Các mục tiêu cụ thể: Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển sản xuất nông nghiệp. Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất khoai tây ở các hộ nông dân tại xã Cẩm Vịnh huyện Cẩm Xuyên Tỉnh Hà Tĩnh. Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuât khoai tây tại xã Cẩm Vịnh huyện Cẩm Xuyên Tỉnh Hà Tĩnh. Các phương pháp nghiên cứu của đề tài gồm: phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp xử lý thông tin, phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu. Qua quá trình nghiên cứu. Ban đầu tôi tìm hiểu rõ hơn về tình hình đất đai, thu nhập của các hộ nông dân….tại xã Cẩm Vịnh. Từ đó tiến hành điều tra tình hình sản xuất khoai tây ở các hộ nông dân. Hiểu rõ được quá trình trồng khoai tây, mức đầu tư và kết quả đạt được của các hộ nông dân tại xã. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản xuất khoai tây. Những thuận lợi và khó khăn mà người nông dân gặp phải. Từ đó đưa ra các kiến nghị, kết luận nhằm nâng cao hơn nữa về năng suất , sản lượng, đồng thời mở rộng quy mô, diện tích trồng khoai tây. Tuy không phải là cây lương thực lâu năm, tuy nhiên đối với xã Cẩm Vịnh loại cây này lại mới tham gia vào ngành trồng trọt của các hộ nông dân một vài năm gần đây. Do đưa lại giá trị kinh tế cao, lại phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng nên khoai tây được người dân ở xã rất ưa chuộng. Tuy nhiên việc phát triển sản xuất cũng gặp không ít khó khăn, đòi hỏi cần được sự giúp đỡ từ các cấp chính quyền địa phương. Đồng thời người dân cũng cần phải tích lũy kinh nghiệm, nâng cao vốn hiểu biết về quy trình kĩ thuật gieo trồng cho bản thân. Có như vậy, phát triển sản xuất khoai tây tại xã Cẩm Vịnh mới đưa lại hiệu quả như mong đợi.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luậnvăn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiệnluận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ
rõ nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi(ngoài phần đã trích dẫn)
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài “Phát triển sản xuất khoai tây ở các hộ nông dân tại địa bàn xã Cẩm Vịnh- huyện Cẩm Xuyên- tỉnh Hà Tĩnh.”
Tôi xin trân trọng tỏ lòng biết ơn đến tất cả các thầy giáo, cô giáo và đặc biệt là các thày cô giáo khoa Kinh tế và phát triển nông thôn- trường Đại học nông nghiệp Hà Nội đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ và định hướng cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo hướng dẫn, PGS.TS Nguyễn Hữu Ngoan, người đã định hướng, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Chính quyền, các ban ngành lãnh đạo xã Cẩm Vịnh, các tập thể, cá nhân, bạn bè, người thân đã chỉ bảo, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Nếu không có những giúp đỡ trên thì sự cố gắng của bản thân trong quá trình học tập và nghiên cứu sẽ không thu được kết quả như hiện nay.
Luận văn này mới chỉ là kết quả bước đầu, bản thân tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa để không phụ công giúp đỡ của mọi người.
Hà Nội, ngày tháng năm 2013 Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thương
Trang 3TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp của Việt Nam đã thu
được nhiều kết quả khả quan, góp phần nâng cao tổng sản lượng lương thực
và sản lượng các loại cây trồng trong năm Nước ta đã tham gia xuất khẩu gạo, cà-phê, cao-su, chè, điều, hồ tiêu, thủy sản, các loại lâm sản với số lượng
và chất lượng ngày càng tăng Hạt điều, hạt tiêu có giá trị xuất khẩu cao nhất thế giới và được đánh giá cao về chất lượng; gạo, cà-phê đứng thứ hai, cao-su đứng thứ tư, thủy sản đứng thứ năm, chè đứng thứ bảy,… Không chỉ dừng lại
ở những cây trồng mang tính truyền thống đó, một số cây lương thực khác cũng rất được nhà nước chú trọng, quan tâm, đặc biệt là cây trồng vụ Đông
Là một cây trồng vụ Đông quen thuộc, khoai tây vừa là cây lương thực, đồng thời là cây thực phẩm có giá trị được trồng ở nhiều nước trên thế giới Trong những năm gần đây khoai tây đã được đưa vào trồng khá phổ biến tại các vùng trung du và miền núi phía Bắc, nay lại mở rộng ra khu vực Bắc Trung
Bộ nhằm tận dụng ưu thế về đất đai, khí hậu, tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho bà con nông dân, đa dạng hóa cây trồng, góp phần đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ Việt Nam đã và đang thực hiện các dự án nhằm thúc đẩy phát triển cây khoai tây Các nhà khoa học cũng ra sức nghiên cứu tìm ra các loại giống mới có năng suất cao, và cây có khả năng thích ứng cao với môi trường ở trong nước Đã có rất nhiều tỉnh thực hiện dự án phát triển sản xuất khoai tây tuy nhiên không phải tỉnh nào cũng đem lại kết quả khả quan
Xã Cẩm Vịnh- Huyện Cẩm Xuyên- tỉnh Hà tĩnh là một địa phương đang trong giai đoạn bắt đầu tiến hành thử nghiệm trồng các giống khoai tây
Trong những năm gần đây, khoai tây đã được trồng tại xã Cẩm Vịnh với tổng diện tích không phải nhỏ Tuy nhiên, năng suất và sản lượng của nó vẫn còn thấp, bởi vì nông dân thiếu kiến thức và kỹ thuật sản xuất thâm canh cây khoai tây
Trang 4Dựa vào nguồn lợi tự nhiên đất đai, khí hậu, điều kiện kinh tế xã hội của xã và để trả lời cho câu hỏi thực trạng sản xuất khoai tây diễn ra như thế nào? Giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất khoai tây trong giai
đoạn hiện nay? Tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài : “ Phát triển sản xuất
khoai tây ở các hộ nông dân tại địa bàn xã Cẩm Vịnh- huyện Cẩm Xuyên- tỉnh Hà Tĩnh.”
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuât khoai tây tại xã Cẩm huyện Cẩm Xuyên- Tỉnh Hà Tĩnh
Vịnh-Các phương pháp nghiên cứu của đề tài gồm: phương pháp chọn điểmnghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp xử lý thông tin,phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
Qua quá trình nghiên cứu
- Ban đầu tôi tìm hiểu rõ hơn về tình hình đất đai, thu nhập của các hộnông dân….tại xã Cẩm Vịnh Từ đó tiến hành điều tra tình hình sảnxuất khoai tây ở các hộ nông dân
- Hiểu rõ được quá trình trồng khoai tây, mức đầu tư và kết quả đạtđược của các hộ nông dân tại xã
- Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản xuất khoai tây.Những thuận lợi và khó khăn mà người nông dân gặp phải
- Từ đó đưa ra các kiến nghị, kết luận nhằm nâng cao hơn nữa về năngsuất , sản lượng, đồng thời mở rộng quy mô, diện tích trồng khoai tây Tuy không phải là cây lương thực lâu năm, tuy nhiên đối với xãCẩm Vịnh loại cây này lại mới tham gia vào ngành trồng trọt của các hộ
Trang 5nông dân một vài năm gần đây Do đưa lại giá trị kinh tế cao, lại phùhợp với điều kiện tự nhiên của vùng nên khoai tây được người dân ở xãrất ưa chuộng Tuy nhiên việc phát triển sản xuất cũng gặp không ít khókhăn, đòi hỏi cần được sự giúp đỡ từ các cấp chính quyền địa phương.Đồng thời người dân cũng cần phải tích lũy kinh nghiệm, nâng cao vốnhiểu biết về quy trình kĩ thuật gieo trồng cho bản thân Có như vậy, pháttriển sản xuất khoai tây tại xã Cẩm Vịnh mới đưa lại hiệu quả như mongđợi.
