Trong những năm gần đây, nhiều đặc sản địa phương được người tiêu dùng biết đến rộng rãi và được yêu thích như: Bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), Bưởi Da Xanh (Bến Tre), Bưởi Năm Roi (Hậu Giang), Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim (Tiền Giang), Gạo Tám xoan Hải Hậu (Nam Định), Chè Shan Tuyết (Sơn La), Vải thiều Thanh Hà (Hải Dương) v.v.. Việc phát triển những sản phẩm đặc sản có chất lượng cao đã bước đầu khẳng định được chất lượng, danh tiếng và đang từng bước xây dựng được thương hiệu cho mình (Trần Anh Huy – Công ty Luật hợp danh Invenco, 2010 8) Nhiều địa phương cũng đang tích cực đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu cho đặc sản của mình dưới các hình thức xây dựng và phát triển thương hiệu: nhãn hiệu, nhãn hiệu tâp thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý,... Đối với các địa danh dùng cho đặc sản của địa phương, nếu việc xây dựng chỉ dẫn địa lý là không phù hợp hoặc chưa có đủ các điều kiện cần thiết thì việc bảo hộ địa danh dưới hình thức nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể (NHCN, NHTT) là lựa chọn tốt nhất nhằm đảm bảo và nâng cao giá trị cho đặc sản đó (Thái Thị Nhung, 2009 13) Việc tạo lập nhãn hiệu hàng hoá cho các sản phẩm đang rất phát triển hiện nay trên thế giới. Một số nước như Pháp, Colombia, Mỹ, Italy cũng đã có kinh nghiệm xây dựng nhãn hiệu cho sản phẩm rượu vang, cà phê, sữa tươi, dịch vụ, du lịch v.v… Nghiên cứu của Jocams Hackner Astri Muren (2004) có tên Trade mark dilution – A welfare acamlysis” phân tích ảnh hưởng của nhãn hiệu tới phúc lợi cho thấy rằng: nhãn hiệu không những ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh, quyền lợi của người sản xuất mà còn ảnh hưởng rộng tới thay đổi việc phân phối phúc lợi xã hội của người sản xuất và người tiêu dùng ở Mỹ và EU (Jocams Hackner Astri Muren, 2004 7) Hiện nay, việc tạo lập NHCN, NHTT là một vấn đề khá mới ở Việt Nam nên còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế. Một số tác giả như: Lê Xuân Tùng (2005) đã đưa ra 5 bước để xây dựng và phát triển một thương hiệu. Nguyễn Quốc Thịnh báo cáo trong hội thảo “Xây dựng, triển khai dự án xác lập, quản lý và phát triển NHTT, NHCN” đã cho thấy những hạn chế trong phát triển thương hiệu tập thể tại một số địa phương. Thống kê các đơn đăng ký NHTT, NHCN cho thấy: Tính từ ngày Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực (01072006) đến nay mới có 17 đơn đăng ký NHCN và 46 đơn đăng ký NHTT mang địa danh (Phòng nhãn hiệu số 1 Cục Sở hữu trí tuệ, 2008 16) Cây vải mấy năm gần đây được coi là cây “xóa đói giảm nghèo” của nhiều nông dân huyện Phù Cừ. Thế nhưng làm thế nào để tìm kiếm thị trường mang tính ổn định, xây dựng thương hiệu cho cây vải lai u… còn là điều trăn trở của các cấp, các ngành địa phương và sự mong đợi của đông đảo người trồng vải (Báo Hưng Yên, 2012 4) Tam Đa là một xã thuộc huyện Phù Cừ được nhiều người biết đến là xã có diện tích và sản lượng Vải lai chín sớm Phù Cừ lớn nhất huyện. Nằm ở vị trí thuận lợi, nơi có con sông Luộc bồi đắp phù sa nên xã Tam Đa có nhiều điều kiện cho trồng và phát triển các loại cây ăn quả, nhất là cây vải lai u (Vải lai chín sớm Phù Cừ). Đặc tính của Vải lai chín sớm Phù Cừ chủ yếu là để ăn tươi, vụ thu hoạch rộ chỉ khoảng nửa tháng, do đó nếu nông dân không thu hoạch thì sẽ bị hỏng, vì vậy giá cao hay thấp người trồng vải trông chờ cả vào thương buôn. Là giống vải chín sớm, có chất lượng vượt trội hơn so với nhiều loại vải khác, những năm gần đây Vải lai chín sớm Phù Cừ đã được nhiều người tiêu dùng ở gần xa biết đến, thế nhưng việc xây dựng thương hiệu cho cây vải vẫn là việc làm còn dang dở (Báo Hưng Yên, 2012 5) Năm 2012, xã cũng đã thành lập được ban vận động hội Vải lai chín sớm Phù Cừ, hướng tới xây dựng nhãn hiệu hàng hóa cho cây vải. Thành viên là các hộ có diện tích trồng nhiều tham gia. Thế nhưng đến nay công việc này cũng chỉ dừng lại ở việc thành lập ban vận động, chứ chưa có động thái gì tích cực để cho cây vải của địa phương được phát triển mạnh mẽ và có tiếng hơn (Nguyễn Xuân Thu, 2012 21) Cây vải hiện đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân ở xã Tam Đa. Vấn đề mở rộng và phát triển vùng chuyên canh vải là hướng đi đúng đắn của chính quyền địa phương trong những năm qua, song để cây Vải lai chín sớm Phù Cừ được nhiều người biết đến hơn nữa thì việc xây dựng thương hiệu đang là bài toán chưa có lời giải? Người trồng vải vẫn canh cánh nỗi lo bị “rớt” giá khi được mùa. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết rất cần sự vào cuộc và quan tâm của chính quyền địa phương cũng như các cấp, các ngành trong việc xây dựng thương hiệu cho Vải lai chín sớm Phù Cừ và sớm có biện pháp ngăn chặn việc vi phạm “bản quyền” của các thương lái từ các nơi như đang và đã xảy ra hiện nay (Bùi Xuân Dục, 2012 6) Xuất phát từ những lý do trên, sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã lựa chọn đề tài “Nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Vải lai chín sớm Phù Cừ” của các hộ trồng vải xã Tam Đa, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên” để nghiên cứu.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NHU CẦU THAM GIA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG NHÃN HIỆU CHỨNG NHẬN “VẢI LAI CHÍN SỚM PHÙ CỪ” CỦA CÁC HỘ TRỒNG VẢI XÃ TAM ĐA, HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN
Tên sinh viên : Đặng Thị Nga
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Nguyễn Văn Song
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiệnluận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõnguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi
Hà Nội, ngày 01 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Đặng Thị Nga
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu gặp rất nhiều khó khăn, tôi đã nhận được
sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo, các đơn vị, gia đình và bạn bè vềtinh thần và vật chất để tôi hoàn thành bản luận văn này
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo GS.TS Nguyễn Văn Song, Trưởng Bộ môn Kinh tế tài nguyên và môi trường - Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, đóng góp ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình nghiên cứu để hoàn chỉnh bản luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Các Thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Kinh tế tài nguyên và môitrường, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn Trường đại học Nông Nghiệp -
Hà Nội, cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn,truyền đạt những kinh nghiệm, đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu để tôi hoànthành bản luận văn này
- Lãnh đạo, cùng cán bộ công chức UBND huyện Phù Cừ, UBND xã Tam
Đa đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn các hộ trồng vải xã Tam Đa đã cộng tác và tạo mọiđiều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình điều tra tại địa phương
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn động viên và tạo điều kiện để tôi an tâm học tập và nghiên cứu./
Hà Nội, ngày 01 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Trang 4Đặng Thị Nga
Trang 5TÓM TẮT
I ĐẶT VẤN ĐỀ
I.1 Tính cấp thiết của đề tài
I.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút người trồng vải tham gia xây dựng và
sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Vải lai chín sớm Phù Cừ”
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học, lý luận của đề tài
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.3 Kinh nghiệm, bài học rút ra từ tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn cho nghiên cứu của tác giả
III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu
Trong thời đại phát triển và xu thế toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề thươnghiệu, nhãn hiệu ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các công ty, doanh
Trang 6nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh Vải lai chín sớm Phù Cừ lâu nay đã đượcbiết đến với uy tín và chất lượng đảm bảo không chỉ trong và ngoài huyện mà cònxuất khẩu ra nước ngoài Tuy nhiên, do chưa xây dựng được thương hiệu cho câyvải nên giá còn thấp, người trồng vải vẫn canh cánh nỗi lo bị “rớt” giá khi đượcmùa [6] Nhãn hiệu chứng nhận là một vấn đề về thương hiệu được nhà nước quantâm và hỗ trợ Việc xây dựng NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ” sẽ góp phần nângcao giá trị, danh tiếng sản phẩm nhãn hiệu chứng nhận, đảm bảo việc xúc tiếnthương mại có hiệu quả; góp phần nâng cao giá trị kinh tế - xã hội của địa phương;bảo tồn giống Vải lai chín sớm Phù Cừ truyền thống của địa phương có chất lượng
và hương vị đặc trưng riêng
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo kinh tế xã hội huyện Phù Cừ,phòng thống kê, phòng địa chính huyện, xã qua 3 năm 2011 đến 2013 Nguồn sốliệu sơ cấp được thu thập qua 60 mẫu điều tra tại 2 thôn trồng vải với số mẫu điềutra tại thôn Tam Đa là 40 mẫu, thôn Cự Phú 20 mẫu Tài liệu thu thập qua các tiêuthức phản ánh tình hình kinh tế - xã hội của người được điều tra như tuổi, giới tính,tình hình thu nhập, trình độ văn hóa, nghề nghiệp nhằm xác định những yếu tố nàyảnh hưởng đến nhu cầu xây dựng và sử dụng NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ” Sốliệu điều tra thông tin về tình hình sản xuất vải, nhu cầu tham gia xây dựng và sửdụng NHCN được thu thập thông qua việc phỏng vấn các hộ trồng vải từ phiếu điềutra từ đó đề xuất ra giải pháp thu hút người trồng vải tham gia xây dựng và sử dụngNHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”
3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Để phân tích và xử lý số liệu, các phương pháp nghiên cứu truyền thốngđược sử dụng như phương pháp định lượng bao gồm phương pháp thống kê mô tả,phương pháp phân tích so sánh; phương pháp định tính trong phần phỏng vấn,phương pháp tính bình quân theo công thức bình quân cộng gia quyền
Bên cạnh các phương pháp nghiên cứu truyền thống, nghiên cứu sử dụngphương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuatione Method – CVM).Phương pháp này sử dụng cách phỏng vấn và phát phiếu điều tra cho các hộ trồng
Trang 7vải tại địa bàn nghiên cứu nhằm tìm ra mức giá sẵn lòng chi trả (Willingness To Pay– WTP) của người dân cho việc xây dựng và sử dụng NHCN “Vải lai chín sớm PhùCừ” Giả định chương trình tạo lập, xây dựng NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”được triển khai thành công, hiệp hội sản xuất và kinh doanh vải được thành lập, cácsản phẩm vải của các hộ tham gia được gắn nhãn mác NHCN về sản phẩm Vải laichín sớm Phù Cừ và các hộ trồng vải được hưởng nhiều lợi ích khác từ việc thamgia vào Hiệp hội như: tập huấn về quy trình kỹ thuật thường xuyên, bảo hộ mức tiêuthụ, bảo hộ giá cả đầu vào, đầu ra,… thì mức sẵn lòng đóng kinh phí để tham gia làbao nhiêu Kết hợp sử dụng phương pháp CVM với các phương pháp nghiên cứukinh tế khác để tìm ra phương pháp phù hợp cho việc đánh giá lợi ích của hộ trồngvải khi tham gia xây dựng và sử dựng NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”.
