Các bạn sinh viên đang học ở trường cũng luôn khẳng định kỹ năng mềm rất quantrọng trong việc học tập cũng như trong cuộc sống và trong môi trường làm việc sau này.Hình thức đào tạo cùng
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
Đề tài: Sự cần thiết của kỹ năng mềm đối với sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Giáo viên hướng dẫn : Ths Nguyễn Hoàng Hiếu
Đinh Anh Hưng Nguyễn Việt Hà Hoàng Phương Thảo Phạm Trần Nhật Linh Nguyễn Tuấn Nghĩa Nguyễn Thành Đạt
Võ Nguyễn Lê Na Nguyễn Trung Kiên
HÀ NỘI, NĂM 2022
Trang 21.2 Khái ni m kỹỹ năng mêềm ệ 11
2 Đ c đi m và phấn lo i kyỹ năng mếềm ặ ể ạ 12
2.1 Đ c đi m ặ ể 12
2.2 Phân lo i ạ 13
3 M t sốấ vấấn đếề phát tri n kyỹ năng mếềm cho sinh viến ộ ể 15
4 Vai trò c a kyỹ năng mếềm ủ 16
4.1 Trong cu c sốống ộ 16
4.2 Trong mối tr ườ ng làm vi c ệ 17
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 3CHƯƠNG 3: SỰ CẦN THIẾT CHO VIỆC TRANG BỊ KỸ NĂNG MỀM DÀNH CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
1 T ng quan vếề vi c phát tri n kyỹ năng mếềm cho sinh viến hi n nay ổ ệ ể ệ 23
1.1 Trên thêố gi i ờ 23
1.2 Vi t Nam Ở ệ 25
2 Nh ng nhấn tốấ tác đ ng đếấn kyỹ năng mếềm c a sinh viến ữ ộ ủ 27
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 T ng quan vếề vi c phát tri n kyỹ năng mếềm cho sinh viến Tr ổ ệ ể ườ ng Đ i h c Kinh tếấ Quốấc dấn ạ ọ 35
2 Kếất qu đ nh l ả ị ượ ng 38
2.1 Phân tch thốống kê mố t ả 38
2.1.1 Mố t mâỹu ả 38
2.1.2 Sinh viên năm 39
2.1.3 Hi u biêốt vêề kỹỹ năng mêềm ể 40
2.1.4 Mong muốốn trau dốềi kỹỹ năng mêềm 41
2.1.5 Trang b nh ng kỹỹ năng ị ữ 42
2.2 Ki m đ nh h sốố tn c ỹ Cronbach’s Alpha ể ị ệ ậ 43
2.3 Phân tch nhân tốố khám phá EFA (Exploratorỹ FactorAnalỹsis) 46
2.4 Ki m đ nh mố hình nghiên c u băềng phân tch hốềi quỹ ể ị ứ 50
CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KẾẾT LU N Ậ 60
DANH M C TÀI LI U THAM KH O Ụ Ệ Ả 61
PH L C Ụ Ụ 62
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành bài nghiên cứu một cách hoàn chỉnh và tốt nhất, bên cạnh sự nỗ lực
cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy cũng như sự giúp đỡ củacác bạn trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn đến thầy Nguyễn Hoàng Hiếu – Giảng viên Khoa Kế hoạch vàPhát triển, đồng thời là giảng viên lớp Phương pháp nghiên cứu kinh tế - xã hội (122)_06
đã luôn hết lòng giúp đỡ, giải đáp thắc mắc và tạo điều kiện tốt nhất cho nhóm em hoànthành bài nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu xin cảm ơn tới các bạn sinh viên trong trường đã nhiệt tình giúp đãnhóm trong quá trình nghiên cứu đề tài
Nhóm đã rất cố gắng, nỗ lực để hoàn thành bài một cách tốt nhất nếu có thiếu sót mongnhận được sự thông cảm và hướng dẫn của thầy và các bạn
Nhóm sinh viên thực hiệnPhan Bảo NgọcNguyễn Việt HàĐinh Anh HưngHoàng Phương ThảoPhạm Trần Nhật LinhNguyễn Tuấn NghĩaNguyễn Thành ĐạtNguyễn Trung Kiên
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, con người cần hoàn thiện bản thân để đáp ứng yêu cầu ngày càng caotrong cuộc chạy đua công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức Để bắtkịp sự phát triển với những nước lớn mạnh, Việt Nam cần có một đội ngũ nhân lực đápứng được yêu cầu toàn diện, lực lượng chủ yếu là tuổi trẻ Bởi tuổi trẻ là lực lượng nòngcốt, là chủ nhân tương lai của đất nước Nhất là các bạn sinh viên nguồn lao động tri thứcgóp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, một số vấn đề đặt ra đối với ngườilao động Việt Nam đó là một bộ phận lớn thiếu và yếu kĩ năng mềm trong quá trình laođộng Kiến thức chuyên ngành mà sinh viên được trang bị trong quá trình học tập tạitrường đại học là điều kiện cần, tuy nhiên vẫn chưa phải là điều kiện đủ để làm hànhtrang cho sinh viên có thể bước ra giảng đường để tìm kiếm những công việc như mongmuốn với mức thu nhập phù hợp Chính vì thế, yêu cầu đặt ra đối với sinh viên là bêncạnh việc không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ, công nghệ thông tinthì còn phải quan tâm đến việc học tập và hoàn thiện các kỹ năng mềm của bản thân
Kỹ năng mềm là hành trang giúp con người thích nghi với sự biến hóa khôngngừng của xã hội Kỹ năng mềm có vai trò quan trọng trong công việc cũng như trongcuộc sống hằng ngày Những kỹ năng mềm như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản lý thờigian, kỹ năng làm việc nhóm…sẽ có ảnh hưởng đến sự “thành-bại” trong việc của mỗingười Theo Wikipedia, thực tế cho thấy người thành đạt chỉ có 25% là do kiến thứcchuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị.Một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Giaso dục cho thấy 83% sinh viên thiếu các kỹnăng mềm, đặc biệt là khả năng tập trung cho hành trang vào đời của mình Nhiều sinhviên ngay sau khi tốt nghiệp đã thừa nhận không được nhận vào làm vì thiếu kỹ năngmềm, cụ thể là kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lí thời gian, kỹ năng giao tiếp,…Điều này đã không còn gì lạ đối với sinh viên hiện nay
Các bạn sinh viên đang học ở trường cũng luôn khẳng định kỹ năng mềm rất quantrọng trong việc học tập cũng như trong cuộc sống và trong môi trường làm việc sau này.Hình thức đào tạo cùng môi trường học trong trường giúp các bạn sinh viên rất nhiềunhững kỹ năng cần thiết song phần lớn các bạn luôn nhận thấy bản thân còn thiếu và yếunhững kĩ năng mềm cần thiết Nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng mềm, việcđào tạo, phát triển và rèn luyện kĩ năng mềm cho sinh viên được nhà trường rất chú trọng.Tuy nhiên việc mở các lớp đào tạo kỹ năng hiện nay vẫn còn hạn chế, phần nhiều chỉtrên góc độ lý thuyết Do vậy các bạn chưa có định hướng đúng đắn cho việc phát triển vàhoàn thiện kỹ năng mềm
Trang 7Từ những lý do trên, dưới góc nhìn của người nghiên cứu, nhóm chúng tôi nhậnthấy việc nghiên cứu và tìm ra giải pháp nâng cao kỹ năng mềm cho sinh viên nói chung
và sinh viên Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân là rất cần thiết Vì vậy, chúng tôi chọn
đề tài “Sự cần thiết của kỹ năng mềm đến sinh viên Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân”
2 Tổng quan nghiên cứu
Có thể thấy vấn đề phát triển kỹ năng mềm là vấn đề tất cả các nước trên thế giớiquan tâm, không phân biệt nước phát triển hay đang phát triển Một số công trình nghiêncứu để phát triển kỹ năng mềm phải kể đến:
Năm 2022, tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia –BCA) và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerceand Industry – ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục Đào tạo và Khoa học (theDepartment of Education, Science and Training – DEST) đã xuất bản cuốn “Kỹ nănghành nghề tương lai” Cuốn sách cho thấy kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng bắtbuộc phải có Kỹ năng hành nghề là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm
mà còn tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vàđịnh hướng tổ chức
Ở Bồ Đào Nha, năm 2007, Artur Ferreira da Silva, Jose Tribolet, giảng viên trường
ĐH Kỹ thuật Lisbon đã trình bày tham luận Developing soft skills inengineering studies –The experience of students’s personnal portfolio tại hội nghị quốc tế về GD kỹ thuật.Trong bài viết, tác giả đã trình bày kinh nghiệm thực tế trong 15 năm (tập trung vào 6 họckì) đào tạo kỹ năng cho SV kỹ thuật thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp và cácbuổi thực hành trong chương trình mang tên “Personal Portfolio”
Việt Nam cũng đang trong quá trình nâng cao KNM cho sinh viên Không ít côngtrình nghiên cứu khoa học về việc đánh giá và khảo sát về thực trạng kỹ năng mềm củasinh viên Việt Nam:
Luận văn thạc sĩ Xã hội học “nhu cầu và thực trạng học tập kỹ năng mềm của sinhviên trường Đại học Khoa học, Đại học Huế hiện nay” của Nguyễn Tư Hậu Trong bàinghiên cứu, Hậu cũng tìm hiểu thực trạng học tập KNM của sinh viên, những hạn chế vàsau cùng đưa ra một số khuyến nghị của bản thân
Bài nghiên cứu khoa học “Tăng cường giáo dục, rèn luyện kỹ năng làm việc nhómcho sinh viên – yêu cầu cấp bách của đổi mới giáo dục” của Bùi Loan Thùy Tác giả đãnghiên cứu và chỉ ra thực trạng làm việc nhóm của sinh viên Việt Nam đồng thời nêu lợiích của việc rèn luyện từ đó đề xuất ra giải pháp cải thiện kỹ năng làm việc nhóm chosinh viên
Trang 8Tất cả công trình nghiên cứu trên đều hết sức quan trọng, đã cung cấp nhữngnguồn thông tin, tri thức có giá trị giúp nhóm nghiên cứu có điều kiện triển khai và hoànthành bài nghiên cứu của mình một cách hiệu quả nhất.