MỤC LỤC
Trang 6Khoai tây (Solanum tuberosum) của họ Solanaceae (họ cà dược) là một trong những loại rau củ được sử dụng rộng rãi nhất ở vùng khí hậu ôn đới phương Tây Cây khoai tây xuất hiện trên trái đất trong khoảng 500 năm trước công nguyên Các nhà thám hiểm Tây Ban Nha là những người mang khoai tây từ Peru vào Tây Ban Nha từ thế kỷ 16 Từ
đó nó được phổ biến rộng khắp châu Âu Nó được cư dân châu Âu mang đến Bắc Mỹ vào những năm 1600 Tức là, cũng giống như cà chua, khoai tây là loại thức ăn được tái
“định cư” vào châu Mỹ Thời kỳ đầu, khoai tây được thu hoạch với khối lượng lớn ở quần đảo Anh Nó trở thành thức ăn chính ở Ireland trong thế kỷ 18 và do đó được gọi là khoai tây Ireland để phân biệt với khoai lang Ireland cũng phụ thuộc vào khoai tây nhiều đến nỗi vụ thất thu (do bệnh tàn rụi của cây cối) vào những năm 1845-1846 dẫn đến bệnh dịch, tử vong và di cư lan rộng Khoai tây cũng đóng vai trò quan trọng trong lịch sử thế kỷ 20 ở châu Âu, đặc biệt là ở Đức Nó đã giúp cho nước Đức sống sót trong suốt hai cuộc thế chiến.Với hàm lượng carbohydrate cao, khoai tây là thực phẩm chính của người phương Tây hiện nay Nó phát triển tốt nhất ở khí hậu lạnh và ẩm Đức, Nga
và Ba Lan là những nước sản xuất nhiều khoai tây nhất châu Âu Trong suốt cơn sốt tìm vàng Alaskan Klondike (1897 -1898), giá trị của khoai tây được tính bằng vàng Hàm lượng vitamin C cao của khoai tây được đánh giá cao bởi những người thợ mỏ khi họ đổi vàng lấy khoai tây Ở phía Nam đảo Atlantic của Tristan de Cunha, khoai tây từng được sử dụng như một loại tiền tệ không chính thức vì sự xa xôi cách trở về mặt địa lý của vùngđảo này đã khiến cho thức ăn trở thành quan trọng nhất Ở Việt Nam khoai tây
là cây trồng mới nhập nội từ châu Âu Năm 1890, một người Pháp là Giám đốc Vườn bách thảo Hà Nội đem hạt khoai tây trồng thử ở nước ta Do khoai tây dễ trồng, củ ăn ngon, nó mau chóng được trồng ở nhiều địa phương Người Pháp là người phương Tây
di thực và phổ biến cách trồng cây này, nên nhân dân ta gọi loại củ đó là “khoai tây” Cũng như bánh mì một thời gọi là “bánh tây” Vì muốn bỏ chữ “tây”, vào khoảng năm
1956 - 1957, nhà văn Phan Khôi (1887 - 1960) đã có lần đề nghị (viết trên báo) nên gọi khoai tây là “khoai nhạc ngựa” vì có nhiều củ nhỏ na ná như cái nhạc đeo ở cổ ngựa Trước năm 1970, diện tích trồng khoai chỉ khoảng 2000 ha, sau đó tăng dần lên tới 102.000 ha ở năm 1979 – 1980 và cho đến nay đạt 180.000 ha Năng suất khoai tây tăng
rõ rệt từ 15 – 20 tấn/ha đến 35 – 40 tấn/ha Khoai tây tập trung ở đồng bằng sông Hồng (độ cao 5m ), sau đó ở một số vùng trung du và miền núi Đà Lạt và Lâm Đồng là nơi trồng khoai tây để cung cấp cho miền Trung và miền Nam Ở đồng bằng bắc bộ khoai tây được trồng vào vụ đông từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau và thường thu hoạch vào tháng 2 sau từ 60 đến hơn 100 ngày tùy giống Ngày nay khoai tây trở thành loại cây lương thực chủ lực, đứng đầu trong các loại củ trên toàn thế giới và đứng thứ 5 trong số các cây lương thực nói chung (chỉ sau lúa mì, gạo, ngô và đậu tương) với sản lượng 322 triệu tấn vào năm 2005 7 Qua bảng số liệu 2.2 cho thấy diện tích khoai tây của thế giới trong những năm gần đây biến động tăng giảm liên tục, năm 2007 có 18,67 triệu ha, năm 2008 toàn thế giới trồng được 18,17 triệu ha, giảm 0,48 triệu ha Từ năm 2008 diện tích trồng khoai tây của cả thế giới lại bắt đầu tăng Năm 2008 toàn thế giới trồng được 18,17 triệu ha sang đến năm
2011 diện tích trồng khoai tây là 19,21 triệu ha tăng 1,04 triệu ha Đến năm 2012 diện tích trồng khoai tây lại bắt đầu giảm 0,01 triệu ha so với năm 2011.Về năng suất, năm
2008 năng suất khoai tây trung bình của thế giới đạt được 18,16 tấn/ha, tăng 0,79 tấn/ha
so với năm 2007, nhưng từ năm 2008 đến năm 2010 năng suất không ngừng giảm xuống, năm 2010 năng suất khoai tây chỉ còn 17,83 tấn/ha,giảm 0,93 tấn/ha Năm 2011
Trang 7năng suất khoai tây đạt 19,47 tấn/ha tăng 1,64 tấn/ha so với năm 2010, cho đến năm
2012 năng suất khoai tây trung bình của cả thế giới lại bắt đầu giảm 0,48 tấn /ha Do sự tăng lên và giảm xuống về năng suất và diện tích trồng nên sản lượng khoai tây một vài năm trở lại đây dao động khá mạnh, năm 2011 sản lượng đạt cao nhất 374,20 triệu tấn tăng 50,29 triệu tấn so với năm 2007 Năm 2012 do diện tích và năng suất có sự giảm sút nên sản lượng chỉ đạt 364,81 triệu tấn, thấp hơn 9,36 triệu tấn so với năm 2011 23 Theo kết quả báo cáo hàng năm của xã, hệ thống cây trồng còn đơnđiệu, năng suất thấp
Để từng bước xây dựng nền sản xuất nông nghiệp của xã theo hướng sản xuất hàng hóa thì việc thử nghiệm các giống cây trồng mới cho năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái đưa vào sản xuất với quy mô lớn, đặc biệt trên đất ruộng là rất cần thiết Diện tích trồng khoai tây tại xã Cẩm Vịnh vẫn còn thấp nên đây là cơ hội để đưa các giống khoai tây có triển vọng vào khảo nghiệm sản xuất trong điều kiện vụ đông, đồng thời cũng là cơ sở để đưa diện tích trồng khoai tây hàng năm của xã tăng lên, không ngừng nhằm tăng năng suất, sản lượng thu nhập cho bà con nông dân 48 4.4 Các yếu tố thuận lợi và khó khăn hạn chế tới khả năng sản xuất khoai tây vụ Đông tại xã Cẩm Vịnh 78
Trang 8Bảng 3.1: Tình hình phát triển kinh tế- xã hội xã Cẩm Vịnh .Error: Referencesource not found
Bảng 3.2 Tình hình đất đai xã Cẩm Vịnh giai đoạn 2011- 2013 Error:Reference source not found
Bảng 3.3: Tình hình dân số và lao động của xã Cẩm Vịnh Error: Referencesource not found
Bảng 3.4: Phân bố mẫu điều tra Error: Reference source not foundBảng 4.1: Biến động diện tích và cơ cấu diện tích các giống khoai tây của xãgiai đoạn 2011- 2013 Error: Reference source not foundBảng 4.2 :Năng suất, sản lượng khoai tây xã Cẩm Vịnh giai đoạn 2011- 2013 Error:Reference source not found
Bảng 4.3: tình hình chung các hộ điều tra tại xã Error: Reference source notfound
Trang 9Bảng 4.4: Tình hình sản xuất khoai tây ở các hộ điều tra Error: Referencesource not found
Bảng 4.5: Bảng chi phí đầu vào cho sản xuất khoai tây Error: Referencesource not found
Bảng 4.6:Cơ cấu sản lượng tiêu thụ khoai tây tại xã giai đoạn 2011-2013 Error: Reference source not foundBảng 4.7: Kết quả và hiệu quả sản xuất khoai tây .Error: Reference source notfound
Bảng 4.8: Những khó khăn trong sản xuất khoai tây vụ đông của các hộ nông dân Error: Reference source not found
Trang 12PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I.1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước nền nông nghiệp nông thôncủa nước ta đã có những bước phát triển nhanh, liên tục và khá toàn diện Đặcbiệt là sản xuất lương thực đã góp phần quan trọng vào ổn định đời sống,chính trị tạo cơ sở thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Hiện nay, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp Đóng góp của nông nghiệpvào tạo việc làm còn lớn hơn cả đóng góp của ngành này vào GDP Việc tự
do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam
là nước thứ Nhất trên thế giới về xuất khẩu gạo(2013)
Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp đã thu được nhiều kếtquả, trong đó sản xuất vụ đông đóng vai trò quan trọng, góp phần nâng caotổng sản lượng lương thực và sản lượng các loại cây trồng trong năm Được
sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành, cùng với các chính sách hỗ trợcho hệ thống các công trình thủy lợi phục vụ công tác tưới tiêu được đầu tư đãtạo điều kiện cho vụ đông trở thành một vụ sản xuất phù hợp với nhiều loạicây trồng mang lại hiệu quả kinh tế, nâng cao tổng giá trị sản phẩm trong sảnxuất nông nghiệp.Tùy theo trình độ kỹ thuật mức độ thâm canh, tập quán canhtác và nhu cầu thực tiễn về sản xuất và đời sống mà mỗi địa phương có nhữngcây trồng vụ đông khác nhau như: ngô, khoai lang, đậu đỗ, khoai tây, rau cácloại Mỗi cây trồng đều có những đặc điểm riêng và có những yêu cầu nhấtđịnh với ngoại cảnh và thỏa mãn một nội dung kinh tế nhất định là làm tăngsản phẩm lương thực, thực phẩm cho xã hội và tăng thu nhập cho người sảnxuất nông nghiệp Vấn đề là ở chỗ lựa chọn cây trồng nào kinh tế hơn, phùhợp với điều kiện cụ thể của địa phương,
Là một trong những loại cây trồng quen thuộc, cây khoai tây có vai trò kinh tế quan trọng, đó là cây trồng tận dụng đất trong vụ đông, không ảnh
Trang 13hưởng đến cây trồng chính trong vụ xuân và mùa, tận dụng lao động nhàn rỗi của các hộ nông dân, tận dụng phân bón từ chăn nuôi, mặt khác sản xuất khoai tây trong vụ đông có tác dụng cải tạo đất, hạn chế sâu bệnh, giảm lượngphân bón.Ngoài ra sản xuấ khoai tây còn cung cấp lương thực thực phẩm, tạo thu nhập cho người dân, làm nền tảng cho phát triển nông nghiệp bền vững.
