Chính bởi vậy mà việc tìm ra giảipháp hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhu cầu cấp thiết đối với nước t
Lý luận chung về sự phát triển của yếu tố hàng hóa trong thực tiễn nền kinh tế thị trường của nước ta
Sự cần thiết khách quan hình thành và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam
Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thực chất là kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình hình thành và phát triển của nó là một quá trình lâu dài được bắt đầu từ cuối thời kì công xã nguyên thủy, đầu chế độ chiếm hữu nô lệ Khi đó nhân loại đã có một bước tiến nhảy vọt trong lĩnh vực sản xuất vật chất.
Nó được đánh dấu bằng sự xuất hiện của sản xuất giá trị thặng dư (sản phẩm dôi ra ngoài sản phẩm do lao động tất yếu) Ban đầu sự dư thừa đó chỉ là ngẫu nhiên nhưng cùng với chế độ tư hữu được xác lập người lao động đã có thể làm chủ được sản phẩm của mình.
Mặt khác do các cuộc phân công lao động trong những ngành nghề khác nhau đã dẫn đến sự chuyên môn hóa, mỗi người chỉ sản xuất một loại hàng hóa nhất định Mà cuộc sống lại là sự kết hợp của vô vàn công cụ do vậy buộc những người lao động phải trao đổi sản phẩm cho nhau và khi ấy sản phẩm được gọi là hàng hóa Ban đầu sự trao đổi chỉ thông qua hình thái vật — vật Mãi đến khi tiền tệ ra đời cũng là lúc thuật ngữ “kinh tế hàng hóa” chính thức được sử dụng.
Kinh tế hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội mà trong đó sản phẩm sản xuất ra để trao đổi, để bán trên thị trường.
Về nguồn gốc và bản chất kinh tế thị trường và kinh tế hàng hóa là giống nhau nhưng chúng không hoàn toàn đồng nhất với nhau Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, trong đó toàn bộ các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất đều thông qua thị trường So sánh giữa người tiểu nông và ngườiFermier Người tiểu nông sử dụng những yếu tố sẵn có của mình để sản xuất ra sản phẩm rồi họ đem chúng bán ra thị trường nhưng nền kinh tế đó chỉ được gọi là kinh tế hàng hóa Còn người Fermier thì khác Toàn bộ các yếu tố đầu vào ( nguyên liệu, lao động) họ đều thuê, mua và sản phẩm làm ra họ cũng đem bán trên thị trường. Đó mới được gọi là kinh tế thị trường Khi kinh tế hàng hóa ra đời thì thị trường cũng xuất hiện nhưng không có nghĩa là đã có kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường chính thức được khai sinh vào giai đoạn cuối của chế độ phong kiến nhưng mãi đến giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh thì nó mới thực sự được xác lập hoàn toàn Từ khi xuất hiện đến nay kinh tế thị trường có thể khái quát thành ba mô hình: mô hình kinh tế thị trường tự do cạnh tranh mô hình kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước và mô hình kinh tế thị trường hỗn hợp.
Kinh tế thị trường xuất hiện như một nhu cầu khách quan không thể thiếu được của nền kinh tế hàng hóa Nó là một công trình sáng tạo của loài người trong quá trình sản xuất và trao đổi Trong văn kiện đại hội VII Đảng ta đã khẳng định:
“Sản xuất hàng hóa là thành tựu văn minh chung của nhân loại” chúng ta không chỉ kiên định “ không bỏ qua kinh tế hàng hóa” mà còn khẳng định kinh tế hàng hóa còn tồn tại khách quan cho đến khi chủ nghĩa xã hội được thiết lập, và ta gọi nó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa — mục tiêu mà nước ta đang theo đuổi.
2 Sự cần thiết khách quan hình thành và phát triển kinh tế thị trường ở
Việt Nam Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, từng ngày từng giờ nền kinh tế thị trường vẫn đang không ngừng vận động và phát triển Nó tồn tại như một tất yếu khách quan Như chúng ta đã biết cơ sở để tồn tại nền kinh tế hàng hóa đó sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt về sở hữu tư liệu sản xuất Mà kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa do vậy kinh tế thị trường cũng tồn tại dựa trên hai điều kiện này tuy nhiên ở những trình độ phát triển cao hơn.
Phân công lao động xã hội:Với tính cách là cơ sở của nền sản xuất hàng hóa chẳng những không mất đi mà còn ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Nó thể hiện ở chỗ sản phẩm đưa ra trao đổi ngày càng phong phú với chất lượng ngày càng cao Đối với Việt Nam phân công lao động xã hội trong từng khu vực, từng địa phương ngày càng phát triển, ngày càng chi tiết Điều này thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng nhanh.
Sở hữu tư liệu sản xuất: Nền kinh tế nước ta tồn tại khá nhiều hình thức sở hữu Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi cả nước đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng và nhà nước xác định sự đa dạng các loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất chính là cơ sở là tiền đề cho sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường Bởi vì quan hệ sở hữu là khác nhau nên tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập, lợi ích riêng.
Do đó quan hệ giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàn hóa – tiền tệ Trên thực tế hiện nay nước ta tồn tại bốn hình thức sở hữu: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân (sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân), sở hữu hỗn hợp Và tương ứng với chúng là sáu thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể tuy cùng dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất nhưng giữa các đơn vị, tổ chức kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định, có quyền tự chủ trong kinh doanh, có lợi ích riêng Mặt khác các đơn vị kinh tế còn khác nhau về trình độ kỹ thuật — công nghệ, trình độ tổ chức quản lý do vậy chi phí sản xuất và hiệu quả sản xuất là không giống nhau Vì thế quan hệ hàng hóa — tiền tệ là phương tiện hữu ích để giải quyết mối quan hệ giữa các đơn vị kinh tế trong nước Mặt khác quan hệ hàng hóa — tiền tệ còn cần thiết trong nền kinh tế đối ngoại đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mà xu thế chung của toàn nhân loại hội nhập Vì mỗi nước là một quốc gia riêng biệt, là một người chủ sở hữu đối với các hàng hóa đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới trên nguyên tắc ngang giá
Như vậy kinh tế thị trường hình thành và phát triển là một nhu cầu tất yếu để đưa nền kinh tế nước ta phát triển ngang tầm quốc tế Do đó không thể lấy ý chí chủ quan để xoá bỏ nó.