3.2.4 Một số chỉ tiêu nghiên cứu
• Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất Vải laichín sớm Phù Cừ
-Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội: chỉ tiêu về đất đai, dân số, laođộng, cơ sở hạ tầng, tốc độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu người,… tạiđịa bàn nghiên cứu được thu thập tại phòng thống kê huyện và UBND xã Tam Đa
-Chỉ tiêu về diện tích, năng suất, sản lượng vải của xã
• Chỉ tiêu đánh giá nhu cầu xây dựng và sử dụng NHCN “Vải lai chín sớmPhù Cừ” + Tỉ lệ hộ dân có hiểu biết về NHCN
-Tỉ lệ hộ nông dân có nhu cầu xây dựng và sử dụng NHCN “Vải lai chín sớmPhù Cừ” tương ứng với các mức kinh phí bỏ ra
-Mức sẵn lòng chi trả bình quân của các nhóm hộ được tính bằng công thức sốbình quân gia quyền
Trang 8+ Tỷ lệ hộ nông dân có nhu cầu tham gia vào cơ quan chứng nhận NHCN “Vải laichín sớm Phù Cừ”
+ Tỷ lệ hộ nông dân có nhu cầu về thời gian bảo hộ NHCN “Vải lai chín sớm PhùCừ”
+ Tỷ lệ hộ nông dân có nhu cầu đóng góp kinh phí cho xây dựng và sử dụngNHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”
4.1 Nét đặc trưng của sản phẩm Vải lai chín sớm Phù Cừ
4.2Thực trạng sản xuất vải của xã Tam Đa
4.2.1 Tình hình sản xuất vải xã Tam Đa qua 3 năm 2011 - 2013
4.2.2 Tình hình sản xuất của các hộ điều tra xã Tam Đa năm 2013
4.3 Tình hình tiêu thụ Vải lai chín sớm Phù Cừ
o Cơ cấu tiêu thụ vải của các hộ điều tra
o Thị trường tiêu thụ
o Kênh tiêu thụ
o Phương thức tiêu thụ
o Giá bán vải tại xã Tam Đa
4.4 Nhu cầu xây dựng, sử dụng và phát triển NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ” xã Tam Đa, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên
4.4.1 Sự cần thiết phải xây dựng, sử dụng và phát triển NHCN “Vải lai chín
sớm Phù Cừ”
4.4.2 Khảo sát nhu cầu về xây dựng, sử dụng NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ” của xã
Các bước tiến hành xây dựng NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”
Khảo sát nhu cầu của các hộ trồng Vải lai chín sớm Phù Cừ
a, Nhu cầu của người trồng vải trong việc xây dựng NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”
b, Tổng hợp mức sẵn lòng trả cho việc xây dựng, sử dụng và phát triển NHCN
“Vải lai chín sớm Phù Cừ” của các hộ điều tra
c, Nhu cầu của các hộ về cơ chế hoạt động của cơ quan quản lý NHCN “Vải lai
chín sớm Phù Cừ”
Trang 94.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”
- Giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng
- Thành lập Hiệp hội quản lý NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”
- Xây dựng khung pháp lý để tạo điều kiện phát triển sản xuất và kinhdoanh vải
- Về quy hoạch vùng sản xuất vải phù hợp với điều kiện kinh tế, trình độthâm canh và điều kiện tự nhiên của từng vùng
- Giải pháp về tiêu thụ
- Giải pháp về vốn
- Giải pháp về phát triển thị trường, xúc tiến thương mại
- Mở rộng phát triển sản xuất vải theo mô hình trang trại
V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 10MỤC LỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI iKHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN i
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của thu nhập từ trồng vải đến nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụngNHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ” 76
Trang 12DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 4.1: Kênh tiêu thụ vải của các hộ điều tra năm 2013 55
Trang 13KH &CN Khoa học và công nghệ
CNH - HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóaPTNT Phát triển nông thôn
CVM Phương pháp tạo dựng thị trường
Trang 14PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nhiều đặc sản địa phương được người tiêu dùngbiết đến rộng rãi và được yêu thích như: Bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), Bưởi Da Xanh(Bến Tre), Bưởi Năm Roi (Hậu Giang), Vú sữa Lò Rèn - Vĩnh Kim (Tiền Giang), GạoTám xoan Hải Hậu (Nam Định), Chè Shan Tuyết (Sơn La), Vải thiều Thanh Hà (HảiDương) v.v Việc phát triển những sản phẩm đặc sản có chất lượng cao đã bước đầukhẳng định được chất lượng, danh tiếng và đang từng bước xây dựng được thương hiệu
cho mình (Trần Anh Huy – Công ty Luật hợp danh Invenco, 2010 [8])
Nhiều địa phương cũng đang tích cực đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệucho đặc sản của mình dưới các hình thức xây dựng và phát triển thương hiệu: nhãnhiệu, nhãn hiệu tâp thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý, Đối với các địa danhdùng cho đặc sản của địa phương, nếu việc xây dựng chỉ dẫn địa lý là không phù hợphoặc chưa có đủ các điều kiện cần thiết thì việc bảo hộ địa danh dưới hình thức nhãnhiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể (NHCN, NHTT) là lựa chọn tốt nhất nhằm đảm
bảo và nâng cao giá trị cho đặc sản đó (Thái Thị Nhung, 2009 [13])
Việc tạo lập nhãn hiệu hàng hoá cho các sản phẩm đang rất phát triển hiệnnay trên thế giới Một số nước như Pháp, Colombia, Mỹ, Italy cũng đã có kinhnghiệm xây dựng nhãn hiệu cho sản phẩm rượu vang, cà phê, sữa tươi, dịch vụ, du
lịch v.v… Nghiên cứu của Jocams Hackner & Astri Muren (2004) có tên "Trade
mark dilution – A welfare acamlysis” phân tích ảnh hưởng của nhãn hiệu tới phúc
lợi cho thấy rằng: nhãn hiệu không những ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh,quyền lợi của người sản xuất mà còn ảnh hưởng rộng tới thay đổi việc phân phối
phúc lợi xã hội của người sản xuất và người tiêu dùng ở Mỹ và EU (Jocams
Hackner & Astri Muren, 2004 [7])
Hiện nay, việc tạo lập NHCN, NHTT là một vấn đề khá mới ở Việt Nam nêncòn gặp nhiều khó khăn và hạn chế Một số tác giả như: Lê Xuân Tùng (2005) đãđưa ra 5 bước để xây dựng và phát triển một thương hiệu Nguyễn Quốc Thịnh báo
Trang 15cáo trong hội thảo “Xây dựng, triển khai dự án xác lập, quản lý và phát triển
NHTT, NHCN” đã cho thấy những hạn chế trong phát triển thương hiệu tập thể tại
một số địa phương Thống kê các đơn đăng ký NHTT, NHCN cho thấy: Tính từngày Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực (01/07/2006) đến nay mới có 17 đơn đăng ký
NHCN và 46 đơn đăng ký NHTT mang địa danh (Phòng nhãn hiệu số 1 - Cục Sở
hữu trí tuệ, 2008 [16])
Cây vải mấy năm gần đây được coi là cây “xóa đói giảm nghèo” của nhiềunông dân huyện Phù Cừ Thế nhưng làm thế nào để tìm kiếm thị trường mang tính
ổn định, xây dựng thương hiệu cho cây vải lai u… còn là điều trăn trở của các cấp,
các ngành địa phương và sự mong đợi của đông đảo người trồng vải (Báo Hưng
nhưng việc xây dựng thương hiệu cho cây vải vẫn là việc làm còn dang dở (Báo
Hưng Yên, 2012 [5])
Năm 2012, xã cũng đã thành lập được ban vận động hội Vải lai chín sớm Phù
Cừ, hướng tới xây dựng nhãn hiệu hàng hóa cho cây vải Thành viên là các hộ có diệntích trồng nhiều tham gia Thế nhưng đến nay công việc này cũng chỉ dừng lại ở việcthành lập ban vận động, chứ chưa có động thái gì tích cực để cho cây vải của địa
phương được phát triển mạnh mẽ và có tiếng hơn (Nguyễn Xuân Thu, 2012 [21])
Cây vải hiện đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân ở xã Tam Đa.Vấn đề mở rộng và phát triển vùng chuyên canh vải là hướng đi đúng đắn của chínhquyền địa phương trong những năm qua, song để cây Vải lai chín sớm Phù Cừ được
Trang 16nhiều người biết đến hơn nữa thì việc xây dựng thương hiệu đang là bài toán chưa