Để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng cũng như trong công nghiệp chế biến,Việt Nam đã và đang thực hiện các dự án nhằm thúc đẩy phát triển cây khoaitây Các nhà khoa học cũng ra sức nghiên cứu tìm ra các loại giống mới cónăng suất cao, và cây có khả năng thích ứng cao với môi trường ở trong nước
Đã có rất nhiều tỉnh thực hiện dự án phát triển sản xuất khoai tây tuy nhiênkhông phải tỉnh nào cũng đem lại kết quả khả quan Xã Cẩm Vịnh- HuyệnCẩm Xuyên- tỉnh Hà tĩnh là một địa phương đang trong giai đoạn bắt đầutiến hành thử nghiệm trồng các giống khoai tây
Trong những năm gần đây, khoai tây đã được trồng tại xã Cẩm Vịnh với tổng diệntích không phải nhỏ Tuy nhiên, năng suất và sản lượng của nó vẫn còn thấp, bởi vìnông dân thiếu kiến thức và kỹ thuật sản xuất thâm canh cây khoai tây
Dựa vào nguồn lợi tự nhiên đất đai, khí hậu, điều kiện kinh tế xã hội củahuyện và để trả lời cho câu hỏi thực trạng sản xuất khoai tây diễn ra như thếnào? Giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất khoai tây trong giaiđoạn hiện nay? Tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài : “Phát triển sản xuất khoaitây ở các hộ nông dân tại địa bàn xã Cẩm Vịnh- huyện Cẩm Xuyên- tỉnh HàTĩnh.”
Trang 141.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuât khoai tây tại xã Cẩm huyện Cẩm Xuyên- Tỉnh Hà Tĩnh
Vịnh-1.3: Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
1.3.1.Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về sản xuất khoai tây nói chung.Nghiên cứu tình hình sản xuất, tiêu thụ và hiệu quả kinh tế của khoai tây tại
xã Cẩm Vịnh - huyện Cẩm Xuyên- tỉnh Hà Tĩnh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu.
+) Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, thựctiễn về hiệu quả kinh tế- kĩ thuật và tổ chức quản lí trong sản xuất khoai tâyvới chủ thể là các hộ sản xuất khoai tây; những đối tượng tham gia bảo quản,tiêu thụ khoai tây trên địa bàn xã
+)Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại địa bàn Xã CẩmVịnh- huyện Cẩm Xuyên- tỉnh Hà Tĩnh
+) Phạm vi thời gian: Phân tích đánh giá trình độ sản xuất và hiệu quảsản xuất của cây khoai tây trong những năm gần đây
Trang 15PHẦN II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KHOAI TÂY
xã hội (Giáo trình Triết học Mác- Lenin 2005, Nxb Chính trị Quốc gia, HàNội, Trang 349)
Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tácđộng vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo racủa cải vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm và những của cảivật chất khắc phục vụ cuộc sống
Sản xuất cho tiêu dùng, tức là tạo ra sản phẩm mang tính tự cung tựcấp, quá trình này thể hiện trình độ sản xuất thấp của các chủ thể sản xuất, sảnphẩm sản xuất ra chỉ nhằm mục đích đảm bảo chủ yếu cho các nhu cầu củachính họ, không có sản phẩm dư thừa cung cấp ra thị trường
Sản xuất cho thị trường là phát triển theo kiểu sản xuất hàng hóa, sảnphẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trênquy mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều Các sản phẩm mang tính tập trungchuyên canh cao, tỷ lệ hàng hóa cao Sản xuất này mang tính tập trung chuyêncanh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao
Phát triển kinh tế thị trường phải hướng theo phương thức thứ hai.Nhưng cho dù sản xuất theo mục đích nào thì người sản xuất cũng phải trả lời
Trang 16được ba câu hỏi cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thếnào?
Tóm lại sản xuất là quá trình tác động của con người vào các đối tượngsản xuất, thông qua các hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụphục vụ đời sống con người
PTSX theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng bằng cách mở rộng diệntích tăng trồng với cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho PTSX không đổi, sửdụng kĩ thuật giản đơn Kết quả PTSX đạt được theo chiều rộng chủ yếu nhờtăng diện tích và độ phì của đất đai và sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên.PTSX theo chiều rộng bao gồm mở rộng diện tích trong cả vùng, có thể baogồm tăng số hộ dân hoặc tăng quy mô diện tích của mỗi hộ nông dân hoặc cảhai
PTSX theo chiều sâu là giá trị, vốn đầu vào không đổi, áp dụng tiến bộkhoa học kĩ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với điềukiện sản xuất thực tế Như vậy PTSX theo chiều sâu là làm tăng khối lượng,chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích trên mộtmùa vụ hay một thời gian nhất định bằng cách đầu tư thêm giống, vốn, kĩthuật và lao động
Trang 17Trong quá trình phát triển như vậy nó sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất
về sản phẩm Đồng thời làm thay đổi về quy mô sản xuất, về hình thức tổchức sản xuất, việc áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật Là quá trình hoàn thiệndần từng bước về cơ cấu, để tạo ra một cơ cấu hoàn hảo
Trong PTSX cần chú ý đảm bảo tính bền vững, tức là sản xuất tìmnguồn đầu vào, đầu ra sao cho đạt hiệu quả năng suất cao nhất mà không làmảnh hưởng đến các hoạt động sau này
Vậy phát triển sản xuất là sự tăng trưởng trong sản xuất về quy mô sảnlượng sản phẩm sản xuất trong một thời gian nhất định là sự tăng hiệu quả sảnxuất so với các hoạt động sản xuất trước đó sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượngsản phẩm hàng hóa
2.1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản xuất
+ Vốn sản xuất: là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, cácphương tiện vận tải, kho hàng, cơ sở hạ tầng và kĩ thuật Vốn đối với quá trìnhphát triển sản xuất là vô cùng quan trọng Trong điều kiện năng suất lao độngkhông thay đổi thì tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng sản phẩmhàng hóa Tuy nhiên, trong thực tế tăng thêm sản lượng hàng hóa còn phụthuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, như yếu tố về đất đai, chất lượng lao động,trình độ khoa học kỹ thuật v.v…
+ Lực lượng lao động: là yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trìnhphát triển sản xuất Mọi hoạt động cảu sản xuất đều do lao động của conngười quyết định, nhất là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và
kỹ năng lao động Do đó chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quảcủa quá trình phát triển sản xuất
+ Đất đai: Là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng vớingành nông nghiệp , mà còn rất quan trọng với sản xuất công nghiệp Đất đai
là yếu tố cố định lại bị giới hạn về quy mô, nên người ta phải đầu tư thêm vốn
và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Trang 18đai Các loại tài nguyên khác trong lòng đất như khoáng sản, tài nguyên rừng,biển và tài nguyên thiên nhiên đều là những đầu vào quan trọng trong quátrình phát triển sản xuất.
+ Khoa học và công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng suất laođộng và chất lượng sản phẩm Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụngtrong sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người laođộng và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tếcủa xã hội và đó là nhân tố quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình phát triển sảnxuất
+ Ngoài ra còn một số yếu tố khác: Các hình thức tổ chức sản xuất, mốiquan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành, giữa các thành phầnkinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm, cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến phát triển sảnxuất… cũng có quyết định đến quá trình phát triển sản xuất
2.1.2.Giới thiệu về cây khoai tây.
