Đau đầu có thể là một bệnh nhưng cũng có thể chỉ là một triệu chứng của rất nhiều bệnh lý khác nhau tại hệ thần kinh hay bệnh lý toàn thân, từ bệnh nặng cấp tính đến những bệnh lý không
TỔNG QUAN
Định nghĩa
Theo Hiệp hội Đau đầu Quốc tế (IHS) [6]: Đau đầu được định nghĩa là cảm giác đau ở vùng phía trên đường nối gốc mắt ngoài - lỗ ống tai ngoài và / hoặc trên đường gáy của xương chẩm Đau mặt là cảm giác đau vùng phía dưới đường nối góc mắt ngoài – lỗ ống tai ngoài, phía trước loa tai và phía trên cổ Đau đầu cấp tính là những trường hợp đau đầu mới xuất hiện, diễn biến cấp tính hoặc những cơn đau đầu có cường độ tăng lên nhanh chóng, kéo dài không quá 3 tháng.
Phân loại đau đầu
1.2.1 Phân loại theo nguyên nhân
Hội đau đầu quốc tế đã công bố tiêu chuẩn chẩn đoán và thang phân loại nói chung cho đau đầu Đau đầu đƣợc phân thành hai nhóm lớn là đau đầu nguyên phát và đau đầu thứ phát [6]
Bảng 1.1 Phân loại các hội chứng đau đầu theo ICHD-3 Đau đầu nguyên phát
2 Đau đầu do căng thẳng
3 Đau vùng mặt do dây thần kinh sinh ba thực vật
4 Các hội chứng đau đầu nguyên phát khác Đau đầu thứ phát
5 Đau đầu do chấn thương sọ não và/ hoặc vùng cổ
6 Đau đầu do bệnh mạch máu vùng đầu và / hoặc cổ
7 Đau đầu do bất thường nội sọ không do mạch máu
8 Đau đầu do chất độc hoạc do hội chứng cai
9 Đau đầu do nhiễm trùng
10 Đau đầu do rối loạn nội môi
11 Đau đầu hoặc đau vùng mặt do bệnh lý hộp sọ, mắt, tai, mũi, xoang, răng, miệng hoặc cấu trúc khác vùng mặt hoặc cổ
12 Đau đầu do rối loạn tâm thần Đau dây thần kinh sọ, các hội chứng đau mặt trung ƣơng tiên phát và các hội chứng đau đầu khác
13 Đau thần kinh sọ và các đau vùng mặt do nguyên nhân trung ƣơng
14 Các hội chứng đau đầu khác
1.2.2 Phân loại theo diễn biến
Là những cơn đau đầu mới xảy ra, diễn biến cấp tính, hoặc những cơn đau đầu có cường độ tăng lên một cách nhanh chóng, thường do các nguyên nhân đau đầu thứ phát gây ra, kéo dài không quá 3 tháng [6]
Có 2 loại đau đầu cấp tính: Đau đầu cấp tính tái diễn: điển hình là đau đầu Migraine, tăng huyết áp,… Đau đầu cấp tính không tái diễn: ví dụ nhƣ đau đầu do xuất huyết não, viêm màng não, đau đầu do các bệnh lý nhiễm trùng toàn thân
Là những cơn đau đầu xảy ra trên 15 ngày mỗi tháng, kéo dài trên 3 tháng và không tìm thấy nguyên nhân thực thể nào
Các loại đau đầu mạn tính bao gồm đau đầu mạn tính không tiến triển và đau đầu mạn tính tiến triển
Bảng 1.2 Phân loại bệnh nguyên gây đau đầu ở trẻ theo diễn biến [6]
1 Nhiễm trùng hô hấp trên (viêm xoang, viêm tai giữa)
2 Bệnh lý khoang miệng (áp xe răng, viêm khớp thái dương-hàm)
4 Nhiễm trùng hệ thần kinh trung ƣơng (viêm màng não, viêm não siêu vi, apxe não)
7 Cao huyết áp, bệnh lý não do cao huyết áp
8 Độc chất (carbon monoxide), thuốc (amphetamine, thuốc tránh thai)
Mạn tính và không tiến triển
15 Rối loạn tâm thần (trầm cảm, chứng sợ trường học)
16 Sau chấn thương, sau chấn động não
Mạn tính và tiến triển
18 Tăng huyết áp nội sọ vô căn
19 Sang thương choán chỗ (u não, xuất huyết, não úng thủy, dị dạng mạch máu não)
20 Sau chấn thương, chấn động não
Dịch tễ học
Đau đầu là nguyên nhân phổ biến khiến trẻ phải nhập viện cấp cứu, đây cũng là một trong những vấn đề sức khỏe hàng đầu ở trẻ em Gần 40% người Mỹ bị đau đầu vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống của họ Tỷ lệ đau đầu nói chung dao động từ 37-51% trong những năm tiểu học và dần dần tăng lên 57-82% trong những năm học trung học [1] Trong các báo cáo y khoa, ƣớc tính tần suất đau đầu ở trẻ em là khác nhau giữa các tác giả, tuy nhiên các nghiên cứu đều cho thấy rằng tỉ lệ này tăng dần theo tuổi Bắt đầu từ Châu Âu, một nghiên cứu gần đây ở Áo cho thấy trong một mẫu đại diện gồm 3386 học sinh từ 10-18 tuổi, tỷ lệ đau đầu tổng thể trong 1 năm là 75,7% (trẻ gái: 82,1%; trẻ trai: 67,7%) và tăng dần theo độ tuổi Chất lƣợng cuộc sống liên quan đến sức khỏe giảm sút ở hầu hết trẻ em và thanh thiếu niên bị đau đầu [7]
Một nghiên cứu hồi cứu đã đƣợc thực hiện trên 194 trẻ nhỏ và thanh thiếu niên trong hơn 3 năm tại một Bệnh viện Đại học ở Bắc Jordan Tỷ lệ đau đầu nguyên phát là 2,8/1000 trẻ đến khám tại các phòng khám nhi khoa Tuổi trung bình của bệnh nhân đau đầu là 10 tuổi trong đó trẻ nam chiếm 49% Khoảng 30% có tiền sử gia đình bị đau đầu Đau nửa đầu chiếm tỷ lệ cao nhất (44,8%) và chỉ có 8,7% bị đau đầu kiểu căng thẳng [8] Tại khoa Cấp cứu, Bệnh viện Nhi đồng Miami, FL, Hoa Kỳ, tác giả Burton và các cộng sự đã nghiên cứu và báo cáo 1,3% bệnh nhân có biểu hiện chính là đau đầu nhập khoa Cấp cứu, trong đó tỷ lệ nhiễm virus, viêm xoang và viêm họng chiếm hơn 60%, có 6,6% bệnh nhân đƣợc chẩn đoán các bệnh lý thần kinh nghiêm trọng Trong số đó viêm màng não do virus chiếm 80% [9]
