1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông

262 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền
Người hướng dẫn PGS.TS. Đặng Hoàng Minh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Giáo dục
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Luận án Tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 262
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC _

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

MỐI QUAN HỆ GIỮA SUY GIẢM CHỨC NĂNG VÀ SỨC KHỎE TÂM THẦN

Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Mã số: 91310401.01

Hà Nội, năm 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

_

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

MỐI QUAN HỆ GIỮA SUY GIẢM CHỨC NĂNG VÀ SỨC KHỎE TÂM THẦN

Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC Chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và VTN

Mã số: 91310401.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Hoàng Minh

Hà Nội, năm 2021

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của quý thầy/cô giáo Các thông tin trong luận án này là hoàn toàn đúng và do chính tôi tiến hành thực hiện Kết quả của luận án thể hiện tính trung thực, khách quan và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2021

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến PGS.TS Đặng Hoàng Minh là người thầy đã cho tôi cảm hứng học tập, luôn dành sự quan tâm, giúp đỡ và hướng dẫn tận tình tôi hoàn thành luận án này

Tôi xin chân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN, Phòng Đào tạo đã tạo điều kiện đã giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập, thực hiện và bảo vệ luận án

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu và các thầy cô giáo chủ nhiệm của trường THCS: Cát Linh, Yên Hòa, Nguyễn Trãi, Liên Hà, Đông Hội, Xuân Nộn và trường THPT: Cầu Giấy, Đống Đa, Lê Lợi, Đông Anh, Vân Nội, Cổ Loa cùng toàn thể các bậc phụ huynh, các em học sinh của 12 điểm trường đã đồng ý cung cấp số liệu để tôi có thể thực hiện được nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo PGS.TS Đỗ Ngọc Khanh, thầy giáo PGS.TS Trần Thành Nam đã cho tôi ý tưởng tiếp tục học tập và nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy/ Cô giáo của chương trình đào tạo Nghiên cứu sinh chuyên ngành Tâm lý lâm sàng trẻ em và VTN, các đồng nghiệp anh/chị/em lớp nghiên cứu sinh K1-TLLSTE và VTN, các bạn trợ lý nghiên cứu đã chia sẻ, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình thân yêu của mình đã luôn ủng hộ tôi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tham gia học tập và thực hiện luận án

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2021

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 5

1 APA American Psychological

2 BIS Bird Impairment Scale Thang đo đánh giá suy giảm

chức năng của Bird

3 CBCL Children Behavior Checklist Bảng kiểm các vấn đề hành vi

4 CRPBI Children‟s Report of Parent

Hệ thống Chẩn đoán và thống

kê các rối loạn tâm thần

6 ICD International Classification

of Disease

Phân loại thống kê quốc tế về các bệnh tật và vấn đề sức khỏe liên quan

7 ICF-CY

the International Classification of Functioning, Disability and Health: Children and Youth Version

Bảng phân loại quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe cho trẻ em và người trẻ tuổi

8 WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 6

iv

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU viii

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Mục đích nghiên cứu 4

3.Câu hỏi nghiên cứu 4

4.Giả thuyết khoa học 5

5.Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6.Đối tượng, khách thể nghiên cứu 5

6.1.Đối tượng nghiên cứu 5

6.2.Khách thể nghiên cứu 6

7.Phạm vi nghiên cứu 6

7.1.Về khách thể nghiên cứu 6

7.2.Về giới hạn đối tượng nghiên cứu 6

7.3.Về địa bàn và thời gian nghiên cứu 6

7.4.Về nguồn thông tin 7

8.Phương pháp nghiên cứu 7

8.1.Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 7

8.2.Phương pháp nghiên cứu: 9

9.Đóng góp mới của luận án 9

10.Cấu trúc luận án 10

CHƯƠNG 1 11

TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ SUY GIẢM CHỨC NĂNG VÀ VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN 11

Trang 7

v

1.1.Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và triệu chứng của

rối loạn tâm thần 11

1.2.Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và rối loạn tâm thần 14

1.3.Ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến vấn đề sức khỏe tâm thần 16

1.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số đo lường suy giảm chức năng 17

1.4.1.Người cung cấp thông tin, tuổi, giới tính và chủng tộc 17

1.4.2.Tác động của văn hóa và bối cảnh đến việc đo lường suy giảm chức năng ở trẻ em……… 19

Tiểu kết chương 1 22

CHƯƠNG 2 24

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ SUY GIẢM CHỨC NĂNG VÀ VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH THCS VÀ THPT 24

2.1.Suy giảm chức năng 24

2.1.1.Thuật ngữ và khái niệm về suy giảm chức năng 24

2.1.2.Công cụ đánh giá suy giảm chức năng 28

2.1.3.Tỷ lệ suy giảm chức năng 30

2.1.4.Suy giảm chức năng ở học sinh THCS và THPT 32

2.2.Sức khỏe tâm thần 35

2.2.1.Khái niệm sức khỏe và sức khỏe tâm thần 35

2.2.2.Tỷ lệ có vấn đề sức khỏe tâm thần trong cộng đồng 41

2.2.3.Sức khỏe tâm thần ở vị thành niên 43

2.3.Lý luận về mối quan hệ của suy giảm chức năng, sức khỏe tâm với các yếu tố liên quan 46

2.3.1.Bối cảnh môi trường và gia đình 46

2.3.2.Sự phát triển 48

2.3.3.Giới tính 50

2.3.4.Phong cách làm cha mẹ 52

2.4 Một số đặc điểm tâm sinh lý ở lứa tuổi học sinh THCS và THPT 59

2.4.1.Đặc điểm phát triển thể chất 60

Trang 8

vi

2.4.2.Đặc điểm phát triển tâm lý 61

CHƯƠNG 3 71

TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 71

3.1.Một số đặc điểm của khách thể nghiên cứu 71

3.2.Tổ chức nghiên cứu 72

3.2.1.Giai đoạn 1: Tổ chức nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài 72

3.2.2.Giai đoạn 2: Lựa chọn công cụ và thích nghi thang đo 73

3.2.3.Giai đoạn 3: Tổ chức chọn mẫu và thu thập số liệu 75

3.2.4.Giai đoạn 4: Phân tích và viết kết quả nghiên cứu 78

3.3.Phương pháp nghiên cứu 78

3.3.1.Nghiên cứu lý luận 78

3.3.2.Điều tra bằng bảng hỏi 79

3.3.3.Phương pháp nghiên cứu thống kê toán học 86

3.4.Đạo đức nghiên cứu 88

Tiểu kết chương 3 89

CHƯƠNG 4 90

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA SUY GIẢM CHỨC NĂNG VÀ VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN Ở HỌC SINH THCS VÀ THPT 90

4.1.Thực trạng vấn đề suy giảm chức năng của học sinh trong trường THCS và THPT 90

4.1.1 Suy giảm chức năng ở học sinh THCS và THPT 90

4.1.2.Sự khác biệt về suy giảm chức năng khi so sánh với các biến số khu vực, theo giới tính và tuổi 93

4.1.3.Sự thay đổi của suy giảm chức năng theo thời gian 96

4.2.Thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh THCS và THPT 98

4.2.1.Sức khỏe tâm thần của học sinh THCS và THPT 98

4.2.2.Sự khác biệt về vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh THCS và THPT khi so sánh với các biến số khu vực, tuổi và theo giới tính 99

Trang 9

vii

4.2.3.Sự thay đổi của vấn đề sức khỏe tâm thần qua thời gian 101

4.3.Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh 103

4.3.1.Tương quan giữa suy giảm chức năng với vấn đề sức khỏe tâm thần 103

4.3.2.Mối quan hệ tác động giữa suy giảm chức năng và vấn đề sức khỏe tâm thần………105

4.4.Tác động của yếu tố làm cha mẹ đến vấn đề sức khỏe tâm thần và sự suy giảm chức năng 126

4.4.1.Tác động của yếu tố làm cha mẹ đến vấn đề sức khỏe tâm thần 126

4.2.2.Tác động của yếu tố làm cha mẹ đến vấn đề suy giảm chức năng 128

4.2.3.Vai trò trung gian của phong cách làm cha mẹ trong mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và vấn đề sức khỏe tâm thần 129

Tiểu kết chương 4 139

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 141

1.Kết luận 141

2.Khuyến nghị 142

2.1.Đối với gia đình học sinh: 142

2.2.Đối với học sinh 143

2.3.Đối với nhà trường 144

2.4.Đối với hoạt động lâm sàng 144

TÀI LIỆU THAM KHẢO 144

TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 144

TÀI LIỆU TIẾNG ANH 144

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 164

PHỤ LỤC 1

Trang 10

viii

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 3.1 Đặc điểm nhóm học sinh được thu thập thông tin 69