- Nguồn gốc :
Khoai tây (Solanum tuberosum) của họ Solanaceae (họ cà dược) là mộttrong những loại rau củ được sử dụng rộng rãi nhất ở vùng khí hậu ôn đớiphương Tây Cây khoai tây xuất hiện trên trái đất trong khoảng 500 nămtrước công nguyên Các nhà thám hiểm Tây Ban Nha là những người mangkhoai tây từ Peru vào Tây Ban Nha từ thế kỷ 16 Từ đó nó được phổ biếnrộng khắp châu Âu Nó được cư dân châu Âu mang đến Bắc Mỹ vào nhữngnăm 1600 Tức là, cũng giống như cà chua, khoai tây là loại thức ăn được tái
“định cư” vào châu Mỹ Thời kỳ đầu, khoai tây được thu hoạch với khốilượng lớn ở quần đảo Anh Nó trở thành thức ăn chính ở Ireland trong thế kỷ
18 và do đó được gọi là khoai tây Ireland để phân biệt với khoai lang Irelandcũng phụ thuộc vào khoai tây nhiều đến nỗi vụ thất thu (do bệnh tàn rụi củacây cối) vào những năm 1845-1846 dẫn đến bệnh dịch, tử vong và di cư lan
Trang 19rộng Khoai tây cũng đóng vai trò quan trọng trong lịch sử thế kỷ 20 ở châu
Âu, đặc biệt là ở Đức Nó đã giúp cho nước Đức sống sót trong suốt hai cuộcthế chiến.Với hàm lượng carbohydrate cao, khoai tây là thực phẩm chính củangười phương Tây hiện nay Nó phát triển tốt nhất ở khí hậu lạnh và ẩm Đức,Nga và Ba Lan là những nước sản xuất nhiều khoai tây nhất châu Âu Trongsuốt cơn sốt tìm vàng Alaskan Klondike (1897 -1898), giá trị của khoai tâyđược tính bằng vàng Hàm lượng vitamin C cao của khoai tây được đánh giácao bởi những người thợ mỏ khi họ đổi vàng lấy khoai tây Ở phía Nam đảoAtlantic của Tristan de Cunha, khoai tây từng được sử dụng như một loại tiền
tệ không chính thức vì sự xa xôi cách trở về mặt địa lý của vùngđảo này đãkhiến cho thức ăn trở thành quan trọng nhất Ở Việt Nam khoai tây là câytrồng mới nhập nội từ châu Âu Năm 1890, một người Pháp là Giám đốcVườn bách thảo Hà Nội đem hạt khoai tây trồng thử ở nước ta Do khoai tây
dễ trồng, củ ăn ngon, nó mau chóng được trồng ở nhiều địa phương NgườiPháp là người phương Tây di thực và phổ biến cách trồng cây này, nên nhândân ta gọi loại củ đó là “khoai tây” Cũng như bánh mì một thời gọi là “bánhtây” Vì muốn bỏ chữ “tây”, vào khoảng năm 1956 - 1957, nhà văn PhanKhôi (1887 - 1960) đã có lần đề nghị (viết trên báo) nên gọi khoai tây là
“khoai nhạc ngựa” vì có nhiều củ nhỏ na ná như cái nhạc đeo ở cổ ngựa.Trước năm 1970, diện tích trồng khoai chỉ khoảng 2000 ha, sau đó tăng dầnlên tới 102.000 ha ở năm 1979 – 1980 và cho đến nay đạt 180.000 ha Năngsuất khoai tây tăng rõ rệt từ 15 – 20 tấn/ha đến 35 – 40 tấn/ha Khoai tây tậptrung ở đồng bằng sông Hồng (độ cao 5m ), sau đó ở một số vùng trung du vàmiền núi Đà Lạt và Lâm Đồng là nơi trồng khoai tây để cung cấp cho miềnTrung và miền Nam Ở đồng bằng bắc bộ khoai tây được trồng vào vụ đông
từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau và thường thu hoạch vào tháng 2 sau từ 60đến hơn 100 ngày tùy giống Ngày nay khoai tây trở thành loại cây lươngthực chủ lực, đứng đầu trong các loại củ trên toàn thế giới và đứng thứ 5 trong
Trang 20số các cây lương thực nói chung (chỉ sau lúa mì, gạo, ngô và đậu tương) vớisản lượng 322 triệu tấn vào năm 2005.
- Đặc điểm: Cây khoai tây là cây lưu niên thân thảo phát triển khoảng
60 cm chiều cao, cây chết sau khi ra hoa Khoai tây là cây nông nghiệp ngắnngày, trồng lấy củ chứa tinh bột, là loại cây trồng lấy củ rộng rãi nhất thế giới
và là loại cây phổ biến thứ 5 về mặt sản lượng tươi (sau lúa, lúa mì và ngô,đậu tương) Đời sống của cây khoai tây có thể chia thành 4 thời kì: ngủ, nẩymầm, hình thành thân của và thân củ phát triển Rễ khoai tây phân bố chủ yếu
ở tầng đất sâu 30cm.Thân cây khoai tây là loại thân bò, có giống có thânđứng Thân dài 50-60 cm Trên thân có thể mọc các nhánh Lá kép gồm 1 sốđôi lá chét, thường là 3-4 đôi Hoa màu trắng, phớt tím, có 5-7 cánh hoalưỡng tính, tự thụ phấn Củ khoai tây tròn hoặc hơi dẹt, nhỏ, màu xanh nhạthay tím Cây con sau khi mọc khỏi mặt đất 7-10 ngày thì trên các đốt đoạnthân, nằm trong đất xuất hiện những nhánh con Đó là những đoạn thân địasinh Các thân địa sinh này phát triển được dồn về tập trung ở đầu mút, ở đâythân phình to dần lên và phát triển thành củ Trên thân củ có nhiều mắt
- Phân loại: Có khoảng 5.000 giống khoai tây trên toàn Thế giới.
Trong đó 3.000 giống khoai tây được tìm thấy chỉ ở riêng Andes, chủ yếu ởPeru, Bolivia, Ecuador, Chile và Colombia Ngoài 5.000 giống trồng, còn cókhoảng 200 giống hoang dã, trong đó có thể có giống đã qua nhân giống vớicác giống được trồng Việc này diễn ra liên tục giúp chuyển gen kháng sâubệnh giữa khoai tây hoang dã với khoai tây trồng
Các loài chính phát triển trên Thế giới là Solanum tuberosum (thể tứ bộivới 48 nhiễm sắc thể), các giống hiện đại của loài này được trồng rộng rãinhất Ngoài ra còn có bốn loài lưỡng bội (24 nhiễm sắc thể)
là S.stenotomum , S.phureja,
S.goniocalyx và S.ajanhuiri Có hai loài tam bội (36 nhiễm sắc thể)
là S.chaucha và S.juzwpczukii
Trang 21Trung tâm khoai tây quốc tế, có trụ sở ở Lima, Peru, nắm giữ một bộ sưutập tiêu chuẩn ISO giống khoai tây.
-Giá trị dinh dưỡng: Khoai tây có chứa các vitamin, khoáng chất và
phân loại của chất phytichemical như carotenoids và phenol tự nhiên Axítchlorogenic cấu thành đến 90% của phenol trong khoai tây Trong một củkhoai tây còn vỏ có kích thước trung bình 150 g, cung cấp 27 mg vitamin
C (45% giá trị hàng ngày), 620 mg kali (18%), o.2 mg vitamin B6(10%) vàmột lượng rất nhỏ thiamin, riboflavin, folate, niacin, magie, photpho, sắt vàkẽm
Khoai tây chứa khoảng 26 g cacbonhydrat trong một củ trung bình Cáchình thức chủ yếu của cacbonhydrat này là tinh bột Một phần nhỏ trong đó cókhả năng chống tiêu hoá từ enzym trong dạ dày và ruột non Tinh bột khoángnày được coi là có hiệu ứng sinh lý và lợi ích cho sức khỏe giống chất xơ: làchống ung thư ruột kết, tăng khả năng nạp glucose, giảm nồng độ cholesterol
và chất béo trung tính trong huyết tương, tăng cảm giác no, thậm chí nó có thểlàm giảm chất béo tích trữ trong cơ thể Các cách chế biến khoai tây có thểlàm thay đổi đáng kể hàm lượng dinh dưỡng Ví dụ khoai tây nấu chín chứa7% tinh bột khoáng, khi làm nguội đi thì nó tăng lên 13%
Khoai tây được xếp vào loại thức ăn có chỉ số glycemic(GI) cao, do đó
nó thường bị loại trừ ra khỏi chế độ ăn của những người cố gắng theo chế độ
ăn uống với GI thấp Trong thực tế chỉ số GI tùy thuộc mỗi loại khoai tâykhác nhau là khác nhau
Do chứa nhiều cacbonhydrat, khoai tây được cho là khiến cho người bịbéo phì dư thừa nhiều hơn chất béo Tuy nhiên, nghiên cứu của Đại họcCalifornia, Davis và Trung tâm Quốc gia về An toàn Thực phẩm và Côngnghệ, Viện Công nghệ Illinois chứng minh rằng mọi người có thể đưa khoaitây vào chế độ ăn uống của họ và vẫn giảm cân
Trang 22Bảng 2.1: Năng suất năng lượng và protein của một số cây lương thực
Trang trại trồng khoai tây ở Hoa Kỳ đạt sản lượng với 44,3 tấn/ha, nôngdân New Zealand là những người sản xuất khoai tây có sản lượng cao nhấtThế giới, dao động từ 60-80 tấn/ha, kỷ lục được ghi nhận là 88 tấn/ha
Trang 2350 ha thực nghiệm và 16 tấn/ha với 600 ha thực nghiệm Tổ chức nhân vàchọn lọc các giống mới ở khu tập trung cách ly kết hợp với chọn lọc vệ sinhquần thể để loại thải cây bệnh, hạn chế mức độ nhiễm bệnh (11,56% so với28,57%) cho phép sản xuất khoai tây giống có chất lượng tốt với khối lượnglớn, năng suất khoai tây thương phẩm tăng 31,52% Biện pháp nuôi cấy đỉnhsinh trưởng (meristem) có thể tạo cây hoàn toàn sạch bệnh Nếu cây sạchbệnh được trồng liên tiếp ở môi trường không cách ly thì khoai tây bị nhiễmvirus rất nhanh Khoai tây sạch bệnh nhập nội chỉ sau 1 vụ trồng, tùy từnggiống mà tỷ lệ nhiễm virus biến động từ 1 – 10% Ngoài ra tốc độ tái nhiễmcao, hệ số nhân giống thấp Trồng khoai tây bằng hạt cũng là biện pháp hạnchế sự lan truyền bệnh virus Hầu hết các loại bệnh, đặc biệt là bệnh nguy
Trang 24hiểm không truyền qua hạt khoai tây Các triệu chứng bệnh trên cây thực sinhchủ yếu là khảm lá và nhăn lá nhọn, đến đời vô tính mới xuất hiện triệu chứngnhư khảm nặng, cuốn lá và xoắn lùn Mức độ nhiễm bệnh của khoai tây trồngbằng hạt thấp hơn nhiều so với trồng bằng củ vô tính Ở đời thực sinh tỷ lệbệnh 6,06 – 8,38%, đời vô tính 15,7 –18,76% Tốt nhất chỉ nên dùng củ giống
từ hạt lai để trồng một chu kỳ ngắn là 2 – 3 vụ Tuổi sinh lý của củ cũng tácđộng rõ đến hạn chế bệnh khoai tây, thu hoạch sớm (70 -80 ngày sau trồng)nguồn bệnh từ thân lá chưa kịp lan truyền xuống củ giống để gây thối củtrong kho Nếu sử dụng phân hữu cơ tươi còn tàng trữ nguồn bệnh và trongnhững điều kiện nhất định bệnh sẽ phát triển và truyền vào củ ngoài đồng vàgây thối củ trong kho
Nguyễn Văn Viết đề xuất phương án phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hạikhoai tây hạt lai theo các bước sau: Chọn vùng trồng khoai tây thuần và tậptrung có luân canh với 2 vụ lúa nước để sản xuất củ giống Go Không trồngkhoai tây lẫn với các cây vụ đông khác Nên trồng khoai tây đúng thời vụ vàđồng loạt, tưới giữ ẩm thường xuyên, bón phân chăm sóc kịp thời Phát hiệnsâu bệnh sớm, sâu xám có thể bắt bằng tay vào buổi sáng, khi xuất hiện nhệntrắng phun thuốc Kenthan hoặc Danitol Đối với bọ trĩ sử dụng Bassa, Trebonphun từ 1 – 2 lần, mỗi lần cách nhau 5 ngày, phun đồng loạt cả cây trồngkhác
Bệnh Phytophthora infestans (bệnh giá sương mai) vẫn tàn phá nặngngành công nghiệp khoai tây ở châu Âu và Hoa Kỳ Một số bệnh khoai tâykhác như Rhizoctonia, Sclerotinia, chân đen, nấm mốc bột, vảy bột, virusleafroll và đầu màu tím
Côn trùng thường là nguyên nhân truyền bệnh khoai tây và trực tiếp pháhoại thân cây như bọ khoai tây Colorado, sâu bướm khoai tây, đào rệp xanh,rệp khoai tây, bọ trĩ, bọ ve Tuyến rễ khoai tây có một loài vi trùng phát triển
Trang 25mạnh làm héo cây, loài này có thể tồn tại trong đất nhiều năm, nên việc trồngluân canh được khuyến khích.