Một nghiên cứu khác của Scagni và các cộng sự [10] thực hiện tại một bệnh viện Nhi khoa ở Ý trong 12 tháng, có 550 bệnh nhân đau đầu (chiếm 1% số bệnh nhân nhập khoa Cấp cứu) đƣợc đƣa vào nghiên cứu, trong đó bệnh nhân đƣợc chẩn đoán đau đầu nguyên phát (56,7%), với 9,6% đau nửa đầu; tỷ lệ đầu thứ phát (42%); đau đầu không rõ nguyên nhân khác chiếm (1,3%) Các bệnh do virus gây ra chiếm 90,5% các trường hợp đau đầu thứ phát Những rối loạn nghiêm trọng khác đƣợc tìm thấy ở 4% bệnh nhân
Lewis và các cộng sự (2000) đã thực hiện nghiên cứu nguyên nhân đau đầu cấp tính trên 150 trẻ em, từ 2 đến 18 tuổi và các đặc điểm lâm sàng để phân biệt đau đầu liên quan đến các bệnh lý nghiêm trọng [11] Trong đó các nhiễm trùng đường hô hấp trên (viêm mũi họng do virus chiếm tỷ lệ (39%), viêm xoang (9%), viêm họng do Streptococcus (9%) là nguyên nhân thường gặp nhất gây đau đầu cấp tính (57%) Các nguyên nhân khác bao gồm đau nửa đầu (18%), viêm màng não do virus (9%), khối u hố sau (2,6%), động kinh (1,3%), chấn động não (1,3%), xuất huyết nội sọ (1,3%), và chƣa đƣợc xác định nguyên nhân (7%)
Năm 2008, Conicella và các cộng sự [12] đã tiến hành một nghiên cứu hồi cứu trên 432 trẻ em (chiếm 0,8% tổng số lƣợt khám) từ 2-18 tuổi có biểu hiện đau đầu chính tại khoa Cấp cứu Nhi trong khoảng thời gian 1 năm Trong đó tỷ lệ trẻ trai đau đầu chiếm 53% và trẻ gái chiếm 47% Nhóm tuổi học đường chiếm tỷ lệ nhiều nhất (chiếm 66%) Nguyên nhân phổ biến nhất của đau đầu là nhiễm trùng đường hô hấp trên (19,2%) Còn lại phần lớn các trường hợp đau đầu không đe dọa tính mạng bao gồm đau nửa đầu (18,5%), đau đầu sau chấn thương (5,5%), đau đầu kiểu căng thẳng (4,6%) Bệnh lý nội sọ đe dọa tính mạng nghiêm trọng (4,1%) bao gồm viêm màng não (1,6%), não úng thủy cấp tính (0,9%), khối u (0,7%).
Sinh lý bệnh học nhức đầu
1.4.1 Sinh lý đau Đau cùng với nhiệt độ và xúc giác đƣợc gọi chung là cảm giác thân thể Cảm giác đau đƣợc chia thành 2 loại lớn: cảm giác đau nhanh và cảm giác đau chậm Cảm giác đau nhanh là đau đƣợc cảm thấy trong vòng 0,1 giây sau khi có kích thích, trong khi cảm giác đau chậm thường chỉ thấy sau 1 giây hoặc lâu hơn, rồi dần dần tăng lên trong nhiều giây, thậm chí hàng phút Đau nhanh có nhiều tên gọi khác nhau, ví dụ đau nhƣ dao đâm, đau nhƣ kim châm hoặc điện giật Thường gặp khi kim đâm vào da, dao cắt vào da hoặc bị bỏng, bị điện giật Kiểu đau này thường không thấy ở các mô sâu Đau chậm cũng có nhiều tên gọi, ví dụ nhƣ đau bỏng rát, nhức nhối, cảm giác khó chịu, đau mạn tính Kiểu đau này thường liên quan tới tổn thương mô, thường gây đau kéo dài, nhiều khi không thể chịu đƣợc Đau chậm có thể gặp ở da và hầu nhƣ mọi mô sâu
Các receptor tiếp nhận cảm giác đau là các đầu tận thần kinh, phủ khắp lớp nông của da và một vài mô ở sâu như mảng xương, thành động mạch, mặt khớp, liềm đại não và lều tiểu não trong hộp sọ Đa số các mô ở sâu khác chỉ có ít đầu tận thần kinh, do đó phải tổn thương nhu mô đủ rộng mới tạo nên cảm giác đau âm ỉ ở những vùng này Ba loại kích thích gây hƣng phấn receptor đau là kích thích cơ học, nhiệt và hóa học Nói chung, cảm giác đau nhanh gây ra do kích thích cơ học hoặc nhiệt, trong khi cảm giác đau chậm gây ra bởi cả 3 loại kích thích Các chất trung gian hóa học gây hƣng phấn receptor đau là bradykinin, serotonin, histamin, acetylcholine, ion kali, các acid và các enzym phân giải protein Prostaglandin và chất P làm các đầu tận thần kinh tăng nhạy cảm nhƣng không trực tiếp gây hƣng phấn Các chất trung gian hóa học này đặc biệt quan trọng trong cảm giác đau chậm xảy ra sau tổn thương mộ Thiếu máu mô cũng là một nguyên nhân gây đau Khi dòng máu tưới cho mô bị chặn lại, cảm giác đau sẽ xuất hiện trong vài phút Tốc độ chuyển hóa của mô càng lớn, cảm giác đau xuất hiện càng nhanh Giả thiết cho rằng cảm giác đau do thiếu máu là do tích tụ acid lactic, hậu quả của chuyển hóa yêm khí tại mô, cũng có thể do các chất trung gian hóa học do tế bào bị tổn thương giải phóng ra Co cứng cơ cũng là một nguyên nhân gây đau thường gặp, cảm giác đau có thể do cơ co trực tiếp kích thích các receptor đau nhạy cảm với kích thích cơ học, cũng có thể gián tiếp do chèn ép các mạch máu gây thiếu máu mô, đồng thời co cứng cơ cũng làm tăng tốc độ chuyển hóa của tế bào cơ Receptor đau thích nghi rất ít, gần nhƣ không thích nghi, ngƣợc lại với đa số các receptor cảm giác khác của cơ thể Thậm chí, trong một vài trường hợp, sự hưng phấn các sợi dẫn truyền cảm giác đau còn tăng lên khi kích thích đau vẫn tiếp tục xảy ra Cảm giác đau nhanh đƣợc truyền từ ngoại vi về trung ƣơng qua các sợi có myelin có vận tốc từ 6 đến 30m/giây, trong khi cảm giác đau chậm đƣợc dẫn truyền bởi các sợi với vận tốc từ 0,5 đến 2 m/giây Do sự tồn tại song song của cả 2 đường dẫn truyền, một kích thích đau sẽ cho 2 cảm giác đau: một cảm giác đau nhanh đƣợc truyền về não, tiếp sau khoảng 1 giây là cảm giác đau chậm đƣợc dẫn truyền Cảm giác đau nhanh báo hiệu cho cơ thể về một tổn