Vai trò của kế toán tμi chính vμ kế toán quản trị trong phân tích điều hμnh hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp TS.. Đặng thị xuân mai Khi tiến hành phân tích kinh tế trợ gi
Trang 1Vai trò của kế toán tμi chính vμ kế toán quản trị trong phân tích điều hμnh hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
TS Đặng thị xuân mai
Khi tiến hành phân tích kinh tế trợ giúp
cho quá trình ra quyết định trong hoạt động
sản xuất kinh doanh về hoạt động tài chính
các nhà quản lý doanh nghiệp thường dựa vào
các nguồn cung cấp thông tin do kế toán cung
cấp Chức năng của kế toán là cung cấp
thông tin kinh tế và hoạt động của một tổ
chức Bản chất của thông tin kế toán là phản
ánh chi phí đã bỏ ra trong quá trình hoạt động
kinh doanh ở doanh nghiệp để đạt được các
lợi ích kinh tế Thông tin kế toán được biểu
hiện chủ yếu dưới hình thái giá trị Để thông
tin được đưa ra dưới dạng hữu ích, thông tin
được tổng hợp thành các báo cáo kế toán đáp
ứng cho những nhu cầu của người sử dụng
thông tin
Thông tin kế toán không những cần thiết
cho những người ra quyết định quản lý ở bên
trong doanh nghiệp mà còn cần cho cả người
ở bên ngoài doanh nghiệp như các nhà tài trợ
cho doanh nghiệp đó, các cơ quan nhà nước
liên quan và các thành phần khác có quan
tâm đến doanh nghiệp Do có hai đối tượng
phục vụ khác nhau nên kế toán được chia
thành kế toán tài chính và kế toán quản trị Kế toán tài chính và kế toán quản trị có mối liên
hệ qua lại với nhau như cùng là các nguồn cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho mục
đích quản lý doanh nghiệp Kế toán quản trị
sử dụng rộng rãi các số liệu ghi chép hàng ngày của kế toán tài chính nhằm cụ thể hoá các số liệu một cách chi tiết phục vụ cho quản trị doanh nghiệp Kế toán tài chính đánh giá hoạt động tài chính của doanh nghiệp qua các hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh Giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị cũng có những điểm khác nhau Tuy nhiên sự khác nhau giữa hai hệ thống này xét trên góc
độ quản lý và phục vụ quản lý chỉ là tính độc lập tương đối, sự độc lập trong một thể thống nhất Sự khác nhau này thể hiện trên một số
điểm sau
Kế toán tài chính cung cấp thông tin kế toán tổng quát cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp là chủ yếu, như các nhà đầu tư, người cho vay, chủ hàng, khách hàng và các cơ quan thuế, ngân hàng, tài chính, kiểm toán v.v Các thông tin hay những chỉ tiêu do kế
Bộ môn Kinh tế xây dựng
ThS nguyễn thị tường vi
Bộ môn Kinh tế vận tải Khoa Vận tải - Kinh tế - Trường ĐHGTVT Tóm tắt: Bμi báo nêu lên mối quan hệ, sự giống vμ khác nhau giữa kế toán tμi chính vμ kế
toán quản trị cũng như việc sử dụng các thông tin của kế toán quản trị vμ kế toán tμi chính trong việc điều hμnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Summary: The article analies the relationship, similarity and difference between financial
accouting and management accouting, and the use of the information from financial accouting and management in business analysis of enterprise
Trang 2toán tài chính cung cấp chủ yếu dựa vào việc
phân tích các số liệu của bảng cân đối kế
toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,
báo cáo thuyết minh tài chính và báo cáo lưu
chuyển tiền tệ Như vậy, các thông tin do kế
toán tài chính cung cấp sử dụng thước đo tiền
tệ là chủ yếu
Các thông tin của kế toán tài chính mang
tính chất lịch sử, phản ánh những sự kiện đã
xảy ra bằng các phương pháp kế toán khoa
học để cung cấp thông tin một cách tổng quát
nhất Đó là các thông tin về vốn, nguồn vốn,
về công nợ về khả năng đảm bảo nguồn vốn,
khả năng thanh toán, về doanh thu, lợi nhuận,
dòng tiền đi vào và dòng tiền đi ra trong hoạt
động sản xuất kinh doanh
Các thông tin do kế toán tài chính cung
cấp thường đảm bảo độ tin tưởng, chính xác vì
nguồn tài liệu sử dụng mang tính pháp lý cao
Nhưng nó chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng tin
vì nó ít có mối liên hệ với các lĩnh vực khoa
học kinh tế ví dụ như dự toán, kế hoạch hoá,
thống kê v.v
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nói chung và kết quả hoạt động tài
chính của doanh nghiệp nói riêng được hình
thành và chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các quyết
định trong sản xuất kinh doanh, vì vậy cần
thiết phải có kế toán quản trị
Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho
các đối tượng chủ yếu là các nhà quản trị bên
trong doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp,
các nhà quản lý, các phòng ban chức năng
điều hành sản xuất kinh doanh Các thông tin
do kế toán quản trị cung cấp xuất phát từ nhu
cầu sử dụng tin một cách đa dạng, chi tiết của
tình huống quản trị Vì vậy do doanh nghiệp tự
xây dựng phương pháp thu thập, xử lý, cung
cấp thông tin Doanh nghiệp có thể vận dụng
linh hoạt các quy định, hướng dẫn của nhà
nước về lĩnh vực kinh tế và kế toán tài chính
để tự xây dựng các báo cáo số liệu cần thiết
Vì vậy, thước đo sử dụng trong kế toán quản
trị rất phong phú, linh hoạt bao gồm thước đo giá trị và hiện vật về mặt định lượng và cả về mặt định tính
Các thông tin do kế toán quản trị cung cấp không chỉ là việc phản ánh các sự kiện, các nghiệp vụ đã diễn ra trong quá khứ mà còn có tính chất hướng tới tương lai bằng các phân tích dự báo, diễn giải để trợ giúp nhà quản trị ra những quyết định điều hành sản xuất kinh doanh
Các báo cáo của kế toán quản trị được lập ra theo yêu cầu của nhà quản trị, vì vậy không có tính chất bắt buộc theo nội dung và thời hạn nhất định Các báo cáo này vì nhằm
đáp ứng thông tin nhanh, nên yêu cầu về độ chính xác không cao Các chỉ tiêu do kế toán quản trị cung cấp thường phản ánh cụ thể theo yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp
đối với một số chỉ tiêu nào đó mà chủ doanh nghiệp yêu cầu Đó là các thông tin về số dư
đảm phí, điểm hoà vốn, đòn bẩy hoạt động,
đòn bẩy tài chính, đòn bảy tổng hợp… để quyết định số lượng sản phẩm, giá bán sản phẩm Các thông tin để phân tích dòng thu nhập, dòng chi phí, phân tích chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư để quyết định có đầu tư sản xuất hay không
Tóm lại là hầu hết các quyết định quản trị
đều dựa trên những kết quả phân tích về mặt tài chính do kế toán quản trị cung cấp Kế toán quản trị phát triển theo mối quan hệ giữa chi phí, thu nhập và lợi nhuận để đề ra các quyết định với mục đích tối đa hoá lợi nhuận
Kế toán quản trị là một trong số nguồn cung cấp thông tin dành cho quản lý, nhưng là một nguồn quan trọng Nhiệm vụ của nhà quản trị là ra quyết định dựa trên cơ sở phân tích thông tin, mà các thông tin, các quyết
định đó phải đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Vai trò của thông tin kế toán với quá trình quản lý có thể được mô tả qua sơ đồ sau:
Trang 3Quá trình kế toán quản trị Chức năng quản trị
Xác định các chỉ tiêu kinh tế Xác định mục tiêu
Thu thập kết quả
thực hiện
Tổ chức thực hiện
Lập các báo cáo thực hiện Kiểm tra, đánh giá
Mặc dù mục đích cung cấp thông tin cho các đối tượng là khác nhau, nhưng kế toán quản trị và kế toán tài chính đều thuộc chung một lĩnh vực Vì vậy có thể so sánh kế kế toán quản trị
và kế toán tài chính qua bảng sau
Sự giống nhau - Lượng hoá thông tin các quá trình, sự kiện kinh tế
- Sử dụng hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán
- Có thể hiện trách nhiệm pháp lý
Đối tượng sử
dụng thông tin
lý doanh nghiệp Mục đích của
thông tin
- Lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động
- Trợ giúp các quyết định quản lý cụ thể
- Trình bày tình hình tài chính và kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp
- Ra quyết định liên quan đến doanh nghiệp
Đặc điểm của
thông tin
- Hướng tới tương lai
- Linh hoạt, thích hợp, nhanh
- Thước đo hiện vật và giá trị
- Phản ánh quá khứ
- Nguyên tắc khách quan
- Thước đo giá trị Phạm vi báo
cáo
- Phù hợp cho người sử dụng
Tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực, quy
định của Nhà nước Quan hệ với
các lĩnh vực
khác
- Kinh tế, dự toán kế hoạch thống kê,
điều hành, tài chính
- Kỹ thuật, toán, máy tính
- Tâm lý, xã hội học
- Kinh doanh và phi kinh doanh
- Tài chính, quản trị
- Hệ thống thông tin quản lý, tiếp thị, sản xuất
- Chỉ liên quan đến hoạt động kinh doanh
Phương pháp
sử dụng
- Phương pháp của kế toán
- Thiết kế thông tin
- Phân loại chi phí
- Kỹ thuật phân tích, cung cấp thông tin
- Kỹ thuật trình bày thông tin
Phương pháp riêng của kế toán:
- Chứng từ, kế toán
- Tài khoản kế toán
- Tính giá
- Tổng hợp, cân đối kế toán
Tài liệu tham khảo
[1] Phạm Văn Hoμ vμ Vũ Mạnh Thắng Phân tích tài
chính và tài trợ doanh nghiệp NXB Thống kê, 1995
[2] Phạm Văn Dược vμ Đặng Kim Cương Kế toán
quản trị và phân tích kinh doanh NXB Thống Kê, 1995
[3] TS Đặng Thị Xuân Mai Bài giảng cao học
"Hạch toán và phân tích", 10/ 2003Ă