Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường trong vòng sợi do có yếu tố gây sự đứt rách vòng sợi dẫn đến chèn ép vào ống sống hay các rễ thần kinh. Có 90-95% thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng xảy ra ở L4-L5 và L5-S11. Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) cột sống thắt lưng (CSTL) là bệnh tương đối hay gặp trong cộng đồng và trong thực hành lâm sàng2
Đặc điêm giải phẫu – sinh cơ học vùng thắt lưng
Cấu tạo đĩa đệm cột sống thắt lưng
Đĩa đệm nằm giữa hai đốt sống, hoạt động như một lò so giảm sóc, có tác dụng chống đỡ có hiệu quả các sang chấn cơ giới Kích thước của đĩa đệm to dần từ rên xuống dưới và dày từ 9-10mm Chiều cao đĩa đệm thắt lưng ở phía trước lớn hơn phá sau nên đĩa đệm có dáng hình thang ở bình diện đứng thẳng dọc Do vậy, đĩa đệm chưa bị thoái hóa hoặc thoát vị sẽ tạo cho CSTL có độ cong sinh lý ưỡn ra trước Đĩa đệm ngoài việc tạo ra hình dáng cho cột sống còn có khả năng hấp thu, phân tán và dẫn truyền, làm nhẹ các chấn động trọng tải theo dọc trục cột sống Cấu trúc đĩa đệm gồm 2 phần 4 :
* Nhân nhầy: có hình cầu hoặc hình bầu dục
- Nằm ở khoang nối giữa 1/3 giữa và 1/3 sau của đĩa đệm, cách mép ngoài của vòng sợi 3-4mm, chiếm khoảng 40% của đĩa đệm cắt ngang Nó chứa 80% là nước, có đặc tính hút nước mạnh, chất gian bào chủ yếu là mucop olysaccarite không có mạch máu và thần kinh
- Khi vận động (cúi, nghiêng, ưỡn) thì nhân nhầy sẽ di chuyển dồn lệch phía phía đối diện và dồng thời vùng sợ cũng chun giãn Đây cũng là một trong những cơ chế làm cho nhân nhầy ở đoạn CSTL dễ lồi ra sau.
- Đặc điểm của áp lực nội đĩa đệm CSTL: ở người do dáng đi thẳng nên đoạn dưới CSTL phải chịu những trọng tải dồn nến xuống trên vào cm2 diện tích bề mặt, áp lực trọng tảu này sẽ nhân lên gấp nhiều lần khi tư thế cột sống không nằm trên trục sinh lý của nó. Đặc điểm của áp lực nội đĩa đệm:
+ Tư thế nằm ngửa thoải mái: 25kg
+ Tư thế đứng thắng: 100kg
+ Tư thế ngồi thẳng: 150kg
+ Tư thế cúi ra trước: 200kg
+ tư thế cúi ra trước – tay xách: 275kg
+ khi ho, hắt hơi, rặn, cười sẽ tăng thêm 50kg Đây chính là lý do ảnh hưởng tới nghề nghiệp và cường độ lao động của bệnh lý đĩa đệm.
- Là những bó sợi tạo bởi những vòng sợi đồng tâm
- Được cấu tạo bằng những sụn sợi rất chắc và đàn hồi, các bó sợi đan xen vào nhau kiểu vặn ốc, chạy xên từ ngoài vào trong, các bó sợi của vòng sợi tạo thành nhiều lớn, giữa các lớp có các vách ngăn được gọi là yếu tố đàn hồi Cấu trúc này làm tăng sức bền, giúp vòng sợi chịu được những áp lực lớn Sự nuôi dưỡng ở đã đệm nghèo nàn, chỉ óc ít mạch máu và thần kinh phân bố cho vòng sợ Do đó, đĩa đệm chỉ được nuôi dưỡng bằng hình thức khếch tán.