3 Mục tiêu nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
.1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kỹ năng mềm cho sinh viên
- Phân tích, đánh giá thực trạng kỹ năng mềm của sinh viên KTQD
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện KNM cho sinh viên KTQD
- Xác định câu hỏi, mô hình, giả thuyết nghiên cứu
- Xác định phương pháp nghiên cứu, thu thập và phân tích dữ liệu
- Trình bày kết quả nghiên cứu
.1.2 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: sinh viên trường KTQD
- Đối tượng nghiên cứu: sự cần thiết của kỹ năng mềm đến sinh viên
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Yếu tố “Nhận thức” có phải là yếu tố ảnh hưởng đến sự cần thiết của kỹ năng
mềm đến sinh viên Đại học Kinh Tế Quốc Dân không?
- Yếu tố “Thái độ” có phải là yếu tố ảnh hưởng đến sự cần thiết của kỹ năng
mềm đến sinh viên Đại học Kinh Tế Quốc Dân không?
- Yếu tố “Xu hướng xã hội” có phải là yếu tố ảnh hưởng đến sự cần thiết của kỹ
năng mềm đến sinh viên Đại học Kinh Tế Quốc Dân không?
Trang 9- Yếu tố “Môi trường giáo dục” có phải là yếu tố ảnh hưởng đến sự cần thiết của
kỹ năng mềm đến sinh viên Đại học Kinh Tế Quốc Dân không?
- Yếu tố “Nhu cầu việc làm” có phải là yếu tố ảnh hưởng đến sự cần thiết của kỹ
năng mềm đến sinh viên Đại học Kinh Tế Quốc Dân không?
- Biến độc lập là: “Thái độ”, “Nhận thức”, “Xu hướng xã hội”, “Môi trường
giáo dục”, “Nhu cầu việc làm”
7 Ý nghĩa nghiên cứu
Trang 10Cung cấp cái nhìn tổng thể về kĩ năng mềm và sự cần thiết cho sinh viên KTQD đểmỗi sinh viên tiếp nhận và thành công hơn trong việc tìm kiếm việc làm và vận dụng vàocuộc sống sau này Đưa ra giải pháp giúp sinh viên định hướng, phát triển và nâng cao kỹnăng mềm trong thời đại ngày càng phát triển
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN
1 Cơ sở lý thuyết
1.1 Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng là vấn đề phức tạp và được bàn luận rất nhiều Có rất nhiều khái niệm kỹnăng khác nhau từ chuyên gia, tác giả:
Theo Wikipedia định nghĩa kỹ năng là: “là khả năng của con người trong việc vận dụng kiến thức để thực hiện một nhiệm vụ nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, giải quyết vấn
đề tổ chức, quản lý và giao tiếp”
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động”
Xét theo góc độ tâm lí học thì theo L Đ.Leevitov nhà tâm lý học Liên Xô cho
rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến điều kiện nhất định”
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm kỹ năng chung nhất: “ Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức, hiểu biết của con người để thực hiện một việc gì đó,
có thể là việc nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, chuyên môn hoặc việc liên quan đến cảm xúc, sinh tồn giao tiếp,…”
1.2 Khái niệm kỹ năng mềm
Thế nào là những kỹ năng “mềm”?
Trang 11Kỹ năng mềm là những thuật ngữ dùng đề chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộcsống con người như: kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, lãnh đạo, làm việc nhóm, kỹ năngquản lý thời gian,…Kỹ năng mềm là hành vi ứng xử của mỗi con người, cách thức tươngtác với bạn bè, cách làm việc nhóm Bên cạnh tầm hiểu biết và chuyên môn, kỹ năngmềm cũng là nhân tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến quyết định tuyển dụng Kỹnăng này thể hiện cách sống, cách tích lũy kinh nghiệm từ cuộc sống và trong xã hội, đâyđược xem là “chìa khóa” dẫn đến thành công.
Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia thì kỹ năng mềm là một thuật ngữ liên quanđến trí tuệ cảm xúc dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người ví dụnhư: kỹ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, thưgiãn Kỹ năng mềm chủ yếu thuộc về tính cách con người, không mang tính chuyênmôn, không phải kỹ năng đặc biệt, không thể sờ nắn được
Kỹ năng mềm (Soft Skills) là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trongcuộc sống con người, sự kết hợp của các đặc điểm tính cách, hành vi và thái độ cho phépmọi người giao tiếp hiệu quả, hợp tác và kiểm soát thành công các xung đột Nhữngngười có kỹ năng mềm tốt thường có khả năng nhận thức tình huống và trí tuệ cảm xúcmạnh mẽ, giúp họ thích nghi với môi trường làm việc khó khăn được dễ dàng và tạo rakết quả tích cực
Một vài tác giả khác như E.A Leutenberg, J.J Liptak lại cho rằng kỹ năng mềm
là những kỹ năng không liên quan trực tiếp đến kiến thức chuyên môn của nghề nghiệpđang sở hữu mà nó thể hiện cái riêng về mặt cá tính của cá nhân trong công việc và trongmối quan hệ với người khác
Dưới góc độ xem xét là năng lực hành vi, tác giả Giusoppe Giusti cho rằng: Kỹnăng mềm là những biểu hiện cụ thể của năng lực hành vi, đặc biệt là những kỹ năng cánhân hay kỹ năng con người KNM thường gắn liền với những thể hiện của cá tính cánhân trong một tương tác cụ thể, đó là kỹ năng chuyên biệt rất “người” của con người(Giusoppe Giusti, 2008)
Với cách tiếp cận kỹ năng mềm như là một năng lực thuộc về trí tuệ cảm xúc,Michal Pollick cho rằng: Kỹ năng mềm đề cập đến một con người có biểu hiện của EQ(Emotion Intelligence Quotion) đó là những đặc điểm về tính cách, khả năng giao tiếp,ngôn ngữ, thói quen cá nhân, sự thân thiện, sự lạc quan trong mối quan hệ với người khác
và trong công việc (Michal Pollick, 2008)
Kỹ năng mềm được rèn luyện ở mọi lúc, mọi nơi không bị ràng buộc bởi nguyên tắchay chuẩn mực nào Mỗi người tự lựa chọn khái niệm, cách thức rèn luyện kỹ năng mềmcho riêng mình Những khái niệm khoa học, mang tính chuyên môn cao sẽ khó hiểu hơn.Tổng hợp từ những tài liệu thu thập được, từ những phân tích của chuyên gia đưa ra một
cách khái quát nhất về kỹ năng mềm: Kỹ năng mềm là những gì thuộc về tính cách của
Trang 12mỗi con người, là khả năng thích ứng với những vấn đề trong thực tế để đưa đến sự thành công.
2 Đặc điểm và phân loại kỹ năng mềm
2.1 Đặc điểm
Để xác lập định nghĩa về kỹ năng mềm là một việc làm hết sức khó khăn, vì vậyphân tích các đặc điểm của kỹ năng mềm càng không phải là vấn đề đơn giản Tuy nhiên,
có thể nhấn mạnh đến những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, kỹ năng mềm không phải yếu tố bẩm sinh
Kỹ năng mềm có được từ sự rèn rũa, từ những kinh nghiệm con người tích lũytrong cuộc sống tất cả đều phải trải qua sự nỗ lực, tập luyện và phát triển từng ngày
Thứ hai, kỹ năng mềm không phải chỉ là biểu hiện của trí tuệ cảm xúc.
Trí tuệ cảm xúc (EQ) là thước đo trí thông minh về cảm xúc của con người Nódùng để xác định trí tưởng tượng, sự sáng tạo của con người Ở một vài định nghĩa đã đềcập cũng như quan điểm của một số tác giả, kỹ năng mềm liên quan chặt đến khả năngtương tác với người khác, vì vậy họ mặc nhiên xem rằng đây là biểu hiện của chỉ số trítuệ cảm xúc Tuy nhiên, theo tác giả Trinh Đức Dương kỹ năng mềm không chỉ là sựtương tác giữa người với người mà còn là sự thích ứng hoàn cảnh Trong môi trường khácnhau sẽ có những yêu cầu khác nhau, vậy nên kỹ năng mềm sẽ giúp con người biến hóa
để thích ứng với hoàn cảnh đó
Thứ ba, kỹ năng mềm được hình thành bằng con đường trải nghiệm đích thực
Thực tế cho thấy, kỹ năng mềm khó có được hơn kỹ năng cứng Kiến thức chuyênmôn sẽ được truyền đạt dưới dạng lý thuyết dần sẽ tạo thành khối kiến thức Còn kỹ năngmềm liên quan mật thiết đến kinh nghiệm sống Vốn sống của mỗi người là khác nhau, vìvậy cách mà họ giải quyết vấn đề cũng khác nhau Thông qua trải nghiệm thực tế cuộcsống mà chúng ta tích luỹ riêng cho mình kỹ năng nhất định Đặc thù của môi trường làluôn biến đổi không ngừng, vậy nên để có thể tồn tại trong môi trường đó sinh viên cầnphải biến đổi một cách linh hoạt
Trang 13Thứ tư, kỹ năng mềm phát triển trên nền kỹ năng cứng
Kỹ năng mềm giúp bạn thể hiện kỹ năng cứng một cách tối ưu và hiệu quả nhất
Vì vậy sẽ không có kỹ năng mềm nếu bạn không có kiến thức và kỹ năng chuyên môn
Dễ dàng nhận ra rằng, để có thể có kỹ năng mềm tốt buộc bạn phải có kiến thức chuyênmôn vững Mỗi một lĩnh vực khác nhau lại đòi hỏi việc sử dụng các kỹ năng riêng Ví dụ:sale sẽ cần nhiều kỹ năng thuyết phục, công nhân kỹ sư cần nhiều hơn về làm việcnhóm… Vì vậy dựa trên đặc tính riêng có của từng ngày nghề, hãy rèn luyện kiến thứcchuyên môn thật vững Sau đó sử dụng và trau dồi liên tục kỹ năng mềm sao cho đạt hiệuquả tối ưu nhất
Thứ năm, kỹ năng mềm không thể “cố định” với những ngành nghề khác nhau.