2.1.3 Đặc điểm sinh thái của cây khoai tây.
Khoai tây là cây trồng có giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế khá caothích ứng với nhiều vùng sinh thái nên được trồng ở rất nhiều quốc gia trênthế giới Những công trình nghiên cứu trên chỉ rõ rằng khoai tây có tiềm năngnăng suất cao tuy nhiên sự chênh lệch giữa năng suất tiềm năng với năng suấtthực tế cũng như chênh lệch về năng suất giữa các vùng, giữa các vụ…là khálớn vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, điều kiện khí hậu, đất đai,dinh dưỡng, biện pháp kỹ thuật…Để trồng khoai tây đạt hiệu quả kinh tế caothì mỗi vùng sinh thái cần nghiên cứu để tìm ra bộ giống tốt và biện phápcanh tác phù hợp Ở Việt Nam, khoai tây đã được trồng từ lâu, hiện nay khoaitây đã trở thành cây vụ Đông chủ lực ở nhiều vùng Do điều kiện thời tiết khíhậu ít thuận lợi nên năng suất khoai tây ở nước ta còn thấp hơn rất nhiều sonăng suất bình quân của thế giới, đặc biệt là các nước châu Âu, vì vậy đã cónhiều công trình nghiên cứu nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuấtkhoai tây Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về khoai tây ở Việt Nam tậptrung chủ yếu ở vùng Đồng bằng Khoai tây đã và đang khẳng định được vaitrò của nó trong việc nâng cao đời sống của nhân dân, nhưng tốc độ mở rộngdiện tích còn chậm do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân về giống
Sở dĩ như vậy là vì hầu hết các giống khoai tây trồng ở vùng này đều đượcchọn lọc từ vùng Đồng bằng hoặc nhập từ Trung quốc có điều kiện sinh thái,đất đai khác với vùng miền núi Hơn nữa chưa có công trình nghiên cứu cácbiện pháp kỹ thuật riêng cho từng vùng sinh thái cũng như từng giống, đặtbiệt là tỉnh Hà Tĩnh
2.1.4 Vai trò của sản xuất khoai tây trong nền kinh tế.
Khoai tây là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Ở Việt Nam, đã
có thời kì khoai tây là cây lương thực có tầm quan trọng thứ ba sau lúa và
Trang 26ngô Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu tiêu thụ khoai tây củathị trường nói chung, đặc biệt là các đô thị, khu công nghiệp và khu du lịch,ngày càng tăng Khoai tây là loại cây nông nghiệp ngắn ngày, việc trồngkhoai tây cũng đem lại giá trị kinh tế lớn cho người dân Trồng khoai tây vừatạo thu nhập lớn hơn so với các loại rau khác vừa tạo việc làm cho người dân
Khoai tây không những là một loại thực phẩm tốt, mà còn có rất nhiềucác tác dụng khác nhau trong nhiều lĩnh vực như: sinh học, dược phẩm, mỹphẩm, những mẹo vặt trong gia đình… sau đây là một vài công dụng khác củakhoai tây ngoài sử dụng làm thức ăn
* Tác dụng về sinh học
- Chất dẻo sinh học:
Một nghiên cứu mới của Đại học Maine’s Margaret Chase Smith Polcy(University of Maine’s Margaret Chase Smith Policy) cho thấy bên cạnh cácmặt hàng như khoai tây rán và khoai tây nghiền, các công ty có thể bắt tayvào công việc sản xuất chất dẻo sinh học được làm từ tinh bột khoai tây, thaycho các loại chất dẻo hóa nhựa đi từ sản phẩm dầu thô Chất dẻo mới này cóthể sẽ được ứng dụng một cách rộng rãi, như làm các chai nhựa có thể tái chếđược, làm thảm, làm nệm ghế Ở nhiều nước, như Nhật Bản và Vương quốcAnh, họ còn sản xuất bộ đồ ăn (dao, đĩa, thìa…) bằng nhựa làm từ khoai tây.Các đại diện nông nghiệp, các nhà hoạt động vì môi trường và các nhà khoahọc hầu hết đều nhất trí rằng việc dùng khoai tây chế tạo chất dẻo là việc làm
có ý nghĩa về mặt công nghệ và kinh tế, đặc biệt đối với các nhà sản xuất vànhững người trồng khoai tây ở tiểu bang Maine, Mĩ Tuy nhiên, chế tạo chấtdẻo sinh học từ khoai tây cũng có mặt trái của nó đối với môi trường Đó làviệc trồng khoai tây đòi hỏi yêu cầu về năng lượng trong quá trình sản xuấtnhư sử dụng máy móc trong canh tác, cô ng tác tưới tiêu, sản xuất phân bón
và các loại thuốc trừ sâu…đều cần dùng đến nhiên liệu hóa thạch Chi phí xây
Trang 27dựng một nhà máy sản xuất chất dẻo sinh học ước tính là khoảng 50 triệuđôla, nhưng vẫn còn một số vấn đề kĩ thuật cần phải hoàn chỉnh
- Bao bì tự hủy từ khoai tây:
Một loại bao bì mới với chất liệu từ bột khoai tây đang được một nhà máynhỏ tại Ambrumesnil (Pháp) sản xuất Loại bao bì này có thể tự hủy trongvòng từ 5-6 tháng sau khi sử dụng xong
* Tác dụng về dược phẩm
- Chữa đau và viêm dạ dày, thuốc nhuận tràng, chữa đau bụng, chữa saynắng, nhức đầu, sốt, chữa phù mặt, chữa vết bỏng…
2.1.5 Nội dung của phát triển sản xuất khoai tây.
Phát triển sản xuất (PTSX) khoai tây có thể diễn ra theo hai xu hướng
là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu
PTSX khoai tây theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng khoai bằng cách
mở rộng diện tích đất trồng, với cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ PTSX khôngđổi, sử dụng kỹ thuật giản đơn, kết quả PTSX khoai tây theo chiều rộng chủyếu nhờ tăng diện tích và độ phì nhiêu của đất đai và sự thuận lợi của điềukiện tự nhiên
PTSX khoai tây theo chiều rộng bao gồm việc mở rộng diện tích khoai tâytrong cả vùng, có thể bao gồm việc tăng số hộ trồng khoai hoặc tăng quy môdiện tích trồng khoai tây của mỗi hộ nông dân, hoặc cả hai
PTSX khoai tây theo chiều sâu bao gồm đầu tư nhằm nâng cao năng suấtlao động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong sản xuất, ứng dụng khoahọc kĩ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng PTSX khoai tây phù hợpvới điều kiện sản xuất thực tế Như vậy PTSX khoai tây theo chiều sâu là làmtăng sản lượng và hiệu quả kinh tế sản xuất khoai tây trên một đơn vị diệntích bằng cách đầu tư thêm giống, vốn, kĩ thuật, lao động
PTSX khoai tây theo chiều sâu bao gồm:
Trang 28+ Về giống khoai tây: có năng suất củ cao, thích hợp với vùng sản xuất,cho chất lượng củ tốt, kích cỡ củ thương phẩm to màu sắc đẹp, chống chịu sâubệnh.