3 Tác dụng to lớn của sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chống lại âm mưu biến Việt Nam trở về thời kì đồ đá của chúng đã khiến nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng, kiệt quệ Thêm vào đó lại là sai lầm trong quá trình khôi phục kinh tế Chúng ta đã vội vàng áp dụng cơ chế bao cấp do vậy nền kinh tế còn mang nặng tính tự cung tự cấp Vì thế sản xuất quan liêu hàng hóa phát triển sẽ phá vỡ dần kinh tế tự nhiên và chuyển thành nền kinh tế hàng hóa, thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất.
Kinh tế thị trường được đặc trưng bởi cơ chế giá cả do các quy luật kinh tế quyết định Chính điều này tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt giữa các chủ thể kinh tế.
Do vậy để tồn tại được trong nền kinh tế thị trường buộc họ phải đổi mới kỹ thuật áp dụng công nghệ vào sản xuất để giảm chi phí đầu vào tăng chất lượng hàng hóa cũng theo đó mà lực lượng sản xuất phát triển. Để thúc đẩy quá trình sản xuất của tổ chức doanh nghiệp mình buộc các chủ thể phải nắm bắt được thị trường, nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng để từ đó biết mình cần sản xuất cái gì? Khối lượn là bao nhiêu và chất lượng là ra sao? Vì thế nền kinh tế thị trường kích thích tính năng động sáng tạo của các chủ thể kinh tế, kích thích việc nâng cao chất lượng cải tiến mẫu mã cũng như phát triển khối lượng hàng hóa và dịch vụ cung cấp trên thị trường để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội đồng thời phát huy được tiềm năng lợi thế của từng vùng, của đất nước và mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài.
Các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường
Thị trường được hiểu là lĩnh vực trao đổi, lĩnh vực lưu thông hàng hóa Nó là một yếu tố của quá trình tái sản xuất xã hội, nơi sản xuất với tiêu dùng Là nơi giao tiếp giữa người sản xuất và người tiêu dùng ở Việt Nam trong thời kì quá độ hiện nay tồn tại bốn loại thị trường chính: Thị trường hàng hóa sức lao động; thị trường hàng hóa dịch vụ; thị trường vốn và thị trường khoa học công nghệ.
1 Thị trường hàng hóa – sức lao động( thị trường lao động ). a Khái niệm.
Thị trường hàng hóa — sức lao động ( TTLĐ) Là một cơ chế hoạt động tương hỗ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong một không gian kinh tế xác định thể hiện những quan hệ kinh tế và pháp lý giữa họ với nhau Hay nói một cách chi tiết hơn TTLĐ là những quan hệ pháp lý giữa người lao động và người thuê lao động. b Thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay - đặc điểm và xu hướng
Quá trình hình thành thị trường lao động ở Việt Nam là một quá trình lâu dài, từng bước chuyển đổi từ hệ thống lao động tập trung sang thị trường Hiện nay thị trường lao động Việt Nam mới chỉ đạt được bước đi ban đầu trên con đường giải phóng khỏi những tồn đọng từ hệ thống kinh tế mệnh lệnh hành chính trước đây Nó mang một số đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất: Hiện nay ở nước ta cung về sức lao động đang vượt quá cầu và còn tiếp tục vượt trong tương lai, điều này đã gây ra một áp lực rất lớn về việc làm trong dân cư Hàng năm cung sức lao động tăng từ 3,2 % đến 3.5% Thế nhưng lực lượng lao động lại có trình độ chuyên môn không đầy đủ vì vậy vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đã trở thành vấn đề cấp bách, then chốt để tăng chất lượng và khả năng cạnh tranh của sức lao động trên thị trường lao động Đó là một bất cập lớn giữa quy mô và cấu trúc: “cung — cầu” sức lao động trên thị trường lao động.
Thứ hai: Mâu thuẫn giữa lao động và việc làm ngày càng gay gắt khi đất nước ta tiến hành cải cách triệt để Vì cùng với việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế chúng ta phải tổ chức lại lao động cho phù hợp với cơ cấu của nền kinh tế mới, điều này tất yếu dẫn đến hiện tượng và xu thế đẩy lao động tách khỏi việc làm và làm cho bộ phận lớn lao động trở nên dư thừa, trước hết là trong khu vực quốc doanh Trong quá trình chuyển dịch này chúng tavừa thiếu đội ngũ lao động có trình độ và công nhân lành nghề, lại vừa thừa đội ngũ lao động phổ thông, không có chuyên môn Mặc dù ở Việt Nam ta cải cách nền kinh tế đã diễn ra gần 20 năm và đã có những chuyển biến rất tích cực về cơ cấu kinh tế ( tính theo GDP), thế nhưng cơ cấu lao động trong các ngành lại gần như không có sự thay đổi hoặc diễn ra vô cùng chậm chạp bởi một số nguyên nhân như: nhà nước chưa có một chiến lược và cơ cấu đầu tư có hiệu quả Chưa có định hướng phát triển công nghiệp một cách hợp lí (đầu tư về sử dụng vốn hơn là sử dụng lao động ) Thêm vào đó là sự mất cân đối giữa các nguồn lực, khan hiếm về vốn, sử dụng và quản lí đất đai kém hiệu quả, trình độ thấp kém của nguồn nhân lực.