- Ở đoạn CSTL, phần sau và sau bên được cấu tạo bởi một ít các sợi mảnh, nên ở đây bề dày của vòng sợ mỏng hơn chỗ khác Đây là điểm yếu nhất của vòng sợi, dễ bị phá hủy gây thoát vị sau bên.
Hình 1: Cấu trúc đĩa đệm
Sinh cơ học đĩa đệm
Nhân nhầy nằm ở giữa mâm sụn của hai đốt sống liền kề, chưa 80% là nước
Khi lực ép dọc trục nén lên đốt sống, nước chứa trong nhân nhầy thoát ra ngoài vào thân đốt và vào tổ chức phần mềm xung quanh đĩa đệm làm đĩa đệm bè rộng, chiều cao khoang gian đốt giảm, dịch trong khoang bị cô đặc chỉ còn những phân tử lớn ở trong khoang nhất là mucopolysaccarit sẽ hút nước trở lại nhằm giữ một áp lực nhất định trong khoang.
Khi lực trọng tải giảm thì áp lực trong khoang đĩa đệm giảm, nước từ bên ngoài sẽ đi vào khoang đĩa đệm, nhân nhầy sẽ trở lại chiều cao ban đầu và chiều cao khoang gian đốt được phục hồi áp lực trọng tải và áp lực keo có tác dụng đối lập nhau
Như vậy sự luân chuyển giữa áp lực thủy tĩnh và áp lực kéo có ý nghĩa trong việc trao đổi chất để nuôi dưỡng tổ chức đĩa đệm, cũng như chức phận của đoạn vận động.
Chức năng cơ học của đĩa đệm
Cột sống thắt lưng được cấu tạo bởi các đốt sống cứng xen kẽ là những đĩa đệm có khả năng có khả năng đàn hồi nên tạo cho cột sống có những tính chất ưu việt, vừa có khả năng trụ vững, vừa linh hoạt và mang tính đàn hồi có thể xoay chuyển theo các hướng Đĩa đệm tham giái những vận động của cột sống như một tổ chức có khả năng thay đổi hình dạng.
1.4 Giải phẫu dây thần kinh tọa (dây TK hông to, dây TK ngồi) Đám rối thắt lưng cùng nằm sát thành sau chậu hông, ngay phía bên xương cùng và mặt trước cơ hình lê Đám rối thắt lưng cùng được tạo bởi thân thắt lưng cùng và ngành trước của dây cùng I, II và IV.
Thần kinh ngồi gồm hai dây: thần kinh chày và thần kinh mác chung
- Thần kinh mác chung do các sợ sau của đám rối hắt lưng cùng tạo thành (L4-S2)
- Thần kinh chày do các sợi trước cuẩ đám rối cùng tạo thành (l4-S3)
Thần kinh ngồi đi từ trong chậu hông bé qua khuyết ngồi lớn ở dưới cơ hình quả lê ra vùng mông Ở mông: nàm trước cơ mông lớn, sau các cơ chậu hông mấu chuyển, rồi qua rảnh giữa củ ngồi và mấu chuyển lớn xuống khu đùi sau Tới đỉnh trám khoeo chia đôi thành thần kinh chày và thần kinh mác chung.
+ Thần kinh mác chung: chia hai nhánh tận (TK mác nông và TK mác sâu)
+ Thần kinh chày: chia hai nhánh tận (TK gan chân trong và TK gan chân ngoài)
Hình 2: Cấu trúc đám rối thần kinh cùng
Thoát vị đĩa đệm
Sinh bệnh học thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng
Cột sống thắt lưng nâng đỡ 80% trọng lượng cơ thể và là vùng có vận động lớn, đĩa đệm hoạt động như một lò xo giảm sóc Vì phải thích nghi với hoạt động cơ học lớn, chịu áp lực cao thường xuyên và đĩa đệm được nuôi dưỡng bằng đường thẩm thấu là chủ yếu nên đĩa đệm thắt lưng sớm bị loạn dưỡng và thoái hóa tổ chức.