+ Về kĩ thuật canh tác: cây khoai tây có thời gian sinh trưởng ngắn, sinhkhối nhanh, khối lượng lớn nên yêu cầu dinh dưỡng khá cao do vậy trong quátrình canh tác luôn phải chú ý đến công đoạn trồng và chăm sóc khoai
+ Về kĩ thuật thu hoạch:
Thu hoạch là khâu quan trọng cuối cùng trên đồng ruộng Để có năng suất vàchất lượng sản phẩm cao thì kĩ thuật thu hoạch hết sức quan trọng nhất là việcxác định thời điểm thu hoạch khoai phù hợp, khi đó củ có kích cỡ đủ tiêuchuẩn, hàm lượng chất khô, tinh bột cao nhất, không bị các loại nấm và vikhuẩn lây lan ở cây vào củ
+ Về kĩ thuật- công nghệ bảo quản: Khoai tây là nông sản tươi, hàm lượngnước trong củ tương đối cao, trên dưới 80%, khối lượng lớn, thuộc loại cồngkềnh, nên việc quản lí bảo quản khoai tây khó hơn việc bảo quản các nông sảnbằng hạt Hiện nay phương pháp bảo quản sau thu hoạch khoai tây có hiệuquả nhất là sử dụng kho lạnh
Trong điều kiện hiện nay, những nhân tố phát triển theo chiều rộng đangcạn dần, cuộc cách mạng theo chiều sâu Nhằm đạt được các chỉ tiêu: Tănghiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm dầnhàm lượng vật tư và tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sảnphẩm, tăng thu nhập cho người dân
Vì vậy, việc PTSX khoai tây phải thực hiện đồng thời nhiều nội dung khácnhau, trong đó tập trung vào các nội dung chủ yếu là phát triển các hình thức
tổ chức sản xuất, phương thức khai thác và sử dụng các yếu tố nguồn lực, tổchức các hoạt động dịch vụ đầu vào, đầu ra cho PTSX khoai tây Do đó khiđánh giá sự phát triển sản xuất khoai tây chủ yếu tập trung xem xét kết quảtạo ra của quá trình sản xuất như quy mô diện tích, sản lượng, giá trị sản xuất,
Trang 29doanh thu Phân tích sự tăng trưởng, chuyển dịch trong nội bộ của các yếu tố
đó theo thời gian, đồng thời đánh giá chất lượng tăng trưởng bằng các hệthống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường
2.1.6 Các tác nhân tham gia trong phát triển sản xuất khoai tây.
- Nông dân
Là đối tượng chính hiện nay sản xuất và cung cấp khoai tây làmlương thực và cho tiêu dùng chế biến Sự gia tăng dân số là sức ép to lớn đốivới sản xuất nông nghiệp trong việc cung ứng đủ lương thực, thực phẩm chotoàn xã hội Vì vậy, vai trò của nông dân trong việc PTSX khoai tây sẽ gópphần đáp ứng nhu cầu lương thực cho toàn xã hội và làm mặt hàng năng caonăng lực xuất khẩu cho Việt Nam Bên cạnh đó 74,8% số dân sống bằng nôngnghiệp việc PTSX khoai tây còn cung cấp nguyên liệu và sức lao động chocác ngành công nghiệp và dịch vụ; tăng thu nhập cho nông dân, hạn chế việc
di dân tự SX khoai tây còn giúp bảo vệ và làm giàu môi trường đất, môitrường sinh thái và bảo tồn nền văn hóa bản sắc dân tộc
- Tư thương:
Họ là các nhà thu gom khoai tại điạ phương, bán cho các doanh nghiệphoặc bán cho người tiêu dùng hoặc các cửa hàng ăn uống trong nước Họcũng là nhà đầu tư ban đầu cung cấp đầu vào cho hộ nông dân như vốn, đạm,lân…Có thể nói hiện nay các nhà buôn thương lái là thành phần của đầu ratrong PTSX khoái tây tại địa phương
- Doanh nghiệp:
Đứng đầu là các doanh nghiệp nhà nước là lực lượng chủ đạo trong lĩnhvực quan trọng đặc biệt là việc tiêu thụ và chế biến sản phẩm từ khoai tây.Một số doanh nghiệp trong lĩnh vực này được đầu tư và tạo cơ chế thuận lợicho nông dân trong việc hình thành vùng nguyên liệu, nhằm gắn kết giữa sảnxuất chế biến và tiêu thụ khoai tây.Do vậy doanh nghiệp có ảnh hưởng rấtquan trọng đến quá trình PTSX khoai tây, trong khi các bộ ngành muốn xuất
Trang 30khẩu khoai tây sang một số nước Châu Âu và làm các sản phẩm chế biến từkhoai tây.
Trong sản xuất khoai tây yếu tố giống được nông dân hiện nay đặt lênhàng đầu, các yếu tố vật tư, kỹ thuật thứ hai Khi giống khoai có năng suấtcao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái và thổ nhưỡng của vùng;
có quy trình canh tác công nghệ cao và hiệu quả; có máy móc công cụ phùhợp để nâng cao giá trị sản phẩm
Xây dựng khung pháp lý ngân sách quốc gia và tài chính, bằng nhiềuchính sách cụ thể
+ Thúc đẩy nghiên cứu khoa học công nghệ
+ Đầu tư trực tiếp vốn ngân sách cho nông thôn
+ Phát triển nguồn nhân lực
- Nhà khoa học
Trong PTSX cây khoai tây các nhà khoa học đã giúp đưa những tiến bộmới vào sản xuất như công nghệ sinh học trong lai tạo giống khoai tây, nhằmtạo ra sự đột phá mới về năng suất và chất lượng, chống chịu được sâu bệnh
và thời tiết
2.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất khoai tây
+ Yếu tố tự nhiên, nguồn lực:
- Khí hậu: Khoai tây ưa khí hậu ấm áp ôn hòa, không chịu được nhiệt độ quánóng hoặc quá rét Khoai tây là cây ưa sáng, cường độ ánh sáng mạnh có lợi
Trang 31cho quá trình quang hợp sẽ thuận lợi cho quá trình hình thành, tích lũy chấtkhô Hầu hết các giống ưa thời gian chiếu sáng ngày dài để ra hoa (> 14 giờchiếu sáng trong ngày) Các thời kì sinh trưởng khác nhau yêu cầu thời gianchiếu sáng cũng khác nhau Từ khi khoai mọc khỏi mặt đất đến thời kì xuấthiện nụ hoa, yêu cầu ánh sáng ngày dài Thời kì phát triển trên, củ yêu cầuánh sáng ngày ngắn Có thể nói điều kiện khí hậu như sương muối, bão, únglụt…nếu không có biện pháp xử lí kịp thời sẽ ảnh hưởng rất xấu đến kết quảsản xuất khoai tây của người dân, thậm chí có thể đẫn đến mất trắng.