Mỗi ngành nghề khác nhau sẽ có tính chất nghề nghiệp khác nhau Chính trongviệc xác định kỹ năng nghề thì những kỹ năng cơ bản và đặc trưng mang tính chuyênmôn - nghiệp vụ và những kỹ năng mềm cũng chưa được phân định rạch ròi Nhưng mộtthực tế không thể phủ nhận là ở mỗi một nghề nghiệp sẽ có những kỹ năng nghề nghiệp
cơ bản và những kỹ năng hỗ trợ nghề nghiệp theo hướng giúp chủ thể nghề nghiệp Vìthế, mỗi nghề nghiệp khác nhau không thể có những kỹ năng mềm giống nhau
2.2 Phân loại
Hiện nay, kỹ năng mềm là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng nguồnnhân lực Từ lâu, việc trang bị kỹ năng mềm cho sinh viên đã trở thành một trong nhữngmục tiêu hàng đầu của quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Kỹ năng mềmluôn được kết hợp với kỹ năng chuyên môn để phát huy tối đa hiệu quả công việc.Mỗi quốc gia đã đưa ra những kỹ năng mềm quan trọng nhằm đào tạo một thế hệ
có cả chuyên môn cao và kỹ năng mềm Theo Bộ lao động Mỹ (The US Department ofLabour) cùng với Hiệp hội Đào tạo và phát triển Mỹ (The American society of Trainingand Development) đã nghiên cứu và đưa ra 13 kỹ năng để thành công trong công việc vànhững kỹ năng mềm là trung tâm:
1 Kỹ năng học và tự học
2 Kỹ năng lắng nghe
3 Kỹ năng thuyết trình
4 Kỹ năng giải quyết vấn đề
5 Kỹ năng tư duy sáng tạo
6 Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn
7 Kỹ năng xác lập mục tiêu/ tạo động lực làm việc
Trang 148 Kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp
9 Kỹ năng giao tiếp và tạo lập quan hệ
10 Kỹ năng làm việc nhóm
11 Kỹ năng thương lượng
12 Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả
13 Kỹ năng lãnh đạo
Tài liệu “kỹ năng hành nghề cho tương lai” xuất bản năm 2002 tại Úc với sự thamgia của nhiều tổ chức chuyên môn Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức màngười sử dụng lao dụng yêu cầu bắt buộc phải có Kỹ năng hành nghề là kỹ năng cần để
có việc làm và phát huy tối đa năng lực của bản thân Các nhà nghiên cứu đã đưa ra kỹnăng hành nghề bao gồm có 8 kỹ năng sau:
1 Kỹ năng làm việc nhóm
2 Kỹ năng giải quyết vấn đề
3 Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm
4 Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc
5 Kỹ năng quản lý bản thân
6 Kỹ năng học tập
7 Kỹ năng về công nghệ
8 Kỹ năng làm việc đồng đội
Cục phát triển lao động WDA (Workforce Development Agency) tại Singapore cũng nghiên cứu và WDA đã thiết lập hệ thống các kỹ năng hành nghề được mang tên là ESS (Singapore Employability Skills System) Trong hệ thống kỹ năng ESS gồm 10 kỹ năng:
1 Kỹ năng công sở và tính toán
2 Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông tin
3 Kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định
4 Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm
5 Kỹ năng giao tiếp và quản lý quan hệ
6 Kỹ năng học tập suốt đời
7 Kỹ năng tư duy mở toàn cầu
8 Kỹ năng tự quản lý bản thân
9 Kỹ năng tổ chức công việc
10 Kỹ năng an toàn lao động và vệ sinh sức khỏe
Không chỉ các nước phát triển mà trong đó Việt Nam vẫn đang trên con đường tìmtòi đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng cao Nhìn thấy được tầm ảnh hưởng của kỹ năng mềm cho sinh viên đáp ứng xu thế toàn cầu như hiện nay, nhiệm vụ hàng đầu là định hướng chương trình để trang bị cho sinh viên Tuy nhiên dưới góc độ nhóm nghiên cứu
Trang 15và tổng hợp thực tế Việt Nam, nhận thấy rằng những kỹ năng sau là cơ bản và quan trọng cho công cuộc đổi mới hiện nay:
Nhóm thứ ba: Kỹ năng quản lí
1 Kỹ năng lãnh đạo bản thân
2 Kỹ năng tư duy sáng tạo
3 Một số vấn đề phát triển kĩ năng mềm cho sinh
viên
Nhiều năm gần đây, nhiều hội thảo kỹ năng mềm được tổ chức ở nhiều cấp khácnhau, một số trường Đại học đã đưa chương trình huấn luyện kỹ năng mềm cho sinh viênvào các học phần bắt buộc Tuy nhiên, nhiều kết quả chưa được ứng vào thực tế, việc tổchức đào tạo và học tập kỹ năng mềm nhiều nơi còn mang tính tự phát, chưa thống nhấtgiữa cơ sở đào tạo Bên cạnh việc đó nhiều cơ sở đào tạo vẫn chưa nhận thức đúng vai tròcủa việc trang bị kỹ năng mềm cho sinh viên, do đó không chỉ sinh viên mà nhà trường,
cơ quan quản lý giáo dục cũng cần thay đổi nhận thức về vai trò kỹ năng mềm trong đổimới cơ cấu chương trình
Vấn đề của số đông người trẻ hiện nay vẫn xem thuật ngữ “kỹ năng mềm” là thứ
gì đó cao siêu, ngại tiếp cận Thực tế, đó chỉ là những phản xạ cơ bản trong cuộc sốnghàng ngày Phần đông người Việt trẻ chỉ chăm gây ấn tượng với nhà tuyển dụng bằngnhững “kỹ năng cứng” Tuy quan trọng nhưng ngành giáo dục nước ta vẫn chưa chútrọng Hình thức giáo dục chúng ta dựa trên một giả định “biết người biết ta thì sẽ làmđược” Vì vậy họ chỉ dạy học sinh thật nhiều kiến thức nhưng thực tế khoảng cách từ biếtđến hiểu rất xa và từ hiểu đến thực hành là một khoảng cách xa nữa Điều này dẫn đếnmột thực trạng là sinh viên ra trường biết nhiều kiến thức nhưng lại không có khả nănglàm việc cụ thể
Trang 16Theo một nghiên cứu của Viện nghiên cứu Giáo dục Việt Nam, có đến 83% sinhviên tốt nghiệp ra trường bị đánh giá là thiếu kỹ năng mềm, 37% sinh viên ra trườngkhông tìm được việc làm do không đáp ứng được yêu cầu kỹ năng Điều đó lý giải tại saonhiều sinh viên đã sớm đi làm khi còn đi học để “cọ xát”, được tiếp cận nhiều hơn sẽ dễthành công hơn những sinh viên chỉ mải mê điểm số, chăm chú bài vở Khi trường họckhông có nội dung đào tạo kỹ năng mềm thì các giảng viên có thể dựa trên cách tiếp cậnngười học để khơi dậy sự vận động của sinh viên, tạo nên những phương pháp học linhđộng, áp dụng sát vào thực tế, để từ đó sinh viên dần hình thành và có phản xạ tốt Chính vì thế kỹ năng mềm được nhìn nhận là quá trình tích lũy Qúa trình hìnhthành đi từ việc học tập, trải nghiệm và cuối cùng là đúc rút kinh nghiệm cho bản thân.