TVĐĐ là hậu quả của quá trình thoái hóa, xảy ra ở các thành phần của cột sống, trước hết ở đĩa đệm tiếp đến các mặt khớp, thân đốt dống, dây chằng TVĐĐ cột sống là tình trạng bệnh lý trong đó nhân nhầy đĩa đêm thoái hóa di lệch khỏi vị trí sinh lý và xảy ra như một biến chứng của quá trình thoái hoá cột sống 5
Nếu nhân nhầy bị thoái hóa nặng thì vòng sơ bị đè ép bẹt ra, vượt quá giới hạn của thân xương và chiều cao của đĩa đệm giảm xuống các tấm sụn trong phải chịu đựng các sang chấn liên tục dẫn đến thoái hóa và thay thế bằng sụn sợi.
Nhân nhầy có thể thoát vào trong thân đốt sống phía trên và phía dưới Nhân nhầy thoát ra chèn ép vào rễ thần kinh gây ra một kích thích cơ học và một phản ứng viêm tại vị trí chèn ép, dẫn đến rối loạn cảm giác da theo rễ dây thần kinh chi phối Các sợi vận động của rễ thần kinh cũng bị ép chặt gây hiện tượng teo và yếu các cơ mà nó chi phối.
Những điều kiện làm dịch chuyển nhân nhầy gây ra hiện tượng lồi hoặc thoát vị:
- Áp lực trọng tải lớn
- Áp lực nội đĩa đệm cao
- Sự lỏng lẻo từng phần cùng với thoái hóa của đĩa đệm
- Lực đẩy và lực cắt xen do các vận động cột sống quá mức
- Hiện tượng thoái hóa cột sống trong đó cố thoái hóa đĩa đệm và thoái hóa dây chằng.
Thoát vị đĩa đệm là nguyên nhân thường gặp nhất của đau thần kinh tọa ở người trưởng thành, tuy nhiên thoát vị đĩa đệm cũng có thể gặp ở người bình thường không triệu chứng Có đến 90% đến 95% bệnh rễ thần kinh do chèn ép xảy ra ở
Diễn tiến tự nhiên của thoát vị đĩa đệm thường thuận lợi, hầu hết bệnh nhân sẽ cải thiện dần hai phần ba các trường hợp mảnh thoát vị sẽ thoái triển một phần hoặc hoàn toàn sau 6 tháng Chỉ có 10% số bệnh nhân còn đau đáng kể sau 6 tháng điều trị bảo tồn và nhóm này có chỉ định phẫu thuật giải ép Ngay cả khi thoát vị có mảnh rời trong ống sống cũng có thể tự hấp thu theo thời gian Trong một số ít trường hợp, khối thoát vị trung tâm lớn, thường là L4/5, gây chèn ép chùm đuôi ngựa Hội chứng chùm đuôi ngựa là một chỉ định phẫu thuật cấp cứu, do tiên lượng xấu hơn nếu phẫu thuật trễ.
Lâm sàng, cận lâm sàng thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng
Triệu chứng lâm sàng của TVĐĐ được biểu hiện bằng hai hội chứng: Hội chứng cột sống và hội chứng rễ thần kinh
- Đau cột sống thắt lưng: đau có thể khởi đầu cấp tính hoặc bán cấp rồi tiến triển thành mạn tính Đau lan theo khu vực rễ thần kinh thắt lưng- cùng chi phối Đau có đặc điểm cơ học đau tăng lên khi ho, hắt hơi, khi ngồi, khi đứng lâu, khi thay đổi tư thế, giảm khi được nghỉ ngơi, tăng lên lúc nửa đêm gần sáng.