Bảng 4.1 Tỷ lệ suy giảm chức năng ở học sinh THCS và THPT 88

Bảng 4.2 Tỷ lệ học sinh có suy giảm chức năng nhưng không có vấn đề SKTT 89

Bảng4.3 Sự khác biệt về suy giảm chức năng ở học sinh THCS và THPT

khi so sánh với biến số khu vực: nông thôn và thành thị

91

Bảng 4.4 Sự khác biệt về suy giảm chức năng ở học sinh THCS và

THPT khi so sánh theo biến số giới tính: nam và nữ

92

Bảng 4.5 Sự khác biệt về suy giảm chức năng ở học sinh THCS và

THPT khi so sánh với biến số tuổi

Bảng 4.9 Sự khác biệt vấn đề SKTT ở học sinh THCS và THPT khi so

sánh với khu vực: nông thôn và thành thị

97

Bảng

4.10

Sự khác biệt vấn đề SKTT ở học sinh THCS và THPT khi so

sánh theo biến số giới tính: nam và nữ

98

Bảng

4.11

Sự khác biệt vấn đề SKTT ở học sinh THCS và THPT khi so

sánh với biến số tuổi

Trang 11

ix

4.14 SKTT ở học sinh THCS và THPT

Bảng

4.15

Tác động của suy giảm chức năng tổng thể đến SKTT 3 thông

qua các suy giảm chức năng 2 và suy giảm chức năng 3

107

Bảng

4.16

Tác động của suy giảm chức năng lĩnh vực cụ thể 1 đến SKTT

3, vấn đề hướng nội 3 và hướng ngoại 3 thông qua suy giảm

chức năng cụ thể tương tự ở lần 2

116

Bảng

4.17

Tác động của biến suy giảm chức năng tổng thể 1 đến SKTT 3

thông qua suy giảm chức năng tổng thể 2 và SKTT 2

117

Bảng

4.18

Tác động của suy giảm chức năng tổng thể 1 đến vấn đề hướng

nội 3, vấn đề hướng ngoại 3 thông qua suy giảm chức năng tổng

thể 2 và vấn đề hướng nội 2, vấn đề hướng ngoại 2

119

Bảng

4.19

Tác động của suy giảm chức năng tổng thể 1 đến vấn đề hướng

nội 3, vấn đề hướng ngoại 3 thông qua suy giảm chức năng tổng

thể 2 và vấn đề hướng nội 2, vấn đề hướng ngoại 2

Tác động của suy giảm chức năng cụ thể đến vấn đề SKTT,

hướng nội và hướng ngoại qua phong cách làm cha mẹ hỗ

trợ tâm lý ở lần đo thứ nhất

129

Bảng

4.23

Tác động của suy giảm chức năng cụ thể đến vấn đề SKTT,

hướng nội và hướng ngoại qua phong cách làm cha mẹ kiểm

soát hành vi ở lần đo thứ nhất

131

Bảng

4.24

Tác động của suy giảm chức năng cụ thể đến vấn đề SKTT,

hướng nội và hướng ngoại qua phong cách làm cha mẹ kiểm

soát tâm lý ở lần đo thứ nhất

134

Trang 12

Vì tiêu chí chẩn đoán cho một rối loạn tâm thần phải bao gồm các triệu chứng lâm sàng và có báo cáo về suy giảm chức năng nên dẫn đến một thực tế, những trường hợp đáp ứng các tiêu chí về mặt triệu chứng lâm sàng nhưng không đáp ứng tiêu chí có suy giảm chức năng sẽ không nhận được chẩn đoán cho một rối loạn tâm thần Tương tự như vậy, những trường hợp có suy giảm chức năng nhưng không đáp ứng đủ các triệu chứng lâm sàng của rối loạn cũng không có cơ hội được nhận sự hỗ trợ đúng như nó cần phải có

Suy giảm chức năng của một cá nhân sẽ trở nên nghiêm trọng hơn theo thời gian và kéo theo sự suy giảm ở những lĩnh vực khác nếu vấn đề này không được

hỗ trợ và can thiệp Suy giảm chức năng khiến cho cá nhân mất dần khả năng thực hiện các chức năng làm việc, học tập, vui chơi, giao tiếp thậm chí là không thể tự phục vụ bản thân Nếu các triệu chứng của một rối loạn tâm thần gia tăng

về số lượng và mức độ nghiêm trọng thì nó sẽ kéo theo mức độ nghiêm trọng của suy giảm chức năng Vì thế, việc phát hiện kịp thời yếu tố suy giảm chức năng và thực hiện các can thiệp nhằm hạn chế, cải thiện và hồi phục yếu tố này là một việc

Trang 13

là các triệu chứng lâm sàng của rối loạn có xu hướng được chú trọng xem xét nhiều hơn so với các tiêu chí phản ánh suy giảm chức năng Việc xác định có hay không

có suy giảm chức năng phụ thuộc nhiều vào sự tự quyết của nhà chuyên môn và dựa trên thông tin của người báo cáo

Những đề cập nói trên đã thúc đẩy sự hình thành của một xu hướng nhìn nhận mới về suy giảm chức năng trong lĩnh vực SKTT Các nhà chuyên môn cho rằng, phạm trù suy giảm chức năng cần được nhìn nhận tách biệt khỏi nhóm các tiêu chí chẩn đoán cho một rối loạn tâm thần để trở thành một vấn đề độc lập trong lĩnh vực SKTT Sự tách bạch này sẽ giúp cho những trường hợp thuộc nhóm có nguy cơ bị loại khỏi danh sách các trường hợp cần nhận được sự trợ giúp như đã đề cập ở trên

có cơ hội nhận được sự trợ giúp phù hợp và đúng lúc Điều này còn giúp cho việc hoạch định các kế hoạch phòng ngừa và trợ giúp đầy đủ hơn

Các nghiên cứu cũng cho thấy rối loạn tâm thần là một nguyên nhân lớn dẫn tới suy giảm chức năng nhưng không phải là yếu tố duy nhất (Dang, Weiss, Lam, 2015) Các nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố khác ảnh hưởng tới hoặc gây ra suy giảm chức năng ở trẻ em như: điều kiện kinh tế văn hóa xã hội, các yếu tố trong gia đình bao gồm cả phong cách làm cha mẹ, sự phát triển, giới tính, hay các vấn đề bệnh thể chất, bệnh mạn tính, các khuyết tật… có tác động

Trang 14

3

đáng kể đến suy giảm chức năng ở trẻ em Như vậy có thể thấy, suy giảm chức năng do nhiều yếu tố khác nhau gây ra và mức độ tác động của các yếu tố là khác nhau đến vấn đề này Trong đó, yếu tố phong cách làm cha mẹ là chủ đề được rất nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước khai thác Nếu như có rất nhiều nghiên cứu tập trung tìm hiểu ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến SKTT thì lại có rất ít nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của nó đến suy giảm chức năng ở trẻ em Bên cạnh đó, chưa có nghiên cứu nào từng đề cập đến vai trò của phong cách làm cha mẹ như một biến số trung gian trong mối quan hệ suy giảm chức năng và SKTT Do đó, chúng tôi quyết định lựa chọn yếu tố phong cách làm cha

mẹ, đặt nó vào mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và SKTT để phân tích vai trò của nó Chúng tôi lựa chọn phong cách làm cha mẹ làm đối tượng nghiên cứu trong đề tài này vì những lý do sau: Thứ nhất, phong cách làm cha mẹ là một biến

số mang tính cấu trúc cao được chia thành các loại khác nhau rất rõ ràng Thứ 2, phong cách cha mẹ đã được chứng minh có tác động đáng kể đến cảm xúc hành

vi của trẻ, mức độ tác động là khác nhau tùy thuộc vào kiểu phong cách làm cha

mẹ Thứ 3, phong cách làm cha mẹ là yếu tố hiện diện trong tất cả các gia đình, ảnh hưởng hàng ngày đến sự lớn lên của trẻ Chính vì những lý do trên, chúng tôi

ưu tiên lựa chọn xem xét vai trò trung gian của biến số phong cách làm cha mẹ trong mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và SKTT của học sinh

Một lý do nữa khiến chúng tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu chủ đề này trên nhóm khách thể là học sinh trong bậc học THCS và THPT là bởi: Thứ nhất,

tỷ lệ suy giảm chức năng ở trẻ em Việt Nam là 20% (Dang, Weiss, Lam, 2015)

Tỷ lệ suy giảm chức năng cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu ở các quốc gia khác cho thấy có sự dao động xung quanh con số này, có thể bao gồm hoặc không bao gồm rối loạn tâm thần Thứ hai, có tới 2/3 các vấn đề về SKTT khởi phát những triệu chứng ban đầu ở tuổi VTN Thứ ba, suy giảm chức năng tâm lý nếu có ở độ tuổi này thì là suy giảm ban đầu, do đó mối quan hệ giữa triệu chứng, rối loạn và suy giảm chức năng chưa phải là một mối quan hệ lâu dài

Trang 15

xu hướng quan tâm của các nhà chuyên môn trên thế giới và đã được một số nghiên cứu đề cập đến, nhưng ở Việt Nam thì chủ đề này đang hoàn toàn là mới

mẻ, vẫn đang là những khoảng trống mà các nhà nghiên ở Việt Nam có thể khai thác nghiên cứu

Từ những lý do nói trên, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu “Mối

quan hệ suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần của học sinh Trung học Cơ

sở và Trung học Phổ thông” với mong muốn bù đắp được một phần của khoảng

trống này

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này có mục đích tìm ra mối quan của hệ suy giảm chức năng

và vấn đề SKTT ở học sinh THCS và THPT Cụ thể, nghiên cứu tác động của suy giảm chức năng đến sự khỏe mạnh hay có vấn đề SKTT của học sinh phổ thông Tiếp theo đó, nghiên cứu đánh giá vai trò của yếu tố phong cách làm cha

mẹ trong mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và vấn đề SKTT Kết quả có được từ nghiên cứu sẽ giúp dự báo yếu tố nguy cơ cũng như yếu tố có lợi đối với vấn đề SKTT, đề xuất các hoạt động hỗ trợ, phòng ngừa, can thiệp hiệu quả đối với dịch vụ chăm sóc SKTT trong trường học

3 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Tỷ lệ học sinh vừa có suy giảm chức năng và vấn đề SKTT là bao nhiêu? Tỷ lệ học sinh suy giảm chức năng nhưng không có vấn đề SKTT và

Trang 16

4 Giả thuyết khoa học

Giải thuyết 1: Có sự tồn tại nhất định của nhóm học sinh bị suy giảm chức năng nhưng không có vấn đề SKTT và ngược lại

Giải thuyết 2: Suy giảm chức năng là một trong các yếu tố dự báo sự phát triển vấn đề SKTT của học sinh trong tương lai

Giải thuyết 3: Yếu tố phong cách làm cha mẹ là yếu tố trung gian có tác động đến mối quan hệ suy giảm chức năng và vấn đề SKTT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ suy giảm chức năng và vấn đề SKTT, vai trò của phong cách làm cha mẹ trong mối quan hệ này trên thế giới

6 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

6.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu về suy giảm chức năng, SKTT của học sinh và phong cách làm cha mẹ

Trang 17

314 phụ huynh có con em là học sinh đang trong bậc học THCS và THPT

và cha mẹ là người cung cấp thông tin về con em mình (50% nội thành và 50% khu vực ngoại thành)

7 Phạm vi nghiên cứu

7.1 Về khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên nhóm khách thể là cha mẹ của những học sinh trong bậc học THCS và THPT ở 12 trường trên địa bàn TP Hà Nội, bao gồm nội thành và ngoại thành, với tổng số khách thể là 314 khách thể

7.2 Về giới hạn đối tượng nghiên cứu

Thứ nhất, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa yếu tố suy giảm chức năng và vấn đề SKTT ở khía cạnh tác động dự báo theo chiều: Suy giảm chức năng tổng thể và các suy giảm chức năng cụ thể (liên cá nhân, trường học

và chăm sóc bản thân) tác động đến vấn đề SKTT chung, vấn đề hướng nội và hướng ngoại của học sinh THCS và THPT

Thứ hai, đề tài chỉ tìm hiểu vai trò trung gian (mediator factor) của yếu tố phong cách làm cha mẹ trong mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và vấn đề SKTT của học sinh THCS và THPT

7.3 Về địa bàn và thời gian nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là cha mẹ học sinh đang cư trú trong khu vực nội, ngoại thành của thành phố Hà Nội, cụ thể:

- 4 quận nội thành: Cầu Giấy, Thanh Xuân và Đống Đa, Hà Đông

- 6 xã thuộc địa bàn huyện Đông Anh: Vân Nội, Đông Hội, Xuân Nộn, Liên

Hà, Cổ Loa, và Thị trấn Đông Anh

Trang 18

7

- Nghiên cứu được thực hiện trong một khoảng thời gian 24 tháng với 3 lần lấy số liệu (từ tháng 01/2017 đến tháng 1/2019)

7.4 Về nguồn thông tin

Dữ liệu, số liệu về tình trạng suy giảm chức năng, vấn đề SKTT của học sinh và phong cách làm cha mẹ được lấy từ báo cáo của cha mẹ hoặc người bảo trợ Việc chúng tôi lựa chọn nguồn thông tin này dựa trên một số lý do đã được chúng tôi giải thích chi tiết ở chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

- Tiếp cận phát triển:

Học sinh trong trường Phổ thông là nhóm trẻ em đang trong giai đoạn có những thay đổi và phát triển mạnh mẽ nhất cả về thể chất và tâm lý, môi trường sống, của các em cũng có những phát triển từng ngày đặc biệt là có những chuyển đổi về cấp học cùng những áp lực về thi cử Sự thay đổi và phát triển này có thể làm xuất hiện một số đặc điểm, thuộc tính tâm lý mới gây ảnh hưởng đến đời sống của trẻ em trong đó có thể gây ra nguy cơ về suy giảm chức năng cũng như các vấn đề về SKTT Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thời kỳ tuổi VTN là thời kỳ khởi phát rất nhiều các vấn đề về SKTT Chính vì vậy, việc nghiên cứu suy giảm chức năng phải được đặt trong tiến trình phát triển tự nhiên của khách thể và của môi trường sống

- Tiếp cận dịch tễ và lâm sàng

Về dịch tễ: Dịch tễ học được Last định nghĩa là “Việc nghiên cứu sự phân

bố và các yếu tố quyết định của các tình trạng hay sự kiện liên quan tới sức khỏe trong các quần thể xác định và việc ứng dụng nghiên cứu này vào phòng ngừa

và kiểm soát các vấn đề sức khỏe” Như vậy, nghiên cứu dịch tễ học không chỉ quan tâm tới tử vong, bệnh tật mà còn cả với trạng thái sức khỏe tốt và quan trọng nhất là các giải pháp tăng cường sức khỏe Từ “bệnh” bao hàm tất cả sự

Trang 19

đó, sự đánh giá hay xem xét vấn đề sẽ không chỉ giới hạn trong một nhóm lâm sàng mà sẽ được nhìn nhận, đánh giá, đo lường trên toàn bộ nhóm khách thể đại diện tham gia nghiên cứu, xem xét các biến số này là các biến liên tục Theo Pearson K, (1903) và APA, (1980), khi tiến hành xử lý số liệu phục vụ cho nghiên cứu, phải chạy thống kê trên toàn bộ tổng số mẫu chứ không chỉ chạy trên các trường hợp có suy giảm chức năng và vấn đề SKTT

Về lâm sàng: Xác định tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT và suy giảm chức

năng được dựa trên các biểu hiện về mặt triệu chứng hành vi và cảm xúc ở ba nhóm lớn, bao gồm vấn đề SKTT, nhóm hội chứng hướng nội và nhóm hội chứng hướng ngoại Các biểu hiện về cảm xúc và hành vi được đo lường dựa trên tiêu chí chẩn đoán của DSM Điểm ngưỡng của các nhóm vấn đề được xác định rõ ràng đối với từng nhóm triệu chứng cũng như trên toàn thang đo Tương

tự, việc xác định suy giảm chức năng cũng dựa trên các mô tả các biểu hiện suy giảm chứng năng trên ba lĩnh vực chức năng trường học, liên cá nhân và nhà trường cũng như điểm ngưỡng trên toàn thang đo và từng lĩnh vực suy giảm

- Tiếp cận hoạt động:

Mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ, thế giới luôn vận động không ngừng Con người cũng không ngoại lệ và vì thế trẻ em cũng không ngừng hoạt động Thông qua hoạt động, các đặc điểm tâm lý cá nhân của các em được hình thành, phát triển, bộc lộ và có những thay đổi Sự suy giảm và các hành vi không thích nghi

có thể được hình thành từ những hoạt động nhóm, cộng đồng do đó việc đánh giá suy giảm chức năng phải được xem xét trong các hoạt động cụ thể của từng

Trang 20

9

lĩnh vực mà ở đó trẻ có khả năng hay không có khả năng thực hiện được các hoạt động được đề ra

8.2 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Luận án sử dụng các thang đo:

o Thang đo suy giảm chức năng BIS (Bird Impairment Scale)

o Thang đo các vấn đề cảm xúc hành vi CBCL (Child Behavior Checklist)

o Thang đo phong cách làm cha mẹ CRPBI (Children‟s Report of Parent Behaviour Inventory)

- Phương pháp thống kê toán học trên phần mềm SPSS 20.0

9 Đóng góp mới của luận án

Đây là đề tài đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về phạm trù suy giảm chức năng trong mối quan hệ của suy giảm chức năng và vấn đề SKTT ở học sinh THCS và THPT theo hướng: tính dự báo và tác động của suy giảm chức năng đến vấn đề SKTT, trong đó có hội chứng các vấn đề hướng nội và hướng ngoại

ở lứa tuổi học sinh phổ thông

Đề tài đã đóng góp được một phần sơ sở lý luận về phạm trù suy giảm chức năng trong hệ thống cơ sở lý luận về lĩnh vực sức khỏe tâm thần

Kết quả của nghiên cứu cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa giữa suy giảm chức năng với SKTT ở học sinh phổ thông Suy giảm chức năng ở hiện tại có thể dự báo cho suy giảm chức năng và vấn đề SKTT trong tương lai ở học sinh THCS và THPT

Kết quả nghiên cứu chỉ ra được vai trò trung gian của phong cách làm cha

mẹ hỗ trợ tâm lý trong mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và vấn đề SKTT ở học sinh THCS và THPT Cụ thể, vai trò của yếu tố phong cách làm cha mẹ kiểu

hỗ trợ tâm lý có thể làm cho mức độ nghiêm trọng của vấn đề SKTT tăng lên hay giảm đi trong mối quan hệ suy giảm chức năng tác động đến vấn đề SKTT

Trang 21

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần của học sinh THCS và THPT

Trang 22

11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ SUY GIẢM CHỨC NĂNG VÀ

VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN 1.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và triệu chứng của rối loạn tâm thần

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các khía cạnh khác nhau về mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và triệu chứng của các rối loạn, bao gồm:

Thứ nhất, suy giảm chức năng và triệu chứng của rối loạn tâm thần luôn luôn có tương quan thuận với nhau (Bird & cs, 1990; Keenan, Wroblewski, Hipwell, Loeber, & Stouthamer-Loeber, 2010; Pickles & cs, 2001) Nghiên cứu trên nhóm mẫu 20,000 trẻ VTN về triệu chứng và suy giảm chức năng ở 15 lĩnh vực hoạt động đã cho thấy: Số lượng của các triệu chứng của các rối loạn trầm cảm, rối loạn hành vi và rối loạn thách thức chống đối có mối quan hệ tuyến tính với mức độ của suy giảm chức năng (Pickle & cs, 2001) Các nghiên cứu định lượng về mối quan hệ giữa các triệu chứng và suy giảm cũng cho thấy hai yếu tố này có mối tương quan với nhau ở mức độ trung bình (Allen, Lavallee, Herren, Ruhe, & Schneider, 2010; Kutash, Lynn, & Burns, 2008; Storch & cs, 2010; Winters, Collett, & Myers, 2005) Ví dụ, báo cáo của Storch & cs (2010) đã chỉ

ra triệu chứng của trẻ có rối loạn ám ảnh cưỡng chế và tỷ lệ suy giảm chức năng

có tương quan với nhau Hay trong một nghiên cứu khác, theo báo cáo của cha

mẹ và trẻ em, kết quả cũng chỉ ra rằng trong nhóm trẻ có lo âu chia tách có mối tương quan giữa triệu chứng và suy giảm chức năng Trên nhóm bệnh nhân trầm cảm có sự suy giảm rõ rệt trên nhiều lĩnh vực chức năng, bao gồm: chức năng thể chất, chức năng xã hội và chức năng hoạt động (Allen & cs, 2010) Như vậy chúng ta có thể nhận thấy suy giảm chức năng và triệu chứng của rối loạn tâm thần luôn có sự tương quan nhất định với nhau