Đó là một quy trình tuần tự và không thể nào đi ngược trở lại Nếu bạn không thườngxuyên tiếp xúc với mọi người, không giao tiếp và sự dụng kỹ năng được học thì tất cả sẽchỉ là lý thuyết
4 Vai trò của kỹ năng mềm
4.1 Trong cuộc sống
Giao tiếp xã hội giữa con người với con người đã góp phần tạo nên những truyềnthống, nghi thức, giá trị,…Tất cả cùng nhau tạo nên những nền tảng của xã hội loàingười Có thể nói giao tiếp xã hội là một trong những thuộc tính đặc biệt và duy nhất giúploài người khác biệt so với các sinh vật khác Đó là sự tương tác giữa con người với conngười với một cá nhân, tập thể, một cộng đồng Ngày nay khi công nghệ thông tin ngàycàng phát triển thì việc tạo sự kết nối càng mở rộng, do đó ngoài các kỹ năng giao tiếpcon người còn phải chuẩn bị cho mình nhiều những kỹ năng khác như: kỹ năng tư duy, kỹnăng làm việc nhóm, kỹ năng học và tự học,….Việc tiếp cận những môi trường khácnhau sẽ càng khiến bạn phải tích lũy, trau dồi cho bản thân mình nhiều loại kỹ năng cầnthiết từ đó bạn sẽ nâng cao được giá trị bản thân mình ngày một hoàn thiện hơn.Ông Steven Schwartz, phó hiệu trưởng trường đại học Macquarie, Úc cho rằng, sựhiểu biết không phải là một yếu tố mà con người được sinh ra cùng với nó, đó là yếu tố
mà các nhà giáo dục phải giúp sinh viên của họ trau dồi theo năm tháng Kiến thứcchuyên ngành mà các trường đại học cung cấp cho sinh viên trong quá trình học tập làyếu tố quyết định giúp các sinh viên có thể lập nghiệp trong tương lai Tuy nhiên câu hỏiđặt ra là những kiến thức chuyên ngành đó đã đủ để giúp sinh viên có thể vượt qua nhữngkhó khăn và thử thách trong một tương lai mà không ai có thể nói trước được điều gìtrong một thế giới đang thay đổi từng ngày Chính vì thế các trường đại học phải chuẩn bị
Trang 17cho sinh viên của mình những hành trang, kỹ năng mềm ngoài những kiến thức chuyênngành, và một trong những hành trang đó chính là sự hiểu biết
4.2 Trong môi trường làm việc
Kỹ năng mềm đóng vai trò là bước đệm quan trọng giúp mỗi cá nhân làm việc có hiệu quả và nhanh chóng Người có được kỹ năng mềm là điều kiện thuận lợi, có những
cơ hội để phát triển năng lực chuyên môn, hòa nhập dễ hơn vào môi trường
Trong nghiên cứu về "Vai trò của giáo dục đối với sự hình thành các KNM" các tác giả Greenberg A.D và Nilssen A.H đã đưa ra kết luận: Các nhà trường phải trang bị tốt hơn cho người học những kiến thức và KNM cần thiết để họ có thể sẵn sàng làm việc saukhi ra trường Vì vậy, các chương trình phát triển KMN trong giáo dục nghề nghiệp cần tích hợp vào các chương trình dạy KN nghề nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu kép đó là tăng cường cho người học cơ hội học tập, chuẩn bị bước vào thế giới công việc bằng việctạo cho họ đầu vào là những KN nghề nghiệp được đào tạo; đồng thời tăng tính hiệu quả
và sự phù hợp của người học với các KN nghề được đào tạo
Các bạn sinh viên và du học sinh, những người sẽ là lực lượng lao động chính trong tương lai phải ý thưc được rằng họ sẽ làm việc trong một môi trường toàn cầu hóa
và liên tục phát triển, đổi mới công nghệ Lực lương lao động sẽ phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của các hệ thống kinh tế và công nghệ mới Những đổi mới sẽ đòi hỏi các bạn sinh viên kết hợp được những kiến thức đã học và kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, đưa
ra quyết định… cộng với sự linh hoạt và khả năng thích ứng khi thay đổi công việc, môi trường hay trong các bối cảnh khác nhau Những sự hiểu biết và kỹ năng này rất cần thiếtđược giới thiệu đến các sinh viên từ khi họ đang còn ngồi trong ghế nhà trường hơn là sau khi họ tốt nghiệp
Rất nhiều sinh viên ra trường với tấm bằng rất tốt nhưng không thể đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng vì thiếu kỹ năng mềm Khoảng 70% sinh viên ra trường khó xin việc vì không có kinh nghiệm và thiếu các kỹ năng mềm cần thiết, để có được việc làm phải có trình độ chuyên môn và thành thạo kỹ năng mềm bởi các nhà tuyển dụng hiện nay không chỉ yêu cầu ngoài trình độ mà kỹ năng mềm là một yếu tố quyết định không thể thiếu
Kỹ năng mềm đang ngày càng quan trọng, chỉ thuần túy đào tạo về chuyên môn thôi là chưa đủ nếu không được phát triển các kỹ năng mềm Những kỹ năng con người này đang trở nên thiết yếu hơn bao giờ hết với các tổ chức trong bối cảnh phải tìm ra cách
có ý nghĩa để duy trì sức cạnh tranh và năng suất lao động Mỗi kỹ năng mềm đều thiết
Trang 18yếu đối với sự phát triển cá nhân cũng như thành công của tổ chức, phát triển chúng đóngmột vai trò quan trọng và thực sự rất cần thiết đối với mỗi người.
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Tiếp cận nghiên cứu:
Nghiên cứu định lượng: thực hiện thông qua phương pháp phát bảng câu hỏi đến cácđối tượng sinh viên trường đại học Kinh Tế Quốc Dân, để kiểm định thang đo và mô hìnhnghiên cứu tiến hành theo phương pháp định lượng Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến
sự cần thiết của kỹ năng mềm đến sinh viên KTQD với thang đo đo lường cảm nhận củađối tượng quan sát đối với từng yếu tố tác động đến sự cần thiết của kỹ năng mềm
Từ cơ sở dữ liệu thu thập được tiến hành phân tích mẫu nghiên cứu, kiểm định thang
đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phương pháp phân tích nhân tố EFA thôngqua phần mềm SPSS 22.0 được tổng số 288 phiếu khảo sát hợp lệ Sau đó tiến hành kiểmđịnh mô hình bằng phương pháp hồi quy đa biến với mức ý nghĩa Sig < 5%, xác định cácnhân tố ảnh hưởng
12345
Hoàn toàn không đồng ý Không đồng ý Trung lập Đồng ý Hoàn toàn đồng ý
Câu hỏi 1 Hiện bạn đang là sinh viên năm mấy?
Câu hỏi 2 Bạn có biết kĩ năng mềm là gì không?
Đối với 1 sinh viên, việc trau dồi kĩ năng mềm có quan trọngkhông?
Bạn có mong muốn trau dồi kĩ năng mềm cho bản thân?
Bản thân bạn đã trang bị cho mình kĩ năng cơ bản nào?
Thang đo thái
độ - Bạn là người chủ động để trau dồi, phát triển kĩ năngmềm cho bản thân
Trang 19- Kĩ năng mềm chỉ tốt đối với việc có tính linh động cao?
- Luôn học hỏi từ cuộc sống, cách ứng xử, hành động mọi
người xung quanh để trau dồi kỹ năng
- Thái độ tốt chưa hẳn đã tiếp nhận tốt được kỹ năng
- Sẽ chỉ trau dồi, tích lũy kĩ năng mềm khi cần thiết?
Thang đo nhận
thức - Kĩ năng mềm có thực sự cần thiết trong cuộc sống - Kỹ năng mềm sẽ hiệu quả với người chủ động, tiếp nhận
- Kĩ năng mềm giúp chúng ta thích nghi với môi trường
mới nhanh hơn
- Nên trang bị kỹ năng mềm ngay từ năm nhất đại học
- Kĩ năng mềm chỉ là yếu tố phụ tác động lên kĩ năng cứng
Thang đo xu
hướng xã hội - Sinh viên đang mải tích lũy, chú trọng điểm số thành tích? - Sinh viên nên “chạy đua” theo học những lớp kĩ năng
mềm?
- Ngày nay, các công việc thường sẽ yêu cầu làm việc
nhóm, thuyết trình thì kĩ năng mềm là một trang bị khôngthể thiếu
- Sự quan trọng của kiến thức lớp bổ trợ ảnh hưởng đến
quyết định theo học của bạnThang đo nhu
cầu việc làm - Các nhà tuyển dụng đang ngày càng đòi hỏi ứng viên cókỹ năng mềm tốt
- Kỹ năng mềm giúp bạn có nhiều cơ hội kiếm việc làm
- Kỹ năng mềm giúp bạn dễ thăng tiến trong công việc
- Kỹ năng mềm sẽ giúp bạn xác định được mục tiêu
- Khi đi làm, kỹ năng chuyên môn quan trọng hơn kỹ năng
mềmThang đo môi
- Theo bạn, phương pháp dạy học của trường KTQD đã
hướng tới việc hoàn thiện kĩ năng cho sinh viên?