- Biến dạng cột sống: mấu đường cong sinh lý và vẹo cột sống thắt lưng
- Điểm đau cột sống và cạnh sống thắt lưng: là điểm xuất chiếu đau của các rễ thần kinh tương ứng
- Hạn chế tầm vận động cột sống thắt lưng: là điểm xuất chiếu đau của các rễ thần kinh tương ứng
- Hạn chế tầm vận động cột sống thắt lưng: hạn chế khả năng vận động cột sống ngược với tư thế chống đau và hạn chế khả năng cúi.
* Hội chứng rễ thần kinh:
- Đau dọc theo rễ thần kinh chi phối
- Rối loạn cảm giác theo dải chi phối cảm giác của rễ thần kinh
- Tẹo cơ khi sợ trục của dây thần kinh chi phối bị đè ép mạnh
- Giảm hoặc mất phản xạ gân xương
+Đặc điểm đau rễ: đau lan theo sự chi phối của rễ, xuất hiện sau đau thắt lưng cục bộ, đau có tính chất cơ học, cường độ đau không đồng đều giữa các vùng của chân và giữa các bệnh nhân Có thể gặp đau hai chân kiểu rễ do khối thoát vị to nằm ở trung tâm đè ép vào rễ hai bên và có thể có hẹp ống sống kèm theo Khi đau chuyển từ chân này sang chân kia đột ngọt hoặc đau vượt quá định khu của rễ hoặc hội chứng đuôi ngựa, có thể do mảnh thoát vị bị đứt hoặc di chuyển.
+ Dấu hiệu kích thích rễ: dấu hiệu lasegue, dấu hiệu bấm chuông, dấu hiệu Valleix.
+ Rối loạn cảm giác: giảm hoặc mất cảm giác kiểu rễ hoặc dị cảm ở da theo khu vực rễ thần kinh chi phối.
+ Rối loạn vận động: khi ép rễ L5 lâu làm yếu cơ cẳng chân trước ngoài khiến bệnh nhân không đi được bằng gót chân.
Khi ép rễ S1 lâu làm yếu các cơ cẳng chân sua khiến bệnh nhân không đi được bằng mũi bàn chân.
+ Giảm phản xạ gân xương: Có thể giảm hoặc mất phản xạ gân gót nếu tổn thương S1.
+ Có thể gặp teo cơ và rối loạn cơ tròn: Khi có tổn thương vùng đuôi ngựa.
Cộng hưởng từ MRI là lựa chọn hàng đầu Nghiên cứu MRI ở người không có triệu chứng có thể thấy có hình ảnh lồi, thoát vị đĩa đệm (24%) hoặc ép ống sống (4%).
Chụp CLVT thay thế MRI nếu có chống chỉ định
Chụp X quang cột sống thắt lưng không chẩn đoán được chính xác 100% tình trạn bệnh lý bởi hình ảnh chụp Xquang thu được không chỉ ra hình ảnh trực tiếp của thoát vị đĩa đệm Chỉ riêng có một thể thoát vị đặc biệt cho kết quả tương đối chính xác khi chụp Xuqnag thoát vị đĩa đệm chính là thể thoát vị vào trong thân đốt sống Tam chứng Bar: gồm có hẹp khoang đĩa đệm nơi có TV ĐĐ, mất độ cong sinh lý của cợt sống vùng thắt lưng và vẹo cột sống sang bên do tư thể chống đau.
* Chụp cộng hưởng từ hạt nhân Đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán thoát vị đĩa đệm Phương pháp này an toàn, có độ chính xác cao nên có thể cho biết vị trí và mức độ thoát vị, ngoài ra cho biết về xương và các phần mềm xung quanh.
- Các thoát vị đĩa đệm:
+ Phình địa đệm: đĩa đệm phình nhẹ ra sau, chưa tổn thương vòng sợi
+ Thoát vị đĩa đệm: Nhân nhầy lỗi khu truus, tổn thương vòng sợi, có thể thoát vị ra sau hoặc trước, nhưng hay gặp thoát vị đĩa đệm ra sau
+ Thoát vị đĩa đệm di trú: mảnh đĩa đệm ời ra, không liên tục với khoang đĩa đệm, di chuyển đến vị trí khác và thường gây tổn thương dây chằng dọc sau ở vị trí sau bên.