có lời giải? Người trồng vải vẫn canh cánh nỗi lo bị “rớt” giá khi được mùa Chính
vì vậy, hơn lúc nào hết rất cần sự vào cuộc và quan tâm của chính quyền địaphương cũng như các cấp, các ngành trong việc xây dựng thương hiệu cho Vải laichín sớm Phù Cừ và sớm có biện pháp ngăn chặn việc vi phạm “bản quyền” của các
thương lái từ các nơi như đang và đã xảy ra hiện nay (Bùi Xuân Dục, 2012 [6])
Xuất phát từ những lý do trên, sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã lựa chọn đề tài
“Nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Vải lai chín sớm Phù Cừ” của các hộ trồng vải xã Tam Đa, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên”
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút người trồng vải tham gia xây dựng
và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Vải lai chín sớm Phù Cừ”
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”
và các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu của các hộ trồng vải xã Tam Đa
- Giải pháp thu hút người trồng vải tham gia xây dựng và sử dụng NHCN
“Vải lai chín sớm Phù Cừ”
Trang 17- Phạm vi thời gian thu thập số liệu từ năm 2011 - 2013
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian từtháng 12 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014
Trang 18PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học, lý luận của đề tài
2.1.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1 Các khái niệm liên quan tới nhu cầu
Trong cuộc sống hàng ngày khái niệm nhu cầu được dùng khá phổ biến và
có nhiều cách hiểu khác nhau về nhu cầu
* Nhu cầu theo Kinh tế học: được hiểu là nhu cầu tiêu dùng, là sự cần thiếtcủa một cá thể về một hàng hoá hay dịch vụ nào đó Khi nhu cầu của toàn thể các
cá thể đối với một mặt hàng trong một nền kinh tế gộp lại, ta có nhu cầu thị trường.Khi nhu cầu của tất cả các cá thể đối với tất cả các mặt hàng gộp lại ta có tổng cầu
* Theo Philip Kotler chuyên gia marketing hàng đầu thế giới: “Nhu cầu làcảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được Nhu cầu của conngười là một tập hợp đa dạng và phức tạp, từ những nhu cầu có tính chất bản năngsinh tồn như ăn, uống, mặc, ở, an toàn,… đến những nhu cầu về tình cảm trí thức,tôn trọng, tự thể hiện mình Những nhu cầu đó gắn liền với tình cảm con người,
gắn liền với sự phát triển của xã hội mà mỗi con người sống trong đó (Nguyễn
Nguyên Cự, 2005 [2])
Về bản chất nhu cầu là một khái niệm tâm – sinh lý Tìm cách thỏa mãnnhu cầu luôn là ý chí của con người thuộc các thời đại khác nhau, đặc biệt trongnền sản xuất hàng hóa
- Nhu cầu của con người là những mong muốn của họ về một số điều kiệnnào đó để đảm bảo cuộc sống của họ được tốt hơn Theo cách hiểu này có thể thấynhu cầu của con người chính là động cơ để con người thực hiện những hành vi có
ý thức nhằm thỏa mãn những nhu cầu đó (Hoàng Ngọc Bích, 2007)
- Cũng có thể hiểu nhu cầu là khoảng cách giữa tình huống hiện tại và trạngthái mà con người mong muốn đòi hỏi, điều kiện để làm một cái gì đó tốt hơn vớiđiều kiện hiện tại
* Theo Abraham H.Maslow:
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm
Trang 19chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs) Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mongmuốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ Những nhu cầu cơ bản này đều
là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ nhữngnhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trongcuộc sống hàng ngày
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao.Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, antâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân…
Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậccao này Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không quan tâm
đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng (Abraham H.Maslow, 1943 [12])
2.1.1.2 Các khái niêm liên quan tới cầu
Khái niệm cầu (Demand): “Cầu là số lượng hàng hóa, dịch vụ mà người tiêudùng (với tư cách là người mua) có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khácnhau (mức giá chấp nhận được) trong pham vi không gian và thời gian nhất định
(khi các yếu tố khác không thay đổi)” (Robert , S.Pindyck, Daniel, L Rubinfeld
1999 [26])
Khi nói đến cầu chúng ta không thể không nhắc đến lượng cầu; Lượng cầu:
“Là khối lượng hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn sàng mua
ở một mức cụ thể (khi các yếu tố khác không thay đổi)”
* Cầu cá nhân và cầu thị trường
Cầu cá nhân: Đường cầu của một cá nhân về một sản phẩm phản ánh mốiquan hệ giữa khối lượng sản phẩm mà người này sẽ mua ứng với các mức giá khácnhau của sản phẩm (các yếu tố khác không đổi)
Cầu thị trường: Là đường cầu thể hiện mối quan hệ giữa số lượng của mộtloại hàng hóa mà tất cả những người tiêu dùng trên thị trường sẽ mua tương ứngvới các mức giá khác nhau của hàng hóa đó
Cầu thị trường bao gồm tổng cầu cá nhân trên thị trường Về mặt khái niệm,đường cầu thị trường được xác lập bằng cách cộng tổng lượng cầu của tất cả cá nhân
tiêu dùng hàng hóa tương ứng với từng mức giá (Đặng Văn Thanh, 2011 [22])
Trang 20* Quy luật cầu
Một điểm chung của các đường cầu thị trường là có xu hướng nghiêng xuốngdưới và phía bên phải Nghĩa là khi giá của hàng hoá và dịch vụ giảm thì lượngcầu tăng lên Mối quan hệ tỷ lệ nghịch này giữa giá và lượng cầu của hàng hoá làrất phổ biến Các nhà kinh tế gọi đây là quy luật cầu
Vậy quy luật cầu khối lượng hàng hoá, dịch vụ được cầu trong một thời gianxác định sẽ tăng lên khi giá hàng hoá, dịch vụ đó giảm xuống và ngược lại Khigiá của hàng hoá, dịch vụ đó tăng lên thì lượng cầu về hàng hoá và dịch vụ đógiảm xuống (với giả định các yếu tố khác không thay đổi)
Nhu cầu thể hiện mong muốn của con người tiêu dùng về việc sử dụng hànghoá, dịch vụ Theo bản năng, con người luôn mong muốn hơn cái họ đang có chonên nhu cầu là vô hạn, không bao giờ thoả mãn được Trong khi đó, khả năng thanhtoán cho nhu cầu đó là có hạn nên chỉ có nhu cầu nào có khả năng thanh toán nómới trở thành cầu của thị trường Như vậy, cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán
(Nguyễn Đại Thắng, 2005 [23])
* Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới cầu Sau đây tôi xin đưa ra các ý kiến của cácchuyên gia tại trường Đại học Kinh tế quốc dân
- Sở thích và thị hiếu: Dĩ nhiên, một hàng hóa đang được ưu chuộng (sở thích
và thị hiếu) sẽ làm tăng cầu của hàng hóa đó Cầu sẽ giảm khi sự ưu chuộng củahàng hóa không còn nữa, do đó người tiêu dùng không còn mong muốn tiêu dùnghàng hóa nữa
- Thu nhập: Cầu của hầu hết các hàng hóa tăng lên khi thu nhập của ngườitiêu dùng tăng lên
- Giá cả hàng hóa liên quan: Hàng hóa thay thế hoặc hàng hóa bổ sung.Hai hàng hóa được gọi là hàng hóa thay thế nếu giá của hàng hóa này tăng lênlàm tăng cầu của hàng hóa khác Hàng hóa thay thế là những hàng hóa thường được
sử dụng thay thế lẫn nhau Chẳng hạn, thịt gà và thịt bò có thể là hàng hóa thay thế lẫnnhau Cà phê và trà cũng có thể là hàng hóa thay thế nhau
Trang 21Các nhà kinh tế cho rằng hai hàng hóa là hàng hóa bổ sung khi giá của mộthàng hóa này tăng sẽ làm giảm cầu của hàng hóa khác Trong hầu hết các trườnghợp, hàng hóa bổ sung là hàng hóa tiêu dùng cùng nhau Ví dụ như xe máy và mũbảo hiểm, máy ảnh và phim, đĩa CD và máy CD.