- Sinh viên nên tham gia vào các chương trình, hoạt động
ngoại khóa, clb, tổ độiThang đo sự cần
thiết - Kỹ năng mềm giúp bạn nâng cao giá trị của bản thân - Kỹ năng mềm góp phần trong việc xây dựng, kết nối các
mối quan hệ
- Kỹ năng mềm là công cụ giúp bạn phát huy kĩ năng cứng
- Kỹ năng mềm là một thang điểm quan trọng để đánh giá
bạn trong mắt nhà tuyển dụng
2 Phương pháp chọn mẫu, thu thập thông tin, dữ liệu
Trang 202.1 Phương pháp chọn mẫu
- Mô tả mẫu: Sinh viên có nhu cầu đăng ký khóa học bổ trợ chuyên ngành
- Phương pháp chọn mẫu: Kích thước mẫu là một vấn đề được các nhànghiên cứu quam tâm rất nhiều vì nó liên quan trực tiếp đến độ tin cậy củacác tham số thống kê, mỗi phương pháp phân tích thống kê đòi hỏi kíchthước mẫu khác nhau
Hiện nay để xác định kích thước mẫu người ta thường dựa vào các côngthức kinh nghiệm ( Nguyễn Đình Thọ, 2011) Theo Hair & , Anderson,Tatham và Black (1998) thì quy luật tổng quát cho cỡ mẫu tối thiểu trongphân tích nhân tố khám phá EFA là gấp 5 lần số biến quan sát và số lượngmẫu phù hợp cho phân tích hồi quy đa biến cũng là gấp 5 lần số biến quansát Mô hình nghiên cứu này có biến quan sát như vậy kích thước mẫu tốithiểu sẽ là: 29*5= 145 mẫu cần khảo sát
Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng số lượng mẫu tối thiểu là 10 nhân (x) sốbiến Tùy vào phương pháp xử lý mà kích thước mẫu cần thiết là khácnhau Nguyễn ĐìnhThọ (2011) cho rằng “kích thước mẫu được xác địnhdựa vào kinh nghiệm, tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỷ lệ quan sát/biến đo lường tối thiểu là 5:1” Kích thước mẫu trong nghiên cứu này là n =
288, đạt
tiêu chuẩn cho mô hình nghiên cứu Phương pháp lấy mẫu thuận tiện được
sử dụng để thu thập dữ liệu
2.2 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu
Nghiên cứu này vận dụng kết hợp hai nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp Đểbiếtđược mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định lựa chọn khóa học bổtrợchuyên ngành của sinh viên, chúng tôi thu thập và phân tích dữ liệu như sau:
- Đối với dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông tin thông qua bảng câu hỏi khảosátgoogle form đối với sinh viên ĐHTM có và đang tham gia khóa học bổtrợ chuyên ngành
- Đối với dữ liệu thứ cấp: Thông qua các giáo trình, luận án, internet,Websitetrường đại học KTQD, các công trình nghiên cứu và luận văn tương tự, cóliên quan Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được nhập và làm sạch, xử lý quaphần mềm SPSS Các bước sử dụng để phân tích dữ liệu trong nghiên cứu:
Bước 1: Lập bảng tần số thống kê để mô tả mẫu
Bước 2: Đánh giá độ tin cậy thang đo
Phương pháp này cho phép người phân tích loại bỏ các biến không phù hợp (biếnrác) và hạn chế các biến rải rác trong quá trình nghiên cứu, đánh giá độ tin cậy của thang
đo bằng hệ số thông qua hệ số Cronbach’s Alpha Những biến có hệ số tươngquan biến
Trang 21-tổng nhỏ hơn 0,5 sẽ bị loại Thang đo được chấp nhận khi hệ số tin cậy Cronbach’s Alphađạt yêu cầu > 0,6 (Nguyễn Đình Thọ, 2011) Thông thường thang đo có Cronbach’sAlpha từ 0,7 đến 0,8 là sử dụng được Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khi thang đonghiên cứu có độ tin cậy từ 0,8 trở lên đến gần 1 là thang đo tốt nhất
Bước 3: Phân tích nhân tố khám phá EFA
Sau khi đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha và loại đicác biến không đảm bảo độ tin cậy, những biến còn lại được tiếp tục sử dụng tiến hànhphân tích nhân tố Phân tích nhân tố là một phương pháp thống kê được sử dụng để phântích mối liên hệ tác động qua lại giữa một số lượng lớn các biến và giải thích các biến nàydướidạng các nhân tố ẩn
Phân tích nhân tố khám phá là kỹ thuật được sử dụng nhằm thu nhỏ và tóm tắt các dữliệu Trong nghiên cứu này có nhiều biến để nghiên cứu, hầu hết chúng có tương quan vớinhau và cần được rút gọn để có thể dễ dàng quản lý
Tiêu chuẩn để lựa chọn là Hệ số tải nhân tố (factor loading) ≥ 0,5; Thang đo đạt yêu cầukhi tổng phương sai trích (Cumulative %) ≥ 50% Để thực hiện EFA cần kiểm tra hệ sốKMO (Kaiser-Meyer-Olkin) ≥ 0,5 và Eigenvalue ≥ 1, đồng thời thực hiệnphép xoay bằngphương pháp trích Principal component, phép quay Varimax vớinhững trường hợp cầnxoay (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005)
Bước 4: Phân tích hồi quy bội
Mô hình hồi quy bội biểu diễn mối quan hệ giữa hai hay nhiều biến độc lậpđịnhlượng với biến phụ thuộc định lượng ( Nguyễn Đình Thọ, 2012) Các biến độc lậpđịnhlượng trong bài làm của chúng tôi được trích xuất từ phép xoay Varimax và kiểmđịnh EFA
Theo Nguyễn Đình Thọ (2012), để ước lượng các trọng số hồi quy βi (i= 1 5) trong môhình hồi quy bội ta dùng phương pháp bình phương bé nhất Một thước đo cho sự phùhợp của mô hình tuyến tính thường dùng là hệ số xác định R2 Theo Hoàng Trọng và ChuNguyễn Mộng Ngọc (2008), hệ số xác định R2 càng gần 1 thì mô hìnhxây dựng càngthích hợp, gần 0 thì mô hình càng kém thích hợp Hệ số xác định R2này đã được chứngminh là hàm không giảm theo các biến độc lập đưa vào mô hình,càng đưa thêm biến độclập vào mô hình thì R2 càng tăng, tuy nhiên điều này cũngđược chứng minh rằng khôngphải phương trình càng có nhiều biến phụ thuộc sẽ càngphù hợp hơn với dữ liệu Nhưvậy, R2 có khuynh hướng là một ước lượng lạc quan của thước đo sự phù hợp của môhình Trong tình huống R2 hiệu chỉnh từ R2 được sử dụngđể phản ánh sát hơn mức độphù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính đa biến R2 hiệuchỉnh không nhất thiết tăng lênkhi nhiều biến được đưa thêm vào phương trình Như vậy, dùng R2 hiệu chỉnh để đánhgiá phù hợp của mô hình sẽ an toàn hơn vì nó khôngthổi phồng mức độ phù hợp của môhình
Trang 22Quy trình thu thập thông tin vẽ bằng sơ đồ:
Trang 233 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
- Theo phương pháp nghiên cứu định lượng: Dữ liệu từ việc khảo sát đượcđưa vào phần mềm.Sử dụng Google Form, Exel khảo sát qua bảng câu hỏi kết hợp chạyphầm mềm SPSS để đưa ra kết quả cuối cùng
4 Xây dựng bảng hỏi và đánh giá sơ bộ các thang
đo
Bảng hỏi sau khi tham khảo ý kiến của cán bộ hướng dẫn, loại bỏ những mục hỏichưa rõ ràng, mục hỏi xấu, sau đó hiệu chỉnh lần cuối trước khi tiến hành nghiên cứuchính thức bằng việc sử dụng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tíchnhân tố khám phá EFA để điều chỉnh các thang đo Nếu các biến có hệ số tương quangiữa các biến - tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0,5 trong phân tích Cronbach’sAlpha thì sẽ bị loại bỏ và chỉ lấy nếu kiểm tra hệ số Cronbach alpha tổng lớn hơn 0.6, hệ
số tương quan biến – tổng lớn hơn 0,5 Một thang đo có độ tin cậy tốt khi nó biến thiêntrong khoảng 0,7 – 0,8 Nếu Cronbach’s Alpha ≥ 0,5 là thang đo có thể chấp nhận đượcđược về mặt độ tin cậy (Nunnally & Bernstein, 1994 “Nguyễn Đình Thọ, 2011”) Kế tiếpcác biến quan sát có trọng số (hay hệ số tải nhân tố, Factorloading) dưới 0,5 trong EFA sẽtiếp tục bị loại bỏ và kiểm tra tổng phương sai trích (≥50%) Cuối cùng các biến còn lại
sẽ được đưa vào bảng câu hỏi dùng cho nghiên cứu định lượng chính thức
CHƯƠNG 3: SỰ CẦN THIẾT CHO VIỆC TRANG
BỊ KỸ NĂNG MỀM DÀNH CHO SINH VIÊN KINH
TẾ QUỐC DÂN
Trang 241 Tổng quan về việc phát triển kỹ năng mềm cho
sinh viên hiện nay
1.1 Trên thế giới:
Trên thế giới, các quốc gia phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu A luôn đặt mụctiêu rèn luyện kỹ năng cho sinh viên và công dân lên hàng đầu bởi nền kinh tế ngày nayđang cần rất nhiều nguồn lao động có kỹ năng cao Các nhà nghiên cứu khoa học trên thếgiới cũng chỉ ra rằng: Để thành đạt trong cuộc sống thì kỹ năng mềm (trí tuệ cảm xúc)chiếm đến 85%, kỹ năng cứng (trí tuệ logic) chỉ chiếm 15%
Một ví dụ thực tế như là các trường đại học nổi tiếng như : Harvard, Stanford, cũng không bao giờ rộng cửa nếu sinh viên nộp hồ sơ mà không có thành tích hoạt động
xã hội.