Dựa theo tiêu chuẩn phân loại mức độ TVĐĐ của Nguyễn văn Thông 4
- Đau thắt lưng lan xuống mông
- Co cứng khối cơ lưng một bên, chưa lệch vẹo cột sống
- Khoảng cánh tay đát từ 10-20 cm, Schober >13/10-14/10, Lassegue 60-80 độ, Valleix (+) ở mông.
- Phản xạ gân gót bình thường hoặc giảm nhẹ
- Teo cơ chi dưới: bằng hoặc giảm nhẹ so với chi lành
- Đi bộ trên 500-1000m mới xuất hiện đau
- Đau thắt lưng lan theo rễ thần kinh hông
- Co cứng khối cơ lưng một bên hoặc hai bên, lệch vẹo hai bên, lệch vẹo cột sống khi cúi hoặc khi đứng, Lassegue 31-59 độ, Valleix (+) ở mông, đủi, cẳng chân.
- Phản xạ gân gót giảm rõ rệt so với chân không đau
- Khoảng cách tay đất 21-30cm, Schober trên 12/10- 13/10cm
- Teo cơ chi dưới: Trên 1-2cm Đi bộ trên 200-500 m mới đau
- Đau thắt lưng lann theo rễ thần kinh hông thường xuyên
- Co cứng khối cơ lưng hai bên, lệch vẹo hai bên, vẹo cột sống nhiều khi đứng,
- Khoảng cánh tay đất trên 30cm, Schober bằng hoặc dưới 12/10 cm Lassegue dưới 30 độ, Valleix (+) ở mông, đủi, cẳng chân.
- Phản xạ gân gót giảm nhiều hoặc mất
- Teo cơ > 2cm Đi bộ trên < 200 m đau
Điều trị nội khoa
Thuốc chống viêm không steroid (CVKS)
CVKS là trụ cột của điều trị đau thắt lưng Tuy nhiên lưu ý dùng thuốc liều thấp nhất có tác dụng ngắn nhất đủ để khống chế đợt đau Không nên cho thuốc chống viêm không steroiid kéo dài quá vài tuần chế độ dùng thuốc như vậy cho phép giảm thiểu tác dụng phụ vủa CVKS 7
Trong các đợt đau cấp, đau mức độ mạnh, có thể dùng thuốc CVKS đường tiêm trong 2-3 ngày đầu, sau đó chuyển sang đường uống Cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng thuốc CVKS trên bệnh nhân tim mạch Do vậy cần chú ý phát hiện và xử trí kịp thời các tác dụng phụ của thuốc.
* Chống chỉ định tuyệt đối
- Bệnh lý chảy máu, rối loạn đông máu chưa được kiểm soát
- Tiền sử dị ứng, mẫn cảm với thuốc
- Loét dạ dày, tá tràng tiến triển
- Suy gan mức độ vừa đến nặng
- Phụ nữ có thai 3 tháng cuối
* Chống chỉ định tương đối và thận trọng
- Tiền sử viêm loét dạ dày, tá tràng
- Phụ nữ mang thai 3 tháng đầu
* Thuốc chống viêm không steroid kinh điển
- Diclofenac (Voltaren) 50mg, ngày 2 viên, chia 2 lần (lúc no)
- Piroxicam (felden, tilcotil) 20mg tiêm bắp ngày 01 ống hoặc uống ngày 01 viên
* Thuốc ức chế chọn lọc COX 2: Ít gây hạ với dạ dày tá tràng hơn
- Meloxicam (Mobic) 7,5mg, 1 -2 viên/ngày
- Celecoxib (celebrex) 200mg, 1- 2 viên/ngày
- Etoricoxib (Arcoxia) viên có hàm lượng 30mg, 60mg, 90mg, 120mg Tùy theo mức độ đau dùng 1 viên/ngày.
Sử dụng thuốc giảm đau tùy theo mức độ đau của bệnh nhân Cần tuân thủ phác đồ điều trị đau 3 bước của Tổ chức Y tế thế giới
- Thuốc giảm đau bậc 1: paracetamol 500 gam, ngày 4-6 viên, chia 2-3 lần
Dùng cho loại đau nhẹ, trung bình Chỉ dùng thuốc trong thời gian ngắn đủ để kiểm soát đau vì nếu dùng lâu dài có thể có tác dụng phụ như kích ứng dạ dày hay tổn thương thận.
- Thuốc giảm đau bậc 2 (opioid) Thuốc giảm đau opioid có thể hỗ trợ giảm đau thắt lưng cấp và mạn tính Nhìn chung có 1/3 bệnh nhân có đáp ứng tốt với thuốc, 1/3 có đáp ứng trùng bình và 1/3 không đáp ứng Tuy nhiên nhiều ý kiến cho rằng chỉ nên dùng trong thời gian ngắn với liều thấp đến trung bình do tác dụng phụ của thuốc, dẫn dến tỷ lệ khá cao bệnh nhân bỏ thuốc (20-40%) Tác dụng phụ của thuốc opioid là phụ thuộc, buồn nôn, thiếu tỉnh táo khi quyết định, táo bón.
+ Paracetamol kết hợp codein (Effral codein)
+ Paraceamol + Tramadol (Ultracet), uống 1-2 viên x 4-6h, không vượt quá 8 viên/ngày
Hình 4: Giảm đau theo bậc
Thuốc giãn cơ
Thuốc giãn cơ được chứng tỏ có tác dụng trong điều trị đau thắt lưng nhưng có tác dụng phụ (an thần, chóng mặt, buồn ngủ, thậm chí gây nghiện) thuốc giãn cơ có thể gây ra chứng buồn ngủ ở 30% bệnh nhân, do vậy chỉ nên dùng trong thời gian ngắn
- Tolperison (Mydocalm) 150-300mg/ngày, chia 2 lần
Tolperison là thuốc giãn cơ có tác dụng trung ương (ức chế phản xạ tủy sống qua bloc kênh clci và natri tạo điện áp)
- Eperison (Myonal) viên 50mg, dùng liều 150 mg/ngày, chia 3 lần
Eperion tác dụng giãn cơ vân và cơ trơn mạch máu, làm giảm co cứng cơ, cải thiện tuần hoàn, giảm phạn xã đau Thuốc cải thiện khả năng vận động chân, tay mà không giảm cơ lực Thuốc cũng làm giảm chóng mặt, ù tai trong bệnh lý mạch máu não hay thoái hoá cột sống cổ, trong khi lại không gây an thần, không làm mất tỉnh táo
- Thiocolchicosid x 4mg ống hoặc viên tiêm bắp ngày 2 ống chia 2 lần Là thuốc giãn cơ mạnh.
Thuốc corticoid
Đường uống có thể dùng trong trường hợp đau thần kinh tọa cấp
Finkh et al4 đã báo cáo kết quả từ một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng có triển vọng kiểm tra hiệu quả ngắn hạn của một đợt tiêm tĩnh mạch glucocorticosteroid duy nhất đối với các triệu chứng của đau thần kinh tọa cấp tính Trong số 60 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, 31 người được tiêm tĩnh mạch 500 mg methylprednisolone và 29 người được tiêm dung dịch muối sinh lý Trong quá trình nghiên cứu, tất cả bệnh nhân đều được điều trị tiêu chuẩn (NSAID, tramadol, acetamino-phen) và vật lý trị liệu Một số bệnh nhân được điều trị bổ sung sau ba ngày Kết quả được đánh giá tại một, hai, ba, 10 và 30 ngày bằng cách sử dụng thang điểm VAS đau thần kinh tọa, đau lưng dưới và đau toàn bộ; thang điểm đau McGill; ODI và các dấu hiệu kích thích rễ thần kinh Đối với biện pháp kết quả chính, giá trị trung bình tối đa
Không có biện pháp đánh giá kết quả thứ cấp nào khác biệt đáng kể giữa hai nhóm Như mong đợi, không có lợi ích lâu dài nào được quan sát thấy vào ngày 30 với một liều tiêm tĩnh mạch glucocorticoid duy nhất cho bất kỳ kết quả nào Các tác giả kết luận rằng một liều tiêm tĩnh mạch glucocorticoid duy nhất mang lại sự cải thiện nhỏ và thoáng qua đối với chứng đau chân thần kinh tọa.
Lợi ích thoáng qua và quy mô tác dụng nhỏ của glucocorticoid tiêm tĩnh mạch đối với các triệu chứng của đau thần kinh tọa cấp tính có thể không đảm bảo việc sử dụng lâm sàng rộng rãi trong chỉ định này Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng điều trị cấp độ I rằng một lần truyền tĩnh mạch glucocorticoid duy nhất chỉ mang lại hiệu quả giảm đau tạm thời (ba ngày) Một liều tiêm tĩnh mạch glucocorticoid không có tác dụng đối với chức năng hoặc các dấu hiệu khách quan của kích ứng rễ thần kinh liên quan đến thoát vị đĩa đệm thắt lưng.
Thuốc giảm đau thần kinh
Có thể dùng thuốc chống động kinh trong bệnh lý rễ thần kinh hay tủy sống Đó là các thuốc phenytoin, carbamazepin và divalproex sodium Hiện này thuốc đều trị đau mạn tính phổ biến là gabapentin (Neurontin) và pregabalin (Lyrica)
-Gabapentin (neurotn) viên 0,3g, 2 viên/ngày
-Pregabalin 75mg, bắt đầ bằng 1 viên/ngày, sau đó tăng dần liều đến 2-4 viên/ngày
Kasimcan et al6 đã báo cáo kết quả của một loạt ca bệnh triển vọng đánh giá tác dụng của gabapentin trong việc giảm mức độ nghiêm trọng của cơn đau rễ thần kinh và cải thiện chất lượng cuộc sống ở những bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm thắt lưng và/hoặc hẹp ống sống thắt lưng trong một thời gian tương đối ngắn Trong số 78 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, 33 người bị thoát vị đĩa đệm thắt lưng kèm theo bệnh lý rễ thần kinh Bệnh nhân được điều chỉnh liều gabapentin ba lần mỗi ngày đến liều tối đa là 2400 mg/ngày Kết quả được đánh giá sau ba tháng thông qua đau rễ thần kinh VAS, tiêu chuẩn của Odom và khoảng cách đi bộ. Điểm trung bình cho VAS, khoảng cách đi bộ và tiêu chuẩn của Odom đều cho thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê sau ba tháng so với ban đầu Khoảng cách đi bộ được cải thiện từ 0-100 m ở 29 bệnh nhân lên 1000 m ở 24 bệnh nhân sau ba tháng Tiêu chuẩn của Odom là tốt hoặc xuất sắc ở 28 bệnh nhân sau ba tháng.
Các tác giả kết luận rằng liệu pháp đơn trị gabapentin có thể làm giảm đau và tăng đáng kể khoảng cách đi bộ ở những bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm thắt lưng Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng điều trị Cấp độ IV rằng gabapentin ba lần mỗi ngày được chuẩn độ đến liều tối đa là 2400 mg/ngày có thể làm giảm đáng kể cơn đau rễ thần kinh và cải thiện chức năng.
Thuốc chống trầm cảm
Là các thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin (SSRIs)
Điều trị tại chỗ
3.6.1 Thuốc bôi đau tại chỗ
Chỉ có tác dụng tại chỗ bôi, với độ thấm nông (