Thứ ba: hệ thống dịch vụ giới thiệu việc làm như các công ty nghiên cứu tâm lí, trung tâm tư vấn, giới thiệu thông tin chỉ mới được hình thành và phân bố chưa rõ ràng, chưa được đảm bảo trang bị vật chất cần thiết và tổ chức quản lí chưa có tính hệ thống Điều đó không đáp ứng đầy đủ nhu cầu về sức lao động và chỗ làm Đối với Việt Nam, tính cơ động của sức lao động theo nghề nghiệp và lãnh thổ còn rất hạn chế, phần lớn dân cư chưa sẵn sàng cho cuộc sống và lao động trong điều kiện thị trường Nước ta xuất phát từ một nền nông nhiệp lạc hậu, tác phong của người dân còn mang nặng tính nông nghiệp Những điều này làm lao động Việt Nam chưa thực sự thích nghi với cuộc sống hiện đại.
Thứ tư: Nguồn lao động Việt Nam phân bổ rất bất hợp lí, có tới gần 80% lao động ở nông thôn trong khi việc làm ở đây còn ít do vậy tỉ lệ người thất nghiệp có thể lên tới 30% Điều này tất yếu dẫn đến sự di dân từ nông thôn ra thành phố kiếm việc, làm tăng lượng cung về sức lao động hơn nữa lượng lao động này không có trình độ chuyên môn nên họ luôn sẵn sàng làm việc với giá nhân công rẻ mạt. Chính điều đó càng làm tăng thêm sự tiêu cực trong cạnh tranh trên thị trường lao động.
Thứ năm: Mâu thuẫn giữa nhu cầu việc làm rất lớn với trình độ tổ chức quản lí nhà nước trong lĩnh vực việc làm còn nhỏ hẹp, hạn chế, chưa phù hợp với cơ chế mới Thêm vào đó là những bất cập trong chính sách và cấu trúc đầu tư,cùng với việc soạn thảo chiến lược đổi mới công nghệ không đầy đủ và sự chậm chạp trong dịch chuyển kinh tế đang chuyển đổi kéo theo sự mất cân đối nghiêm trọng trong cấu trúc việc làm ở Việt Nam Trong khi ngành công nghiệp rừng, khai thác hải sản, du lịch và dịch vụ có khả năng phát triển rất lớn thì chúng ta lại không thể biến khả năng đó thành hiện thực vì thiếu vốn, cơ sở hạ tầng yếu kém Ngược lại ở khu vực miền núi và đồng bằng sông Cửu Long đang thiếu hụt nhân lực thì việc di dẫn đến đó lại còn hạn chế Cho đến nay nhà nước vẫn chưa có một chính sách khuyến khích thật sự hợp lí cho kinh tế gia đình, lĩnh vực sản xuất phi vật chất hoặc hầu như những chính sách hỗ trợ việc làm không đến được với các doanh nghiệp tư nhân.
Thứ sáu: Nhìn chung hiện nay mức tiền công lao động ở Việt Nam còn rất thấp Trong khi mức lương trung bình của người lao động Inđônêxia vào khoảng 60 USD/tháng, ở Thái Lan là 180 USD/ tháng thì ở Việt Nam con số này mới dừng lại ở 25-35 USD/ tháng Thêm vào đó lại là sự phân hóa ngày càng tăng giữa các vùng lãnh thổ trên cả nướctheo các chỉ số phát triển kinh tế Điều này đã gây ra những bất ổn định trong chính trị.
Như vậy thị trường lao động ở Việt Nam đang hình thành và phát triển trên nền tảng thị trường lao động thế giới Tuy còn nhiều bất cập nhưng chúng ta có cơ sở để tin tưởng rằng cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường chúng ta có thể xây dựng được một thị trường lao động Việt Nam ổn định và phát triển.
2 Thị trường hàng hóa – dịch vụ:
Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay thị trường hàng hóa dịch vụ nước ta không ngừng biến đổi cả về chất và lượng Thể hiện ở một số đặc điểm sau:
Thứ nhất: hiện nay thị trường hàng hóa dịch vụ đã được thống nhất trong toàn quốc và bước đầu hình thành với các cấp độ khác nhau Từ khi đổi mới đảng và nhà nước ta đã thực hiện chính sách tự do hóa thương mại Chính điều này đã xóa bỏ hiện tượng ách tắc trong lưu thông hàng hóa từ nơi này sang nơi khác Đồng thời chúng ta có thể khai thác được những tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, từng địa phương, từng doanh nghiệp Quá trình tích tụ và tập trung trên thị trường đã dẫn tới việc hình thành các trung tâm thương mai - cửa ngõ giao lưu hàng hóa, dịch vụ, trung tâm phân luồng hàng hóa, dịch vụ, đòn bẩy thúc đẩy kinh tế khu vực phát triển.
Thứ hai: cũng như các loại thị trường khác, thị trường hàng hóa — dich vụ cũng có đủ các thành phần kinh tế, đông đảo thương nhân và các hình thức sở hữu khác nhau Các đơn vị kinh tế nhà nước chi phối 70%- 75% khẩu buôn bán, tỷ trọng bán lẻ chỉ còn 20% -21% trong tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ bán lẻ Hệ thống hợp tác xã tuy vẫn giữ được vai trò ở nông thôn và khu vực miền núi song chỉ còn chiếm trên dưới 1% tổng mức bán lẻ trên thị trường Đông đảo nhất trên thị trường là các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh, tư thương, tiểu thương Hơn nữa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã tham gia vào thị trường nội địa, chiếm khoảng 3% tổng mức lưu thông hàng hóa và dịch vụ bán lẻ.
Thứ ba: mối quan hệ cung cầu hàng hóa, dịch vụ trên thị trường đã có sự thay đổi cơ bản từ chỗ thiếu hụt sang trạng thái đủ và dư thừa Điều này là tất yếu.
Vì cùng với sự phát triển chung của nhân loại thì lực lượng sản xuất nước ta cũng không ngừng phát triển Điều đó làm tăng năng suất lao động và đương nhiên khối lượng hàng hóa tạo ra cũng theo đó mà tăng lên Nhiều mặt hàng trước đây phải nhập khẩu thì nay ta đã tự sản xuất đủ và có thể xuất khẩu như gạo, đường, xi măng Quá trình thương mại hóa đã đem lại sự cởi trói cho các nhu cầu Nhu cầu đa dạng và thu nhập của người dân tăng lên làm cho thị trường hàng hóa dịch vụ phát triển mạnh mẽ Từ chỗ dịch vụ chỉ là một hoạt động yểm trợ bán hàng đã trở thành địa hạt của nàh đầu tư kinh doanh.