Chúng ta có thể bắt gặp những bài báo hay những trang mạng xã hội cho thấyrằng: Sinh viên đại học của các trường đại học ở Mỹ luôn tích cực và chủ động trong cáchoạt động ngoại khóa hay các hoạt động xã hội của nhà trường mặc dù là bắt buộc hay tựnguyện gồm nhiều hình thức khác nhau: đơn giản có thể là đến giúp sắp xếp giấy tờ trongmột văn phòng ở trường, hay tham gia tổ chức sự kiện, hướng dẫn khách mời tham quantrường, tổ chức biểu diễn văn nghệ chào đón, Các hoạt động này được sinh viên cácnước tổ chức rất chuyên nghiệp và sáng tạo
Ở Mỹ, người ta luôn coi kim chỉ nam của mọi thành công đó là sự sáng tạo , sinhviên luôn phải tự tìm cách nghiên cứu hay tự giải quyết các vấn đề mà học tập đặt ra Ví
dụ như kỳ thi tuyển đặc biệt vào Trường Đại học Oxford (Mỹ), giáo sư chỉ cầm một tờbáo đọc sau khi đã yêu cầu cậu thí sinh làm điều gì khiến ông bất ngờ nhất, điều đó để đođược chỉ số IQ của anh ta Sau vài giây suy nghĩ, anh châm lửa đốt tờ báo và ung dungbước vào trường đại học danh tiếng nhất nước Mỹ Đây cũng là ví dụ tiêu biểu nhất choviệc đề cao năng lực tư duy sáng tạo của sinh viên Mỹ, nói lên sự thông minh, can đảm
để đạt đến thành công trong cuộc sống
Ngược lại với Mỹ, phương pháp tạo dựng năng lực tư duy sáng tạo cho sinh viên
ở Nhật lại khác, sinh viên chỉ sáng tạo sau khi tư duy đã đạt đến mức độ chín muồi.Nghĩa là sinh viên Nhật phải tích lũy một khối lượng kiến thức đầy đủ trước khi có nhữngsáng tạo Tuy nhiên trên thực tế, khi sinh viên Nhật sáng tạo theo kiểu của sinh viên Mỹ,năng lực tư duy sáng tạo của họ sẽ bị hạn chế và buộc phải tuân theo nguyên tắc vốn làtruyền thống của đất nước mặt trời mọc
Những đặc trưng của sinh viên các nước phát triển
Những đặc trưng trên nền giáo dục ở các nước phát triển đã tạo cho sinh viên tínhchủ động, sáng tạo và ý thức độc lập, tự giác cao:
Chủ động, sáng tạo:
Trang 25Trong quá trình trao đổi học tập trên lớp, sinh viên đi học không chỉ đơn thuần làchỉ đến nghe giảng và đồng tình 100%, các giảng viên luôn muốn nghe những đóng góp,phản biện lại từ phía sinh viên Chính từ những sáng tạo phản biện của sinh viên có thểkhiến cho bài giảng của giảng viên trở nên hấp dẫn và hoàn thiện hơn Một buổi học thú
vị và thành công dựa trên sự hình thành của cả 2 phía thầy và trò cùng tham gia đóng gópthảo luận về một đề tài người hướng dẫn đưa ra
Độc lập:
Mức độ cá nhân hoá của nền giáo dục ở các nước phát triển rất cao Mỗi sinhviên là một cá thể độc lập, không ai giống ai, độc lập trong cả suy nghĩ lẫn hành động.Sau khi được giao một đề tài nghiên cứu, sinh viên sẽ chủ động tìm tòi, sáng tạo chỉ vớimột chút hướng dẫn của thầy Giảng viên thường mong chờ một sinh viên độc lập làmviệc và đánh giá cao những tìm tòi vượt ra ngoài phạm vi bài giảng trên lớp
Tự giác:
Thông thường trong một lớp đại học có gần 100 sinh viên học tại một giảngđường lớn Giảng viên ít khi điểm danh hay kiểm tra sĩ số Sinh viên phải tự chịu tráchnhiệm với việc học của mình, tự giác đi học đầy đủ, làm bài kiểm tra, bài tập về nhà Hậuquả của việc nếu không đi học thì sẽ không có kiến thức để có thể đạt điểm cao không bịtrượt môn và sẽ phải học lại, đây là điều tối kỵ cho sự nghiệp tương lai sau này Sinh viên
tự giác vì họ biết rằng không học chỉ ‘’thiệt’’ cho mình Một khía cạnh khác của việc tựgiác đó là tính trung thực trong học tập Chúng ta hiếm khi bắt gặp những sinh viên giandối trong các bài kiểm tra, sao chép tài liệu, làm hộ bài, trích dẫn của người khác màkhông ghi nguồn trích dẫn, vì những hành động này bị phạt rất nghiêm khắc và nặng nề(có thể bị đuổi học) và liên quan đến vấn đề danh dự của mỗi sinh viên
1.2 Ở Việt Nam:
Việt Nam đã và đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tích cực và sẵn sàngcho cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, điều đó đã tạo ra sự thay đổi nhanh chóng vàkhông ngừng trên tất cả mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, mọi sự thànhcông đều phải xuất phát từ yếu tố con người, điều đó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đápứng được yêu cầu trong thời đại mới Học sinh, sinh viên Việt Nam vốn rất nổi tiếng ởtinh thần tự chủ trong học tập Chúng ta luôn đạt được những giải thưởng cao trên chiếntrường trí tuệ (toán, cờ vua, vật lý, ) Nhưng năng lực của nguồn lao động Việt Nam thìlại không được đánh giá cao bởi những hạn chế từ kỹ năng nghề nghiệp Phần lớn sinh
Trang 26viên ra trường đều thiếu đi kỹ năng mềm, thường khi ngồi trên ghế nhà trường, các bạnchỉ tập trung vào việc học, điểm số và thi đua thành tích học tập
Ngành giáo dục ở nước ta chưa thực sự chú trọng đặc biệt, họ đang cố dạy chohọc sinh, sinh viên thật nhiều kiến thức để có thể làm được khi ra trường nhưng thực tếlại cho thấy ngược lại: từ ‘’biết’’ đến ‘’hiểu’’ đó là một khoảng cách rất xa và từ ‘’hiểu’’đến làm việc một cách chuyên nghiệp với năng suất cao còn là một khoảng cách xa hơnnữa Chính điều này cũng dẫn đến việc sau khi ra trường sinh viên có nhiều kiến thứcnhưng lại không có khả năng làm việc cụ thể
Để thực hiện sứ mệnh ngày càng nâng cao chất lượng nguồn lao động, Giáo đào tạo đóng vai trò quan trọng hàng đầu Trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay,ngành giáo dục nói chung và các trường đại học nói riêng đang tiến hành đổi mới về nộidung, chương trình, phương pháp giáo dục theo định hướng phát triển năng lực cho họcsinh, sinh viên, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội Mấy nămtrở lại đây, Bộ Giáo dục cũng đã và đang bổ sung thêm vào hệ thống chương trình giáodục về ‘’kỹ năng sống’’ vào các chương trình ở bậc tiểu học, ‘’giáo dục công dân’ dànhcho THCS và THPT
dục-Hầu hết người trẻ ngày nảy vẫn coi việc phát triển ‘’kỹ năng mềm’’ là một trongnhững thứ gì đó rất khó khăn và ngại tiếp cận nhưng thực tế đó chỉ là những phản xạ cơbản trong cuộc sống hằng ngày Thực tế hiện nay cho thấy, mặc dù có rất nhiều đơn vị cónhu cầu tuyển dụng lao động, kể cả các doanh nghiệp nước ngoài, nhưng sinh viên tốtnghiệp ra trường lại đang gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm; các doanh nghiệp, cácđơn vị có nhu cầu tuyển dụng lao động đều có chung nhận xét nguồn cung về nhân lựclao động chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu nhiều kỹ năng quan trọng để có thể đáp ứngđược yêu cầu của công việc Thực tế, những sinh viên mới ra trường chỉ tập trung gây ấntượng với nhà tuyển dụng bằng những kỹ năng cứng - nghĩa là những thứ thường xuấthiện trên hồ sơ, lý lịch, bằng cấp, khả năng chuyên môn và kinh nghiệm làm việc Do vậyphát triển kỹ năng mềm cho sinh viên trong nhà trường là một yêu cầu khách quan nhằmnâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động
Những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xu hướng ngày mộtgia tăng, nhất là những vụ giết người, cố ý gây thương tích mà nạn nhân có thể là bạn học
và thầy cô giáo Ngoài ra, tình trạng hút thuốc lá, uống rượu bia, ma tuý, đến mức là tựsát khi gặp vướng mắc trong cuộc sống Các em sẵn sàng đánh nhau, chửi bậy, sa đà vào
tệ nạn xã hội thậm chí là liều lĩnh kết thúc cuộc sống của mình Có nhiều nguyên nhânkhác nhau được đưa ra từ các nhà nghiên cứu nhưng chủ yếu nguyên nhân chính đó là các
em thiếu đi kỹ năng sống Các em không được học cách đối nhân xử thế, đương đầu vớinhững tình huống khó khăn trong cuộc sống, hay là cách tôn trọng cuộc sống và giá trịcuộc sống mà mình đang có Thực tế, việc giáo dục toàn diện cho học sinh trong đó có kỹnăng sống ở nước ta còn rất hạn chế
Theo một nghiên cứu mới đây của Viện nghiên cứu Giáo dục Việt Nam, có đến83% sinh viên tốt nghiệp ra trường bị đánh giá là thiếu kỹ năng mềm, 37% sinh viên ratrường không tìm được việc làm do không đáp ứng nhu cầu về kỹ năng mềm Điều đó lýgiải tại sao rất nhiều sinh viên sớm bươn chải đi làm thêm khi còn đi học đã thành cônghơn những người ‘’mọt sách’’ Đã có rất nhiều bạn sinh viên chỉ biết chăm chú vào bài
Trang 27vở, đạt điểm rất cao khi ở trên lớp nhưng lại không xin được việc làm hoặc chỉ là nhânviên bình thường.