thương đang xảy ra giúp cho chúng ta phản ứng cấp tốc đƣa bản thân rời xa khỏi tiếp xúc Cảm giác đau chậm thường lớn lên theo thời gian, thường dẫn tới cảm giác đau không thể chịu đựng được, làm cho chúng ta tiếp tục tìm cách phương thức giảm bớt cảm giác đau Cơ thể có khả năng định vị cảm giác đau nhanh chính xác hơn cảm giác đau chậm, tuy nhiên khi chỉ kích thích receptor đau mà không kích thích receptor xúc giác thì ngay cả cảm giác đau nhanh cũng không đƣợc định khu rõ ràng Kích thích đau làm cho vỏ não bị hƣng phấn lan tỏa, do các xung động từ cấu tạo lưới của thân não và nhân bụng sau ngoài của đồi thị, nơi tận cùng của các sợi đau chậm, có khả năng kích thích mạnh hoạt động thần kinh của toàn bộ não Điều này cũng lý giải tại sao một bệnh nhân đau dữ dội gần nhƣ sẽ không thể ngủ đƣợc Mức độ phản ứng của mỗi người với cảm giác đau rất thay đổi, điều này là do khả năng của não, ức chế tín hiệu đau đi tới hệ thần kinh bằng cách hoạt hóa hệ thống giảm đau Hệ thống này gồm 3 thành phần chính: chất xám quanh cổng trung não và cạnh não thất ba, bốn; tín hiệu từ những vùng này đƣợc gửi tới nhân raphe ở phần dưới cầu não và phần trên hành tủy Tín hiệu từ các nhân này được gửi tới các neuron của phức hợp ức chế tín hiệu đau nằm ở sừng sau tủy sống Tại đây, các tín hiệu giảm đau có thể chặn các tín hiệu đau trước khi chúng được chuyển đến não Chất dẫn truyền thần kinh của các neuron thuộc hệ thống giảm đau là enkephalin, một opiat tương tự như morphin
1.4.2 Sinh lý bệnh đau đầu
1.4.2.1 Đau quy chiếu Đau quy chiếu là một hiện tượng, trong đó một người cảm thấy đau ở một phần cơ thể cách xa mô tổn thương gây ra đau Đau quy chiếu được giải thích là do neuron truyền cảm giác đau từ các tạng và neuron truyền cảm giác đau từ da (chặng thứ nhất) đều gửi tín hiệu đến cùng một neuron ở sừng sau tùy sống (chặng thứ hai), do đó khi neuron truyền cảm giác đau từ các tạng bị kích thích sẽ gây hƣng phấn cùng neuron ở sừng sau tủy sống dẫn truyền cảm giác đau từ da, làm cho ta cảm thấy cảm giác đau là từ da Đau đầu là một loại đau quy chiếu lên bề mặt từ các cấu trúc sâu của đầu Bản thân nhu mô não gần nhƣ không nhạy cảm với đau Thí nghiệm trên động vật cho thấy, ngay cả khi cắt hoặc kích thích điện vào vùng cảm giác của vỏ não chỉ thỉnh thoảng mới gây đau mà thay vào đó, gây ra cảm giác dị cảm kiểu kim châm ở vùng cơ thể bị chi phối Do đó, cảm giác đau đầu không phải do tổn thương bản thân nhu mô não mà do tổn thương các cấu trúc nhạy cảm đau ở phía trong hoặc ngoài hộp sọ Các cơ chế đau đầu bao gồm:
- Sự co kéo của các tĩnh mạch đi từ bề mặt vỏ não đến các xoang tĩnh mạch và sự dịch chuyển của các tĩnh mạch lớn
- Co kéo của các động mạch màng não
- Co kéo các động mạch não ở đáy não và các nhánh của nó
- Giãn và căng các động mạch nội sọ
- Chèn ép trực tiếp vào thần kinh sọ và các rễ thần kinh cổ
- Viêm nhiễm tại chỗ hoặc quanh các tổ chức có cảm giác
1.4.2.2 Đau đầu có nguồn gốc nội sọ
Các cấu trúc nhạy cảm đau ở phía trong hộp sọ bao gồm màng cứng, các xoang tĩnh mạch và mạch máu nằm trong màng não Tín hiệu từ các receptor vùng hố sọ trước, phía trên lêu tiểu não, gồm cả mặt trên của lều tiểu não gửi tín hiệu theo đường thần kinh sinh ba, do đó gây đau quy chiếu tới nửa trước của đầu, phần được chi phối bởi các nhánh cảm giác của thần kinh sinh ba Trong khi đó, tín hiệu từ các receptor nằm dưới lều tiểu não tới thần kinh trung ương qua các dây lưới hầu, dây lang thang và thần kinh sống cổ 2, chúng cũng chi phối cảm giác cho vùng da đầu phía trên, phía sau và phía dưới tai Kích thích gây nhức đầu vùng chẩm được quy chiếu tới nửa sau của đầu Đau đầu do viêm màng não là một trong các kiểu đau đầu dữ dội nhất, do viêm cả 3 lớp màng não, trong đó bao gồm các vùng nhạy cảm của màng cứng và vùng quanh các xoang tĩnh mạch Tổn thương có thể gây đau dữ dội quy chiếu tới toàn bộ đầu Đau đầu do áp lực dịch nào tủy thấp có thể xảy ra ngay cả khi chỉ lấy đi
20 ml dịch não tủy, đặc biệt là khi bệnh nhân duy trì tư thế đứng, thường gây đau đầu kiểu nội sọ dữ dội Điều này đƣợc lý giải là khi lấy đi lƣợng dịch này là ta đã lấy đi một phần dịch đệm bình thường đảm bảo cho não nổi trong hộp sọ, khi đó trọng lƣợng của não bộ sẽ kéo căng và làm biến dạng màng cứng, từ đó khởi phát cơn đau Đau đầu migraine là một kiểu đau đầu đặc biệt, có thể là do bất thường về mạch, mặc dù cơ chế chính xác vẫn chƣa đƣợc biết rõ Đau đầu migraine thường bắt đầu với nhiều triệu chứng báo trước, ví dụ như buồn nôn, bán manh, aura thị giác và các loại ảo giác khác Thông thường, tiền triệu xuất hiện trước cơn đau từ 30 phút đến 1 tiếng Bất cứ giả thiết nào nhằm lý giải cơn đau đầu migraine cũng phải đồng thời lý giải đƣợc các triệu chứng báo trước Một giả thiết về cơ chế của đau đầu migrame cho rằng, cảm xúc hoặc sự căng thẳng gây phản xạ co các động