- Số lượng người tiêu dùng: Do đường cầu thị trường bằng tổng theo trụchoành lượng cầu của tất cả người mua trên thị trường, sự gia tăng số lượng ngườimua sẽ làm cho cầu tăng lên Khi dân số tăng lên cầu tăng lên, giảm dân số cũnglàm giảm cầu hàng hóa
- Kỳ vọng của người tiêu dùng về giá và thu nhập: Các kỳ vọng của ngườitiêu dùng về sự thay đổi giá và thu nhập là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đếncầu hiện tại của hàng hóa Nếu thu nhập kỳ vọng trong tương lai tăng lên, có lẽ cầucủa nhiều hàng hóa sẽ tăng lên mà họ có thể tiết kiệm nhiều hơn hôm nay để đề phòngthu nhập thấp hơn trong tương lai
- Phong tục tập quán: Phong tục tập quán ảnh hưởng lớn đến nhu cầu củacon người Thường sống trong Nói cách khác, nếu thu nhập kỳ vọng giảm thì các cánhân sẽ giảm cầu hàng hóa hiện tại để vùng có tập quán thế nào thì nhu cầu cũng phù
hợp với tập quán của khu vực đó (Cao Thúy Chinh, 2011 [3])
2.1.2 Tổng quan về nhãn hiệu hàng hóa
2.1.2.1.Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa (Trademark).
Ngày nay, nhãn hiệu chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong thương mại.Nhãn hiệu có thể được mua bán hoặc có thể cho thuê quyền sử dụng Nhãn hiệu cóthể được bảo hộ trong nước hoặc trên quốc tế
Hiện nay, đang có nhiều quan điểm về nhãn hiệu như sau:
- Theo Điều 785 Bộ Luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày28/10/1995 thì: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hànghóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Nhãn hiệuhàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiệnbằng một hoặc nhiều màu sắc”
Trang 22- Theo Luật SHTT có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006 tại Điều 4,Chương I đã nêu: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ củacác tổ chức khác nhau”.
Như vậy, nhãn hiệu hàng hóa là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệthàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ này với các nhà sản xuất,nhà cung cấp dịch vụ khác trên thị trường, hay chỉ dẫn đến nguồn gốc của hàng hóa,dịch vụ
2.1.2.2.Vai trò, chức năng và tác dụng của nhãn hiệu hàng hoá
* Vai trò của nhãn hiệu hàng hoá
Nhãn hiệu hàng hóa có khả năng giúp người tiêu dùng ra quyết định lựa chọnnhững sản phẩm, dịch vụ phù hợp; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sảnxuất, người cung cấp dịch vụ từ đó khuyến khích hơn nữa sự tái tạo sản xuất và pháttriển nền kinh tế
oĐối với người tiêu dùng
Nhãn hiệu khi đã có vai trò đối với người tiêu dùng khi đó nó sẽ trở thành vũkhí sắc bén của DN trong cạnh tranh trên thương trường
o Đối với người sản xuất
Nhãn hiệu chỉ có giá trị đối với người sản xuất khi nó có giá trị hay được tintưởng bởi những người tiêu dùng, khi được sự tin tưởng của người tiêu dùng nóđược đánh giá là thương hiệu
o Đối với nền kinh tế
Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, nhiều quốc gia rất chú trọng xây dựngcho mình các nhãn hiệu mạnh Chính các nhãn hiệu này sẽ là rào cản chống lại sựxâm nhập của các hàng hoá, dịch vụ kém phẩm chất, giá rẻ từ bên ngoài thâm nhập
vào thị trường trong nước, bảo vệ thị trường nội địa (Luật SHTT, 2006 [9])
* Chức năng của nhãn hiệu hàng hoá
Thứ nhất, chức năng phân biệt hàng hoá và dịch vụ
Khi chọn mua hàng chúng ta luôn dựa trên dấu hiệu, NHHH mà nhà sản xuấtgắn trên sản phẩm hay trên bao bì của sản phẩm Như vậy, NHHH có chức năngphân biệt hàng hoá cùng loại (có cùng tính năng tác dụng như nhau) của các nhà sản
xuất khác nhau.
Trang 23Thứ hai, chức năng thông tin về nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm.
Chức năng này thể hiện hàng hoá đó là do ai sản xuất? Sản xuất ở đâu? Nó đượcminh chứng khi bạn quyết định mua một sản phẩm nào đó không một chút do dự vì
có thể trước đây bạn đã từng mua hàng hoá đó Bạn biết hàng hoá là của nhà sản
xuất nào và tin tưởng vào hàng hoá của nhà sản xuất đó
Thứ ba, chức năng thông tin về đặc tính của sản phẩm
Chức năng này thể hiện sản phẩm đó chất lượng ra sao? Được sản xuất từ nguyênvật liệu gì? Giá cả hàng hoá đó có hợp lý với chất lượng hay không? Và nhiều
thông tin khác như tỷ lệ phối trộn nguyên liệu, cách sử dụng (Trương Đình Chiến
& Nguyễn Trung Kiên, 2004 [1])
* Tác dụng của nhãn hiệu hàng hoá
+ Làm cho khách hàng tin tưởng vào chất lượng, yên tâm và tự hào khi sửdụng sản phẩm
+ Tạo lòng trung thành của khách hàng đối với sản phẩm, giúp bảo vệ ngườibán chống lại các đối thủ cạnh tranh, đồng thời giảm chi phí marketing
+ Dễ thu hút khách hàng mới
+ Giúp phân phối sản phẩm dễ dàng hơn
+ Tạo thuận lợi khi tìm kiếm thị trường mới
+ Nhãn hiệu tốt giúp tạo dựng hình ảnh công ty, thu hút vốn đầu tư, thu hútnhân tài
+ Tạo thuận lợi cho việc triển khai tiếp thị, khuếch trương nhãn hiệu dễ dàng hơn.+ Uy tín cao của nhãn hiệu sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp,một mặt giúp doanh nghiệp có điều kiện “phòng thủ”, chống lại sự cạnh tranh quyếtliệt về giá trên thị trường
+ Nhãn hiệu thương mại của người bán khi đăng ký bao hàm sự bảo hộ củapháp luật đối với những tính chất độc đáo của sản phẩm trước những sản phẩm bị
đối thủ cạnh tranh nhái theo (Luật SHTT, chương I, 2006 [9])
2.1.2.3 Khái niệm thương hiệu, phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu
* Khái niệm thương hiệu
Theo PGS.TS.Nguyễn Quốc Thịnh, Trung tâm thương hiệu Đại học Thương
Mại Hà Nội thì: “Xây dựng thương hiệu là tạo dựng hình ảnh về sản phẩm và
Trang 24doanh nghiệp, đưa đến và cố định hình ảnh đó trong tâm trí khách hàng” (Nguyễn Quốc Thịnh, 2008 [24])
Thương hiệu được thể hiện thông qua sản phẩm, gắn với văn hoá DN, cácyếu tố chỉ nguồn gốc địa lý và các hoạt động truyền thông giao tiếp Vậy thươnghiệu là gì?
Theo định nghĩa của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO):
“Đối với một sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ, thương hiệu là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức”.
“Đối với doanh nghiệp, thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ với dấu hiệu của doanh nghiệp gắn lên bề mặt sản phẩm dịch vụ nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ Thương hiệu là một tài sản vô hình quan trọng và đối với các doanh nghiệp lớn, giá trị thương hiệu của doanh nghiệp chiếm một phần đáng kể trong tổng giá trị của doanh nghiệp”.
Cùng với quá trình phát triển của khoa học marketing, khi tư duy marketing
đã dần trở nên hoàn thiện thì quan niệm về thương hiệu cũng đã có sự thay đổi.Thương hiệu bây giờ không chỉ là một cái tên hay một biểu tượng thuần tuý màđằng sau nó là chất lượng sản phẩm dịch vụ, uy tín của DN…, là tất cả những thứ
mà DN đảm bảo cung cấp cho khách hàng Chính vì vậy, chúng tôi thấy thương
hiệu sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp “là biểu hiện trên thị trường của tất cả
những thứ mà doanh nghiệp đó có và đảm bảo cung cấp cho khách hàng từ con người, tổ chức đến hàng hoá, dịch vụ” (Nguyễn Quốc Thịnh, 2008 [24])
* Phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu
Hiện nay, ở nước ta vẫn còn xuất hiện cả hai khái niệm nhãn hiệu và thươnghiệu Vậy thương hiệu có gì khác với nhãn hiệu không? Về vấn đề này cũng cónhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng thương hiệu chỉ là một cách gọikhác của nhãn hiệu Có quan điểm cho rằng nhãn hiệu khác với thương hiệu, cụ thể:
- Theo Jack Trout và Steve Rivkin: “Khi nói tới nhãn hiệu tức là nói tới vấn đề
đăng ký, mua bán, cho thuê, kiện tụng liên quan đến nhãn hiệu Còn khi nói đến thương hiệu tức là chúng ta nói đến sự cảm nhận của khách hàng, sự hiện diện của
Trang 25nó trong tâm trí của khách hàng như thế nào Như vậy, chúng ta có thể nói rằng thương hiệu sản phẩm là nhãn hiệu của sản phẩm đã được DN “thổi” vào đó một
“linh hồn” sống động, có cá tính, có niềm tin nhất quán, có ấn tượng và cảm nhận tốt về sản phẩm về công ty”
- Theo PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh: Có thể hình dung sự khác biệt giữa thương
hiệu và nhãn hiệu như sau:
Bảng 2.1 Phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu
1 Khái niệm thương mại, tài sản vô
hình
Khái niệm luật pháp, tài sản hữu hình
2 Hiện diện trong tâm trí người tiêu
dùng Hiện diện trên văn bản pháp lý.