- Đất: Là yếu tố sản xuất đặc biệt quan trọng với ngành nông nghiệpcũng như trong việc phát triển sản xuất khoai tây Do đất đai là yếu tố cốđịnh, lại bị giới hạn về quy mô Khoai tây thích hợp với các loại đất có thànhphần cơ giới nhẹ như đất cát pha, đất phù sa và đất thịt nhẹ Khoai tây hút oxylớn hơn nhiều lần so với các loại cây trồng khác do đó trong quá trình trồngkhoai tây đất phải thường xuyên được vun xới cho tơi xốp và thoáng khí Cáctỉnh đồng bằng sông Hồng có chất đất phù hợp với việc sản xuất khoai tây
- Thủy lợi: Khoai tây cần nhiều nước Mỗi ha khoai tây cần 2.900m3 nước khi cho năng suất củ từ 19-33 tấn/ha, như vậy để tạo ra 100kg
2.800m3-củ khoai tây cần 2-15m3 nước Khoai tây đòi hỏi ẩm độ đất ở giai đoạn trướchình thành củ khoảng 60 %, khi hoàn thành củ 80% Thiếu hoặc thừa nướcđều ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây: ẩm độ đất 60% năng suất giảm39,9% Không tưới năng suất giảm 63% Hiện nay hệ thống kênh phục vụ choviệc tưới tại các xã trong xã cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu cho sản xuất câyrau, màu
- Vốn đầu tư: Là biểu hiện bằng giá trị về tài sản bao gồm máy móc,phương tiện vận tải, nhà kho và cơ sở hạ tầng kĩ thuật, có tham gia trực tiếpvào quá trình sản xuất để tạo ra tổng số đầu ra của quá trình sản xuất Vốnkhông chỉ là cơ sở để tăng năng lực sản xuất mà nó còn là điều kiện để nângcao trình độ khoa học công nghệ, góp phần đáng kể vào việc giải quyết công
Trang 32ăn việc làm cho người lao động khi chủ hộ mở rộng diện tích sản xuất Vì vậy
để duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tếtrong ngành trồng trọt nói chung và sản xuất khoai tây nói riêng thì yếu tố vốnkhông thể thiếu được
+ Yếu tố kinh tế, xã hội
- Trình độ sản xuất của người nông dân: số lượng, chất lượng lao động lànhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến quá trình PTSX khoai tây Lao động trongsản xuất khoai tây đòi hỏi phải am hiểu về kỹ thuật, có kinh nghiệm và kỹnăng tổ chức quản lí theo những hình thức và quy mô nhất định Vì vậy côngtác đào tạo, huấn luyện phát triển nguồn lực lao động để nâng cao kỹ năng sảnxuất là vấn đề cần được quan tâm
- Việc áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất: Đây là yếu tố tác độngtrực tiếp đến PTSX khoai tây Sản xuất khoai tây muốn phát triển đem lại năngsuất cao, chất lượng tốt và có hiệu quả kinh tế cao đòi hỏi phải biết áp dụng khoahọc kĩ thuật Dựa vào công nghệ sản xuất giống thuần chủng, kĩ thuật phòng trừsâu bệnh, bảo quản sau thu hoạch bằng kho lạnh…đã được áp dụng vào thực tế tạiđịa phương Vì vậy việc ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học kĩ thuật vàcông nghệ mới và PTSX khoai tây luôn là những yêu cầu bức thiết
- Thị trường
Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào cho phát triển sản xuất
và thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra Khi giá đầu vào tăng sẽ làm cho hiệuquả kinh tế giảm và làm giảm phát triển sản xuất, ngược lại
+ Yếu tố thể chế chính sách
- Chính sách của Nhà nước: Đây là yếu tố tác động không nhỏ đến quy
mô cũng như chất lượng của việc PTSX khoai tây tại các vùng, địa phương.Các chính sách của nhà nước luôn là “ bàn đỡ” cho sự phát triển PTSX khoaitây cũng phụ thuộc rất lớn vào các chính sách trong đó có chính sách đất đai
là quan trọng nhất
Trang 33- Chính sách ruộng đất quy định quy định quyền của người sử dụng đất, vềhạn điền, giúp cho hộ nông dân yên tâm trong việc đầu tư dài hạn trên thửa ruộngthuộc quyền sở hữu và cũng có thể dùng vật thế chấp trong việc vay vốn sản xuất.
- Chính sách đầu tư: Đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng, giúp cho hộnông dân thuận lợi trong việc đi lại, vận chuyển vật tư sản phẩm, trong việctưới tiêu nước, thu hút các nông hộ mở rộng diện tích trồng khoai; đầu tư chonghiên cứu, chế biến tiêu thụ, xuất nhập khẩu Đây thuộc chính sách vĩ môgiúp các nông hộ có các điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất, với cácloại giống tốt, kỹ thuật tiên tiến, thuận lợi trong đầu ra
- Ngoài ra còn một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến phát triển sảnxuất khoai tây
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ khoai tây trên thế giới
Khoai tây được trồng rộng rãi ở 130 nước trên thế giới, từ 71°
vĩ tuyến Bắc đến 40° vĩ tuyến Nam Do điều kiện sinh thái, mức độ thâmcanh và trình độ sản xuất khác nhau nên năng suất khoai tây chênh lệch rất
lớn, từ 7 đến 65 tấn/ha Khoai tây là loại cây lương thực quan trọng đứng thứ
4 sau lúa mì, ngô,lúa nước Chính vì vậy cây khoai tây hiện nay được trồngrất rộng rãi trên thế giới và phát triển mạnh ở Châu Âu, Châu Á
Tính đến năm 2012 hàng năm trên thế giới sản xuất được khoai tây vớidiện tích 19,20 triệu ha, sản lượng đạt 364,81 triệu tấn
Trang 34Bảng 2.2: Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới
(Triệu ha)
Năng suất (Tấn/ha)
Sản lượng (Triệu tấn)
Qua bảng số liệu 2.2 cho thấy diện tích khoai tây của thế giới trongnhững năm gần đây biến động tăng giảm liên tục, năm 2007 có 18,67 triệu ha,năm 2008 toàn thế giới trồng được 18,17 triệu ha, giảm 0,48 triệu ha Từ năm
2008 diện tích trồng khoai tây của cả thế giới lại bắt đầu tăng Năm 2008 toànthế giới trồng được 18,17 triệu ha sang đến năm 2011 diện tích trồng khoaitây là 19,21 triệu ha tăng 1,04 triệu ha Đến năm 2012 diện tích trồng khoaitây lại bắt đầu giảm 0,01 triệu ha so với năm 2011.Về năng suất, năm 2008năng suất khoai tây trung bình của thế giới đạt được 18,16 tấn/ha, tăng 0,79tấn/ha so với năm 2007, nhưng từ năm 2008 đến năm 2010 năng suất khôngngừng giảm xuống, năm 2010 năng suất khoai tây chỉ còn 17,83 tấn/ha,giảm0,93 tấn/ha Năm 2011 năng suất khoai tây đạt 19,47 tấn/ha tăng 1,64 tấn/ha
so với năm 2010, cho đến năm 2012 năng suất khoai tây trung bình của cả thếgiới lại bắt đầu giảm 0,48 tấn /ha Do sự tăng lên và giảm xuống về năng suất
và diện tích trồng nên sản lượng khoai tây một vài năm trở lại đây dao độngkhá mạnh, năm 2011 sản lượng đạt cao nhất 374,20 triệu tấn tăng 50,29 triệutấn so với năm 2007 Năm 2012 do diện tích và năng suất có sự giảm sút nênsản lượng chỉ đạt 364,81 triệu tấn, thấp hơn 9,36 triệu tấn so với năm 2011
2.2.1.1 Tình hình sản xuất khoai tây ở Châu Âu
Cây khoai tây là một loại cây trồng quan trọng trong khẩu phần ăn và
Trang 35là nguồn dinh dưỡng rất tốt cho nhiều người dân Châu Âu Vì vậy cây
khoai tây là cây trồng chính và được trồng nhiều ở các nước như Hà Lan,Đức, Anh, Tây Ban Nha…
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của Châu Âu
(Triệu ha)
Năng suất (Tấn/ha)
Sản lượng (Triệu tấn)
Châu Âu có nền sản xuất khoai tây lớn nhất thế giới, tuy nhiên trongnhững năm gần đây vị trí cây khoai tây có phần giảm về cả diện tích và sảnlượng Về diện tích năm 2007 cả Châu lục đạt 7,16 triệu ha, đến năm 2012 chỉcòn 5,98 triệu ha, giảm 1,18 triệu ha Để đáp ứng nhu cầu về khoai tây trongđiều kiện diện tích giảm, các nhà khoa học đã nghiên cứu nhiều biện pháp kỹthuật, đặc biệt là về giống nên năng suất cây khoai tây không ngừng đượcnâng cao Mặc dù năng suất tăng nhưng do diện tích giảm nhiều nên sảnlượng năm 2012 vẫn thấp, thấp hơn 14,59 triệu tấn so với năm 2007
2.2.1.2 Tình hình sản xuất khoai tây ở Châu Á
Cây khoai tây ở Châu Á trong mấy thập kỷ gần đây có xu hướng phátTriển mạnh, tập trung ở các nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Cộng hoà Dânchủ Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ… Hiện nay Trung Quốc là quốc gia códiện tích trồng khoai tây lớn nhất thế giới
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của Châu Á
(Triệu ha)
Năng suất (Tấn/ha)
Sản lượng (Triệu tấn)
Trang 36Là Châu lục có nền sản xuất khoai tây lớn thứ 2 sau Châu Âu, diện tíchtrồng khoai tây trong những năm gần đây có xu hướng tăng dần Năm 2007 cảChâu lục đạt 8,22 triệu ha, năm 2012 diện tích trồng khoai là 9,66 triệu ha,tăng 1,44 triệu ha.