mạch của đầu, bao gồm các động mạch cấp máu cho não Về lý thuyết, co mạch sẽ gây thiếu máu não cục bộ, gây ra các triệu chứng báo trước Tiếp đó, do sự thiếu máu ngày càng trầm trọng làm dẫn tới sự giãn cơ trơn thành mạch, làm thành mạch mất khả năng duy trì trương lực cơ trong 24 tới 48 giờ Trong khoảng thời gian này, huyết áp làm cho mạch máu giãn ra và co lại một cách liên tục, dữ dội, gây co kéo thành các động mạch, bao gồm cả các động mạch ngoài sọ nhƣ động mạch thái dương, và chính điều này gây ra cơn đau đầu migraine thực sự Các giả thiết khác của đau đầu migraine bao gồm ức chế vỏ não lan tỏa, bất thường về tâm lý và co mạch gây ra bởi sự tăng nồng độ ion kali tại chỗ trong dịch ngoại bào của não Có thể có yếu tố về gen trong đau đầu migraine, khi có từ 65 đến 90% bệnh nhân có tiền sử gia đình cũng người mắc đau đầu migraine Đau đầu migraine cũng phổ biến hơn ở nữ giới so với ở nam giới
1.4.2.3 Đau đầu có nguồn gốc ngoài sọ Đau đầu do co cơ: những căng thẳng về cảm xúc thường gây co cứng các cơ của đầu, đặc biệt là các cơ bám da đầu và các cơ cổ bám vào xương chẩm Đây là một nguyên nhân gây đau đầu thường gặp Đau đầu do co cứng cơ ở đầu và cổ thường quy chiếu tới vùng da phủ phía trên, cũng giống với vùng quy chiếu của các tổn thương nội sọ Đau đầu do mũi và các cấu trúc liên quan của mũi: lớp màng nhầy của mũi và xoang là các cấu trúc nhạy cảm với đau, tuy nhiên mức độ không quá lớn Mặc dù vậy, nhiễm trùng hoặc các kích thích khác lan tỏa trong cấu trúc của mũi thường cộng gộp lại và gây đau đầu quy chiếu tới vùng sau ổ mắt hoặc trong trường hợp nhiễm trùng xoang trán sẽ quy chiếu tới da đầu vùng trán Cũng tương tự là đau có nguồn gốc từ các xoang ở vị trí thấp hơn như xoang hàm có thể cảm nhận đƣợc đau ở vùng mặt Đau đầu do các rối loạn về mắt: khi mắt phải nhìn tập trung quá lâu vào một điểm có thể gây co quá mức cơ thể mi để duy trì thị lực Cho dù các cơ này rất nhỏ, người ta cho rằng co cứng các cơ này sẽ gây đau đầu vùng phía sau ổ mắt Nhìn tập trung quả lâu vào một điểm còn gây phản xạ co cứng ở các cơ mặt và các cơ ngoài nhãn cầu, cũng có thể là một nguyên nhân gây đau Một kiểu đau đầu khác có nguồn gốc từ mắt xảy ra khi mắt phơi nhiễm quá mức với bức xạ, đặc biệt là tia cực tím hoặc đèn hàn chỉ trong một vài giây cũng có thể gây đau đầu kéo dài 24 tới 48 giờ Điều này có thể do các phản ứng quang hóa gây kích thích kết mạc hoặc gây bong võng mạc, dẫn tới đau đầu quy chiếu tới da đầu hoặc vùng sau ổ mắt.
Một số nguyên nhân đau đầu cấp tính
ICHD-3 định nghĩa đau đầu do nhiễm trùng là đau đầu xảy ra liên quan chặt chẽ về mặt thời gian với một bệnh truyền nhiễm Nó thường hết sau khi điều trị thành công hoặc tự hết nhiễm trùng Nhiễm trùng đƣợc phân loại là nhiễm trùng nội sọ, nhiễm trùng hệ thống hoặc nhiễm trùng ngoài sọ Đau đầu là một triệu chứng phổ biến của nhiễm trùng nội sọ, ngoài sọ hoặc toàn thân Mặc dù là một triệu chứng phổ biến, nó thường liên quan đến nhiều bệnh lý toàn thân khác Ở trẻ em, đau đầu do nhiễm trùng thường liên quan đến các bệnh không đe dọa đến tính mạng; tuy nhiên, các bệnh nhiễm trùng đe dọa tính mạng vẫn xảy ra và phải luôn đƣợc loại trừ Trẻ bị nhiễm trùng đe dọa tính mạng có triệu chứng đau đầu thường kèm theo các đặc điểm lâm sàng đáng lo ngại khác, chẳng hạn thay đổi trạng thái tâm thần, hay các dấu hiệu thần kinh khu trú Đau đầu do nhiễm trùng nội sọ có thể là do vi khuẩn hoặc virus kích hoạt trực tiếp các sợi thần kinh ở màng não, giải phóng các chất trung gian gây viêm nhƣ cytokine, bradykinin hoặc prostaglandin cũng đóng vai trò gây đau đầu [13] Đau đầu do nhiễm trùng nội sọ cục bộ, chẳng hạn nhƣ áp xe não biểu hiện như một tổn thương chiếm chỗ nhanh chóng hoặc bán cấp tính, xảy ra do hiệu ứng khối tạo ra lực kéo lên các cấu trúc nội sọ nhạy cảm với cơn đau, tăng áp lực nội sọ cũng nhƣ viêm màng não Đau đầu do nhiễm trùng toàn thân cũng có thời gian kéo dài khác nhau, gây ra bởi nhiễm trùng toàn thân và thường đi kèm với các dấu hiệu và triệu chứng nhiễm trùng khác Nguyên nhân gây đau đầu trong nhiễm trùng toàn thân rất có thể là do nhiều yếu tố Bên cạnh viêm và sƣng niêm mạc mũi, sinh lý bệnh của đau đầu trong nhiễm trùng toàn thân có thể đƣợc giải thích thêm bằng sự giãn nở của các động mạch nội sọ và tăng tính thấm nội mô do các vùng phù nề nhu mô não [14] Zhu và cộng sự cũng mô tả tác động của các cơ chế qua trung gian miễn dịch (tức là các hệ thống cytokine, glutamate, oxit nitric), kích hoạt bổ thể phức tạp trong nhiễm khuẩn, cũng nhƣ nồng độ interferon cao trong nhiễm virus là yếu tố gây đau đầu thứ phát Vì vậy, điều trị triệu chứng đau đầu thứ phát trong nhiễm trùng toàn thân bao gồm việc sử dụng thuốc giảm đau và thuốc hạ sốt; và cũng phụ thuộc vào việc giải quyết nhiễm trùng bằng cách sử dụng thuốc kháng sinh hoặc thuốc kháng virus Một số nguyên nhân nhiễm trùng bao gồm:
Viêm màng nhiễm khuẩn: (VMNNK) là tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính của màng não do một số loại vi khuẩn gây nên Có ít nhất 14 căn nguyên gây VMNNK Hiện nay tại Việt Nam, căn nguyên hay gặp ở trẻ em là Hemophilus influenza typ B (Hib), phế cầu và não mô cầu, ở người trưởng thành là liên cầu (đặc biệt là Streptococcus suis), phế cầu và não mô cầu Trên lâm sàng, bệnh biểu hiện bằng triệu chứng sốt và có hội chứng màng não (đau đầu, nôn, táo bón ) đôi khi có biểu hiện của ổ nhiễm trùng khởi điểm (đường vào) Tần suất mắc bệnh còn khá phổ biến, tỷ lệ tử vong, các biến chứng và di chứng tâm thần kinh còn nặng nề do đó bệnh cần đƣợc chẩn đoán sớm, xử trí kịp thời và tích cực để hạn chế tử vong các biến chứng và di chứng [15]
Viêm màng não siêu vi: đau đầu có kèm hoặc không kèm khó chịu ở cổ, là những biểu hiện đặc trƣng của viêm màng não siêu vi ở trẻ lớn và trẻ vị thành niên Các biểu hiện lâm sàng khác (nổi ban hoặc sang thương ở miệng với enterovirus) có thể gợi ý một tác nhân virus đặc biệt
Viêm não cấp: là một tình trạng viêm cấp tính của nhu mô não, biểu hiện bằng sự rối loạn chức năng thần kinh - tâm thần khu trú hoặc lan tỏa Bệnh xảy ở khắp nơi trên thế giới, gặp ở mọi lứa tuổi nhƣng tỷ lệ mắc cao hơn ở trẻ em Đây là một tình trạng bệnh lý nặng nề đe dọa tính mạng bệnh nhân và là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng của cộng đồng vì tỷ lệ mắc và tử vong còn cao Các triệu chứng bao gồm sốt, đau đầu và thay đổi trạng thái tâm thần, thường kèm theo các cơn co giật và thiếu sót thần kinh khu trú Tiền triệu bệnh đường tiêu hóa hoặc đường hô hấp có thể xuất hiện trước những triệu chứng này
Các dấu hiệu màng não thường nhẹ và ít nổi bật hơn các biểu hiện khác Trạng thái động kinh, nhất là trạng thái động kinh co giật, hoặc hôn mê gợi ý viêm não nặng và tiên lƣợng xấu Trong đó tần suất của triệu chứng đau đầu xuất hiện từ 45- 60% số trường hợp [13],[16] Áp-xe não: Sốt và đau đầu là những triệu chứng phổ biến nhất của áp xe não ở trẻ em và thanh thiếu niên Yếu tố nguy cơ gây bệnh chính là bệnh tim bẩm sinh có tím tái, viêm xoang, viêm tai giữa hoặc nhiễm trùng răng miệng Do đó, vị trí của áp xe thường có thể tiết lộ vị trí nhiễm trùng đầu vào Các biểu hiện của áp xe não tương đối không đặc hiệu Đau đầu, sốt, thay đổi ý thức, buồn nôn, nôn và dấu hiệu thần kinh khu trú là những triệu chứng thường gặp, co giật xảy ra ở 30-50% bệnh nhân [17]
Viêm họng: đau đầu, đau họng, và đau bụng là những triệu chứng cổ điển của viêm họng do liên cầu Nhiễm siêu vi cúm có thể gây các triệu chứng tương tự, bao gồm cả viêm họng xuất tiết
Viêm tai giữa, viêm xoang, và nhiễm trùng răng: có thể gây đau đầu Đau khu trú và các dấu hiệu viêm gợi ý chẩn đoán đặc biệt Theo Abend và cộng sự , đau xoang hàm khu trú ở má và răng hàm trên; đau xoang sàng khu trú giữa hai mắt hoặc trong nhãn cầu; đau xoang trán khu trú ở trán; và đau xoang bướm khu trú ở phía sau ổ mắt, đỉnh, thái dương, chẩm hoặc cổ [18] Viêm xoang do vi khuẩn ngoài sọ không đƣợc chẩn đoán hoặc điều trị không đúng cách có thể dẫn đến nhiễm trùng nội sọ nhƣ viêm màng não mủ, áp xe hoặc viêm tủy xương [19] Trong viêm mũi xoang cấp tính do vi khuẩn, các nguồn lây nhiễm tiềm tàng là xoang bướm hoặc xoang sàng đối với viêm màng não; xoang trán dễ hình thành áp xe ngoài màng cứng; xoang trán dễ gây viêm mủ dưới màng cứng; xoang bướm, sàng hoặc xoang trán đối với huyết khối xoang hang; và xoang trán hoặc xoang sàng đối với áp xe nội sọ [20]
1.5.2 Khối u Đau đầu là một triệu chứng thường gặp ở trẻ u não (60%) [21], tuy nhiên đau đầu hiếm khi là triệu chứng duy nhất, thường chỉ biểu hiện đau cấp tính khi có chèn ép hoặc tăng áp lực nội sọ Đặc điểm của đau đầu do u não nói chung liên quan đến vị trí, kích thước và tốc độ phát triển của khối u Trong hầu hết các trường hợp, đau đầu thường tiến triển nặng hơn vào buổi sáng hoặc sau giấc ngủ ngắn ban ngày và đánh thức trẻ khỏi giấc ngủ Đau đầu kịch phát, tăng lên khi ho hoặc khi thay đổi tƣ thế có thể xảy ra ở một số ít bệnh nhân Bệnh nhân thường không thể chỉ ra vị trí đau cụ thể Tuy nhiên các khối u hướng đến cấu trúc bên trong của nhánh nhãn cầu của dây thần kinh sinh ba đôi khi có thể gây đau đầu vùng trán, trong khi các khối u hố sau chèn ép dây thần kinh phế vị có thể gây đau vùng chẩm [17] Bệnh nhân có thể có các triệu chứng: buồn nôn, nôn, co giật, thay đổi nhận thức hoặc thay đổi tính cách, rối loạn lời nói, rối loạn vận động và / hoặc liệt nửa người Hầu hết bệnh nhân u não đều có ghi nhận những bất thường khi khám thần kinh Các triệu chứng của tăng áp nội sọ cho thấy cần phải khám lâm sàng thần kinh và đánh giá nhãn khoa Các triệu chứng sớm của u não thường không đặc hiệu và có thể đƣa đến việc chẩn đoán muộn