3 Doanh nghiệp xây dựng, người
tiêu dùng chấp nhận
Doanh nghiệp đăng ký, cơ quan chứcnăng công nhận
4 Xây dựng do hệ thống tổ chức
của doanh nghiệp
Xây dựng trên hệ thống luật pháp quốc gia
5 Là linh hồn của doanh nghiệp Là phần thể xác của doanh nghiệp
Thứ nhất, về khía cạnh vật chất, nghĩa là dựa vào tên gọi, logo thì nhãn hiệu
và thương hiệu rất khó phân biệt, nếu không muốn nói là một Nhưng khi nói đếnthương hiệu người ta thường nói đến cả khẩu hiệu, nhạc hiệu mà điều này gần nhưkhông được đề cập đến trong nhãn hiệu Ví dụ, chúng ta có thể chỉ nghe nói đến
"Nâng niu bàn chân Việt" là đã nghĩ ngay đến Biti's
- Nói đến thương hiệu không chỉ nói đến các dấu hiệu như trong nhãn hiệu
mà là nói đến hình tượng về hàng hoá trong tâm trí người tiêu dùng Nó thật sự trừu
Trang 26tượng và vì thế đã có người gọi thương hiệu là phần hồn còn nhãn hiệu là phần xác
(Nguyễn Quốc Thịnh, 2005 [19])
- Nhãn hiệu được tạo ra chỉ trong thời gian đôi khi rất ngắn, trong khi để tạodựng được một thương hiệu (tạo dựng hình ảnh về hàng hoá, dịch vụ trong tâm tríngười tiêu dùng) đôi khi là cả cuộc đời của doanh nhân
- Thương hiệu nổi tiếng sẽ tồn tại mãi theo thời gian nhưng nhãn hiệu thì chỉ
có giá trị pháp lý trong thời gian nhất định (thời hạn bảo hộ nhãn hiệu thường là 10năm và có thể được kéo dài bằng việc gia hạn)
- Nhãn hiệu được các cơ quan quản lý Nhà nước công nhận và bảo hộ cònthương hiệu là kết quả phấn đấu lâu dài của DN và người tiêu dùng chính là ngườicông nhận
Như vậy, có thể khẳng định, thương hiệu thuộc về bản chất còn nhãn hiệu làhình thức thể hiện gồm tên thương mại và xuất xứ hàng hoá Do đó, các nhà sảnxuất, các DN muốn cố gắng xây dựng tên tuổi của mình, thì họ phải xây dựng đượcchỗ đứng, lòng tin và sự chấp nhận của người tiêu dùng đối với sản phẩm Mà cụthể là chấp nhận nhãn hiệu của sản phẩm, đó chính là cơ sở ban đầu vững chắc cho
sự phát triển thương hiệu ( Nguyễn Quốc Thịnh, 2005 [19])
2.1.2.4 Nhãn hiệu chứng nhận (Certification Mark)
a) Khái niệm
* Công nhận: theo từ điển tiếng Việt là sự thừa nhận trước mọi người một điều gì
đó là phù hợp với sự thật, với lẽ phải, hoặc với thể lệ, luật pháp (Nguyễn Trung
Tín, 2008 [20])
* Chứng nhận: là thủ tục mà theo đó bên thứ ba đảm bảo bằng văn bản rằng một
sản phẩm, quá trình hoặc dịch vụ phù hợp với những yêu cầu đã định (ISO/IECGuide 2: 1996 TCVN 6450: 1998)
* Nhãn hiệu chứng nhận: Theo khoản 18, điều 4 của Luật SHTT, Nhãn hiệu
chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác
sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính
về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp
Trang 27dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá,
dịch vụ mang nhãn hiệu (Luật SHTT, 2006 [10])
* Nhãn hiệu tập thể (Collective Trademark): Theo Luật SHTT: Nhãn hiệu tập thể
là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó (Luật SHTT, 2006 [10])
2.1.2.5 Quy trình tạo lập và quản lý nhãn hiệu chứng nhận
a) Tạo lập nhãn hiệu chứng nhận
* Xác định đặc tính của SP, DV cần được chứng nhận: Tuỳ thuộc vào tính
chất của SP, DV và điều kiện của tổ chức chứng nhận để xác định và đưa ra các đặctính cần chứng nhận Thông thường, các đặc tính cần chứng nhận có thể là:
- Đối với sản phẩm: nguồn gốc, nguyên vật liệu, hình thức cảm quan, các chỉtiêu chất lượng, chỉ tiêu sinh hoá…
- Đối với dịch vụ: cách thức, địa bàn cung cấp; tiêu chuẩn, điều kiện đối vớiđơn vị cung cấp…
- Một số loại sản phẩm cần có sự tham gia của các cơ quan chuyên môn (Việnnghiên cứu, cơ quan kiểm định chất lượng…) để đánh giá, xác định đặc tính của sản
phẩm cần chứng nhận (Phòng nhãn hiệu số 1 – Cục sở hữu trí tuệ, 2008 [16])
- Để thực hiện chức năng chứng nhận, Cơ quan chứng nhận cần phải thựchiện thủ tục yêu cầu cơ quan có thẩm quyền (Văn phòng Công nhận Chất lượng
thuộc Tổng cục TCĐLCL) công nhận là Tổ chức chứng nhận … (Phòng nhãn hiệu
số 1 – Cục sở hữu trí tuệ, 2008 [16])
Trang 28* Xác định và lập danh sách các thành viên nhất trí cùng tham gia xây dựng
và sử dụng NHCN
- Tổ chức, cá nhân muốn sử dụng NHCN phải được chủ sở hữu NHCN chophép và phải đảm bảo đáp ứng các điều kiện quy định trong Quy chế sử dụng nhãnhiệu Để đảm bảo việc xây dựng và quản lý NHCN một cách hiệu quả, cần huyđộng sự tham gia của các nhà sản xuất, kinh doanh SP, DV tại địa phương ngay từgiai đoạn đầu
- Có thể thành lập Ban vận động nhằm huy động sự tham gia của các nhà sản xuất,kinh doanh và tổ chức các buổi họp tuyên truyền, phổ biến về kế hoạch, chủ trương
xây dựng NHCN (Tư vấn sở hữu trí tuệ, 2013 [18])
* Xác định dấu hiệu yêu cầu bảo hộ là NHCN: NHCN phải nhìn thấy được
(được thể hiện dưới dạng chữ, từ ngữ, màu sắc, hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tốđó) và có khả năng phân biệt (không trùng hoặc tương tự với các nhãn hiệu đã được
đăng ký hoặc nộp đơn trước) (Tư vấn sở hữu trí tuệ, 2013 [18])
* Chuẩn bị hồ sơ đơn đăng ký NHCN: Để được bảo hộ, NHCN phải được
đăng ký tại Cục SHTT
Một số lưu ý trong quá trình chuẩn bị đơn đăng ký NHCN:
+ Mẫu nhãn hiệu: Để đảm bảo các yêu cầu về mẫu nhãn hiệu, có thể triểnkhai các nội dung: thuê khoán thiết kế, thống nhất lựa chọn mẫu nhãn hiệu; tra cứu,đánh giá khả năng bảo hộ của nhãn hiệu
+ Quy chế quản lý việc sử dụng NHCN: Để xây dựng và ban hành quy chế,
có thể triển khai các nội dung: soạn thảo, lấy ý kiến góp ý của các tổ chức, cá nhânliên quan; phổ biến Quy chế cho các nhà sản xuất, kinh doanh…
+ NHCN gắn với nguồn gốc địa lý thì các đơn vị lưu ý nộp kèm theo Đơngiấy phép của chính quyền địa phương cho phép sử dụng địa danh trong nhãn hiệu
(Tư vấn sở hữu trí tuệ, 2013 [18])
b) Xây dựng hệ thống quản lý NHCN
- Xuất phát từ tính chất và phạm vi bảo hộ của NHCN, việc quản lý NHCN chủyếu bao gồm các hoạt động quản lý từ bên ngoài do Cơ quan chứng nhận thực hiện
Trang 29- Cơ quan chứng nhận quản lý việc sử dụng nhãn hiệu theo Quy chế, baogồm: cấp phép sử dụng; kiểm soát, kiểm tra việc sử dụng nhãn hiệu để bảo đảmchất lượng, uy tín của hàng hoá, dịch vụ được xác nhận; đình chỉ việc sử dụng
NHCN (Điểm 37.6 Thông tư số 01)
- Người được cấp phép sử dụng NHCN có nghĩa vụ tuân thủ Quy chế, baogồm: bảo đảm chất lượng, uy tín của SP, DV; chịu sự kiểm soát của chủ sở hữunhãn hiệu; nộp phí sử dụng nhãn hiệu
- Hệ thống văn bản quản lý: ngoài các VBPL hiện hành còn cần có các vănbản quy định cụ thể về hệ thống quản lý NHCN (quy chế quản lý NHCN; quy chế
tổ chức, hoạt động của Tổ chức chứng nhận; quy trình cấp, thu hồi quyền sử dụngNHCN; quy trình kiểm định, chứng nhận sản phẩm; quy định về sử dụng NHCN)…
- Hệ thống các cơ quan tham gia quản lý: huy động sự tham gia của các cơquan QLNN chuyên ngành ở địa phương (Sở KH&CN; Chi cục TCĐLCL; Chi cục
quản lý thị trường) Ngoài ra, BCH Hội, Hiệp hội các nhà sản xuất, kinh doanh sản
phẩm mang NHCN có thể được huy động tham gia với tư cách đơn vị phối hợp với
Cơ quan chứng nhận trong quá trình quản lý việc sử dụng NHCN
c) Xây dựng các phương tiện quảng bá, phát triển NHCN
- Để phát huy và nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm, dịch vụ mang NHCN,trong khi các nhà sản xuất chưa đủ điều kiện tiến hành các hoạt động quảng bá, pháttriển NHCN, cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước để triển khai các hoạt động này
- Các phương tiện quảng bá, phát triển NHCN có thể bao gồm: tờ rơi, postergiới thiệu sản phẩm, dịch vụ mang NHCN, các chương trình quảng cáo trên phươngtiện truyền thông, website giới thiệu sản phẩm, các kênh thương mại cho sản phẩm…
d) Thực hiện thí điểm một số nội dung quản lý, khai thác NHCN
Để giúp người sản xuất nhận thấy được ý nghĩa, hiệu quả thực tế của việcbảo hộ NHCN, cần triển khai thực hiện thí điểm một số nội dung quản lý và khaithác NHCN Các nội dung triển khai có thể bao gồm:
- Thực hiện kiểm định chất lượng SP, DV để trao quyền sử dụng NHCN cho
tổ chức, cá nhân đủ điều kiện
- Tổ chức kiểm soát việc sử dụng NHCN theo Quy chế
Trang 30- Tổ chức in ấn, phát hành thí điểm tem chứng nhận chất lượng (đối với sảnphẩm); cấp Giấy chứng nhận cơ sở cung cấp dịch vụ đạt tiêu chuẩn mang NHCN(đối với dịch vụ)…
- Vận hành các kênh thương mại cho sản phẩm mang NHCN…
(Nguồn: Tài liệu Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ cho doanh nghiệp của Bộ khoa học và công nghệ)
2.1.2.6 Ý nghĩa của việc tạo lập và quản lý NHCN
Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO Hiện tổ chức này đang hướng tớicác qui tắc thương mại giữa các quốc gia, đảm bảo tính suôn sẻ, khả năng dự đoántrước và sự tự do hóa các luồng thương mại Vì vậy, việc xây dựng nhãn hiệu chosản phẩm là hết sức quan trọng và thực sự cần thiết Nó bao gồm các ý nghĩa:
- Cải thiện tính hiệu quả của sản xuất – kinh doanh sản phẩm, dịch vụ
- Xúc tiến thương mại quốc tế
- Khuyến khích các nước đang phát triển sử dụng tài sản trí tuệ như một công
cụ phát triển và tăng trưởng kinh tế
- Thúc đẩy chuyển giao công nghệ giữa các nước
- Các doanh nghiệp sử dụng nhãn hiệu một cách tự nguyện
- Đảm bảo công bằng trong thương mại
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tạo lập và quản lý nhãn hiệu chứng nhận.