Khái niệm hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán Hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng và giá trị.
2 Hai thuộc tính của hàng hóa
Giá trị sử dụng là công cụ của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Chính công dụng của vật phẩm làm cho nó trở thành một giá trị sử dụng Khoa học kỹ thuật càng phát triển, càng phát hiện ra nhiều thuộc tính tự nhiên của vật chất do đó càng tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng hơn để đáp ứng nhu cầu xã hội.
Trong nền kinh tế hàng hóa giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi, cho nên, để hiểu giá trị phải bắt đầu từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi quan hệ tỷ lệ với số lượng giữa giá trị sử dụng của loại hàng hóa này với giá trị sử dụng của hàng hóa khác.
Ví dụ: 1m vải = 10kg thóc
Tóm lại: hàng hóa là sự thống nhất của cả hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng Nhưng đó là sự thống nhất của hai mặt đối lập để thể hiện ở chỗ: đối với người sản xuất hàng hóa, mục đích của họ là giá trị, họ chú ý đến giá trị sử dụng cũng chính là để đạt mục đích giá trị Ngược lại, đối với người, mua mục đích lại là giá trị sử dụng nhưng muốn có giá trị sử dụng phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó.
Lượng giá trị hàng hóa
1 Thời gian lao động xã hội cần thiết:
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội, với một trình độ kỹ thuật công nghệ trung bình, trình độ quản lý trung bình, trình độ chuyên môn tay nghề trung bình và cường độ lao động trung bình
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hoá:
Thời gian lao động xã hội cần thiết là một đại lượng không cố định, do đó lượng giá trị xã hội của hàng hoá cũng luôn thay đổi Lượng giá trị xã hội của một đơn vị hàng hoa thay đổi tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội và tỷ lệ thuận với lượng lao động xã hội hao phí.
Các quy luật ảnh hưởng đến yếu tố hàng hóa trong nền kinh tế thị trường (KTTT)
Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất, kinh doanh với nhau, nhằm giành những điều thuận lợi trong sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình cạnh tranh sẽ giúp thúc đẩy sxuất phát triển mạnh mẽ.Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có mặt trái của nó, đó là tình trạng làm hàng giả, đầu trón thuế
2 Quy luật cung - cầu và giá cả thị trường
Cung - cầu thường xuyên tác động lẫn nhau trên thị trường độc lập với ý chí con người Cầu xác định lượng cung và ngược lại cung xác định lượng cầu Quan hệ cung -cầu tác động lên giá cả và ngược lại, giá cả tác động lên cung -cầu.
Trong nền KTTT, giá cả thị trường là hình thức biểu hiện sự hoạt động của quy luật giá trị giá cả thị trường được hiểu theo nhiều quan niệm sau giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá Giá cả là tương quan tỷ lệ giữa hàng hoả và tiền tệ Giá cả là số tiền mà người mua phải trả cho người bán.
Tác dụng to lớn của sự phát triển yếu tố HH trong nền kinh tế
Thị trường Sự phát triển của yếu tố hàng hoá(YTHH) trong nền kinh tế thị trường có tác dụng tích cực đến các mặt :
Một là, sự phát triển của HH sẽ tạo ra nhiều loại HH trên thị trường với đủ chủng loại, mẫu mã được cải tiến chất lượng được nâng cao, cũng như tăng khối lượng hàng hóa và dịch vụ Điều này giúp cho sản phẩm HH của nước ta có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và nước ngoài.
- Hai là, phát triển HH tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Do cạnh tranh giữa các nhà sản xuất hàng hóa buộc mỗi chủ thể sản xuất phải cải tiến kỹ thuật áp dụng công nghệ mới, không ngừng sang tạo để tạo ra nhiều loại sản phẩm với chi phí sản xuất tố thiếu nhòe đó mới có thể đứng vững được trên thị trường quá trình đó đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động xã hội.
- Ba là, sự phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất cũng phát triển sâu rộng hơn cùng với sự phát triển của hàng hóa HH trong khu vực nào càng đa dạng, chất lượng tốt, thì một điều chắc chắn rằng ở khu vực đó có sự phâen công lao động và chuyên môn hóa sản xuất cao.
- Bốn là, về mặt khách quan HH được phát triển mạnh cả về chất và lượng sẽ giúp cho người tiêu dùng có được nhiều sự lựa chọn hơn Trong khi xã hội ngày càng phát triển thì yêu cầu của con người cần được thỏa mãn nhu cầu mua sắm vật chất ngày càng cao Do đó, việc phát triển HH là tinh tất yếu trong một xã hội phát triển.
Tính tất yếu của sự phát triển yếu tố HH trong nền KTTT trong thực tiễn kinh tế nước ta hiện nay
tiễn kinh tế nước ta hiện nay
-Thứ nhất, nền KTTT nước ta hiện nay là nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, một mặt vừa có những tính chất chung của nền KTTT Mặt khác, nó cũng có những đặc trưng bản chất như: nền KTTT gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thực hiện phân phối theo thu nhập lấy phân phối theo lao động là chủ yếu vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Do đó, khi KTTT phát triển theo đó là sự phát triển của kinh tế
HH thì yếu tố HH trong nền kinh tế cũng phải phát triển.
- Thứ hai, hiện nay Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) cho nên tính cạnh tranh trên thị trường sẽ gắt gao hơn, HH trên thị trường đa dạng, phong phú về chất lượng, giá cả, nguồn gốc Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thì trong những năm sắp tới thị trường HH Việt Nam sẽ có những biến động lớn đặc biệt là sự tăng vọt khối lượng HH trên thị trưởng hàng công nghiệp và dịch vụ.
- Thứ ba, do đòi hỏi khách quan của chi tiêu tiêu dùng xã hội khi mà thu nhập khả dụng không ngừng tăng, đã kéo theo sự cần thiết phải tăng chỉ mua HH.
Vì vậy, HH phát triển phát triển là điều tất yếu để thỏa mãn mọi nhu cầu trong xã hội.
Chương II: Thực trạng của sự phát triển hàng hóa trong nền kinh tế thi trường nước ta hiện nay.
Thực trạng của sự phát triển hàng hoá
Một câu hỏi được đặt ra là: “ Hiện nay, hàng hóa Việt Nam đi vào thế giới còn kém về năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh Vì sao vậy?” Có nhiều lý do, nhưng có một lý do chính là, nền kinh tế hàng hóa nước ta chưa thật sự trở thành nền kinh tế hàng hóa lớn Lấy việc xuất khẩu nông, thủy sản làm ví dụ Cơ sở sản xuất, chế biến nông, thủy sản ở nước ta, nói chung côn lạc hậu, trong khi thị trường quốc tế hai khó tính, đòi hỏi rất cao về chất lượng, quy cách và mẫu mã sản phẩm. Không tiến lên trình độ sản xuất lớn, hiện đại thì nền kinh tế thị trường nước ta sẽ không thể khắc phục được sự lạc hậu Chúng ta sẽ không đi lại con đường từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa kiểu tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây Tuy rằng việc xây dụng những tổ hợp sản xuất, chế biến quy mô lớn nào đẩy chuyên để xuất khẩu là cần thiết, nhưng sản xuất lớn không có nghĩa là quy mô mọi thứ phải lớn Con đường đi lên sản xuất lớn của chúng ta hiện nay là con đường thị trường, một con đường mà chúng ta phải tìm tôi, khai phá ra Vẫn là kinh tế gia đình, nhưng nếu biết biến các cơ sở nhỏ lẽ của nó thành những mắt khâu của nền kinh tế thị trưởng lớn, một nền kinh tế có sự liên kết các cơ sở sản xuất, khoa học và quản lý, các cơ sở sản xuất lớn, vừa và nhỏ thành một hệ thống thống nhất để tạo ra những sản phẩm ổn định, có chất lượng và sức cạnh tranh cao, thì đó chính là cách sản xuất lớn của nền kinh tế thị trường hiện đại.
Thực tế nền kinh tế nước ta khi chuyển sang kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa kém phát triển, còn mang nặng tính tự cấp tự túc và chịu ảnh hưởng của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Do hệ thống công cụ còn lạc hậu, lao động thủ công còn nhiều cho nên chất lượng sản phẩm của hầu hết các doanh nghiệp còn thấp kém, khả năng của nó trên thị trường quốc tế và ngay cả thị trường trong nước còn kém.
Trước đây khi còn quan điểm không đúng: Đối lập chủ nghĩa xã hội với kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường ( vì cho rằng kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường gắn với chủ nghĩa tư bản) thì nhiều người nhận thức và hiểu rằng dưới chủ nghĩa xã hội không còn kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường mà nếu còn tồn tại chi là một kiểu kinh tế hàng hóa đặc biệt (chỉ có tư liệu tiêu dùng là hàng hóa còn tư liệu sản xuất, sức lao động, vốn không phải là hàng hóa) Muốn tiến lên CNXH phải xóa bỏ chế độ tư hữu thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất do đó CNXH tất yếu cũng không còn kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường.Như vậy mâu thuẫn với thực tế khách quan: CNXH vẫn sẽ còn kinh tế hàng hóa ngay cả khi nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu và tư liệu sản xuất.
Ta có thể chia sự phát triển của yếu tố hàng hóa ra thành 2 giai đọan: Trước đổi mới (1986) và Sau đổi mới để thấy rõ sự phát triển mạnh mẽ rõ rệt của yếu tố HH qua từng giai đoạn:
* Giai đoạn trước 1986: Nền kinh tế VN theo mô hình kế hoạch hóa tập trung, các đơn vị sản xuất, kinh doanh hoạt động theo những chi tiêu được giao và những mệnh lệnh từ cấp trên Trong giai đọan này này không có sự phân biệt giữa quản lý nhà nước và quản lý các đơn vị kinh tế Các đơn vị sản xuất, kinh doanh rất ít quyền chủ động Các nhà máy được cung cấp nguyên vật liệu, vật tư kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm Việc phân phối, tiêu thụ hàng hóa do các đơn vị thương nghiệp thực hiện Người tiêu dùng tiếp nhận hàng hóa một cách thụ động không có quyền lựa chọn.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau chúng ta luôn ở trong tình trạng khan hiếm hàng hóa Hàng hóa sản xuất ra bất kể xấu tốt thế nào đều tiêu thụ hết.Hàng hóa xuất khẩu thường bị khiếu nại về chất lượng Chủng loại, cơ cấu hàng hóa ngày càng nghèo nàn HH không được đổi mới cải tiến, lạc hậu thấp kém so với HH ngoại Tình trạng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, xã hôi.
* Giai đoạn từ 1986 đến nay: Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới nền kinh tế, thực hiện kinh tế mở, nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, các doanh nghiệp được trao quyền chủ động trong mọi hoạt động, xóa bỏ bao cấp Các doanh nghiệp phải chấp nhận sự cạnh tranh để tồn tại và chất lượng HH dịch vụ trở thành vấn đề quyết định Do đó, các đơn vị sản xuất, kinh doanh không ngừng đưa ra thị trường nhiều loại HH với mẫu mã, chủng loại khác nhau và chất lượng ngày càng nâng cao Vì vậy khả năng cạnh tranh trên thị trường của hàng hóa sẽ tốt hơn và người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn khi mua HH.
* Một số ví dụ so sánh tình hình phát triển HH thời kì trước và sau đổi mới
Trước thời kì đổi mới (thời bao cấp) giáo dục không phải là hàng hóa người ta thường bị dị ứng khi nghe các loại hình dịch vụ về giáo dục, nhìn chung khi đó chỉ có khối hệ thống trường học của các trường công lập( trường do nhà nước mở) Nhưng cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, giáo dục cũng bị tác dụng của quy luật cung cầu và nó cũng là một loại HH Bên cạnh các trường công lập, hiện nay hệ thống các trường dân lập (trường do tư nhân mở) cũng phát triển không kém về chất lượng giảng dạy, số lượng học sinh Đã có rất nhiều dịch vụ về giáo dục được mở ra ở các trường dân lập nhằm thu hút học sinh theo học và cạnh tranh thật sự với các trường công lập.
Hay như trong ví dụ về việc sử dụng tư liệu sản xuất của người nông dân: Trước đây, tư liệu sản xuất đều là của công thuộc quyền sở hữu của họ (ruộng đất, hồ ao, các công trình thủy lợi, thủy điện, kể cả sức lao động) nhưng trong nềnKTHH nhiều thành phần nước ta hiện nay, thì các TLSX đó cũng được trao đổi,mua bán như một loại HH Rõ hơn nữa là ví dụ thực tế về việc sử dụng đối vớiTLSX quan trọng như đất đai Vào giai đoạn trước khi đổi mới, đất đai được nhà nước khoán cho người dân canh tác với từng loại cây trồng cụ thể dẫn đến năng suất cũng như phẩm chất đều kém Trong giai đoạn hiện nay, trước những tác động của cơ chế thị trường trong việc điều ching phân bố lại tài nguyên đất trong nông nghiệp Tác động của cơ chế cạnh tranh, các thửa ruộng mới được những nông dân thích hợp canh tác dưới phương thức sử dụng đất đai có lợi nhất cho đến nay thị trường đất đai ngoài phát triển trong nông nghiệp thì nó còn phát triển một cách mạnh mẽ và hình thành một thị trường HH rất sôi động đó là “ thị trường bất động sản”. Đặc biệt, KTTT phát triển hiện nay đã tạo ra nhiều loại HH mà trước thời kì đổi mới không có hoặc hầu như không phát triển nổi bật như chứng khoản.Tuy còn mới phôi thai, qua hơn một năm hoạt động với HH còn nghèo nàn mặc dù chưa phát triển thành phong vũ nhưng nó dự báo một tương lai rộng mở cho thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung.
* Dựa vào đặc điểm của từng loại HH và mục đích sử dụng chúng ta có thể chia HH hiện nay ra thành 3 loại: hàng công nghiệp, hàng nông, lâm, thủy sản và hàng dịch vụ Dưới đây là bảng số liệu về sản lượng 1 số sản phẩm chủ yếu và chỉ tiêu cơ bản về sản xuất lúa thời kỳ 1990 - 2000.
Sản lượng dầu thô (triệu tấn) Điện (tỉ kwh)
Nguồn: tổng cục thống kê: tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 1991- 2000
Sản lượng lúa ( triệu tấn)
Lương thực bình quân/ người (kg)
Gạo xuất khẩu ( triệu tấn) 1990
Bảng trên cho thấy từ năm 1990- 2000, sản lượng công nghiệp Việt Nam tăng mạnh, so với năm 1990 sản xuất dầu thô năm 2000 tăng gấp 6 lần, sản lượng điện gấp 3 lần, sản lượng thép cán gấp 16 lần, xi măng gấp 5,3 lần Trong khi đó sản xuất nông nghiệp Việt Nam có những bước tiến căn bản: diện tích canh tác, năng suất lúa, sản lượng lương thực và sản lượng gạo xuất khẩu tăng liên tục qua các năm.
Tuy nhiên, khi nói đến hàng hóa mà chỉ chăm chú vào phát triển săn lượng thì HH của nước ta không thể đứng vững trên thị trường được, muốn tồn tại và phát triển ta cần phải nâng cao chất lượng HH Chất lượng chính là sự đáp ứng yêu cầu của người sử dụng tức là HH sản xuất ra phải phù hợp với mục đích và điều kiện sử dụng trong những hoàn cảnh cụ thể Hiện nay chát lượng được đánh giá thông qua ISO ( từ vựng chất lượng) Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sẽ thay đổi qua các năm tùy vào sự phát triển của nền kinh tế Việc quản lý Nhà nước về quản lý chất lượng hàng hóa, dịch vụ bao gồm :
- Nhà nước định hướng sự phát triển nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, xây dựng kế hoạch, quy hoạch về chất lượng, ban hành luật và các chính sách khuyến khích chất lượng.
- Nhà nước quy định chế độ, thể lệ về quản lý chất lượng, ban hành tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến chất lượng hàng hóa dịch vụ.
- Nhà nước xác nhận tính hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ về mặt chất - lượng của các hệ thống quản lý chất lượng, của các phòng thử nghiệm chất lượng hàng hóa bằng việc cấp đăng kí, chứng nhận và công nhận.
Đánh giá chung về thực trạng sự phát triển của yếu tố HH trong thực tiễn nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay
tiễn nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay:
- Thứ nhất, nhìn chung sự phát triển của yếu tố HH sẽ tạo ra sự đa dạng và phong phú về số lượng và chủng loại những hàng hóa trên thị trường một mặt phản ánh những trình độ cao của năng suất lao động xã hội, mặt khác cũng nói lên mức độ phát triển của quan hệ trao đổi, trình độ của phân công lao động xã hội và sự phát triển của thị trường Việc nâng cao phát triển yếu tố HH trong kinh tế thị trường sẽ giúp đẩy mạnh sức cạnh tranh của HH, của doanh nghiệp của nền kinh tế để theo kịp yêu cầu hội nhập.
- Thứ hai, sự phát triển của yếu tố HH cũng góp phần nâng cao đời - sống vật chất, tăng khả năng lựa chọn cho người tiêu dùng Thông qua khâu trung gian là sự phát triển của HH, đời sống thật sự được cải thiện nên khi phỏng vấn 2,5 vạn hộ tự đánh giá về mức sống năm 1999 so với năm 1990 thì có 84,46% số hộ cho rằng đời sống có tốt hơn, 11,11% số hộ cho rằng đời sống như cũ và chỉ có 4,43% cho rằng đời sống bị giảm sút Bên cạnh đời sống vật chất được cải thiện thì cả đời sống văn hóa, chăm sóc y tế cho người dân cũng được nâng cao : đến giữa năm 2000 nước ta đã hoàn thành chương trình mục tiêu chống nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Theo đánh giá của tổ chức phát triển Liên Hợp Quốc ( UNDP) thì chỉ số giáo dục của nước ta năm 1999 đứng thứ 92 trên 174 nước, chỉ số phát triển con người ( HDI) đã nâng được từ vị trí thứ 122 năm 1995 lên thứ 110 trong 174 nước năm 1999 Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng cũng có nhiều tiến bộ
- Thứ ba, nó kích thích đổi mới kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất Sức ép của cạnh tranh buộc những người sản xuất phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất, không ngừng đổi mới kĩ thuật và công nghệ sản xuất, đổi mới sản phẩm, đổi mới tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh, nâng cao hiệu quả
- Thứ tư, sự phát triển của HH cũng giúp cho các doanh nghiệp, các nhà sản xuất thích nghi cao hơn với các điều kiện kinh tế biến đổi làm thích ứng kịp thời giữa sản xuất xã hội với nhu cầu xã hội Bên cạnh những mặt tích cực do yếu tố HH phát triển mang lại, thì trong đó cũng chứa những khuyết tật vốn có của nó
Một là trên thị trường chứa đựng tính tự phát và nhiều yếu tố bất ổn, mất cân đối Vì chạy theo lợi nhuận các nhà sản xuất, kinh doanh có thể gây nhiều hậu quả xấu: môi trường bị hủy hoại, phá sản, thất nghiệp, phân hóa xã hội cao, trốn lậu thuế, làm hàng giả
Mặc khác, nền kinh tế thị trường nước ta chưa phát triển hoàn thiện Do đó, qui mô thị trường bị hạn chế : chỉ có hàng tiêu dùng mới được thừa nhận là hàng hóa Các tư liệu sản xuất không phải là hàng hóa hoặc chỉ mang cái vỏ HH mà thôi Nhiều sản phẩm được cung cấp theo định lượng, chỉ tiêu của kế hoạch.
Hai là, hầu hết giá cả HH đều do Nhà nước qui định nên đồng tiền thực tế chi còn làm chức năng thanh toán Vai trò của quan hệ cung cầu trở nên không còn có ý nghĩa với việc hình thành giá cả Tình hình đó dẫn đến tình trạng là tất cả các quan hệ cân bằng của thị trường như giá cả cung cầu, sự khan hiếm tương đối của các nguồn lực đều bị méo mó, biến dạng thậm chí bị loại khỏi đời sống kinh tế.
Quan hệ kinh tế quốc tế chủ yếu diễn ra ở lĩnh vực thương mại và tuân theo nguyên tắc “ Nhà nước độc quyền ngoại thương” Cùng với sự hạn chế các chủ thể tham gia thương mại quốc tế, các quy định chặt chẽ về hạn ngạch, các quy định có tính chất hành chính về thị trưởng bản và mua hàng về giả cả về tỷ giá hối đoái, đã khiến cho các hoạt động kinh tế trong nước bị tách rời khỏi hệ thống kinh tế thế giới
Trong kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tuy có sử dụng một số khái niệm, phạm trù trong sản xuất HH, nhưng ở đây, cơ chế thị trường không có tác dụng. Mọi hoạt động kinh tế đã được nhà nước hóa Sản xuất mặt hàng nào, sản xuất bao nhiêu, tiêu thụ ở đâu, giá cả bao nhiêu đều do Nhà nước quyết định Ba là, vì mục đích hoạt động đạt lợi nhuận tối đa và sản xuất ra nhiều sản phẩm càng tốt, vì vậy họ có thể lạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trường sống của con người.
Bốn là, phân phối thu nhập sẽ không cân bằng, vì sự tác động của cơ chế thị trường sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo Do đó người nghèo ít được sự lựa chọn trong việc mua hàng hóa.
Phương hướng, giải pháp thúc đẩy phát triển hàng hóa trong nền kinh tế thị trường
Do sự phát triển của yếu tố HH vẫn còn nhiều khuyết tật cho nên, để hạn chế những khuyết tật vốn có của nó đồng thời thúc đẩy sự phát triển cao hơn nữa của HH thì sự can thiệp của Nhà nước để sửa chữa những thất bại của sự phát triển
HH trong nền kinh tế thị trưởng là một điều tất yếu Quá trình phát triển kinh tế hàng hóa nói riêng và nền KTTT nói chung ở nước ta trong suốt 15 năm qua với nhưng thành tựu đã đạt được và những tồn đọng chưa được giải quyết đã giúp chúng ta rút ra nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích trong cả nhận thức và công tác thực tiễn.
Hiểu rõ nhu cầu cần thiết đó Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định nền kinh tế thị trường mà chúng ta cần xây dựng là nền kinh tế thị trường theo định hưởng xã hội chủ nghĩa Mục đích của nền kinh tế đó là
"Phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hưu gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội là những nền kinh tế hàng hóa cụ thể Điều này phù hợp với nhận định của C.Mác: "sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa là những hiện tượng thuộc về nhiều phương thức sản xuất hết sức khác nhau, tuy rằng quy mô và tầm quan trọng của chúng không giống nhau chúng ta hoàn toàn chưa biết một tí gì về những đặc điểm riêng của những phương thức sản xuất ấy và chúng ta chưa thể nói gì về những phương thức ấy, nếu như chúng ta chỉ biết có những phạm trù trừu tượng của lưu thông hàng hóa, những phạm trù chung cho tất cả các phương thức ấy".