Xuất huyết nội sọ là một bệnh lý có thể gây đau đầu hiếm gặp nhƣng đe dọa tính mạng ở trẻ Xuất huyết nội sọ không do chấn thương hiếm khi xảy ra ở trẻ lớn, với căn nguyên thường gặp nhất là dị dạng mạch máu (32,2%) [22] Tình trạng này khởi phát đột ngột với tỷ lệ 83% Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất là đau đầu, nôn mửa và thay đổi ý thức Các triệu chứng bao gồm [5] : đau đầu, buồn nôn, nôn mửa, chóng mặt, mất ngôn ngữ, lú lẫn và giảm thị lực Tiền sử có thể bao gồm biểu hiện thiếu máu cục bộ hoặc xuất huyết trước đó, tiểu đường, tăng lipid máu, tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ mạch máu khác Khám lâm sàng có thể bao gồm suy giảm chức năng hệ thần kinh, và các dấu hiệu nguy hiểm đe dọa tính mạng
1.5.4 Tăng huyết áp Đau đầu ở bệnh nhân có cơn tăng huyết áp có thể là biểu hiện của bệnh lý não do cao huyết áp Bệnh não do cao huyết áp không thường gặp ở trẻ em và đa phần do bệnh hệ thống hoặc bệnh lý mạch máu thận gây ra Các triệu chứng bao gồm [23]: Đau đầu, thay đổi thị lực, buồn nôn và nôn, lú lẫn, co giật và thiểu niệu hoặc vô niệu Trẻ có tiền sử tăng huyết áp và không tuân thủ thuốc, các hội chứng rối loạn điều hòa tự chủ, bao gồm cả thứ phát sau đột quỵ, u pheochromocytoma và các bệnh thần kinh cơ Khám lâm sàng có tình trạng tâm thần bị thay đổi, các triệu chứng của suy tim, nhịp tim chậm, phù gai thị, vàng da
1.5.5 Migraine: là một chứng rối loạn đau đầu nguyên phát phổ biến, hiện đang đƣợc Tổ chức Y tế Thế giới xếp hạng 19 trong số tất cả các bệnh suy nhƣợc trên toàn thế giới [5] Migraine xảy ra ở mọi lứa tuổi, kể cả trẻ em [24] Trong một vài nghiên cứu mô tả trên đối tƣợng trẻ đau đầu cấp tính đƣợc đánh giá tại các khoa cấp cứu, migraine là nguyên nhân đứng hàng thứ hai chỉ sau nhiễm siêu vi Đau đầu migrain gặp ở trẻ nhỏ với tỷ lệ từ 1% đến 3% ở trẻ em từ 3 đến 7 tuổi và 8% đến 23% ở tuổi vị thành niên [25] Đau đầu migraine ở trẻ em có những điểm khác biệt so với người lớn Trẻ có những thay đổi đáng kể về đặc tính, độ nặng, hoặc thời gian đau nên đƣợc đánh giá cẩn thận để loại trừ các nguyên nhân khác Đặc điểm của đau đầu Migraine [5]:
+ Điển hình là một bên ở người lớn, hai bên ở trẻ em
+ Khởi phát từ từ, kiểu tăng dần, rung, trung bình hoặc nặng, trầm trọng hơn do hoạt động thường ngày
+ Thời lƣợng cơn đau từ 4 đến 72 giờ
+ Bệnh nhân thoải mái nhất khi nghỉ ngơi trong phòng tối, yên tĩnh
+ Có thể kèm theo buồn nôn, nôn, sợ ánh sáng, ám ảnh sợ hãi, hào quang (thường là thị giác)
1.5.6 Đau đầu căng cơ : còn gọi là đau đầu kiểu căng thẳng, đau đầu do stress, hay đau đầu do tâm lý Đau đầu căng cơ xảy ra trong 10-25% trẻ lứa tuổi đến trường và trẻ vị thành niên, tỷ lệ tương đương với đau đầu migraine Ở trẻ em, các cơn đau đầu này dường như có liên quan với trầm cảm, rối loạn chức năng hàm dưới – miệng, và sang chấn cơ Đau đầu kiểu căng cơ có đặc điểm chủ yếu là đau hai bên, có cường độ nhẹ đến trung bình Đau đầu chỉ ở mức độ nhẹ hơn hoặc hoàn toàn không liên quan đến các đặc điểm điển hình của chứng đau nửa đầu nhƣ: trầm trọng hơn khi hoạt động thể chất, nôn hoặc buồn nôn và quá mẫn cảm với ánh sáng và âm thanh Đau trong đau đầu căng cơ đặc trƣng bởi tính chất gián đoạn và tái diễn (nhƣng không tiến triển) và khám thần kinh không ghi nhận gì đặc biệt [24]
1.5.7 Một số các bệnh cảnh khác
Rối loạn chức năng khớp thái dương-hàm: Đau đầu là một trong những tình trạng phổ biến nhất liên quan đến rối loạn thái dương hàm [26] Rối loạn chức năng khớp thái dương-hàm xảy ra ở trẻ mọc răng sữa hoặc hỗn hợp răng sữa và răng vĩnh viễn Trẻ thường than đau khi nhai và có những điểm tăng nhạy cảm trên lồi cầu xương hàm dưới Đau đầu xảy ra thường xuyên hơn ở trẻ lớn
Tăng áp lực nội sọ vô căn: Bệnh nhân tăng áp lực nội sọ vô căn có phù não, tăng áp lực nội sọ, với thành phần dịch não tủy bình thường, hình ảnh học thần kinh bình thường, không có các dấu hiệu thần kinh ngoại trừ liệt dây
6, và chưa rõ nguyên nhân gây bệnh Đau đầu là than phiền chính thường gặp nhất ở những trẻ đủ lớn để mô tả triệu chứng của mình Mặc dù tăng áp lực nội sọ vô căn cũng đã đƣợc ghi nhận ở trẻ nhỏ, phần lớn bệnh nhân là trẻ vị thành niên đặc biệt là trẻ nữ Các triệu chứng có thể bao gồm đau đầu không đáp ứng với giảm đau, thay đổi thị lực, buồn nôn và nôn, và đau đầu nặng hơn khi nằm ngửa Tiền sử có thể bao gồm giới tính nữ, tuổi sinh đẻ, béo phì và sử dụng thuốc mới Các loại thuốc cụ thể liên quan bao gồm thuốc tránh thai và thuốc kháng sinh tetracycline, cũng nhƣ lithium và vitamin A [27] Các phát hiện khi khám sức khỏe có thể bao gồm phù gai thị, nhịp tim chậm và rối loạn thị giác [28]
Các xét nghiệm, thăm dò chẩn đoán đau đầu
Có nhiều phương pháp chẩn đoán hỗ trợ được ứng dụng cho việc thăm khám bệnh nhân đau đầu Tuy nhiên tùy từng trường hợp cụ thể, tùy từng đặc tính bệnh học của các quá trình bệnh lý mà người thầy thuốc cần lựa chọn phương pháp thích hợp Các xét nghiệm, thăm dò hiếm khi được chỉ định trừ khi có các yếu tố nguy cơ và triệu chứng thần kinh rõ ràng hướng đến các nguyên nhân đau đầu cấp tính thứ phát