Thêm vào đó, số lượng triệu chứng của rối loạn tâm thần càng nhiều thì tương quan càng cao với suy giảm chức năng Những trường hợp có điểm đánh

Trang 23

12

giá triệu chứng nằm trên ngưỡng chẩn đoán sẽ có mức độ suy giảm chức năng nhiều hơn đáng kể so với những người có điểm suy giảm chức năng nằm dưới ngưỡng điểm chẩn đoán Kết quả trong một nghiên cứu trường diễn về mối quan

hệ giữa triệu chứng của rối loạn ứng xử và suy giảm chức năng trên 2500 trẻ em gái trong nhóm tuổi từ 5 – 8 được theo dõi đến khi 15 tuổi (Keenan & cs, 2010)

đã cho thấy: Tất cả nguồn tin báo cáo (của cha mẹ, giáo viên và trẻ em gái) đều chỉ ra rằng, số lượng các triệu chứng và mức độ suy giảm có mối tương quan cao Trong mối tương quan này, nếu xem xét có sự hiện diện của các triệu chứng điển hình của rối loạn thì cho thấy có sự tăng lên về mức độ của suy giảm chức năng Cụ thể, suy giảm chức năng có xu hướng tăng nhẹ nếu có sự hiện diện của

3 triệu chứng trở lên, điều này cho thấy số lượng các triệu chứng có thể tác động làm gia tăng mức độ của suy giảm của chức năng (Keenan & cs, 2010)

Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra: không phải lúc nào số lượng triệu chứng của rối loạn tâm thần cũng tương quan chặt chẽ và hoàn hảo với mức độ suy giảm chức năng Ví dụ, nghiên cứu xác định mối quan hệ giữa

số lượng triệu chứng và suy giảm có điểm đánh giá ở trên và dưới ngưỡng chẩn đoán của ba rối loạn: Trầm cảm chủ yếu, rối loạn cư xử và rối loạn thách thức chống đối Pickles (2001) đã chỉ ra rằng, cả ba rối loạn nói trên đều không liên quan đến mối quan hệ: sự gia tăng về số lượng các triệu chứng thì làm suy giảm chức năng tăng lên Một nghiên cứu khác trên nhóm trẻ có rối loạn rối loạn tăng động giảm chú ý cũng cho kết quả tương tự Nhóm trẻ trước tuổi đi học có rối loạn này có điểm đánh giá suy giảm nằm ở trên ngưỡng và dưới ngưỡng chẩn đoán đều có các mức độ tương quan khác nhau với số lượng các triệu chứng của rối loạn này (Egger, Kondo, & Angold, 2006) Điều này có nghĩa, không phải lúc nào sự gia tăng về số lượng các triệu chứng cũng tương quan cao với mức độ suy giảm chức năng

Thứ hai, có một tỷ lệ nhất định những trẻ em có các triệu chứng của các rối loạn nhưng không có suy giảm chức năng Ngược lại có những trẻ em có sự hiện

Trang 24

13

diện của suy giảm chức năng nhưng không có đáp ứng đầy đủ triệu chứng của một rối loạn Kết quả trong nghiên cứu Great Smoky Mountains Cohort (Angold, Costello, Farmer, Burns, & Erkanli, 1999) với số mẫu hơn 1,000 trẻ

em trong độ tuổi 9 - 11, đã chỉ ra: có 12% mẫu được tìm thấy đáp ứng ít nhất một chẩn đoán rối loạn tâm thần nhưng không hiện diện suy giảm chức năng đáng kể và có 14% mẫu có suy giảm đáng kể nhưng không đáp ứng tiêu chí chẩn đoán cho một rối loạn nào Như vậy có thể thấy, suy giảm chức năng có thể liên quan đến triệu chứng của rối loạn tâm thần hoặc không liên quan đến triệu chứng của rối loạn Đây là một xác nhận quan trọng, giúp ích cho việc cung cấp

và sử dụng dịch vụ chăm sóc tâm thần chứ không chỉ đơn thuần là việc chẩn đoán Như vậy có thể thấy, không phải lúc nào hai yếu tố này cũng có tương quan hoàn hảo Sự thiếu đi mối quan hệ hoàn hảo và chặt chẽ giữa triệu chứng

và suy giảm chức năng sẽ giúp chúng ta có thể xác định được hai nhóm trẻ: nhóm trẻ đáp ứng triệu chứng của các tiêu chí chẩn đoán cho một rối loạn của bệnh tâm thần nhưng không có suy giảm chức năng đáng kể và nhóm trẻ được xác định là có suy giảm đáng kể nhưng lại không đáp ứng về tiêu chí chẩn đoán của một rối loạn nào (Costello, Angold, & Keeler, 1999; Ezpeleta & cs, 2001; Pickles & cs, 2001)

Thứ ba, một số nghiên cứu trường diễn cũng đã chỉ ra, số lượng các triệu chứng và suy giảm chức năng có tính dự báo độc lập cho các khó khăn của cá nhân trong tương lai dù ban đầu suy giảm chức năng có thể không được xem như một căn cứ để xem xét cho việc dự báo (Costello & cs, 1999; Pickles & cs, 2001) Ví dụ, trong một nghiên cứu về trầm cảm cho thấy, trầm cảm chủ yếu được dự báo thông qua các triệu chứng ban đầu, suy giảm không được đưa vào làm căn cứ dự báo Điều này cho thấy, dữ liệu về suy giảm chức năng đã không cung cấp thông tin về sự phát triển của rối loạn trầm cảm trong tương lai Tuy nhiên, trong một nghiên cứu khác, cả 2 yếu tố là triệu chứng và suy giảm đã được chứng minh là những biến số độc lập để dự báo cho rối loạn hành vi và rối

Trang 25

Tóm lại, triệu chứng của một rối loạn tâm thần và suy giảm chức năng có tương quan với nhau ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên sự tương quan này không hoàn hảo Suy giảm chức năng và mức độ suy giảm chức năng có thể liên quan hoặc không liên quan đến số lượng các triệu chứng và cả hai yếu tố này có thể trở thành các yếu tố dự báo cho sự khó khăn về SKTT của một cá nhân về sau này

1.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và rối loạn tâm thần

Một số nghiên cứu đã chỉ ra, mỗi rối loạn tâm thần cụ thể sẽ có mức độ đau khổ và mức độ suy giảm chức năng khác nhau Chẳng hạn như, suy giảm chức năng có liên quan nhiều đến rối loạn hướng ngoại hơn so với rối loạn hướng nội

Ví dụ, trong nghiên cứu của Costello & Shugart (1992) trên 430 trẻ em từ 7 đến

11 tuổi có các rối loạn hướng ngoại như: rối loạn cư xử, rối loạn thách thức chống đối và rối loạn tăng động giảm chú ý Khi đánh giá mối quan hệ giữa một

số suy giảm chức năng (chức năng liên cá nhân, bao gồm sự đổ vỡ trong mối quan hệ giữa trẻ với người khác, sự căng thẳng của gia đình, sự đánh giá của những người khác từ bên ngoài đối với trẻ; chức năng học tập là sự hiện diện các thành tích học tập của trẻ ở trường) với các rối loạn hướng ngoại mà trẻ có

đã cho thấy các rối loạn hướng ngoại được đề cập ở trên liên quan đáng kể đến suy giảm chức năng hơn là các rối loạn hướng nội bao gồm trầm cảm và lo âu

Trang 26

sử dụng là DSM 3-R và thang đo CAPA Kết quả cũng tương tự, cụ thể là suy giảm chức năng có tương quan thấp nhất với rối loạn ám sợ đặc hiệu, tiếp theo là

lo âu chia tách và rối loạn ám sợ xã hội nhưng suy giảm chức năng tương quan mạnh nhất với rối loạn thách thức chống đối, tiếp đến là rối loạn cư xử và rối loạn tăng động giảm chú ý

Tuy nhiên, trong một báo cáo khác lại cho thấy mức độ tương quan giữa suy giảm chức năng và rối loạn tâm thần không đồng nhất với các nghiên cứu đã

đề cập ở trên Chẳng hạn, nhóm trẻ em có trầm cảm và rối loạn cư xử lại có suy giảm chức năng ở mức độ cao Ngoài ra, người ta còn tìm thấy mức độ ảnh hưởng của các môi trường khác nhau đến các rối loạn này Cụ thể như: Môi trường gia đình có ảnh hưởng lớn đến rối loạn thách thức chống đối và rối loạn

lo âu trong khi sự ảnh hưởng của giáo dục lại được báo cáo nhiều ở nhóm trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý, rối loạn cư xử và nhóm sử dụng chất; Quan hệ bạn bè trong nhóm trẻ cùng tuổi được cho là ít có ảnh hưởng đến tất cả các rối loạn (Gazelle, Olson Workman, & Allan, 2010; Puig-Antich & cs, 1993; Riley, Ensminger, Green, & Kang, 1998)

Như vậy có thể thấy rằng, không có sự đồng nhất về mức độ tương quan giữa các rối loạn tâm thần với suy giảm chức năng ở các nghiên cứu khác nhau Các nhà nghiên cứu cho rằng, sự không đồng nhất về mức độ tương quan có thể là do các nghiên cứu đã sử dụng các thang đo khác nhau, có ngưỡng chẩn đoán khác nhau và

có thể có sự tác động của những yếu tố khác ngoài yếu tố đặc trưng của rối loạn hay suy giảm Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã chứng minh được sự suy giảm chức năng được nhìn thấy nhiều hơn ở mức độ dưới ngưỡng của các triệu chứng

Trang 27

16

hành vi hơn là mức độ dưới ngưỡng của các triệu chứng cảm xúc (Costello & Shugart, 1992) Do đó, mối quan hệ chặt chẽ giữa ngưỡng chẩn đoán với mức độ suy giảm là một trong những yếu tố tạo ra sự khác biệt này (Pickles & cs, 2001) Tóm lại, nhiều nghiên cứu chỉ ra các rối loạn hướng ngoại có xu hướng tương quan mạnh với suy giảm chức năng, trầm cảm cũng có được xem là rối loạn tâm thần có tương quan mạnh hơn với suy giảm chức năng so với các rối loạn khác trong nhóm rối loạn hướng nội Mức độ tương quan giữa hai yếu tố này cũng không có sự đồng nhất giữa các nghiên cứu khác nhau Suy giảm chức năng

và mức độ nghiêm trọng của suy giảm có tương quan khác nhau với các rối loạn tâm thần khác nhau và điều này phụ thuộc vào các yếu tố như đặc điểm của thang

đo, tính chất của rối loạn, cấu trúc môi trường và sự giáo dục của gia đình và các mối quan hệ Như vậy có thể thấy rằng mối tương quan giữa suy giảm chức năng với mỗi loại rối loạn tâm thần là không giống nhau

1.3 Ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến vấn đề sức khỏe tâm thần

Có nhiều nghiên cứu đã chứng minh phong cách làm cha mẹ tích cực hay tiêu cực đều có ảnh hưởng nhất định đến suy giảm chức năng ở trẻ em (Latimer

& cs, 2003) và cũng được chứng minh là có ảnh hưởng đến sự suy giảm về mặt

xã hội của trẻ Ở trẻ em, khi cha mẹ chủ yếu sử dụng phong cách làm cha mẹ tiêu cực mà không sử dụng cách nuôi dạy tích cực thì trẻ có sự suy yếu về mặt

xã hội nhiều hơn (Keown & Woodward, 2006) và có liên quan đến suy giảm chức năng của trẻ trong môi trường gia đình, nó tạo ra sự hỗn loạn ở trẻ nhiều hơn và trẻ ít có sự hòa hợp với các thành viên khi ở nhà (Dumas & cs, 2006) Một trong các yếu tố của phong cách làm cha mẹ là tính nhất quán, điều này được cho là một yếu tố quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh của trẻ

em Dwairy (2010) đã lập luận rằng, sự không nhất quán của cha mẹ có thể gây

ra sự lo lắng và mức độ hung hăng ở trẻ em Sự không nhất quán này làm gia tăng sự lo âu chia tách và ám sợ xã hội (Hersov, 1960) và rối loạn hành vi ở trẻ

em (Dadds, 1995) Sự không nhất quán về phong cách cha mẹ có thể khiến trẻ

Trang 28

17

trở nên bối rối do trẻ không thể dự đoán các phản ứng tiêu cực từ phía cha mẹ (Dwairy, 2008) Dwairy (2008) đã phát triển một thang đo để xem xét sự ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ thiếu nhất quán đối với trẻ em vùng Trung Đông, kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra có một mối tương quan giữa phong cách làm cha mẹ thiếu nhất quán và rối loạn tâm lý ở trẻ em

Phong cách làm cha mẹ cũng được cho là có ảnh hưởng đến khả năng học tập của trẻ em Rogers và cộng sự (2009) đã phát hiện ra rằng phong cách làm cha mẹ có liên quan đến suy giảm khả năng học tập ở trẻ em có rối loạn tăng động giảm chú ý Cụ thể, nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ hỗ trợ thấp và kiểm soát cao của cha mẹ có liên quan đến thành tích học tập thấp ở trẻ Nghiên cứu của Bhide và cộng sự (2016) cho kết quả: sự ấm áp, nhất quán và bình tĩnh của cha mẹ có thể giúp trẻ em trong nhóm có rối loạn tăng động giảm chú ý giảm bớt các khiếm khuyết về cảm xúc xã hội so với nhóm cha mẹ thiếu nhất quán và

dễ tức giận Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của Healey & cs (2011) trên nhóm trẻ mầm non có rối loạn tăng động giảm chú ý cho thấy phong cách làm cha mẹ được xem là một yếu tố trung gian điều tiết mức độ nghiêm trọng của triệu chứng rối loạn tăng động giảm chú ý và chức năng ở trẻ Lauren & cs (2016) cũng chỉ ra hai yếu tố chính ảnh hưởng đến suy giảm chức năng ở trẻ là triệu chứng của rối loạn và phong cách làm cha mẹ

Như vậy có thể thấy rằng, trong nhiều yếu tố tác động và ảnh hưởng đến suy giảm chức năng và SKTT thì yếu tố phong cách làm cha mẹ là một yếu tố đáng được quan tâm Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi đặt ra giả thiết phong cách làm cha mẹ là một một biến số tham gia vào mối quan hệ suy giảm chức năng và SKTT Do đó, chúng tôi sẽ trình bày sâu hơn cơ sở lý luận về phong cách làm cha mẹ và những ảnh hưởng của nó đến vấn đề suy giảm chức năng và SKTT ở trẻ em ở phần cơ sở lý luận của đề tài

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số đo lường suy giảm chức năng

1.4.1 Người cung cấp thông tin, tuổi, giới tính và chủng tộc

Trang 29

18

Sự bất đồng về mức độ đánh giá vấn đề giữa những người cung cấp thông tin cũng đã được báo cáo trong các nghiên cứu là khác nhau tùy theo mức độ nghiêm trọng của suy giảm, giới tính, tuổi của trẻ và chủng tộc của người tham gia (Ezpeleta & cs, 2001; Wille & cs, 2008) Trong một nghiên cứu, cha mẹ và trẻ VTN từ 11-18 tuổi được điều trị về tâm thần đã được phỏng vấn bằng bảng hỏi SKTT và thang đo CIS (Chidren’s Intensive Services) Kết quả cho thấy rằng cha mẹ và trẻ VTN có sự nhất quán khi đánh giá những hành vi gây ra các

hệ quả nghiêm trọng hoặc có liên quan đến các vấn đề như: bị bắt giữ, tống giam hoặc bị đuổi học Tuy nhiên, cha mẹ báo cáo mức độ suy giảm chức năng cao hơn so với trẻ VTN tự báo cáo ở lĩnh vực: thể hiện vai trò, mối quan hệ và các hoạt động xã hội và báo cáo ít có suy giảm hơn ở lĩnh vực trường học và các hệ quả mang tính pháp lý Sự bất đồng lớn nhất giữa cha mẹ và VTN trong đánh giá là ở lĩnh vực quan hệ cá nhân và trong những trường hợp ít có sự suy giảm nghiêm trọng Lý do được đưa ra để giải thích cho sự khác biệt giữa cha mẹ và VTN khi cùng báo cáo về một vấn đề là: Thứ nhất, cha mẹ không nhận thức được hành vi của trẻ; Thứ hai, cha mẹ và trẻ em VTN diễn giải hành vi một cách khác nhau; Thứ 3, cả cha mẹ và trẻ VTN có ngưỡng khác nhau cho việc xác

định một hành vi có vấn đề

Một nghiên cứu dịch tễ học được tiến hành ở Đức đã chỉ ra có sự khác biệt

về tỷ lệ của suy giảm chức năng do có sự khác nhau về người cung cấp thông tin, giới tính và tuổi của trẻ em Thông tin từ cha mẹ báo cáo nhiều suy giảm nghiêm trọng và rõ ràng hơn so với thông tin được cung cấp bởi trẻ em khi được đánh giá bằng bảng hỏi điểm mạnh điểm yếu (Strengths and Difficulties Questionnaire - SDQ) (Wille & cs, 2008) Cha mẹ báo cáo trẻ em trai có nhiều suy giảm hơn so với trẻ em gái và các suy giảm có liên quan đến trường học, gia đình Với trẻ em gái, suy giảm ít được xác định và ít nghiêm trọng hơn so với trẻ em trai Tuy nhiên, thông tin từ các trẻ em gái tự báo cáo lại cho thấy có nhiều sự suy giảm hơn so với báo cáo của cha mẹ (Goodman, 2001)

Trang 30

19

Một nghiên cứu được thực hiện ở Mĩ cũng sử dụng thang đo điểm mạnh điểm yếu (SDQ) cho kết quả: có sự khác biệt về tỷ lệ suy giảm khi so sánh theo giới tính, tuổi, mức độ nghèo khó, tình trạng bảo hiểm sức khỏe, sắc tộc và hôn nhân Chẳng hạn, cha mẹ báo cáo tỷ lệ suy giảm ở trẻ em nam gấp đôi so với trẻ

em nữ; Những người có trợ cấp y tế hoặc có bảo hiểm sức khỏe đã báo cáo trẻ

em trai lớn có nhiều suy giảm hơn trẻ em gái; Suy giảm được báo cáo là nhiều hơn trong các gia đình cha mẹ là đơn thân và gia đình nghèo Trong các nghiên cứu về các dân tộc khác của Mĩ cho thấy, cha mẹ báo cáo nhóm trẻ em lớn hơn

có nhiều suy giảm hơn so với nhóm trẻ nhỏ (không tính đến giới tính), trẻ em nam có nhiều suy giảm hơn so với trẻ nữ (Simpson & cs, 2005)

Cũng giống như các nghiên cứu khác, nghiên cứu the Smokey Mountain báo cáo: tỷ lệ suy giảm đáng kể ở trẻ em nam nhiều hơn khi so sánh với trẻ em

nữ, và các trẻ em nam có nhiều khiếm khuyết ở trường học hơn trong khi các trẻ

em nữ có nhiều khiếm khuyết ở nhà hơn Suy giảm chức năng phổ biến hơn trong các nhóm dân tộc thiểu số (không bao gồm người gốc Tây Ban Nha) đặc biệt là trong nhóm trẻ có hành vi gây rối Tỷ lệ suy giảm cao hơn ở các tộc người thiểu số có thể được giải thích bởi tỷ lệ cao hơn của các triệu chứng Sự khác biệt về giới tính cũng được quan sát ghi nhận theo độ tuổi và loại suy giảm (gia đình, giáo dục và bạn cùng tuổi) (Simpson & cs, 2005; Bird & cs, 1996)

Có thể nói, có sự khác biệt về mức độ suy giảm chức năng khi so sánh nó với các biến số của nguồn tin khai báo, giới tính, độ tuổi… Tuy nhiên điều này cũng được tìm thấy trong các báo cáo đánh giá về các triệu chứng của rối loạn

Trang 31

em ở Anglo Điểm số năng lực xã hội được báo cáo bởi trẻ VTN Puerto Rican thấp hơn đáng kể so với nhóm trẻ ở Anglo (Achenbach & cs, 1990) Tuy nhiên, một báo cáo khác cho thấy trẻ em ở Puerto Rican thường xuyên tương tác với bạn bè, quan hệ tốt với gia đình và anh chị em ruột của mình nhiều hơn nhóm trẻ

ở Anglo Kết quả này phản ánh tầm quan trọng của vai trò gắn kết trong gia đình

và mối quan hệ liên cá nhân và đây là một nét đẹp trong văn hóa của người Puerto Rican (Canino & Canino, 1982; Harwood & cs, 1995) Các báo cáo liên quan đến hoạt động thể thao, sở thích, tổ chức hoặc công việc của trẻ em Puerto Rico được cho là thấp hơn đáng kể so với trẻ ở Anglo,điều này góp phần làm cho điểm số năng lực xã hội của trẻ Puerto Rico thấp hơn Sự thiếu thốn của các nguồn lực trong những cộng đồng nghèo nàn ở Puerto Rico đã giới hạn sự tiếp cận của trẻ em ở khu vực này đối với thể thao và các chương trình thể thao chính thống Ngoài ra, tỷ lệ thất nghiệp cao ở hòn đảo này là vì cơ hội nghề nghiệp không sẵn có là lý do giải thích cho điểm số năng lực thấp hơn của trẻ em ở đây

Do vậy có thể thấy, sự ảnh hưởng của điều kiện xã hội đến người trẻ tuổi có thể

là những lý do khiến cho trẻ Puerto Rican có khả năng thích ứng xã hội kém hơn

so với nhóm trẻ Anglo

Trong nghiên cứu Weisz & cs (1988) cho thấy có sự khác biệt nhỏ trong thái độ của cha mẹ và giáo viên đến từ Thái Lan và Mỹ đối với vấn đề hành vi hướng nội và hướng ngoại ở trẻ em Trong khi hầu hết cha mẹ người Mỹ tin rằng những hành vi hướng nội và hướng ngoại của trẻ em cần phải được giúp đỡ

Trang 32

và là không liên quan đến thành tích học tập ở trẻ em Canada và Ý Nghiên cứu của Rapee & cs (2012) đã cho thấy có sự liên quan đáng kể giữa suy giảm chức năng và các triệu chứng lo âu xã hội ở nhóm sinh viên đến từ khu vực Đông Nam Á so với nhóm sinh viên đến từ các nước phương Tây

Tóm lại, tỷ lệ suy giảm chức năng ở trẻ em cũng như các rối loạn tâm thần

và triệu chứng luôn khác nhau trong các nghiên cứu Lý do dẫn đến sự khác nhau là bởi nhiều yếu tố như có sự khác nhau về người cung cấp thông tin, mẫu,

Trang 33

sự đo lường về suy giảm chức năng như đặc điểm của nguồn cung cấp thông tin, yếu tố văn hóa, bối cảnh, công cụ được sử dụng để đo lường…

Tiểu kết chương 1

Có thể thấy rằng, các nghiên cứu trên thế giới về phạm trù suy giảm chức năng cho đến hiện nay không nhiều so với các chủ đề khác về lĩnh vực SKTT Các nghiên cứu đã có hầu hết tập trung vào dịch tễ của suy giảm chức năng trên nhóm cộng đồng và nhóm lâm sàng, mối quan hệ suy giảm chức năng với các triệu chứng hay các rối loạn Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến suy giảm chức năng và việc đánh giá suy giảm chức năng cũng được một số tác giả tìm hiểu… Các nghiên cứu cũng chỉ ra số lượng các triệu chứng và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng là những yếu tố dự báo sự suy giảm trong tương lai Phần lớn những cá nhân mắc rối loạn tâm thần đều có thể có suy giảm ở một hay nhiều lĩnh vực của cuộc sống Các yếu tố trong gia đình, xã hội, phong cách làm cha mẹ, đặc điểm về giới, sự phát triển… đều có những tác động nhất định đến suy giảm chức năng của trẻ em Trong bối cảnh nghiên cứu tâm lý tại Việt Nam, gần như hầu hết các tác giả đều chưa quan tâm đến phạm trù suy giảm chức năng, chỉ có một nghiên cứu duy nhất của tác giả Đặng Hoàng Minh & cs (2015)

đề cập đến chủ đề này ở khía cạnh tỷ lệ của suy giảm chức năng Nghiên cứu này cũng chỉ ra: rối loạn tâm thần, triệu chứng của rối loạn không phải là yếu tố

Trang 34

Chính vì những lí do nói trên, chúng tôi nhận thấy việc thực hiện nghiên cứu đề về mối quan hệ của sự suy giảm chức năng và vấn đề SKTT ở nhóm học sinh phổ thông và tìm hiểu vai trò của phong cách làm cha mẹ trong mối quan

hệ suy giảm chức năng và vấn đề SKTT là một chủ đề còn đang đƣợc bỏ trống Việc thực hiện nghiên cứu để trả lời cho khoảng trống này là một công việc có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp cho việc phát hiện và phòng ngừa suy giảm chức năng nhằm giảm thiểu các tác tác động xấu của các yếu tố nguy cơ mà còn giúp cho việc xây dựng và cung cấp dịch vụ

hỗ trợ can thiệp cho trẻ em có suy giảm chức năng và vấn đề SKTT

Trang 35

24

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ SUY GIẢM CHỨC NĂNG VÀ VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH THCS VÀ THPT 2.1 Suy giảm chức năng

2.1.1 Thuật ngữ và khái niệm về suy giảm chức năng

2.1.1.1 Thuật ngữ suy giảm chức năng

Suy giảm chức năng hay sự bất lực trong lĩnh vực SKTT là một thực tế được biết đến bởi các nhà thực hành lâm sàng, nhà nghiên cứu và những người làm chính sách, cũng như những người chăm sóc và những người có rối loạn tâm thần Tuy nhiên, một thời gian dài trước đó những thuật ngữ này chưa từng được đề cập một cách rõ ràng trong các hệ thống chẩn đoán Hai hệ thống chẩn đoán chính thống là DSM và ICD vẫn có nhiều điểm chưa thống nhất về thuật ngữ và cách thức đề cập (Bedirhan & Cille Kennedy, 2009) Ngoài ra, hình thức biểu hiện, mức độ và hệ quả của suy giảm chức năng trong các rối loạn tâm thần

đã không được xác định rõ ràng và không được nghiên cứu một cách khoa học Việc đưa ra tiêu chuẩn để đánh giá “suy giảm” vào trong các chẩn đoán chính thức của các rối loạn tâm thần là không cụ thể và không nhất quán (Bedirhan & Cille Kennedy, 2009)

Cho đến nay, thuật ngữ “suy giảm chức năng - functional impairment” là một thuật ngữ rất phổ biến trong DSM bởi nó được nhắc đến trong tiêu chí chẩn đoán của bất kỳ một rối loạn tâm thần bên cạnh các tiêu chí về triệu chứng Ngoài thuật ngữ “Suy giảm chức năng” còn có một thuật ngữ khác là “Mất khả năng/thiểu năng – Disability” được đề cập trong ấn phẩm ICF (Phân loại quốc tế

về hoạt động chức năng, giảm chức năng và sức khỏe của WHO) (WHO’s International Classification Of Fuctioning, Disability And Health) là một ấn phẩm mở rộng của ICD Mặc dù thuật ngữ có khác nhau, nhưng cả hai đều được

sử dụng để mô tả sự thiếu vắng các năng lực cần thiết của một cá nhân trong các bối cảnh cần thiết của cuộc sống

Trang 36

25

2.1.1.2 Khái niệm khuyết tật, suy giảm và suy giảm chức năng

- Khái niệm về khuyết tật

Khuyết tật là gì? WHO định nghĩa: Khuyết tật là bất kỳ tình trạng nào của

cơ thể hoặc tâm trí gây ra sự khó khăn hơn cho một người khi cần thực hiện một

số hoạt động và tương tác với thế giới xung quanh (WHO, 2011) Có nhiều loại

khuyết tật, đó là những loại ảnh hưởng đến khả năng nhìn, vận động, tư duy, ghi nhớ, học tập, giao tiếp, nghe, SKTT và các mối quan hệ xã hội

Cũng theo định nghĩa này, khuyết tật gồm 3 khía cạnh: Thứ nhất là suy

giảm: Suy giảm được đề cập là sự suy giảm của cấu trúc hoặc chức năng của cơ

thể hoặc chức năng tâm thần của một người Thứ hai là sự hạn chế của hoạt

động: Sự hạn chế hoạt động được xem như là sự khó khăn trong việc nhìn, nghe,

đi lại hoặc giải quyết các vấn đề Thứ ba là sự hạn chế về tham dự: Đó là sự hạn

chế tham gia của một người vào các hoạt động thường ngày

Khuyết tật có thể bị gây ra bởi một số nguyên nhân như: tình trạng xảy ra lúc sinh, liên quan đến di truyền, đột biến gen, rối loạn nhiễm sắc thể hay hậu quả của tình trạng bị phơi nhiễm của người mẹ trong thời gian mang thai với các tác động của bệnh lý (ví dụ: bị Rubella) hoặc chất gây nghiện như rượu, thuốc lá…,chấn thương thực thể như chấn thương sọ não hay tủy sống, hay mắc một

- Khái niệm về suy giảm, chức năng và suy giảm chức năng

Suy giảm: Thuật ngữ “suy giảm” được định nghĩa trong nhiều từ điển khác

nhau Theo WHO, suy giảm là một vấn đề về chức năng hay cấu trúc của cơ thể,

Trang 37

định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (2008) định nghĩa “Suy giảm như một sự sai lệch, mất mát đáng kể hoặc sự thiếu hụt về

năng lực sử dụng cấu trúc cơ thể hoặc chức năng của một cá nhân trong một tình trạng sức khỏe, rối loạn hoặc bệnh tật” Định nghĩa này và các hướng dẫn

kèm theo của định nghĩa được sử dụng thường xuyên trong các quyết định bồi thường cho các trường hợp cá nhân

Chức năng và suy giảm chức năng: Suy giảm chức năng là một cấu trúc

quan trọng song song với cấu trúc rối loạn tâm thần trong lĩnh vực SKTT Vậy Suy giảm chức năng là gì? Trước hết, chúng ta đề cập đến định nghĩa chức năng

là gì? Chức năng là năng lực thực hiện các hoạt động cơ bản của cuộc sống hàng ngày mà không cần sự hỗ trợ, là mấu chốt cho sự độc lập hoàn toàn và tạo ra chất lượng cuộc sống (Ankur Barua & cs, 2011)

Theo Hoagwood & cs, (1996), chức năng là khả năng đáp ứng của một cá nhân đối với những đòi hỏi khác nhau được đặt ra trong các môi trường khác nhau như: gia đình, nhà trường, cộng đồng, cũng như khả năng vui chơi với bạn

bè cùng trang lứa Theo như định nghĩa này, thì chức năng được hiểu là một phổ

liên tục, từ mức độ cao nhất của năng lực trong việc đáp ứng được những đòi hỏi

Trang 38

27

của cuộc sống đến mức độ là những đáp ứng thông thường mà một cá nhân không đủ năng lực để thực hiện, đây là thời điểm suy giảm chức năng được nhìn

nhận Hoagwood đã định nghĩa suy giảm chức năng được định nghĩa về mặt

thuật ngữ là sự thiếu vắng của những năng lực chức năng thích ứng hơn là một

số hành vi cụ thể (Hoagwood & cs, 1996) Định nghĩa này không loại trừ khả

năng một trẻ em có thể phát triển các năng lực thích ứng trong một lĩnh vực chức năng này nhưng lại có suy giảm ở một hay một số lĩnh vực khác Ví dụ, chúng ta có thể tìm thấy có những trẻ có suy giảm chức năng trong trường học, nhưng có thể vẫn có các năng lực phù hợp trong bối cảnh gia đình của trẻ đó Định nghĩa này cũng ngụ ý rằng, năng lực và suy giảm được đánh giá tùy theo các giai đoạn phát triển khác nhau của trẻ, cũng như tùy theo bối cảnh văn hóa nơi trẻ lớn lên

Thuật ngữ “suy giảm chức năng” trong vấn đề SKTT đề cập những ảnh hưởng bất lợi cho cuộc sống hoặc làm giảm hiệu quả của các chức năng quan trọng trong đời sống của một cá nhân Suy giảm chức năng có thể được nhận thấy trong các lĩnh vực hoạt động của một cá nhân như: gia đình, nhà trường và cộng đồng (Achenbach & Edelbrock, 1979) Trong phiên bản ICF-CY cũng đề cập sự suy giảm trong các lĩnh vực: chức năng cơ thể (bao gồm cả chức năng tâm lý), hoạt động và sự tham dự vào các hoạt động xã hội

Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất khái niệm suy giảm chức năng trong luận án

“Suy giảm chức năng là sự giảm sút của các năng lực thực hiện tới mức mà cá nhân đó không thể đáp ứng được các đòi hỏi của các môi trường sống khác nhau như: gia đình, nhà trường, cộng đồng từ đó gây ra sự rối loạn trong cuộc sống, làm giảm chất lượng cuộc sống và có thể gây ra vấn đề về SKTT cho cá nhân đó”

Đối tượng phân tích của suy giảm chức năng trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung vào các phạm vi suy giảm chức năng tâm lý, bao gồm: suy giảm chức năng liên cá nhân, suy giảm chức năng học tập, làm việc và suy giảm chức năng chăm sóc bản thân

Trang 39

28

2.1.2 Công cụ đánh giá suy giảm chức năng

Để đánh giá suy giảm chức năng, các nhà thực hành và nghiên cứu đã xây dựng và sử dụng rất nhiều loại thang đo suy giảm chức năng dành cho các lứa tuổi, đối tượng và mục tiêu đo lường khác nhau Tuy nhiên, có thể phân loại các thang đo suy giảm chức năng thành 3 nhóm chính, bao gồm: Nhóm các thang đo suy giảm tổng thể; Nhóm các thang đo lĩnh vực cụ thể hay thang đo đa lĩnh vực; Nhóm các thang đo triệu chứng và suy giảm cụ thể Mỗi một loại thang đo có các ưu điểm và nhược điểm khác nhau cũng như mỗi nhóm thang đo lại có những nét đặc trưng riêng

- Nhóm các thang đo tổng thể về suy giảm (Global Scales of Impairment)

Các thang đo suy giảm tổng thể cho phép người phỏng vấn đánh giá chức năng một đứa trẻ dựa trên thang điểm, từ thang điểm cao nhất đến thấp nhất tương đương với mức độ chức năng tốt nhất đến thang điểm thấp nhất tương đương với mức độ kém Những mô tả về chức năng cụ thể tại các mốc điểm khác nhau dọc theo thang điểm được cung cấp để hỗ trợ người làm đánh giá đưa

ra quyết định Điểm mạnh của một thang đo suy giảm tổng thể là thang điểm thường rất ngắn và dễ dàng cho cả người phỏng vấn và người được phỏng vấn, điều này rất có ích cho mục đích của nghiên cứu Tuy nhiên, những thang đo này không cung cấp một đánh giá cụ thể ở từng lĩnh vực khác nhau của chức năng, do vậy nó làm hạn chế những lợi ích của chính thang đo trong việc lập kế hoạch điều trị hoặc lên chương trình phòng ngừa Nhiều thang đo chỉ cung cấp một điểm duy nhất, điều này có thể làm tính chính xác của thang đo giảm đi và không thực sự hữu ích cho kết quả hoặc hiệu quả của các nghiên cứu Một số thang đo đại diện cho loại thang đo suy giảm tổng thể được sử dụng phổ biến nhất: 1) thang đo Children's Global Assessment Scale (C-GAS); 2) thang đo Columbia Impairment Scale (CIS); 3) Thang đo Strengths and Difficulties Questionnaire (SDQ); 4) thang đo The Vanderbilt Functioning Indexes, Parent and Youth (VFI - P và VFI - Y)

Trang 40

đo Child Behavior Checklist Social Competence Scale (CBCL); 2) Thang đo Social Adjustment Inventory for Children and Adolescents (SAICA); 3) Thang

đo Vineland Adaptive Behavior Scales; 4) Thang đo Child and Adolescent Functional Assessment Scale (CAFAS); 5)Thang đo Behavioral and Emotional Rating Scale (BERS); 6) Thang đo Instrumental and Social Competence Scale (ISCS); Thang đo the Brief Impairment Scale (BIS)

- Nhóm các thang đo triệu chứng và suy giảm cụ thể (Measures of Symptom

- Specific Impairment)

Loại thang đo này xác định suy giảm liên quan đến các triệu chứng cụ thể hoặc các chẩn đoán, do đó nó luôn cần phải đƣợc đƣa ra cùng với một đánh giá