2 Những nhân tố tác động đến kỹ năng mềm của
sinh viên
Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển, việc trang bị năng lực làm việc của conngười được đánh giá không chỉ trên kiến thức mà nó còn phải kết hợp cả kỹ năng mềm vàthái độ trong khi làm việc, khi giao tiếp với mọi người Theo nhận định của các chuyên
gia: “Có thể nói 90% sinh viên sau khi ra trường hầu như không có kỹ năng mềm Bằng cấp là quan trọng nhưng năng lực thật sự và kinh nghiệm của các bạn mới là yếu tố quyết định” Thật vậy, trên thực tế sinh viên tham gia phỏng vấn tuyển dụng thường chỉ
gây ấn tượng với nhà tuyển dụng bằng bằng cấp, khả năng chuyên môn, kinh nghiệm làmviệc Thế nhưng, chúng ta nên biết rằng năng lực của con người được đánh giá trên cả 3khía cạnh: kiến thức, kỹ năng và thái độ Điều đó khẳng định rằng học không chỉ để biết
mà học còn để làm việc, để chung sống và để tự khẳng định mình Những năm gần đây,các phương tiện thông tin đại chúng nhắc nhiều đến cụm từ “kỹ năng”, “kỹ năng mềm”
và “kỹ năng cứng”
Trang 28Các nhân tố ảnh hưởng đến việc rèn luyện kỹ năng mềm của sinh viên hiện naybao gồm: Nhận thức, thái độ và ý thức, xu hướng xã hội, nhu cầu việc làm, môi trườnggiáo dục,
a) Nhận thức của sinh viên về sự cần thiết của kỹ năng mềm
Khi nhắc đến cụm từ ‘’Kỹ năng mềm’’, nhiều bạn trẻ còn khá xa lạ bởi hiện nay,sinh viên các trường Đại học nói chung chưa nhận thức được rõ về sự cần thiết của kỹnăng mềm trong quá trình sống, học tập cho đến khi ra trường và xin việc Nhận thức vàtri thức của sinh viên về hoạt động rèn luyện kỹ năng mềm là cơ sở hình thành, phát triển
kỹ năng mềm
Ngày nay, hầu hết các sinh viên đều có nhận thức sai về kỹ năng mềm, họ cònnhiều nhầm lẫn về chuẩn giá trị đầu ra của sinh viên khi tốt nghiệp Từ đó, họ bỏ nhiềucông sức để chạy theo thành tích học tập, qua những con số trên giấy tờ và sưu tập càngnhiều chứng chỉ càng tốt nhưng phần lớn đều không tham gia vào các hoạt động xã hộichung ở trường, đoàn thể cũng như câu lạc bộ Chính vì nhận thức sau nên dẫn đến suynghĩ rằng việc có kỹ năng mềm hay không không quan trọng và những sinh viên đó đã bỏ
lỡ những cơ hội đáng lẽ ra sẽ thuộc về họ nếu họ có những kỹ năng mềm cần thiết Vì vậykhi ra trường tìm việc, nhiều người có cho mình những bằng cấp giỏi, những điểm số caocũng không nhận ra được lý do tại sao mình bị đánh trượt tuyển dụng
Sinh viên trước hết phải xác định rõ công việc mình muốn làm sau khi ra trường,sau đó phân tích xem đối với công việc đó, đâu là kỹ năng “cứng”, đâu là kỹ năng
“mềm” Việc xác định rõ “mềm”, “cứng” và nhận ra điểm mạnh, điểm yếu, những mặtthiếu hụt của bản thân là yêu cầu đầu tiên và rất quan trọng để trau dồi kỹ năng “mềm”
Có rất nhiều sinh viên, tìm kiếm cho mình cơ hội để học cách trau dồi kỹ năng mềm chobản thân mình Nhưng phần nhiều các bạn sinh viên chưa biết đến kỹ năng mềm cũngnhư chưa nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của kỹ năng mềm trong cuộc sống ngàynay, nên chỉ nghĩ rằng học thật giỏi là đủ và chắc chắn sẽ có một tấm vé khi vào đời, quanđiểm này không sai nhưng chưa đủ
Bạn có thành tích học tập giỏi được mọi người công nhận Nhưng không chắcchắn bạn có thể thích ứng với công việc hay sự thay đổi về “môi trường” làm việc Bạn
có một hồ sơ học tập rất tốt, mọi người nhìn vào ngưỡng mộ Tuy nhiên, điều này khôngđồng nghĩa bạn đã có được cảm tình với nhà tuyển dụng, đó là bạn đã thiếu một yếu tốquan trọng đó là kỹ năng mềm Bạn học không xuất sắc, nhưng bạn luôn mạnh dạn, tự tintrong mọi tình huống, vấn đề và tạo ra kết quả làm việc hiệu quả, đó là bạn đã có kỹ năngmềm
Đối với các bạn sinh viên năng động hiện nay, suy nghĩ ‘’ làm những điều màmình thích và có lợi cho mình’’ là không có gì lạ khi họ chỉ đến trường và nâng cao kiếnthức cho họ, họ sẽ cho rằng một điều gì đó không quan trọng,không cần thiết ít nhất làvới chính bản thân bạn sẽ không bao giờ lãng phí thời gian để hiểu, học hỏi những điều
đó Vì vậy, nếu các bạn sinh viên không có sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của
kỹ năng mềm, cho rằng kỹ năng mềm không cần thiết, cho rằng chỉ cần học tập tốt cámôn học trên lớp như vậy là đủ để đảm bảo một tương lai tốt đẹp cho cuộc sống của các
Trang 29bạn sau này Chính suy nghĩ đó dẫn đến hành động các bạn không để ý đến những sựkiện, những buổi hội thảo có liên quan đến kỹ năng mềm, không tò mò, không tích cựctham gia các khoá học cũng như rèn luyện những kỹ năng mềm cần thiết nên suốt giảngđường đại học, sinh viên chỉ tập trung vào việc làm sao có cho mình một tấm bằng đẹp
mà bỏ qua việc nâng cao kỹ năng mềm
Khi sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng mềm đối với học tập,cuộc sống và đặc biệt là công việc sau này thì sinh viên sẽ chủ động tìm hiểu về kỹ năngmềm, tham gia các lớp giáo dục kỹ năng mềm để có thể trao đổi trực tiếp với các chuyêngia kỹ năng mềm vè tìm ra phương pháp rèn luyện phù hợp cho bản thân Rèn luyện kỹnăng mềm mở ra nhiều cơ hội và giúp cuộc sống tốt đẹp hơn
Do vậy để giúp các bạn sinh viên có định hướng trong việc rèn luyện những kỹnăng mềm công việc quan trọng và được đặt lên hàng đầu đó chính là giúp các bạn cónhận thức đúng về tầm quan trọng của kỹ năng mềm
b Thái độ, ý thức của sinh viên trong việc rèn luyện kỹ năng mềm
Nhận thức đúng sẽ mang đến cho các bạn một định hướng đúng, vạch cho cácbạn con đường cụ thể để đạt tới những mục tiêu mà bạn đặt ra Nhưng nếu không có sựchủ động của bản thân và không có được sự quyết tâm thực hiện thì bạn sẽ rất khó đạtđược những mục tiêu bạn đặt ra Với việc rèn luyện kỹ năng mềm của các bạn sinh viêncũng tương tự
Để trả lời cho câu hỏi: Tại sao đã nhận biết được tầm quan trọng của kỹ năng mềm nhưng lại không tận dụng được những cơ hội trên lớp học hay trong các hoạt động ngoại khoá ? Câu trả lời đó là do thái độ, ý thức rèn luyện của sinh viên.
Một ví dụ đó là: Chúng ta có thể bắt gặp 1 sinh viên lúng túng khi giao tiếp hoặckhông thể thuyết trình trước đám đông Những sinh viên ấy lại tự đặt ra câu hỏi làm thếnào để thuyết trình lưu loát trước đám đông và thắc mắc rằng: Làm thế nào để diễn thuyếtlưu loát trước đám đông? Thật ra cách tốt nhất để diễn thuyết tốt đó là từ những việc làmnhóm hằng ngày của sinh viên, sự trao đổi sẽ giúp bạn tự tin giao tiếp nhưng phần lớnsinh viên đã quen với việc tiếp thu kiến thức một cách thụ động và bỏ qua các cơ hội họchỏi đó Dẫn đến trong suốt quá trình học dù có điều kiện phát huy nhưng không phát huyđược kỹ năng mềm
Còn với những bạn đã tham gia những lớp kỹ năng mềm nhưng do thiếu tínhsáng tạo áp dụng những kỹ năng đã học vào thực tế cuộc sống sẽ khiến các bạn dễ nản vàcho rằng mình không có tố chất trong việc rèn luyện những kỹ năng mềm đó Rèn luyện
kỹ năng mềm là một quá trình đi lên từ lý thuyết đến thực hành và nếu thực sự đam mêvới các môn học kỹ năng mềm, các bạn sinh viên sẽ nhận ra một điều một khóa học kỹnăng mềm sẽ thực sự bắt đầu khi các bạn kết thúc khóa học đó Bởi để hoàn thiện những
kỹ năng mềm của bản thân đó là một quá trình rèn luyện không ngừng
Các hoạt động đoàn trường cũng rất phổ biến đối với các bạn sinh viên Khi cácban tham gia những hoạt động đó cũng sẽ gián tiếp giúp các bạn nâng cao được rất nhiều
kỹ năng mềm Nhưng trên thực tế có rất ít những bạn sinh viên tham gia vào các hoạtđộng của đoàn và đội, hầu như chỉ được một thời gian xong bỏ Lý do mà các bạn sinh
Trang 30viên đưa ra khi không tham gia vào các hoạt động đó là các hoạt động ít và không rộngrãi cũng như cần số lượng các bạn tham gia ít nên cũng không có điều kiện tham gia.Ngoài ra cũng có một phần sinh viên ý thức được rằng việc mình tham gia vào các hoạtđộng đó sẽ rèn luyện cho mình nhiều kỹ năng Tuy nhiên cũng có một phần các bạnkhông thích tham gia chỉ vì nghĩ rằng mình không có khả năng Lý do đó thể hiện ra sựkhông nhiệt tình tham gia cũng như thể hiện một khía cạnh bản thân của các bạn đó làkhông dám thể hiện bản thân bởi vì chưa thử sao các bạn có thể biết được mình có hợp vàhoạt động đó có đem lại lợi ích hay không? Bên cạnh những hoạt động Đoàn - Đội cònrất nhiều những hoạt động khác như hoạt động trong câu lạc bộ Hoạt động trong các câulạc bộ rất thiết thực nhằm giúp các bạn sinh viên trở nên tự nin, năng động và rèn luyện
kỹ năng cần thiết và đặc biệt để tạo cơ hội cho các bạn sinh viên được tiếp xúc gần hơnvới môi trường làm việc bên ngoài xã hội
Rèn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên thì nhà trường chỉ đóng vai trò là chất xúctác, ý thức rèn luyện của mỗi sinh viên mới là yếu tố quan trọng nhất Vì vậy, sinh viênphải có nhận thức thật chuẩn xác về tầm quan trọng của kỹ năng mềm thì mới có được sự
tự giác trong việc rèn luyện và phát huy hiệu quả kỹ năng mềm
Do vậy nếu các bạn sinh viên không có ý thức tự giác nâng cao những kỹ năngmềm quan trọng cho bản thân, các bạn sẽ không thể hoàn thiện những kỹ năng mềm đócho dù bạn nhận thức được tầm quan trọng của những kỹ năng đó Còn nếu các bạn luôn
có ý thức rèn luyện, học hỏi để không ngừng nâng cao những kỹ năng mềm của bản thân,các bạn sẽ luôn nắm bắt được những cơ hội trong học tập, công việc và cuộc sống
c Xu hướng xã hội
Nước Việt Nam ta đã bước vào thế kỷ 21 được 22 năm nhưng chương trình đàotạo và việc đánh giá năng lực của sinh viên vẫn dựa chủ yếu vào kiến thức trên giảngđường Peter M.Senge từng nói: ‘’ Vũ khí cạnh tranh mạnh nhất là học nhanh hơn đốithủ’’ Thật vậy, phải học đúng chứ không phải học nhanh để có thể tăng cường năng lựccạnh tranh hơn Thời gian cứ dần trôi khiến xã hội ngày càng phát triển Ngày xưa, sinhviên lấy kiến thức nhờ sách vở, trường lớp, nhờ sự phát triển không ngừng ấy, chúng ta
đã có Internet mà ở đó tất cả mọi người để có thể tiếp cận được thông tin, dữ liệu mộtcách sâu rộng hơn, mọi lúc mọi nơi Kiến thức cũng ngày càng nhiều và từ việc có kiếnthức đến thực hiện một công việc để có kết quả thành công nhất không phải chỉ có kiếnthức là đủ
Nước ta đang trong quá trình toàn cầu hoá hội nhập quốc tế, là quá trình hợp tác
để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ quyền lợiquốc gia Cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia ngày càng trở nên quyết liệt, đòi hỏi cácnước phải đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng nguồn lao động, để cóthể làm được điều đó đòi hỏi nguồn lực phải có trình độ chuyên môn cao không chỉ là kỹnăng ‘’ cứng’’ mà bao gồm cả kỹ năng sống và cách làm việc Các nước đều xem trọngnền giáo dục nước nhà và cho rằng nâng cao chất lượng giáoducj là nhiệm vụ trọng tâmcủa chiến lượng phát triển kinh tế xã hội, dành cho giáo dục những đầu tư ưu tiên, đẩy
Trang 31mạnh cải cách giáo dục nhằm giành ưu thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế Mục đíchcủa giáo dục đại học là đào tạo, nâng cao nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu xã hội.Chất lượng đầu ra của sản phẩm là yếu tố quyết định đến danh tiếng thương hiệu của mỗitrường, thị trường sẽ sử dụng nguồn nhân lực là khâu kiểm nghiệm cuối cùng của chấtlượng sản phẩm đó Mọi quốc gia luôn tìm cách thay đổi linh hoạt hệ thống giáo dục,chương trình và phương pháp giáo dục phù hợp đối với sinh viên đại học nhằm xóa bỏmọi ngăn cách trong nhà trường, tập trung tăng cường kỹ năng, cung cấp các tri thức hiệnđại đáp ứng yêu cầu thích nghi những phát sinh của nền kinh tế Do vậy việc một quốcgia có nguồn nhân lực chất lượng, đáp ứng được nhu cầu xã hội, không chỉ giỏi về kỹnăng chuyên môn mà còn giải cả về kỹ năng mềm Chính vì vậy, giáo dục nước nhà, cũngnhư các trường đại học ngày càng quan tâm đến việc đào tạo kỹ năng mềm.
Hiện nay, các nước trên thế giới đều đang tranh đua nhau trên công cuộc đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn nhân lực Việtnam ngày càng trở nên vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc pháttriển kinh tế của đất nước Chính vì thế, yêu cầu về nền giáo dục ngày càng phải đượcnâng lên cao và đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nên một thế hệ người Việtnam mới, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Điều này đòi hỏi giáo dục phải cóchiến lược đúng hướng, hợp quy luật, xu thế và xứng tầm thời đại Sản phẩm đào tạo đạihọc ngày nay sẽ phải hoạt động trong một môi trường cạnh tranh có tính quốc tế hoá cao.Trong bối cảnh đó, phạm trù ‘’chất lượng đào tạo đại học’’ phải có sự thay đổi quan trọngtheo hướng: vừa phải sống hòa bình với cộng đồng dân tộc và quốc tế, vừa phải có nănglực và bản lĩnh để cạnh tranh tự khẳng định và tự phát triển Đó là những đòi hỏi quantrọng của giáo dục đại học trong xã hội hiện nay và nó cũng là thách thức lớn đối với nềngiáo dục của các quốc gia đang phát triển mà trong đó có Việt Nam
d Nhu cầu việc làm
Ngày nay, quá trình tuyển dụng ngoài trình độ chuyên môn của ứng viên thìnhững ứng viên sở hữu bộ kỹ năng mềm luôn được các nhà tuyển dụng để mắt tới nhiềuhơn Nhân viên có kỹ năng mềm tốt sẽ luôn tạo ra môi trường làm việc hiệu quả, năngđộng và tính hợp tác cao, qua đó góp phần hoàn thành tốt các công việc mà công ty đề ra
Kỹ năng mềm tạo điều kiện làm việc nhóm hiệu quả, phát triển sự lãnh đạo, kỹ năng giaotiếp, ứng xử và sử dụng thời gian và các nguồn lực một cách hợp lý nhất Có rất nhiềusinh viên ra trường với tấm bằng rất tốt nhưng không thể đáp ứng được yêu cầu của nhàtuyển dụng vì thiếu kỹ năng mềm Khoảng 70% sinh viên ra trường khó xin việc vìkhông có kinh nghiệm và thiếu đi các kỹ năng cần thiết Cơ hội làm việc ở những tậpđoàn lớn là điều không thể xảy ra Một nhân viên thiếu kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm,
kỹ năng thuyết trình, nói chuyện trước đám đông, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng làm chủbản thân, là điều khó có thể chấp nhận được
Có thể nhắc tới một ví dụ như: Trong một dự án đầu tư vào Việt Nam, Intels đãtuyển 2000 nhân viên nhưng chỉ có 40 ứng viên đủ trình độ kiến thức lẫn kỹ năng mềm,còn lại 1960 người khác không dễ tuyển vì các ứng viên hầu như không có nhận thức
Trang 32được thế mạnh bản thân, hoặc biết nhưng không thể hiện được khả năng nổi trội củamình và thường bôi tối khi nói về bản thân.
Kỹ năng chuyên môn (hay còn gọi là kỹ năng ‘’cứng’’) chỉ giúp sinh viên mộtphần trong lúc đi làm, kỹ năng mềm mới là thứ giúp họ thăng tiến và phát triển hơn trong
sự nghiệp Trong bất cứ ngành nghề nào thì thái độ đối với nghề, đạo đức nghề nghiệp , ýthức bản thân là điều quan trọng nhất, như câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ‘’ Có tài
mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó’’.Sinh viên sau khi ra trường nếu có tất cả kỹ năng mềm sẽ có thể trở thành một nhà lãnhđạo tài ba trong tương lai không xa Tích cực làm việc nhóm, luôn nỗ lực giải quyếtnhững vấn đề phát sinh là điều kiện tốt nhất rèn luyện kỹ năng mềm
Như vậy có thể nói kỹ năng mềm có vai trò then chốt đối với thành quả của tổchức Chính vì thế khi tuyển chọn nhân viên, các nhà tuyển dụng luôn đặt vai trò của kỹnăng mềm lên một vị trí rất quan trọng
e Môi trường giáo dục
Cơ chế đào tạo của nhà trường có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành và pháttriển kỹ năng mềm ở sinh viên Trước năm 2007, tất cả các trường đại học, cao đẳng ởViệt nam đều áp dụng hình thức niên chế, và sau năm 2007, Bộ Giáo dục - Đào tạo banhành ‘’Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ’’ Chođến hiện nay, tất cả các trường đại học ở Việt Nam đều áp dụng hình thức đào tạo theo tínchỉ
Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo học chế tín chỉ là hai hình thức tổ chứcđào tạo khác nhau nhưng đều có chung một mục tiêu là đào tạo ra nguồn nhân lực cótrình độ cao, đáp ứng được sự phát triển của các ngành nghề trong xã hội trong từng giaiđoạn lịch sử nhất định Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo học chế tín chỉ đều có lịch
sử phát triển từ lâu, mỗi cách tổ chức đào tạo đều có những ưu điểm, những khó khănriêng và đều đạt những thành quả rất to lớn Nếu để tìm ra sự khác nhau giữa hai cách tổchức đào tạo này thì trong phạm vi một bài viết không thể đáp ứng được, tuy vậy dướigóc độ đào tạo có thể thấy một số điểm khác nhau cơ bản giữa hai cách tổ chức đào tạonày Chính sự chuyển đổi về cơ chế đào tạo này cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc rènluyện kỹ năng mềm của sinh viên từ những thay đổi về phương thức đào tạo, cách dạy vàcách học của giảng viên cũng như của sinh viên Vậy hình thức đào tạo theo niên chế vàđào tạo theo hệ thống tín chỉ là gì? Vì sao sự chuyển đổi về hình thức đào tạo lại ảnhhưởng đến việc rèn luyện kỹ năng mềm của sinh viên? Để trả lời cho câu hỏi đó, chúng ta
sẽ tìm hiểu hai hình thức đào tạo này và so sánh sự khác nhau giữa hai hình thức đào tạonày:
Đào tạo theo niên chế là đào tạo theo năm học, mỗi chương trình đào tạo của mộtngành học được quy định đào tạo trong một số năm nhất định Ví dụ chương trình đào tạotrình độ đại học được cấp bằng cử nhân thường đào tạo trong 4 năm, cấp bằng kỹ sư đượcđào tạo trong 5 năm, cấp bằng bác sĩ được đào tạo trong 6 năm Sinh viên học hết thời