Nhìn chung diện tích trồng khoai tây bình quân của Châu Á có xu hướngtăng nhanh vượt trội so với diện tích khoai tây bình quân của Châu Âu Sốliệu trên cho thấy người dân Châu Á đã và đang chú trọng đến việc trồngkhoai tây Điều này còn thể hiện ở năng suất khoai tây tăng lên không ngừng,năm 2007 đạt 15,88 tấn/ha, đến năm 2012 đạt 18,28 tấn/ha thấp hơn năng suấtbình quân của Châu Âu không đáng kể Vì cả diện tích và năng suất khaoi tâyđều có xu hướng tăng lên nên sản lượng cũng tăng khá nhanh từ năm 2007 là130,57 triêu tấn, đến năm 2012 sản lượng đã đạt được 176,65 triệu tấn
2.2.1.3 Tình hình sản xuất khoai tây ở khu vực Đông Nam Á
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây khu vực Đông Nam Á
(Triệu ha)
Năng suất (Tấn/ha)
Sản lượng (Triệu tấn)
Qua bảng số liệu cho thấy ở khu vự c Đông Nam Á khoai tây được
Trang 37trồng rất ít và phát triển chậm hơn nhiều so với các khu vực khác Năm 2007toàn khu vực trồng được 151,6 nghìn ha, đến năm 2009 đã trồng thêm được12,8 nghìn ha nhưng năm 2010 chỉ còn 162,3 nghìn ha, giảm 2,09 nghìn ha
so với năm 2009 Nhưng đến 2012 diện tích trồng khopai tây lại tăng 13,95nghìn ha so với năm 2011.Năng suất khoai tây ở khu vực này nhìn chung cònthấp so với năng suất bình quân của thế giới cũng như châu Âu, châu Á.Chính vì thế, sản lượng khoai tây ở khu vực Đông Nam Á cũng khá thấp sovới cả khu vực.Sản lượng khoai tây đạt cao nhất là 2,41 triệu tấn năm 2012 vànăm 2009
2.2.1.4 Tình hình tiêu thụ khoai tây ở các nước trên thế giới
Tổng mức tiêu thụ khoai tây trên thế giới năm 2005 là 218 triệu tấn tươngđương 33,68kg/người Người Châu Á tiêu dùng một lượng khoai tây bằng gầnmột nửa lượng khoai tây cung cấp của thế giới nhưng do dân số quá đôngcũng có nghĩa mức khoai tiêu thụ bình quân đầu người không lớn, chỉ khoảng25kg năm 2005 Người Châu Âu mức tiêu thụ cao gấp 4 lần khu vực Châu Á
và Châu Mỹ La Tinh( 96,5kg), người dân Bắc Mỹ tiêu thụ khoảng58kg/người/năm, Châu Phi tiêu thụ ít nhất 14,18kg/ người
Theo trung tâm khoai quốc tế, người dân ở các khu vực khác nhau trên thếgiới sẽ tiêu thụ khoai tây nhiều vào năm 2020 CIP dự báo rằng mức tăngtrưởng hằng năm sẽ ít hơn 1,5% ở các nước phát triển và gần 3% ở các nướcđang phát triển Hai quốc gia tiêu thụ khoai tây nhiều trện thế giới là Ấn Độ
và Trung Quốc hy vọng tăng hằng năm là 2,8% ở Ấn Độ và 3,8 % ở TrungQuốc
Ở Đông Nam Á, mức tiêu thụ tính theo đầu người vẫn còn rất nhỏ so vớimức độ chung của Quốc tế Khoai tây sạch và các sản phẩm khoai tây đượcchế biến (đặc biệt là khoai tây khô và khoai tây chiên kiểu Pháp) đang trở nênphổ biến ở khu vực này
Trang 38Xu hướng dài hạn ở mức tiêu thụ khoai tây trên đầu người ở Việt Nam,Malaysia, Singapore cũng rất tích cực, các nhà chính sách trong khu vực đãchú ý đến tiềm năng khoai tây để làm đa dạng hơn phục vụ những người ănkiêng từ gạo, bất chấp một thực tế sự đóng góp của khoai tây hiện tại tới tổnglượng Calo ở Châu Á vẫn còn rất thấp, ít hơn 1% so với lượng calo trung bìnhcủa người dân.
Trong khi nhu cầu về khoai tây qua chế biến đã có sự gặp gỡ lớn ở nộiđịa hoặc khu vực, nhu cầu về các sản phẩm khoai tây chế biến đang gia tăngrất nhanh nhờ nhập khẩu Các cửa hàng ăn nhanh theo phong cách Mỹ ở cáctrung tâm đô thị ở cá nước Đông Nam Á là kết quả của sự gia tăng nhanhchóng nhập khẩu loại sản phẩm sấy khô kiểu Pháp, đặc biệt là từ Bắc Mỹ, Mỹxuất khẩu các sản phẩm khoai tây sạch tới các nước ở khu vực Đông Nam Átăng 12% từ năm 1990 đến 1998 Tiêu chí nghiêm ngặt bởi chuỗi các cửahàng ăn nhanh đang giữ tăng trưởng khoai tây từ cung cấp tươi sang nhu cầuđối với khoai tây chế biến
2.2.2 Tình hình phát triển sản xuất khoai tây tại Việt Nam
2.2.2.1 Một số chính sách phát triển khoai tây ở Việt nam
Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn có chủ trương mở rộng và pháttriển diện tích khoai tây và coi khoai tây là cây trồng vụ Đông đầy tiềm năng.Một số tỉnh đồng bằng sông Hồng như Thái Bình, Bắc Ninh, Nam Định, BắcGiang, Hải Phòng… coi khoai tây là cây trồng chính trong vụ Đông và đưavào cơ cấu những cánh đồng 50 triệu đồng Các tỉnh có chính sách hỗ trợ chophát triển khoai tây như hỗ trợ giống, hỗ trợ xây kho lạnh, cụ thể hóa bằngcác trương trình dự án về giống, dự án hợp tác thu mua sản phẩm nhằm:
- Thúc đẩy xây dựng hệ thống nhân giống khoai tây có chất lượng ápdụng công nghệ nuôi cấy mô, cung cấp cho giống có chất lượng cho nhân dântrồng khoai thương phẩm
Trang 39- Tăng cường công tác xác nhận khoai tây giống là điều quan trọng khác
mà Bộ đang thực hiện để thúc đẩy sản xuất khoai tây ở Việt Nam Thông qua
dự án khoai tây Việt Đức, nhằm tăng cường năng lực cho các đơn vị thànhviên trong việc kiểm định, kiểm nghiệm giống cây trồng nhằm bảo vệ quyềnlợi cho nông dân sử dụng cây trồng nói chung và giống khoai tây nói riêng
- Tăng cường công tác kiểm dịch khoai tây giống nhập khẩu, góp phầnngăn chặn việc xâm nhập sâu bệnh từ khoai nhập khẩu
- Đẩy mạnh công tác khảo nghiệm và công nhận giống mới nhằm tìm ranhiều giống tốt hơn cho sản xuất đặc biệt là giống cho chế biến góp phần làmgiảm tỷ lệ nhập khẩu khoai tây nguyên liệu
- Tăng cường công tác khuyến nông về khoai tây như mở các lớp tậphuấn về kỹ thuật trồng khoai tây giống và khoai tây thương phẩm, xây dựngcác mô hình về hệ thống nhân giống, về giống mới và sản xuất khoai tây hànghóa
- Khuyến khích mối liên kết giữa các đối tác có liên quan trong ngànhsản xuất khoai tây như người sản xuất, thương nhân, cơ sở chế biến, đơn vịnghiên cứu nhằm trao đổi thông tin, hợp tác và phát triển
- Nghị quyết số 15/2013/QH11 ngày 17/06/2013 về việc miễn, giảm thuế
sử dụng đất nông nghiệp: miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn mứctheo quy định của pháp luật cho từng vùng đối với hộ nông dân…, miễn thuế
sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích của hộ nghèo, hộ sản xuấtnông nghiệp ở xã đặc biệt khó khăn theo quy định của chính phủ; giảm 50%
số thuế sử dụng đất nông nghiệp khi thu hàng năm đối với đất sản xuất nôngnghiệp của các đối tượng không thuộc diện nêu trên và diện tích đất sản xuấtnông nghiệp vượt quá hạn mức theo quy định của pháp luật đối với hộ nôngdân… nghị quyết này được thực hiện từ năm thuế 2003 đến năm thuế 2010
2.2.2.2 Thực trạng sản xuất khoai tây ở Việt Nam trong thời gian qua.
Khoai tây không phải là cây trồng bản địa và đã được trồng ở Việt Nam
Trang 40từ hơn 100 năm nay, được nhập nội vào nước ta từ Châu Âu do người Phápmang vào Trước năm 1966, diện tích trồng khoai tây chỉ đạt dưới 1 nghìn ha
và được trồng rải rác ở Sa Pa (Lào Cai), Đà Lạt, Cao Bằng, Đông Anh (HàNội), Thường Tín (Hà Tây), Đồ Sơn (Hải Phòng) Từ những năm 60 đếnnhững năm 70, nhờ cuộc cách mạng xanh ở miền Bắc nên diện tích trồngkhoai tây được mở rộng Năm 1971 có 5 nghìn ha khoai tây, năm 1980 diệntích trồng khoai tây lên tới 100.000 ha, mỗi năm tăng 12.000 ha sau đó giảmxuống còn 28.022 ha năm 2000 và hiện nay đạt 40.000 ha (năm 2012)
Việt Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Vào mùađông có nhiệt độ trung bình 15 - 25° C, thuận lợi cho khoai tây sinh trưởng vàphát triển Về năng suất, các nhà nghiên cứu cho rằng năng suất khoai tâytiềm năng ở Việt Nam có thể đạt 40 tấn/ha Kết quả thực tế cho thấy, năngsuất có thể đạt 30 tấn/ha nếu có giống tốt Song năng suất bình quân hiện naymới đạt khoảng 10-11 tấn/ha, mà nguyên nhân là do chất lượng củ giống Tuynhiên, so với các loại cây trồng khác, cây khoai tây có ưu thế hơn hẳn về thời
vụ, năng suất và giá trị sử dụng cho nên việc sản xuất khoai tây của nước tatrong những năm gần đây có xu hướng tăng, mang lại nguồn thu nhập khá chocác hộ nông dân cũng như góp phần cho sản xuất nông nghiệp đa dạng và bềnvững
Bảng 2.6: Tình hình sản xuất khoai tây ở Việt Nam
(ha)
Năng suất (Tấn/ha)
Sản lượng (tấn)