Theo nhận định của riêng cá nhân tôi về vấn đề này thì hiện nay, khi nền kinh tế đang đối mặt với những khó khăn thách thức to lớn, nhất là khi hội nhập cạnh tranh, trong khi các nhân tố vốn, lao động và công nghệ ở Việt Nam còn chưa đủ để tạo ra được những tiền đề cơ bản cho bước phát triển tiếp theo Về mặt này,cần phải kết hợp một cách khéo léo giữa vốn trong nước và vốn ngoài nước, tạo môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút vốn nước ngoài Hạn chế những thủ tục rườm rà không cần thiết, phát triển công nghệ hiện đại với chuyển giao công nghệ có hiệu quả, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa giữ vững sự ổn định chính trị hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách và các cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Xóa bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nâng cao năng lực của cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Cần xác định rõ mặt hàng trọng yếu có sức cạnh tranh trên thị trường để có chiến lược đầu tư và phát triển phù hợp Hiện nay, nông nghiệp vẫn đang là mặt trận hàng đầu tiếp đó là công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, về dài hạn ta cần phải phát triển mạnh trong lĩnh vực hàng công nghiệp, đưa tỷ trọng hàng công nghiệp giữ vai trò then chốt Bên cạnh việc phát triển HH thì việc tạo dựng thương hiệu cho HH cũng rất quan trọng, nó giúp cho sản phẩm của chúng ta tạo được chỗ đứng vững chắc trên thị trường
Nhưng muốn tạo dựng được một thương hiệu tố khong phải là chuyện dễ, vì vậy chương trình thương hiệu quốc gia đã đề ra tám mục đích sau:
* Xây dựng hình ảnh về Việt Nam là một quốc gia có uy tín về hàng hoả và dịch vụ đa dạng phong phủ với chất lượng cao.
* Nâng cao sức cạnh tranh cho các thương hiệu sản phẩm Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế trong quá trình hội nhập.
* Tăng cường sự nhận biết của các nhà phân phối và người tiêu dùng trong và ngoài nước đối với các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam, để họ có một cách nhìn nhận tích cực hơn, có lòng tin hơn vào các sản phẩm và nhà sản xuất Việt Nam, từ đó có thiện cảm và ưa chuộng hàng Việt Nam hơn.
* Xây dựng một tiềm thức trong cộng đồng doanh nghiệp luôn hướng về chất lượng sản phẩm và độ tin cậy cao trong kinh doanh
* Quảng bá cho các tiêu chuẩn quốc tế và sự cần thiết của việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế trong cộng đồng kinh doanh Việt Nam.
* Khuyến khích xuất khẩu sản phẩm công nghiệp chế biến, giảm tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu thô.
* Xây dựng sự liên kết chặt chẽ giữa cơ quan xúc tiến thương mại quốc gia với doanh nghiệp, hướng tới hoạt động xúc tiến thương mại mang tính cộng đồng Tăng thêm uy tín, niềm tự hào và sức hấp dẫn cho đất nước và con người
* Xây dựng sự liên kết chặt chẽ giữa cơ quan xúc tiến thương mại quốc gia với doanh nghiệp, hướng tới hoạt động xúc tiến thương mại mang tính cộng đồng.
* Tăng thêm uy tín, niềm tự hào và sức hấp dẫn cho đất nước và con ngườiViệt Nam, góp phần khuyến khích du lịch và thu hút đầu tư nước ngoài.
Một số chính sách thúc đẩy tăng trưởng hàng hóa đã được ban hành như:Trước mắt các mặt hàng sẽ được cắt giảm thuế ngay đầu năm 2007 gồm 1.812 dòng thuế, chiếm 17% biểu thuế, mức cắt giảm bình quân 44% so với hiện hành, đây là các mặt hàng đang có thuế suất cao từ 30% trở lên và chủ yếu là hàng tiêu dùng nên đa số người dân sẽ được hưởng lợi; riêng ngành dệt may có mức cắt giảm thuế tương đối lớn, sẽ có tác động quan trọng tới sản xuất và giá cả của nhóm hàng dệt may Các ngành chịu ảnh hưởng nhiều từ cạnh tranh của hàng nhập khẩu do việc giảm thuế (ảnh hưởng trực tiếp đến kim ngạch nhập khẩu) gồm: các sản phẩm gỗ, giấy, ô tô, xe máy, san phẩm hóa chất, đồ nhựa, dệt may, máy móc thiết bị các loại Đặc biệt các mặt hàng như mỹ phẩm các loại, xà phòng giảm 20 - 40%, đồ trang sức bằng kim loại quý, đá quý, ngọc trai giảm 25%, quạt điện giảm 25%, một số linh kiện chính của xe ô tô giảm 10 - 17%, bánh kẹo các loại giảm 20 - 30%,một số dầu thực vật giảm 20 - 40% Một số mặt hàng giảm thuế nhập khẩu từ tháng1/2007: Bia giảm 20%; Sản phẩm nhựa dùng trong gia đình giảm 20%; Hàng dệt may giảm 63%; Giày dép mũ các loại giảm 20%; Đồng hồ các loại giảm 25%; Chè giảm 20%; Thịt chế biến (hộp) giảm 20%; Gạch ốp giảm 17%; Đồ sứ giảm 17 -20%; Thủy tinh, kinh giảm 10%; Một số loại ắc quy giảm 20%; Một so hàng tạp hóa khác giảm 20 - 25% Riêng đối với nông nghiệp, áp lực cạnh tranh là lớn do sản xuất nông nghiệp của ta vẫn là nền sản xuất nhỏ, phân tán, năng suất và chất lượng thấp trong khi bình quân đất nông nghiệp theo đầu người quá ít, giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha canh tác trung bình ở mức 30 triệu đồng hạ Thủ tướngChính phủ đã đề cập đến chủ trương và các giải pháp này Tới đây sẽ phải xây dựng thành cơ chế và chính sách cụ thể, nhưng cần chú ý là Không bảo hộ trực tiếp khâu xuất khẩu nông sản, không được hỗ trợ cho việc thay thế, hạn chế nhập khẩu.