Hiểu biết của người dân về NHCN
Mặc dù các nhà sản xuất Việt Nam đã bắt đầu nhận thức được tầm quantrọng của nhãn hiệu, song hiểu biết và chiến lược đầu tư cho tạo lập nhãn hiệu vẫncòn rất dè dặt Trường hợp họ muốn xây dựng nhãn hiệu thì cũng thiếu hiểu biết vềthủ tục pháp lý, quy định về đăng ký nhãn hiệu
Nhu cầu của người sản xuất
Nhu cầu của người sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến tạo lập và quản lýNHCN cho một sản phẩm, dịch vụ Nhu cầu của người sản xuất ngày càng cao Kếtquả của các hoạt động sẽ không được như mong muốn nếu việc tạo lập và quản lýNHCN không hề hữu ích với người sản xuất Khi nhận thấy được ý nghĩa, hiệu quả
Trang 31thực tế của việc tạo lập NHCN thì họ mới nhất trí cùng tham gia tạo lập, quản lý,phát triển và sử dụng NHCN một cách hiệu quả.
Đặc điểm kinh tế - xã hội của người dân: giới tính, trình độ học vấn, nghề
nghiệp, thu nhập
Những yếu tố này có ảnh hưởng lớn tới mức độ nhận thức về tầm quan trọng củaNHCN và mức sẵn lòng chi trả của người sản xuất vào việc tạo lập và quản lý NHCN
Số lượng người tham gia tạo lập và quản lý NHCN
Số lượng người tham gia cũng có ảnh hưởng khá lớn đến việc tạo lập vàquản lý NHCN Số người tham gia tạo lập càng lớn thì kinh phí bình quân để tạolập sẽ giảm
Tổ chức chứng nhận đứng tên đăng ký NHCN
Tổ chức chứng nhận không được quyền kinh doanh SP, DV hoặc là đốitượng liên quan đến đối tượng được chứng nhận Tuỳ thuộc điều kiện của địaphương và của tổ chức có chức năng chứng nhận để chỉ định Cơ quan chứng nhận.Trong điều kiện hiện nay, các địa phương nên chỉ định Chi cục tiêu chuẩn đo lườngchất lượng (TCĐLCL) nhằm tận dụng nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, kỹ thuật sẵn
có trong quá trình kiểm định, chứng nhận Để thực hiện chức năng chứng nhận, Cơquan chứng nhận cần phải thực hiện thủ tục yêu cầu cơ quan có thẩm quyền (Vănphòng Công nhận Chất lượng thuộc Tổng cục TCĐLCL) công nhận là Tổ chứcchứng nhận
Kinh phí cho việc tạo lập và quản lý NHCN
Nếu kinh phí quá lớn thì sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu tạo lập và quản lýNHCN Chúng ta phải tính toán sao cho kinh phí phù hợp, không làm giảm nhu cầucủa người sản xuất và nâng cao được chất lượng nhãn hiệu
Sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc xây dựng hệ thống các phương tiện để
quảng bá, phát triển NHCN.
Để tạo lập NHCN cần cho người sản xuất thấy được việc phát huy và nângcao giá trị kinh tế của SP, DV sau khi đã mang NHCN Trong khi các nhà sản xuấtchưa đủ điều kiện tiến hành các hoạt động quảng bá, phát triển NHCN, cần có sự hỗtrợ từ phía Nhà nước để triển khai các hoạt động này
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Trang 322.2.1 Tóm tắt một số nghiên cứu trước đây về vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, nhãn hiệu đã trở thành một chủ đề thời sự được các cơ quan quản
lý Nhà nước, các Hiệp hội thương mại, các tổ chức, công ty quan tâm một cách đặcbiệt Nhiều cuộc hội thảo, hội nghị đã được tổ chức, nhiều tạp chí, website, cáccông trình nghiên cứu thường xuyên đề cập đến các khía cạnh, góc độ khác nhaucủa nhãn hiệu Nổi bật là các công trình nghiên cứu sau:
* Nghiên cứu của Jos Hackner & Astri Muren (2004) có tên "Trade mark dilution
– A welfare alysis” phân tích ảnh hưởng của nhãn hiệu tới phúc lợi cho thấy rằng:
nhãn hiệu không những ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh, quyền lợi của người sảnxuất mà còn ảnh hưởng rộng tới thay đổi việc phân phối phúc lợi xã hội của ngườisản xuất và người tiêu dùng ở Mỹ và EU
* Tác giả Lê Xuân Tùng (2005) "Xây dựng và phát triển thương hiệu" đưa ra 5
bước để xây dựng và phát triển một thương hiệu
+ Xác định cấu trúc nền móng thương hiệu
+ Định vị thương hiệu (Brand Positioning)
+ Xây dựng chiến lược thương hiệu
+ Xây dựng chiến lược truyền thông
+ Đo lường và hiệu chính (Lê Xuân Tùng, 2005 [27])
* Tác giả Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2003) với công trình
nghiên cứu “Nguyên lý Marketing” Đây là một công trình nghiên cứu sâu sắc và
khá toàn diện về nhãn hiệu Tuy nhiên, là công trình nghiên cứu chung về nhãn hiệunên chưa đưa ra được những giải pháp tối ưu cho từng lĩnh vực nhằm quảng bánhãn hiệu
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đây hầu hết đều tập trung bàn
về vấn đề tạo dựng nhãn hiệu cho sản phẩm nói chung, chưa có một lĩnh vực haymột sản phẩm cụ thể, hay đi sâu vào tạo lập và quản lý NHCN cho sản phẩm nôngnghiệp Một số tác giả cũng đưa ra một số những dẫn chứng cụ thể nhưng chỉ mớidừng lại ở mức độ phác thảo chung, chưa đi sâu nghiên cứu có hệ thống về nhữnggiải pháp nhằm giúp DN, hay các đơn vị kinh doanh, người sản xuất nâng cao giátrị nhãn hiệu của mình trong lòng người tiêu dùng
Trang 332.2.2 Kinh nghiệm tạo lập và quản lý nhãn hiệu chứng nhận của một số nước trên thế giới và Việt Nam
2.2.2.1 Trên thế giới
Theo nghiên cứu của Roya Ghafele, WIPO, Geneva và Walter Santagata,
Ebla Center, University of Turin (2005) có tên “Cultural Tourism and Collective
Trademarks: The Case of Byblos and Saida, Lebanon” thì: Trên thế giới, ý tưởng
trong việc tạo nên một sự kết hợp giữa kinh doanh dịch vụ du lịch và NHTT đã xuấthiện từ lâu Phố Maurice ở Switzerland của thành phố Viên thuộc Italy là một ví dụđiển hình và rất nhiều thành phố lớn nhỏ khác là những ví dụ gần đây nhất về nhưthế nào là một NHTT đã được sử dụng để quảng bá một khu du lịch và để bảo hộsản xuất của những hàng hoá, dịch vụ truyền thống của khu du lịch đó Trongnhững trường hợp này cũng chỉ ra rằng, chìa khóa để thành công trong việc sử dụngNHTT trong quản lý kinh doanh du lịch là sự quản lý và quản trị tốt
Nhưng nếu chỉ có việc nâng cao cho NHTT thì chưa đủ Những vùng vănhoá du lịch của Saida và Byblos đã lựa chọn cho việc mở đầu một chiến lược pháttriển vùng địa phương được dựa trên sự chứng nhận NHTT Kể từ đó đến nay, việcphát triển những thành phố tự nhiên là những ứng dụng xa hơn nữa Bởi vì đó lànhững nơi đến tuyệt vời và biểu hiện đầy ý nghĩa của văn hoá truyền thống Để gópphần nâng cao ngành kinh doanh du lịch cần một chiến lược bảo tồn nguyên thuỷ.Trong năm 2004, các hoạt động kinh tế trên phạm vi toàn thế giới được hình thànhbởi ngành du lịch và kinh doanh du lịch đã đóng góp 10.6% trong tổng số GDP, tạo
ra 8.3% trong tổng số việc làm hay 221 triệu công việc (WTTC, 2005) TạiLebanon, một phần đóng góp của du lịch và kinh doanh du lịch vào GDP ước lượngkhoảng 12.8% (WTTC)
Quyền tài sản trí tuệ có thể thuộc về cá nhân hoặc tập thể Quyền tài sản trítuệ thuộc về tập thể hầu hết quan trọng là NHTT, chứng nhận nguồn gốc địa lý
Một NHTT là một nhãn hiệu chỉ sự tồn tại của tập thể - là người chủ củanhãn hiệu Cho ví dụ, một sự liên kết hay hợp tác - cho phép các thành viên sử dụng
và loại trừ các đối tượng khác sử dụng nó NHTT phải cho biết về nguồn gốc củahàng hoá và người tiêu dùng có thể phân biệt nó với các nhãn hiệu khác Chủ của
Trang 34NHTT phải đăng ký áp dụng sổ đăng ký của nó như WIPO (WIPO, 2005) sử dụng
nó, “những sự kết hợp của SMEs có thể bao gồm danh sách các NHTT để cùngchung thị trường sản phẩm của nhóm SMEs và nâng cao sự chứng nhận sản phẩm.Nhãn hiệu có thể được sử dụng cùng với nhãn hiệu cá nhân của sản phẩm và hànghoá nhất định Những sự cho phép của các công ty này là để phân biệt những sảnphẩm thuộc sở hữu của họ với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, đôi khi trongnhững trường hợp lợi ích từ sự tin tưởng của người tiêu dùng về những sản phẩm vàdịch vụ phục vụ dưới NHTT”
Sự khác biệt giữa các nước đang phát triển và nước phát triển cũng được đềcập đến Trong các nước đang phát triển, một trong những vấn đề chính là để bảo đảmmôi trường cung cấp trong những tổ chức một cách có hiệu quả, cụ thể là quyền tập thể,cho sự khởi đầu nền kinh tế của các vùng công nghiệp tiềm năng của các công ty nhỏvới việc cung cấp các hàng hoá và dịch vụ có nguồn gốc từ văn hoá
Một số nước cũng có quy định về việc bảo hộ NHCN NHCN thường đượccấp cho những đối tượng đáp ứng các tiêu chuẩn xác định mà không có hạn chế bất
kỳ về tư cách thành viên NHCN có thể được sử dụng bởi chủ thể bất kỳ mà có thểchứng nhận rằng sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định đã được đặt ra Ví dụ,NHCN nổi tiếng như WOOLMARK chứng nhận rằng hàng hóa mang nhãn hiệunày làm hoàn toàn (100%) bằng len
2.2.2.2 Thực trạng đăng ký NHCN, NHTT ở Việt Nam
Nhìn chung, đối với các địa danh dùng cho đặc sản của địa phương, nếu việcxây dựng chỉ dẫn địa lý là không phù hợp hoặc chưa có đủ các điều kiện cần thiếtthì việc bảo hộ địa danh dưới hình thức NHCN, NHTT là lựa chọn tốt nhất nhằmđảm bảo và nâng cao giá trị cho đặc sản đó
Tuy nhiên, việc tạo lập và quản lý NHCN là một vấn đề khá mới ở ViệtNam Thống kê các đơn đăng ký NHTT, NHCN cho thấy: Tính từ ngày Luật SHTT
có hiệu lực (01.07.2006) đến nay mới có 17 đơn đăng ký NHCN và 46 đơn đăng ký
NHTT mang địa danh (Phòng Nhãn hiệu số 1- Cục Sở hữu trí tuệ, 2008 [16])
Trang 35Do vậy, việc tạo lập và quản lý NHCN cho các sản phẩm nông sản đặc sảnmang tên địa danh cần sự hỗ trợ rất lớn của trung ương về mặt pháp lý, quy trìnhthực hiện và tài chính.
Đối tượng phổ biến của NHCN là tên gọi sản phẩm của các làng nghề truyềnthống và các loại đặc sản địa phương Các loại quả có nhãn hiệu thường là trái câyđặc sản gắn liền với tính chất địa lý, sinh thái của địa phương sản xuất, có thể đăng
bạ và bảo hộ chỉ dẫn địa lý bên cạnh các hình thức như nhãn hiệu nhà sản xuất vànhãn chất lượng Chất lượng của các sản phẩm này chịu sự ảnh hưởng của chất đất,nguồn giống, môi trường, khí hậu và công thức canh tác truyền thống ở tại chính địaphương đó Đây là các trái cây đặc sản do đó chất lượng của các sản phẩm này đãđược thể hiện ở nhãn hiệu và thông qua giá bán trên thị trường Một số tên tuổi tráicây đặc sản của Việt Nam khá nổi tiếng được người tiêu dùng biết đến ở thị trườngtrong nước như: Vải thiều Thanh Hà, Nhãn lồng Hưng Yên, Xoài Hòa Lộc, Bố Hạ,Bưởi Năm Roi, Bưởi Phúc Trạch, Bưởi Đoan Hùng…
Năm 2005, nhãn chất lượng nho sạch đầu tiên được bảo hộ cho Nho Ba Mọi(Ninh Thuận) là một hình thức kết hợp nhãn hiệu nhà sản xuất và nhãn chất lượng
* Luật Sở hữu trí tuệ 2005 có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 và các văn bản
hướng dẫn dưới luật được áp dụng trong quá trình xử lý đơn đăng ký NHCN,NHTT có chức năng chỉ dẫn nguồn gốc địa lý của sản phẩm hiện đang gặp rất nhiềukhó khăn do các nguyên nhân chính sau đây:
+ Đây là những văn bản mới được quy định trong Luật SHTT từ trước tớinay, nhưng trong các văn bản hướng dẫn dưới luật thì chưa thật cụ thể và chi tiết để
có thể dễ thực thi
+ Nội dung của các Điều luật về NHCN, NHTT chưa bao quát hết các đốitượng có quyền đăng ký NHCN, NHTT nên trong quá trình xử lý, chưa thống nhấtđược các quan điểm xử lý và phải chờ ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo, do đó tiến độ xử
lý các loại đơn này đã bị chậm
+ Định nghĩa về NHTT giữa Luật Dân sự và Luật SHTT có khác biệt về kháiniệm và quyền nộp đơn…
Trang 36* Thực tiễn áp dụng Luật SHTT đối với NHCN, NHTT cho thấy người nộp
đơn thường gặp một số thiếu sót chủ yếu sau:
+ Thiếu giấy phép hoặc quyết định thành lập, điều lệ hoạt động của tổ chứcxác nhận chức năng thẩm quyền quản lý NHTT, NHCN chất lượng, NHCN nguồngốc địa lý hàng hoá dịch vụ (vì trong trường hợp đăng ký nhãn hiệu thông thường
thì không phải bổ sung tài liệu này)
+ Thiếu quy chế sử dụng NHTT hoặc quy chế sử dụng NHCN trong hồ sơ
yêu cầu đăng ký nhãn hiệu (Luật SHTT, 2005 [11])
+ Người nộp đơn đăng ký NHTT hoặc NHCN chưa hiểu rõ quyền nộp đơn
do đó có những người nộp đơn không có quyền nhưng vẫn nộp đơn đối với các loại
nhãn hiệu này Ví dụ: Cơ sở, cá nhân…
+ Người nộp đơn nhầm lẫn trong quá trình hoàn thiện hồ sơ đơn, mặc dùkhông có nhu cầu đăng ký loại nhãn hiệu này nhưng lại đánh dấu trong hồ sơ đơn là
có yêu cầu, hoặc có nhu cầu đăng ký và gửi kèm trong hồ sơ nhưng lại không đánhdấu trong tờ khai
+ Trong quy chế sử dụng NHTT thường không đưa ra tiêu chuẩn để trởthành thành viên của tổ chức tập thể; Các điều kiện sử dụng nhãn hiệu; Biện pháp
xử lý hành vi vi phạm quy chế sử dụng nhãn hiệu Danh sách các tổ chức, cá nhânđược phép sử dụng nhãn hiệu không được xác nhận bởi chính các tổ chức và cá
nhân đó (thiếu chữ ký và dấu xác nhận) (Luật SHTT, 2005 [11])
+ Quy chế sử dụng NHTT thường không được xác nhận của cấp chủ quảnnhãn hiệu hoặc cấp trên của chủ sở hữu nhãn hiệu
+ Trong quy chế sử dụng NHCN thường không đưa ra điều kiện để được sửdụng nhãn hiệu; các đặc tính của hàng hoá, dịch vụ được sử dụng nhãn hiệu;phương pháp đánh giá các đặc tính của hàng hoá, dịch vụ và phương pháp kiểm soátviệc sử dụng nhãn hiệu; chi phí mà người sử dụng nhãn hiệu phải trả cho việcchứng nhận, bảo vệ nhãn hiệu
+ Trong hồ sơ đơn thường thiếu giấy cho phép đăng ký của cấp hành chính(cấp tỉnh, thành phố) đối với các đăng ký nhãn hiệu là các dấu hiệu chỉ nguồn gốc
Trang 37địa lý của hàng hoá và dịch vụ mà yêu cầu đăng ký dưới dạng NHTT hoặc NHCN,hoặc có nhưng chỉ cho phép sử dụng chứ không phải cho phép đăng ký
+ Người nộp đơn thường không chỉ ra trong tờ khai mục đích, nội dung và
phương thức của việc chứng nhận (chứng nhận chất lượng, xuất xứ, nguồn gốc địa
lý hay kết hợp giữa các mục đích đó), chứng nhận như thế nào: trình tự, thủ tục cấp
phép chứng nhận các cách thức kiểm tra, duy trì mục đích và nội dung chứng nhận
(Luật SHTT, 2005 [11])
2.2.3 Ý nghĩa của phát triển sản xuất cây Vải lai chín sớm Phù Cừ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Trong những năm qua, cơ cấu cây trồng của huyện Phù Cừ đã có sự thay đổi
to lớn và toàn diện, trong đó phải kể đến cây vải lai chín sớm Cây vải có vị trí, vaitrò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế huyện Cây vải đã góp phần giúpngười dân ổn định cuộc sống và vươn lên làm giàu…, đặc biệt là đã góp phầnchuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao giá trị sản xuất ngành trồng trọt trên địa bànhuyện
Vải lai chín sớm là cây trồng có hiệu quả kinh tế rất cao nhưng cũng đòi hỏingười sản xuất đầu tư một lượng vốn khá lớn và kỹ thuật chăm sóc cao hơn một sốcây ăn quả khác Vì vậy, việc phát triển vải lai chín sớm sẽ đưa giá trị của nghànhnông nghiệp tăng lên, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về loại quả chất lượng caocủa người tiêu dùng; dẫn đến cơ cấu chuyển kinh tế trong nông nghiệp là tỷ trọngcác nông sản có giá trị cao, tỷ trọng hàng hóa tăng lên
Việc chuyển dịch một số diện tích cây trồng có năng suất, chất lượng thấpsang trồng cây ăn quả như vải lai chín sớm sẽ tạo ra những vùng chuyên môn sảnxuất hàng hóa, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân nông thôn, tăng thu nhậpcho người nồn dân Từ đó thúc đẩy kinh tế hàng hóa (kinh tế thị trường) phát triển ở
khu vực nông thôn (Phòng Thống kê nông nghiệp huyện Phù Cừ, 2011 [14])
Phát triển sản xuât cây ăn quả nói chung, cây vải lai chín sớm nói riêng gópphần làm cho nghành công nghiệp chế biến phát triển, tạo thêm công ăn việc làmcho một phần lao động nông nghiệp dôi dư ở khu vực nông thôn trở thành côngnhân, thực hiện chủ trương chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm công
Trang 38nghiệp của Đảng và Nhà nước; đồng thời cung cấp nguồn quả nhanh, chất lượng,quanh năm cho nhân dân.
