hải sản và các loại sản phẩm dân dụng khác Từng bước xác lập các mối quan hệ hữu nghị lâu dài về buôn bán với các nước trong khu vực và trên thế giới Đồng thời nghiên cứu và

cụ thể hoá các chính sách thu hút thị trường trong nước, nước ngoài, gắn với một tổ chức tư vấn đủ mạnh để giúp các doanh nghiệp làm công tác quảng cáo

và tiếp thị

Trang 9

Hoàng Phan Hải Yến Một số giải pháp phát triển kinh tế, TR 93-101

3.5 Giải pháp về phát triển nền

sản xuất hàng hoá

Sản xuất hàng hoá nhằm cung cấp

các sản phẩm có chất lượng cho thị

trường trong nước và quốc tế Nhu cầu

sử dụng của người tiêu dùng trong

những năm tới không chỉ yêu cầu về số

lượng mà còn yêu cầu cao về chất lượng

của sản phẩm, chính vì vậy, trong

những năm sắp tới DVBTNT cần phải

xây dựng một nền sản xuất hàng hoá để

đáp ứng các nhu cầu đó Để phát triển

nền sản xuất hàng hoá cần hướng tới:

- Tập trung vào sản xuất các mặt

hàng có nhiều lợi thế của DVBTNT theo

nhóm ngành hàng, nhóm sản phẩm

xuất phát từ những cơ sở dự báo cung

cầu của thị trường trong nước và quốc

tế Xác định cơ cấu kinh tế phù hợp cho

từng tiểu vùng dựa trên việc xác định tỷ

lệ các mặt hàng sản xuất ra để có thể dễ

so sánh với lợi thế cạnh tranh trên thị

trường

- Đẩy nhanh sản xuất kinh doanh

các mặt hàng có lợi thế của DVBTNT

theo chiều sâu, nâng cao chất lượng và

trình độ phát triển của các ngành và

các lĩnh vực sản xuất trên DVBTNT

- Trong quá trình sản xuất cần quan tâm tới các tiểu vùng sản xuất hàng hoá lớn, tập trung quy mô lớn vào các loại cây trồng, vật nuôi, tạo ra sản phẩm hàng hoá chủ lực, có giá trị kinh

tế cao, có lợi thế xuất khẩu và phù hợp với lợi thế từng tiểu vùng

IV Kết luận

Xu thế tiến ra biển của các nước trên thế giới và khu vực đang phát triển mạnh mẽ, đặt ra thách thức to lớn và cấp bách cho việc phát triển kinh tế biển và ven biển của nước ta Với vai trò

là cầu nối giữa hai miền Bắc - Nam tổ quốc, DVBTNT cần phải có định hướng phát triển tổng thể, dài hạn, đồng thời nghiên cứu, xây dựng các mô hình phát triển cụ thể, phù hợp với từng tiểu vùng

để tạo ra một vùng phát triển năng

động nhất và thực sự trở thành đầu tàu lôi kéo kinh tế của cả ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh cùng phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Tài liệu tham khảo

[1] Niên giám thống kê 2000 - 2004; 2001- 2005, Cục thống kê tỉnh Thanh Hoá, NXB thống kê Hà Nội năm 2004; 2005

[2] Niên giám thống kê năm 2004; 2005, Cục thống kê tỉnh Nghệ An, 2005; 2006 [3] Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh 2004; 2005, Cục thống kê tỉnh Hà Tĩnh, NXB thống kê, 2004; 2005

[4] UBND tỉnh Nghệ An, Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản Nghệ

An đến năm 2010, tháng 10/2005

[5] UBND tỉnh Thanh Hoá, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hoá đến năm 2015, tháng 3/2006

[6] UBND tỉnh Hà Tĩnh, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2005 – 2010, tháng 11/2005

Trang 10

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008

[7] Ngô Doãn Vịnh, Cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế - xã hội dải ven biển Việt Nam, đề xuất các mô hình phát triển cho một số khu vực trọng điểm, Đề tài KC.09.11, Hà Nội 10/2004

[8] Hoàng Phan Hải Yến, Kinh tế ngư nghiệp ở dải ven biển Thanh - Nghệ - Tĩnh thời kỳ 2000 - 2005, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Vinh, Số 4B, 2007, trang

71 - 78

[9] Hoàng Phan Hải Yến, Phát triển kinh tế dải ven biển Bắc Trung Bộ từ Thanh Hoá đến Hà Tĩnh, Luận văn thạc sỹ khoa học Địa lý, Hà Nội, 2006

[10] Webside: www.vpa.org.vn; www.khcnhatinh.gov.vn; www.danangport.com.vn; www.cangquynhon.binhdinh.com.vn; www.csg.com.vn; www.vnport.gov.vn

Summary

Some Solutions for economic development in coastline areas of Thanh hoa, nghe an and ha tinh up to 2015

According to researches on potentrality and economical development in the area Thanh Hoa, Nghe An and Ha Tinh, the paper presents some solutions in order to take part in economical development in these provinces up to 2015

(a) khoa địa lý, trường đại học vinh.

Ngày đăng: 29/06/2014, 11:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: So sánh khối l−ợng hàng hoá thông qua một số cảng biển của DVBTNT với - báo cáo nghiên cứu khoa học  ''''một số giải pháp phát triển kinh tế dải ven biển thanh - nghệ - tĩnh đến năm 2015''''
Bảng 1 So sánh khối l−ợng hàng hoá thông qua một số cảng biển của DVBTNT với (Trang 3)
Bảng 3: So sánh trình độ, chất l−ợng lao động của DVBTNT so với một số - báo cáo nghiên cứu khoa học  ''''một số giải pháp phát triển kinh tế dải ven biển thanh - nghệ - tĩnh đến năm 2015''''
Bảng 3 So sánh trình độ, chất l−ợng lao động của DVBTNT so với một số (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w