Ngày đăng: 19/11/2024, 05:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đặng Bá Lãm, Weiss Bahr. Giáo dục, tâm lý và sức khoẻ tâm thần trẻ em Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành. Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục, tâm lý và sức khoẻ tâm thần trẻ em Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
3. Đặng Hoàng Minh (2014). SKTT trẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu tố nguy cơ. Sách, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SKTT trẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu tố nguy cơ
Tác giả: Đặng Hoàng Minh
Năm: 2014
4. Đặng Hoàng Minh, Hoàng Cẩm Tú. Thực trạng sức khoẻ tâm thần của học sinh THCS ở Hà Nội và nhu cầu tham vấn SKTT học đường. Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, tập 25, số 1S, 2009, trang 106-112. 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sức khoẻ tâm thần của học sinh THCS ở Hà Nội và nhu cầu tham vấn SKTT học đường
5. Thomas M. Achenbach, Leslie A Rescorla. Hướng dẫn sử dụng các bản đánh giá và hồ sơ trong hệ thống đánh giá dựa trên thực chứng của Achenbach (ASEBA) dành cho lứa tuổi học đường. Đại học Giáo Dục, 2019.NXB ĐHQG, 2019 TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thomas M. Achenbach, Leslie A Rescorla. "Hướng dẫn sử dụng các bản đánh giá và hồ sơ trong hệ thống đánh giá dựa trên thực chứng của Achenbach (ASEBA) dành cho lứa tuổi học đường. "Đại học Giáo Dục, 2019
Nhà XB: NXB ĐHQG
1. Achenbach, T.M., & Edelbrock, C.S. (1979). The child behavior profile: 2. Boys aged 12-16 and girls aged 6-11 and 12-16. Journal of Consulting and Clinical Psychology, 47, 223–233 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The child behavior profile: 2. "Boys aged 12-16 and girls aged 6-11 and 12-16. Journal of Consulting and Clinical Psychology
Tác giả: Achenbach, T.M., & Edelbrock, C.S
Năm: 1979
3. Allen, J.L., Lavallee, K.L., Herren, C., Ruhe, K., & Schneider, S. (2010). DSM-IV criteria for childhood separation anxiety disorder: Informant, age, and sex differences. Journal of Anxiety Disorders, 24, 946–952 Sách, tạp chí
Tiêu đề: DSM-IV criteria for childhood separation anxiety disorder: Informant, age, and sex differences
Tác giả: Allen, J.L., Lavallee, K.L., Herren, C., Ruhe, K., & Schneider, S
Năm: 2010
5. American Psychological Association (1980). Principles for the validation and use of personnel selection procedures (2nd ed.). Dayton OH: American Psychological Association Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles for the validation and use of personnel selection procedures
Tác giả: American Psychological Association
Năm: 1980
6. American Psychiatric Association (2000). DSM-IV Diagnostic and statistical manual of mental disorders,4th text revised edn. American Psychiatric Association, Washington, DC Sách, tạp chí
Tiêu đề: DSM-IV Diagnostic and statistical manual of mental disorders
Tác giả: American Psychiatric Association
Năm: 2000
7. Amir, N., Freshman, M., & Foa, E.B. (2000). Family distress and involvement in relatives of obsessive-compulsive disorder patients. Journal of Anxiety Disorders, 14, 209–217 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Family distress and involvement in relatives of obsessive-compulsive disorder patients
Tác giả: Amir, N., Freshman, M., & Foa, E.B
Năm: 2000
8. Ankur Barua, Mihir Kumar Ghosh, Nilamadhab Kar, and Mary Anne Basilio (2011). Prevalence of depressive disorders in the elderly.doi: 10.4103/0256-4947.87100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of depressive disorders in the elderly
Tác giả: Ankur Barua, Mihir Kumar Ghosh, Nilamadhab Kar, and Mary Anne Basilio
Năm: 2011
9. Ang, R. P. & Goh, D. H. (2006). Authoritarian parenting style in Asian societies: clusteranalytic investigation. Contemporary Family Therapy, 28(1), 131-151. doi: 10. 1007/s10591-006-9699-y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Authoritarian parenting style in Asian societies: clusteranalytic investigation
Tác giả: Ang, R. P. & Goh, D. H
Năm: 2006
10. Angold, A., Costello, E.J., Farmer, E.M.Z., Burns, B.J., & Erkanli, A. (1999). Impaired but undiagnosed. Journal of the American Academy of Child and Adolescent Psychiatry, 38, 129–137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impaired but undiagnosed
Tác giả: Angold, A., Costello, E.J., Farmer, E.M.Z., Burns, B.J., & Erkanli, A
Năm: 1999
11. APA (2013). The Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM–5) 12. Arango, Celso; Díaz-Caneja, Covadonga M; McGorry, Patrick D; Rapoport, Judith Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM–5
Tác giả: APA
Năm: 2013
13. Arnett, J. J. (2010). Adolescence and emerging adulthood: A cultural approach (4th ed.). Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adolescence and emerging adulthood: A cultural approach
Tác giả: Arnett, J. J
Năm: 2010
14. Baumrind, D. (1967). Child care practices anteceding three patterns of preschool behavior. Genetic Psychology Monographs, 75, 43-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Child care practices anteceding three patterns of preschool behavior
Tác giả: Baumrind, D
Năm: 1967
15. Baumrind, D. (1970). Socialization and instrumental competence in young children. Young Children, 26, 104-119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: and instrumental competence in young children
Tác giả: Baumrind, D
Năm: 1970
16. Baumeister, R. F., Smart, L., & Boden, J. M. (1996). Relation of threatened egotism to violence and aggression: The dark side of high self- esteem. Psychological Review, 103(1), 5–33. https://doi.org/10.1037/0033- 295X.103.1.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relation of threatened egotism to violence and aggression: The dark side of high self-esteem. Psychological Review, 103
Tác giả: Baumeister, R. F., Smart, L., & Boden, J. M
Năm: 1996
17. Bedirhan Ustün, Cille Kennedy (2009). What is "functional impairment"? Disentangling disability from clinical significance. PMID: 19516924 PMCID: PMC2691163 DOI: 10.1002/j.2051-5545.2009.tb00219.x Sách, tạp chí
Tiêu đề: functional impairment
Tác giả: Bedirhan Ustün, Cille Kennedy
Năm: 2009
21. Bird, H.R., Yager, T.J., Staghezza, B., Gould, M.S., Canino, G.,& Rubio- Stipec, M. (1990). Impairment in the epidemiological measurement of childhood psychopathology in the community. Journal of the AmericanAcademyof ChildandAdolescent Psychiatry, 29, 796–803 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impairment in the epidemiological measurement of childhood psychopathology in the community
Tác giả: Bird, H.R., Yager, T.J., Staghezza, B., Gould, M.S., Canino, G.,& Rubio- Stipec, M
Năm: 1990
23. Bird H, Gould M (1995). The use of diagnostic instruments and global measures of functioning in child psychiatry epidemiological studies. In:Verhulst FC, Koot HM (eds) The epidemiology of child and adolescent psychopathology. Oxford University Press, New York, pp 86–103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The use of diagnostic instruments and global measures of functioning in child psychiatry epidemiological studies
Tác giả: Bird H, Gould M
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân loại quốc tế về  chức năng, khuyết tật và sức  khỏe cho trẻ em và người trẻ  tuổi - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng ph ân loại quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe cho trẻ em và người trẻ tuổi (Trang 5)
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ biểu diễn phân tích số liệu tìm kiếm sự tác động của các  yếu tố suy giảm chức năng đến vấn đề SKTT và vai trò của phong cách làm - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ biểu diễn phân tích số liệu tìm kiếm sự tác động của các yếu tố suy giảm chức năng đến vấn đề SKTT và vai trò của phong cách làm (Trang 80)
Bảng 3.2: Đặc điểm nguồn cung cấp thông tin nghiên cứu - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng 3.2 Đặc điểm nguồn cung cấp thông tin nghiên cứu (Trang 83)
Bảng 4.2: Tỷ lệ học sinh suy giảm chức năng không kèm theo vấn đề SKTT - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng 4.2 Tỷ lệ học sinh suy giảm chức năng không kèm theo vấn đề SKTT (Trang 102)
Bảng 4.4: Sự khác biệt về suy giảm chức năng ở học sinh THCS và - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng 4.4 Sự khác biệt về suy giảm chức năng ở học sinh THCS và (Trang 105)
Bảng 4.5: Sự khác biệt về suy giảm chức năng ở học sinh THCS và - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng 4.5 Sự khác biệt về suy giảm chức năng ở học sinh THCS và (Trang 106)
Bảng 4.6: Sự khác biệt về suy giảm chức năng ở học sinh - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng 4.6 Sự khác biệt về suy giảm chức năng ở học sinh (Trang 108)
Bảng 4.8: Số lƣợng khách thể hiện diện nhiều hơn một nhóm hội chứng vấn đề - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng 4.8 Số lƣợng khách thể hiện diện nhiều hơn một nhóm hội chứng vấn đề (Trang 110)
Bảng 4.10: Sự khác biệt vấn đề SKTT ở học sinh THCS và THPT khi so - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng 4.10 Sự khác biệt vấn đề SKTT ở học sinh THCS và THPT khi so (Trang 111)
Bảng 4.13:  Tương quan suy giảm chức năng và vấn đề sức khỏe tâm thần - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng 4.13 Tương quan suy giảm chức năng và vấn đề sức khỏe tâm thần (Trang 115)
Bảng 4.14: Mô hình dự báo của suy giảm chức năng đối với các vấn đề - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng 4.14 Mô hình dự báo của suy giảm chức năng đối với các vấn đề (Trang 117)
Bảng 4.16:  Tác động của suy giảm chức năng lĩnh vực cụ thể 1 đến SKTT, vấn đề hướng nội 3 và hướng ngoại 3 - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng 4.16 Tác động của suy giảm chức năng lĩnh vực cụ thể 1 đến SKTT, vấn đề hướng nội 3 và hướng ngoại 3 (Trang 129)
Bảng 4.17: Tác động của biến suy giảm chức năng tổng thể 1 đến  SKTT 3 - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng 4.17 Tác động của biến suy giảm chức năng tổng thể 1 đến SKTT 3 (Trang 130)
Bảng 4.20:   Dự báo phong cách làm cha mẹ đối với các vấn đề SKTT - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng 4.20 Dự báo phong cách làm cha mẹ đối với các vấn đề SKTT (Trang 138)
Bảng 4.22:  Vai trò của phong cách làm cha mẹ hỗ trợ tâm lý  trong mối quan hệ suy giảm chức năng và vấn đề SKTT- - Mối quan hệ giữa suy giảm chức năng và sức khỏe tâm thần Ở học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
Bảng 4.22 Vai trò của phong cách làm cha mẹ hỗ trợ tâm lý trong mối quan hệ suy giảm chức năng và vấn đề SKTT- (Trang 142)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w