Việc phát triển vải lai chín sớm còn thúc đẩy việc tìm tòi và áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Thực hiện đúng qui trình trồng và chăm sóc vải sẽ làm cho môi trường đấtmàu mỡ thêm lên, tạo môi trường sinh thái tốt Ưu thế lớn của cây vải là dễ trồng,lại chịu được đất chua, đất dốc là những loại đất phổ biến ở vùng đồi núi Cây vảikhi đã lớn, chống cỏ tốt vì lá dầy, bóng râm kín, lại không rụng lá vào mùa Đôngnên khi đã giao tán, lá khô rụng xuống, che kín mặt đất, không còn loại cỏ nào cóthể mọc được
Tóm lại, việc phát triển cây ăn quả nói chung và vải lai chín sớm nói riêng đãgóp phần tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người nông thôn,chuyển dịch cơ cấu lao động và là một hướng giảm nghèo hiệu quả Các cơ sở kinh
tế và dân sinh được hình thành, nâng cấp khi hình thành những khu vực sản xuấthàng hóa như đường giao thông, điện, thông tin Qua đó làm thay đổi cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn (Phòng Thống kê nông nghiệp huyện Phù Cừ, 2011 [14])
2.2.4 Một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với ngành này
Việc phát triển cây ăn quả nói chung, với vải lai chín sớm nói riêng đã gópphần tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, xoá đói giảmnghèo Các cơ sở hạ tầng kinh tế và dân sinh được hình thành khi sản xuất cây ănquả phát triển qua đó góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướngsản xuất hàng hoá
Chính vì những ý nghĩa to lớn như đã nói ở trên, với những lợi thế về khíhậu, đất đai, nguồn nước, lao động và kinh nghiệm cổ truyền của mình, kết hợp vớiviệc áp dụng các thành tựu khoa học trong sản xuất cây ăn quả tạo ra nhiều sảnphẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu làm giàu cho đấtnước Nhà nước ta đã có những chủ trương chính sách để phát triển
*Phát triển cây ăn quả theo quan điểm của Đảng và Nhà nước
Ngày 3/3/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 182/QĐ/TTgphê duyệt đề án phát triển rau quả và hoa cây cảnh thời kỳ 1999- 2010 Trên cơ sở
Trang 39phát huy lợi thế và tiềm năng của từng vùng sinh thái gắn với thị trường tiêu thụ,chương trình bảo quản chế biến sản phẩm đến hệ thống chính sách nhằm từng bướcchuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, đưa các sản phẩm rau quả và hoa cây
cảnh trở thành hàng hoá có giá trị kinh tế cao
Trong tình hình thị trường và giá cả nông sản không ổn định, Đảng và Nhànước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách kinh tế tài chính để hỗ trợ sản xuất nôngnghiệp và kinh tế nông thôn phát triển nhanh, vững chắc Đặc biệt là Nghị quyết
09/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ
sản phẩm nông nghiệp đã tạo cơ sở pháp lý để phát triển nông nghiệp hàng hoá vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ và cụ thể hơn Nghị quyếtđưa ra vấn đề cụ thể để phát triển cây ăn quả phát triển các loại cây ăn quả nhiệtđới, á nhiệt đới, ôn đới, khai thác có hiệu quả mọi lợi thế của các vùng sinh tháinước ta, đáp ứng nhu cầu đời sống nhân dân và xuất khẩu lớn trong tương lai Ngoàicác cây ăn quả thông dụng đáp ứng nhu cầu phổ biến của đời sống nhân dân, cầnphát triển một số cây ăn quả có khả năng cạnh tranh để xuất khẩu như vải, nhãn,dứa, thanh long
Đại hội IX của Đảng đã quyết định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế
-xã hội nước ta đến năm 2010, trong đó nông nghiệp nông thôn được quan tâm đặcbiệt: Đẩy nhanh CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nềnnông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái củatừng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động tạo việc làm thu hútnhiều lao động nông thôn Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất,xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Ngày 16/7/2003 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 15/2003 QH 11 về việcmiễn giảm thuế đất nông nghiệp Về đầu tư tín dụng, ngày 24/6/2002, Thủ tướngchính phủ đã ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khíchtiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng Quyết định trên đã giúp các doanhnghiệp nhất là các doanh nghiệp lớn của Nhà nước như Tổng công ty rau quả ViệtNam chủ động ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản với người sản xuất Doanh nghiệp
đã mua được sản phẩm với chất lượng tốt, nguồn cung cấp ổn định để tiêu thụ chế
Trang 40biến và xuất khẩu, tận dụng có hiệu quả công suất máy móc thiết bị Các hộ nôngdân tiêu thụ sản phẩm làm ra với giá cả hợp lý, thu nhập từng bước được cải thiện.
Nhằm khắc phục một số tồn tại trong công tác quy hoạch vùng nguyên liệu
và cơ sở chế biến, công tác đầu tư dàn trải thiếu trọng tâm, trọng điểm, nâng caokhả năng ứng dụng công nghệ mới và khả năng cạnh tranh sản phẩm chế biến đápứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu góp phần tiêu thụ sản phẩm chonông dân, Thủ tướng chính phủ đã có chỉ thị số 24/2003/CT-Tg ngày 8/10/2003 vềphát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản Theo đó các dự án phát triểnvùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến nông lâm, thuỷ sản sẽ được hưởng một
số ưu đãi về tài chính như được vay vốn với lãi suất ưu đãi từ nguồn vốn tín dụngđầu tư của nước ngoài
Bộ Nông nghiệp và PTNT đưa ra quyết định số 52/2007 QĐ – BNN - Phêduyệt quy hoạch phát triển rau quả và hoa cây cảnh đến năm 2010, tầm nhìn 2020.Tiếp tục chương trình phát triển rau, quả và hoa cây cảnh trên cơ sở khai thác lợithế về điều kiện khí hậu, sinh thái đa dạng (nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới) của cácvùng Kết hợp cải tạo vườn tạp, thâm canh vườn cây hiện có với trồng mới theohướng sản xuất chuyên canh, sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môitrường; Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và phục vụxuất khẩu Tập trung phát triển các loại cây ăn quả có lợi thế cạnh tranh, trong đó cómột số loại cây chủ lực phục vụ xuất khẩu như: chuối, dứa, nhãn, thanh long, xoài,cam, bưởi, vải, vú sữa…
Thủ tướng Chính phủ vừa có quyết định số 107/2008/QĐ - TTg về một sốchính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến tiêu thụ rau, quả, chè an toàn đếnnăm 2015 Đã quy định rõ mục tiêu, đối tượng, vấn đề tài chính, vấn đề đất đai như:Điều tra khảo sát vùng có đủ điều kiện phát triển sản xuất rau, quả…Đồng thời hỗtrợ kinh phí xây dựng các khu bảo quản, chế xuất cũng như xây dựng các chợ đầumối, bán buôn…
Như vậy, với các chính sách của Đảng và Nhà nước về miễn thuế sử dụngđất nông nghiệp, khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng,chính sách về hỗ trợ tài chính và ưu đãi thuế cho phát triển vùng nguyên liệu và