Chẩn đoán hình ảnh thần kinh học không phải lúc nào cũng đƣợc chỉ định trên một trẻ đau đầu Trong một tổng quan hệ thống từ 6 nghiên cứu trên các trẻ đau đầu tái diễn đƣợc làm các thăm dò hình ảnh học thần kinh, chỉ có 16% trẻ có các bất thường tìm thấy được, tuy nhiên trên 80% trong số này, các bất thường được phát hiện không đòi hỏi can thiệp [29] Một số chẩn đoán hình ảnh thần kinh học nhƣ chụp cắt lớp vi tính sọ não (CLVT) và chụp cộng hưởng từ (MRI) thường được thực hiện để loại trừ các nguyên nhân đau đầu thứ phát nghiêm trọng Các xét nghiệm này gây ra những gánh nặng cho bệnh nhân (ví dụ: bức xạ, nguy cơ biến chứng / dị ứng thuốc cản quang) Hơn thế nữa, những phát hiện tình cờ trên hình ảnh sọ não không liên quan đến đau đầu có thể gây lo lắng không cần thiết ở những bệnh nhân này [30] Vì vậy, chỉ nên chỉ định cho nhóm trẻ có bệnh sử và các triệu chứng thực thể gợi ý bệnh lý nội sọ nghiêm trọng
1.6.1.1 Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) sọ não:
Chụp CLVT sọ não có ƣu thế trong chẩn đoán khối choán chỗ, nhồi máu, chảy máu, áp xe, não úng thủy Ở bệnh nhân Migraine, hình ảnh CLVT sọ não thường cho kết quả bình thường, nhưng nếu đau đầu liên tục vài ngày có thể thấy một vùng phù não nhƣng không thấy ổ nhồi máu Đau đầu căng thẳng, đau đầu chức năng: cho kết quả CLVT sọ não bình thường CLVT sọ não đƣợc chỉ định khi [31]:
- Đau đầu nặng, khởi phát đột ngột
- Đau đầu diễn tiến nặng dần hoặc không điển hình
- Dấu hiệu thần kinh khu trú
- Nghi ngờ tăng áp lực nội sọ
- Nghi ngờ tổn thương choán chỗ
- Nghi ngờ bệnh lý mạch máu não: nhồi máu não, xuất huyết não, xuất huyết dưới nhện…
- Đau đầu kèm theo co giật, đặc biệt co giật khu trú
- Migraine có tiền triệu kéo dài, triệu chứng thần kinh khu trú trong cơn
- Đau đầu sau chấn thương
CLVT sọ não cung cấp rất ít thông tin trong những tổn thương vùng hố sau Tùy nguyên nhân mà người thầy thuốc có chỉ định bơm thuốc cản quang hay không
1.6.1.2 Chụp cộng hưởng từ sọ não (MRI sọ não)
Chụp MRI sọ não thường không nhất thiết chỉ định cho mọi bệnh nhân đau đầu Phương pháp này có ưu thế trong chẩn đoán các bệnh lý hố sau, tổn thương choán chỗ, bệnh lý phần mềm (não, tủy, phần mềm vùng cổ,…)
Các bệnh nhân đau vùng chẩm, có hội chứng vai gáy, có tiền sử chấn thương không rõ ràng nên được chụp cột sống cổ Khi nghi ngờ tổn thương vùng C1, C2 cần cho chỉ định CLVT sọ não
1.6.1.4 Chụp động mạch não qua da, chụp cộng hưởng từ mạch máu:
Phương pháp này có giá trị trong chẩn đoán hẹp, tắc mạch, các dị dạng mạch nhƣ phình mạch, khối AMV…
1.6.1.5 Điện não đồ Điện não đồ ít có tác dụng trong chẩn đoán đau đầu, không có thay đồi đặc hiệu trong từng loại đau đầu Hầu như chỉ có vai trò trong trường hợp đau đầu do tổn thương thần kinh khu trú nhưng chẩn đoán hình ảnh cho kết quả bình thường Tuy nhiên khoảng 1% bệnh nhân có cơn đau đầu là biểu hiện duy nhất của bệnh động kinh Trong trường hợp này, điện não đồ là tiêu chuẩn chẩn đoán [32]
Chỉ định khi nghi ngờ có nhiễm trùng nội sọ, xuất huyết dưới nhện hoặc trong các trường hợp tăng áp lực nội sọ chưa rõ nguyên nhân [33] Các thăm dò hình ảnh học thần kinh thường được thực hiện trước chọc dịch não tủy do chọc dịch não tủy có chống chỉ định ở những bệnh nhân có tổn thương choán chỗ Lấy dịch não tủy để làm các xét nghiệm chẩn đoán nguyên nhân bao gồm: tế bào học, nuôi cấy, sinh hóa, PCR, ELISA,… Biến đổi dịch não tủy cho phép chẩn đoán xác định các nguyên nhân đau đầu do nhiễm trùng hệ thần kinh trung ƣơng, giúp phân biệt viêm màng não do vi khuẩn, viêm màng não vô khuẩn và các cơn đau nửa đầu [34] Tuy nhiên trong một số trường hợp kết quả dịch não tủy có thể bình thường hoặc biến đổi không rõ ràng, khi đó cần dựa vào lâm sàng và các xét nghiệm, thăm dò khác để hỗ trợ chẩn đoán
Công thức máu: đánh giá số lƣợng, công thức bạch cầu, hemoglobin
CRP: tăng trong các trường hợp đau đầu do nguyên nhân nhiễm trùng
Các xét nghiệm thăm dò chức năng đông cầm máu, xét nghiệm vi sinh tìm nguyên nhân nhiễm trùng,…
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Khoa Cấp Cứu và Chống độc - Bệnh viện Nhi Trung ƣơng
2.1.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu : Từ tháng 11/2021 – 9/2022
Bệnh nhân tuổi từ 7 tuổi đến 15 tuổi có triệu chứng đau đầu cấp tính vào nhập khoa Cấp cứu và Chống độc của Bệnh viện Nhi Trung ƣơng từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2021
- Tất cả các bệnh nhân từ 7 tuổi đến 15 tuổi có biểu hiện đau đầu cấp tính với các mức độ khác nhau có chỉ định nhập viện theo dõi và điều trị tại khoa Cấp cứu và Chống độc Bệnh viện Nhi Trung ƣơng, đƣợc chẩn đoán, phân loại căn nguyên dựa theo bảng phân loại quốc tế 2018 về các rối loạn đau đầu (ICHD-3) [6]:
+ Đau đầu là các chứng đau ở vùng đầu, gáy, vùng cổ trên, vùng mặt và hốc mắt, đau có thể khu trú ở một bên hoặc lan tỏa ở vùng đầu
+ Đau đầu cấp tính: là những trường hợp đau đầu mới xuất hiện, diễn biến cấp tính hoặc những cơn đau đầu có cường độ tăng lên nhanh chóng, kéo dài không quá 3 tháng
Trẻ đau đầu do nguyên nhân chấn thương
Nghiên cứu mô tả hồi cứu
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu toàn bộ: lấy tất cả những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn trong thời gian nghiên cứu
2.3 Các biến số nghiên cứu:
2.3.1 Các biến số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: biếm liên tục, tính từ ngày sinh của trẻ đến khi nhập viện Đƣợc chia thành 2 nhóm tuổi: 7-10 tuổi và từ 11-15 tuổi
- Giới: Biến nhị phân, chia thành nam và nữ
- Tiền sử bệnh tật: Các tiền sử bệnh lý của bệnh nhân mắc trước khi nhập viện Bao gồm tiền sử bệnh tăng huyết áp, bệnh lý mạch máu, bệnh ác tính, bệnh lý tai mũi họng, răng hàm mặt, tiền sử dùng thuốc, tiền sử tiếp xúc độc chất…
2.3.2 Các biến số nghiên cứu cho mục tiêu 1: các nguyên nhân gây đau đầu cấp tính
Các chẩn đoán căn nguyên dựa theo bảng phân loại quốc tế về đau đầu:
Bảng 2.1: Các nguyên nhân gây đau đầu thường gặp ở trẻ em
Viêm màng não vi khuẩn
Áp-xe não hoặc hốc mắt
Nhiễm siêu vi, bao gồm cả viêm màng não siêu vi
Tăng áp lực nội sọ
Tăng áp nội sọ vô căn
Các nguyên nhân khác khác
Bệnh lý não do cao huyết áp
Rối loạn chức năng khớp thái dương-hàm
Đau đầu cụm Đau đầu nguyên phát
Bảng 2.2: Các tiêu chí chung để đánh giá đau đầu do nguyên nhân nhiễm trùng [6]
A Đau đầu đáp ứng tiêu chí C
B Nhiễm trùng hoặc di chứng của nhiễm trùng, đƣợc biết là có thể gây đau đầu đã đƣợc chẩn đoán
C Bằng chứng về nhân quả đƣợc chứng minh bởi ít nhất hai điều sau đây:
1 Đau đầu đã phát triển liên quan đến thời gian với sự khởi đầu của nhiễm trùng
2 Một trong hai hoặc cả hai điều sau:
- Đau đầu đã trở nên tồi tệ hơn đáng kể song song với việc tình trạng nhiễm trùng trở nên tồi tệ hơn
- Đau đầu đã đƣợc cải thiện hoặc giải quyết một cách đáng kể song song với việc cải thiện hoặc giải quyết tình trạng nhiễm trùng
3 Đau đầu có các đặc điểm điển hình cho nhiễm trùng
D Không giải thích đƣợc bởi một chẩn đoán ICHD-3 khác
Bảng 2.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán migraine [6]
A Ít nhất 5 đợt đau với đầy đủ tiêu chuẩn B đến D
B Đau đầu kéo dài 4-72 giờ (nếu không đƣợc điều trị hoặc điều trị không hiệu quả)
C Đau đầu có ít nhất hai trong số các đặc điểm sau:
Đau có tính chất theo mạch đập
Cường độ đau trung bình hoặc nặng
Tăng do các hoạt động thể chất thường ngày đưa đến tránh các hoạt động này (đi bộ hoặc leo cầu thang)
D Trong cơn đau đầu có ít nhất một trong các triệu chứng sau:
Buồn nôn, nôn, hoặc cả hai
Sợ ánh sáng và sợ tiếng động
E Không phù hợp với các chẩn đoán khác theo ICHD-3
A Ít nhất 2 đợt đau với đầy đủ tiêu chuẩn B và C
B Có ít nhất một trong số các tiền triệu (có thể tự hồi phục hoàn toàn) bao gồm:
Lời nói và/hoặc ngôn ngữ
C Ít nhất hai trong số bốn đặc điểm sau:
Ít nhất một tiền triệu phát triển dần trong hơn 5 phút, và/hoặc ít nhất hai tiền triệu xảy ra kế tiếp nhau
Mỗi triệu chứng tiền triệu kéo dài từ 5 đến 60 phút
Ít nhất một tiền triệu biểu hiện 1 bên
Cơn đau đầu xuất hiện cùng lúc, hoặc trong vòng 1 giờ sau tiền triệu
D Không phù hợp với các chẩn đoán khác theo ICHD-3, và đã loại trừ cơn thiếu máu não thoáng qua
Bảng 2.4: Tiêu chuẩn chẩn đoán đau đầu căng cơ [6]
Mô tả: Đau đầu theo từng đợt, thường 2 bên, cảm giác bị ép hoặc siết chặt và mức độ từ nhẹ đến trung bình, kết thúc sau vài phút đến vài ngày Đau không tăng thêm với những hoạt động thể chất thường ngày và không liên quan với buồn nôn, nhƣng có thể có biểu hiện sợ ánh sáng hay sợ tiếng ồn Khi khám có thể ghi nhận sự gia tăng nhạy cảm vùng quanh sọ
A Ít nhất 10 đợt đau đầu đáp ứng đủ các tiêu chuẩn từ B đến D Các phân dạng đợt đau thường xuyên và không thường xuyên của đau đầu căng cơ được phân biệt nhƣ sau:
Đau đầu căng cơ không thường xuyên: đau đầu xảy ra trung bình ít hơn 1 ngày mỗi tháng (< 12 ngày mỗi năm)
Đau đầu căng cơ thường xuyên: Đau đầu xảy ra trung bình 1 tới 14 ngày mỗi tháng trong hơn 3 tháng (≥ 12 và < 180 ngày mỗi năm)
B Đau đầu kéo dài từ 30 phút tới 7 ngày
C Ít nhất hai trong bốn tiêu chuẩn sau:
Đau với tính chất bị ép hoặc siết chặt
Mức độ nhẹ hoặc trung bình
Không nặng thêm bởi các hoạt động thể chất thường ngày chẳng hạn nhƣ đi bộ hoặc leo cầu thang
D Có cả hai đặc điểm sau:
Không hoặc chỉ có một triệu chứng sợ ánh sáng hoặc sợ tiếng động
E Không phù hợp với các chẩn đoán khác theo ICHD-3
2.3.3 Các biến số cho mục tiêu 2
- Thời gian đau đầu đến khi nhập viện: là thời gian tính từ lúc xuất hiện triệu chứng đau đầu đến thời điểm trẻ nhập viện Đƣợc chia làm 4 nhóm: