1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo thảo luận Đề tài tìm hiểu 3 bước Đột phá kinh tế trước Đổi mới của Đảng và rút ra nhận xét

44 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu 3 Bước Đột Phá Kinh Tế Trước Đổi Mới Của Đảng Và Rút Ra Nhận Xét
Tác giả Lương Thị Kim Thoa, Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Thị Ánh Thảo, Trần Thị Thanh Thảo, Lương Thị Hồng Thắm, Nguyễn Bảo Thiện, Đinh Minh Thủy, Mùa A Thu, Cù Thị Ý Thu, Nguyễn Hoàng Anh Thơ, Lê Thị Thoan
Người hướng dẫn ThS. Lê Văn Nguyên
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Thể loại báo cáo thảo luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 116,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Tình hình của các nước chủ nghĩa xã hội trên thế giới (5)
  • 1.2. Yêu cầu đặt ra về đổi mới tư duy kinh tế qua sự đổi mới trong công cuộc cải tổ của Liên Xô và Cải cách của Trung Quốc (11)
  • 2. Tình hình Việt Nam (12)
    • 2.1 Bối cảnh về lịch sử nước nhà (12)
    • 2.2. Yêu cầu đặt ra từ tư duy đổi mới kinh tế (18)
  • Chương 2: BA BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ CỦA ĐẢNG (19)
    • 2.1. Bước đột phá đầu tiên: Hội nghị trung ương 6 (tháng 8/1979) (19)
      • 2.1.1. Nội dung đột phá (19)
      • 2.1.2. Quá trình đột phá (21)
      • 2.1.3. Kết quả và ý nghĩa (23)
    • 2.2. Hội nghị trung ương 8 ( tháng 6/1985) (25)
      • 2.2.1. Nội dung đột phá (25)
      • 2.2.2 Quá trình đột phá (30)
      • 2.2.3. Kết quả và ý nghĩa (31)
    • 2.3 Bước đột phá thứ 3: Hội nghị bộ chính trị khóa V (THÁNG 8/1986) 33 (34)
      • 2.3.1 Nội dung đột phá (34)
      • 2.3.2 Quá trình đột phá (35)
      • 2.3.3. Kết quả và ý nghĩa (38)
  • Chương 3: ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT 3 BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ TRƯỚC ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG (41)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (44)

Nội dung

Năm 1983,Liên Xô đã có 134 nghìn thư viện công cộng với hơn hai tỷ đầu sách.- Về đối ngoại, Đảng và Nhà nước Xô-viết đã thực hiện chính sách nhằmmục tiêu chủ yếu và phương hướng cơ bản g

Tình hình của các nước chủ nghĩa xã hội trên thế giới

Phong trào đấu tranh cho hòa bình và độc lập dân tộc phát triển.

Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, nhiều quốc gia trên thế giới đã đứng lên đấu tranh giành độc lập, đặc biệt là phong trào giành độc lập tại Châu Phi Năm 1960 được xem là “Năm châu Phi” khi 17 quốc gia giành được độc lập Đến năm 1975, nhân dân Môdămbích và Angola đã thành công trong cuộc đấu tranh chống thực dân Bồ Đào Nha, đánh dấu sự chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ ở châu Phi.

Trong thời gian trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Mỹ Latinh đã giành được độc lập nhưng vẫn chịu sự lệ thuộc vào Mỹ, trở thành "sân sau" của nước này Cuộc đấu tranh chống lại các chế độ độc tài thân Mỹ đã bùng nổ, với thắng lợi nổi bật của cách mạng Cuba vào ngày 1 tháng 1 năm 1959, lật đổ chế độ Batixta và đánh dấu sự ra đời của Cộng hòa Cuba Sự kiện này đã mở ra một giai đoạn phát triển mới cho phong trào đấu tranh giành độc lập ở Mỹ Latinh, đặc biệt là trong những năm 60 đến 80 của thế kỷ XX, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ cách mạng Cuba.

Vào những năm 70, phong trào đấu tranh chống Mỹ và chế độ độc tài thân Mỹ ở Mỹ Latinh ngày càng phát triển mạnh mẽ, với các hình thức bãi công của công nhân, nổi dậy của nông dân và đấu tranh nghị trường nhằm thành lập các chính phủ tiến bộ Phong trào đấu tranh vũ trang diễn ra sôi nổi, biến khu vực này thành “lục địa bùng cháy” Nhân dân Panama đã tích cực đấu tranh, buộc Mỹ phải trả lại chủ quyền kênh đào cho nước này Đến năm 1983, khu vực Caribê đã có 13 quốc gia độc lập, trong khi phong trào đấu tranh vũ trang chống lại các chế độ độc tài ở Venezuela và Guatemala cũng diễn ra mạnh mẽ.

Côlômbia, Pêru, Nicaragua, Chile, En Xanvađo… diễn ra liên tục, lật đổ các chính quyền độc tài, thiết lập các chính phủ dân tộc dân chủ.

Hệ thống các nước XHCN đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc xây dựng xã hội và thực hiện cải cách Giai đoạn này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ và những thành tựu lớn mà các nước XHCN đã giành được.

Vào tháng 12/1978, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã khởi xướng công cuộc cải cách - mở cửa, đặt ra đường lối cải cách kinh tế - xã hội Đường lối này đã được nâng cao thành chính sách chung tại Đại hội XII (1982) và Đại hội XIII.

(1987) của Đảng Cộng sản Trung Quốc

Từ năm 1984 đến 1991, cải cách xí nghiệp quốc hữu được xem là trọng tâm, trong khi cải cách giá cả giữ vai trò then chốt trong toàn bộ quá trình cải cách Trong giai đoạn chuyển đổi thể chế kinh tế từ 1979 đến 1991, Trung Quốc đã tiến hành thí điểm và từng bước tiếp nhận cơ chế thị trường, khắc phục những khuyết điểm của nền kinh tế kế hoạch, qua đó đạt được nhiều thành tựu nổi bật.

- Thành tựu: GDP tăng trung bình hằng năm 8%; thu nhập bình quân đầu người tăng, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.

Cải thiện quan hệ quốc tế là một bước quan trọng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, bắt đầu bằng việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ vào năm 1979 Từ những năm 80 của thế kỷ XX, Trung Quốc đã bình thường hóa quan hệ với Liên Xô và Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế quốc tế của mình Trung Quốc cũng đã thu hồi chủ quyền đối với Hồng Kông vào tháng 7 năm 1997 và Ma Cao vào tháng 12 năm 1999 Tuy nhiên, Đài Loan vẫn là một khu vực chưa được Trung Quốc kiểm soát, mặc dù quốc gia này ngày càng khẳng định vai trò và địa vị kinh tế của mình trên trường quốc tế.

Kể từ những năm 1980, nền kinh tế Trung Quốc đã ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, đứng đầu thế giới Đến cuối thế kỷ XX, Trung Quốc đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ tư toàn cầu.

Trong giai đoạn 1970 - 1985, Liên Xô đạt nhiều thành tựu quan trọng với tổng sản lượng công nghiệp tăng 321 lần so với năm 1922, năm thành lập Liên Xô, và thu nhập quốc dân cũng tăng 112 lần.

Trong thập niên 70 của thế kỷ 20, Liên Xô đã thu được lợi ích to lớn từ xuất khẩu dầu mỏ, đóng góp quan trọng vào việc nâng cao phúc lợi cho người dân, củng cố tiềm lực quốc phòng và mở rộng ảnh hưởng quốc tế Năm 1975, sản lượng dầu thô của Liên Xô đạt 490 triệu tấn, vượt qua Mỹ, quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới vào thời điểm đó.

Liên Xô nổi bật với nền khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học vũ trụ Công nghệ sản xuất được chú trọng đổi mới, dẫn đến sự phát triển ổn định và nhanh chóng Sự cơ giới hóa và điện khí hóa được thực hiện hiệu quả, với ngành chế tạo máy luôn giữ vai trò chủ đạo và đứng đầu thế giới.

Vào giữa những năm 70 của thế kỷ 20, Liên Xô đã thiết lập được sự cân bằng chiến lược về vũ khí với phương Tây trong lĩnh vực quốc phòng Năm 1974, chi phí quốc phòng của Liên Xô đạt 105 tỷ USD, vượt qua Mỹ với 85 tỷ USD.

Lực lượng quân sự của khối Warsaw, bao gồm sự tham gia của Liên Xô, đã mạnh mẽ hơn so với khối NATO, tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương.

Vào đầu những năm 80 thế kỷ 20, một trong năm người lao động ở Liên Xô có bằng đại học hoặc từ các trường kỹ thuật, cho thấy sự phát triển vượt bậc của hệ thống giáo dục đại học và trung học so với các nước tư bản Số lượng sinh viên ở Liên Xô gấp hai lần tổng số sinh viên của 15 nước châu Âu Đồng thời, mạng lưới thư viện và hoạt động thông tin tư liệu cũng được mở rộng không ngừng, phục vụ cho hệ thống giáo dục quốc dân và nâng cao dân trí, với 134 nghìn thư viện công cộng và hơn hai tỷ đầu sách vào năm 1983.

Đảng và Nhà nước Xô-viết đã thực hiện chính sách đối ngoại với mục tiêu chủ yếu là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời loại trừ nguy cơ chiến tranh và duy trì hòa bình Họ tập trung vào việc mở rộng hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và phát triển quan hệ hữu nghị, bình đẳng với các nước tư bản chủ nghĩa dựa trên nguyên tắc chung sống hòa bình và hợp tác thiết thực, cùng có lợi.

Yêu cầu đặt ra về đổi mới tư duy kinh tế qua sự đổi mới trong công cuộc cải tổ của Liên Xô và Cải cách của Trung Quốc

Trước nhiều khó khăn, các nước xã hội chủ nghĩa đã tìm cách vượt qua khủng hoảng, nổi bật là công cuộc “cải cách, mở cửa” của Trung Quốc từ năm 1978 Cuộc cải cách này đã đạt được nhiều thành tựu, giúp nền kinh tế Trung Quốc chuyển từ thể chế kinh tế thị trường XHCN sang một nền kinh tế mở cửa toàn diện Đến cuối thế kỷ XX, Trung Quốc đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới, với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và ấn tượng.

Trái ngược với thành công của Trung Quốc trong cải cách và mở cửa, các nước XHCN ở Liên Xô và Đông Âu đã không đánh giá đúng thực trạng đất nước, dẫn đến thất bại trong cải tổ và góp phần vào sự sụp đổ của họ Khẩu hiệu “dân chủ hóa” và “công khai hóa” đã khiến các phương tiện thông tin đại chúng công khai những sai lầm và khuyết điểm của Đảng mà không có sự phân tích và định hướng xây dựng, tạo cơ hội cho các phần tử bất mãn xuyên tạc và vu khống Đảng, làm tổn hại đến thanh danh của tổ chức Các thế lực thù địch cũng lợi dụng tình hình này để kích động và chia rẽ Đảng với nhân dân, đây là bài học quan trọng cho Việt Nam về việc không nên cải tổ theo cách tương tự.

“phủ định sạch trơn”, giải quyết không biện chứng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị.

Để duy trì chế độ và ổn định đời sống người dân, Đảng và Nhà nước Việt Nam cần tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện Học hỏi từ thành công của Trung Quốc trong "cải cách, mở cửa" cho thấy việc chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là yêu cầu cấp thiết Đồng thời, cần rút ra bài học từ công cuộc "cải tổ" ở Liên Xô để đổi mới tư duy kinh tế, đánh giá thực trạng đất nước khi bắt đầu quá trình đổi mới.

Tình hình Việt Nam

Bối cảnh về lịch sử nước nhà

Sau năm 1975, Việt Nam đã đạt được hòa bình bền vững, độc lập và thống nhất, tạo niềm tin cho 45 triệu nhân dân vào thắng lợi vĩ đại của cách mạng Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân có điều kiện phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng và truyền thống lao động cần cù, sáng tạo với khẩu hiệu "Tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì Tổ quốc giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân" Điều này là thuận lợi to lớn và có ý nghĩa quyết định cho sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Giữa giai đoạn 1975-1981, quân dân Việt Nam đã đạt được thành tựu quan trọng trong việc thống nhất đất nước, chiến thắng hai cuộc chiến tranh biên giới và khắc phục một phần hậu quả do chiến tranh và thiên tai liên tiếp gây ra.

Với sự kết hợp mạnh mẽ giữa hai miền, chúng ta có thể nhanh chóng vượt qua những khó khăn mà mỗi miền gặp phải Sự hiện diện của 45 triệu nhân khẩu, trong đó có khoảng 21 triệu lao động, bao gồm đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật và công nhân kỹ thuật đông đảo từ cả Bắc và Nam, tạo ra nguồn lực quý giá cho sự phát triển kinh tế bền vững.

Miền Bắc đã tiên phong trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền tảng cho sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đồng thời cải thiện nông nghiệp Ở miền Nam, quyền sở hữu ruộng đất của đế quốc và phong kiến đã được xóa bỏ, các thành phố và khu công nghiệp giữ được cơ sở hạ tầng nguyên vẹn, với một số cơ sở sản xuất hiện đại và kinh nghiệm quản lý có thể áp dụng Những cơ sở vật chất - kỹ thuật và kinh nghiệm tích lũy trên toàn quốc là vốn quý cho sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh đất nước thống nhất và hòa bình, Việt Nam đang có cơ hội phát triển kinh tế và văn hóa, mở rộng quan hệ kinh tế cũng như hợp tác khoa học, kỹ thuật với các quốc gia xã hội chủ nghĩa và nhiều nước khác trên toàn cầu.

Giao thông đã được cải thiện đáng kể với hàng ngàn kilomet đường sắt, đường bộ và nhiều cầu cảng được khôi phục và xây dựng mới Đặc biệt, tuyến đường sắt Thống nhất nối Hà Nội với Thành phố Hồ Chí Minh đã hoạt động trở lại sau 30 năm gián đoạn.

Hậu quả của chiến tranh và chủ nghĩa thực dân mới đã để lại những tác động nặng nề cho miền Nam, với khoảng ba triệu người thất nghiệp, gần bốn triệu người mù chữ, và nhiều tệ nạn xã hội Diện tích ruộng đất bị hoang hóa lên tới nửa triệu hecta, cùng với hàng triệu hecta rừng bị tàn phá Kinh tế miền Nam, vốn phụ thuộc vào đế quốc, gặp khó khăn lớn trong việc khôi phục sản xuất và ổn định đời sống Sau ngày giải phóng, chính quyền cách mạng đã nhanh chóng tổ chức cứu đói, phục hồi ruộng đất, và hỗ trợ hàng trăm ngàn người trở về quê Họ cũng nỗ lực cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp và khôi phục các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế Tuy nhiên, khối lượng công việc còn lại rất lớn và cần nhiều thời gian để giải quyết Ở miền Bắc, mặc dù nhiều công trình đã được khôi phục, nhưng vẫn còn nhiều cơ sở chưa hoàn chỉnh, và một số vấn đề trong quản lý kinh tế và xã hội vẫn chưa được khắc phục Số người bị thương tật và trẻ mồ côi do chiến tranh cũng khá đông.

Nhà nước không thể cung ứng vật tư cho các xí nghiệp, dẫn đến sản phẩm công nghiệp không đạt định mức và không đủ tiền trả công nhân Việc thiếu hàng hóa cũng ảnh hưởng đến khả năng thu mua nông sản từ nông dân, buộc họ phải bán theo giá thị trường tự do Điều này làm giảm mức huy động thương thực và gây ra tình trạng thiếu hàng hóa trong thị trường tiêu dùng và mậu dịch quốc doanh, thể hiện sự ách tắc trong cơ chế mua bán và mối liên kết giữa cung và cầu.

Từ đó xuất hiện thị trường tự do và xuất hiện mối quan hệ “cộng sinh”.

Thứ ba, Việt Nam đang bị các đế quốc và thế lực thù địch bao vây, cấm vận và ở tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội

Năm 1975, sau khi Việt Nam giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến và thống nhất đất nước, Mỹ đã mở rộng cấm vận đối với toàn bộ quốc gia Hành động này nhằm rửa hận cho thất bại trong cuộc chiến xâm lược, đồng thời hỗ trợ cho chiến lược không đánh mà vẫn thắng.

Năm 1978, Việt Nam đã đánh trả quân Khmer Đỏ trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, góp phần giúp nhân dân và lực lượng cách mạng Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng, từ đó hồi sinh đất nước và xây dựng, bảo vệ thành quả cách mạng.

Mỹ, phương Tây và một số quốc gia khác đã cáo buộc Việt Nam "xâm lược Campuchia", dẫn đến việc áp đặt cấm vận toàn diện và cản trở Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc Điều này đã gây ra khủng hoảng kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thương mại toàn cầu và tài chính của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh quốc gia này đang nỗ lực khôi phục sau chiến tranh Do đó, Việt Nam cần thúc đẩy quan hệ ngoại giao để nhận hỗ trợ vật chất từ các quốc gia và tổ chức quốc tế, đồng thời thiết lập quan hệ với nhiều nước khác, nhấn mạnh chính sách đối ngoại độc lập và yêu chuộng hòa bình.

Vào ngày 17/2/1979, Trung Quốc đã huy động hơn 600.000 quân tấn công toàn bộ biên giới Việt Nam, gây ra thiệt hại nặng nề Quân và dân Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh biên giới, đã kiên cường chiến đấu với sự ủng hộ của nhân dân thế giới để bảo vệ đất nước Đến ngày 5/3/1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân Sau đó, Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán để giải quyết tranh chấp biên giới và khôi phục hòa bình, quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước.

Từ năm 1985 đến 1986, lạm phát tăng cao lên đến 774%, khiến lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng trở nên khan hiếm, dẫn đến nạn đói ở nhiều nơi và đời sống nhân dân gặp khó khăn Các hiện tượng tiêu cực và vi phạm pháp luật, bao gồm vượt biên trái phép, trở nên phổ biến, trong khi tư tưởng chính trị dao động và niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa giảm sút.

Thứ tư, cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp:

Nhà nước quản lý kinh tế chủ yếu thông qua các mệnh lệnh và quy định từ trên cao, thay vì dựa vào cơ chế tự do và cạnh tranh của thị trường Hệ thống chỉ tiêu được xây dựng từ quan điểm chủ quan, không phản ánh đầy đủ hoặc chính xác tình hình thực tế của nền kinh tế.

Nhà nước thiết lập các chỉ tiêu và truyền đạt xuống cho doanh nghiệp và hợp tác xã thực hiện Các tổ chức và doanh nghiệp không có quyền tham gia vào quá trình xây dựng các chỉ tiêu này, mà chỉ thực hiện theo hướng dẫn từ Nhà nước.

Yêu cầu đặt ra từ tư duy đổi mới kinh tế

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài, sản xuất tăng chậm và không ổn định, nền kinh tế đối mặt với tình trạng thiếu hụt và lạm phát cao Tình hình này đặt ra sự lựa chọn cấp bách giữa "đổi mới hay là chết" Đảng ta với bản lĩnh và quyết tâm chính trị cao đã xác định rõ ràng cần phải thực hiện các biện pháp đổi mới để vượt qua khủng hoảng.

Để bắt đầu công cuộc đổi mới, cần nhìn thẳng vào sự thật và đánh giá đúng tình hình, với trọng tâm là "đổi mới tư duy", đặc biệt là tư duy kinh tế Quá trình này đầy thách thức, yêu cầu sự sáng tạo và nỗ lực từ toàn Đảng và toàn dân Chúng ta cần thoát khỏi thể chế kế hoạch hóa tập trung và từng bước chuyển mình vào nền kinh tế thị trường, đồng thời tìm cách mở cửa và hội nhập quốc tế Tư duy đổi mới sẽ là nền tảng cho việc xây dựng các chính sách phát triển đúng đắn, tạo động lực mạnh mẽ, góp phần đưa đất nước đạt được những thành tựu lịch sử trong 35 năm qua.

BA BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ CỦA ĐẢNG

Bước đột phá đầu tiên: Hội nghị trung ương 6 (tháng 8/1979)

Trước khi tiến hành đổi mới, áp lực từ tình hình trong nước và quốc tế đã khiến chúng ta không còn lựa chọn nào khác Bước đầu tiên trong quá trình đổi mới là thay đổi tư duy, đặc biệt là tư duy kinh tế.

Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khoá IV (8-1979) đã chuyển trọng tâm từ kinh tế địa phương sang các vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tư tưởng chủ đạo là "làm cho sản xuất bung ra", nhằm khắc phục khuyết điểm trong quản lý kinh tế và điều chỉnh chính sách, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển Hội nghị đã đề ra các biện pháp như ổn định nghĩa vụ lương thực, khuyến khích sử dụng đất hoang hóa, đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, và cải cách thuế lương thực để khuyến khích sản xuất Phân tích thực trạng kinh tế cho thấy nguyên nhân khó khăn là do kế hoạch kinh tế thiếu căn cứ khoa học, chưa kết hợp chặt chẽ với thị trường và chưa khai thác đúng các thành phần kinh tế Từ đó, Hội nghị quyết định những chủ trương mới, mạnh dạn và sáng tạo, phù hợp với yêu cầu cấp bách của đời sống kinh tế.

Hội nghị nhấn mạnh tầm quan trọng của việc động viên toàn dân phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp để đảm bảo lương thực và nguyên liệu cho công nghiệp, cũng như tăng cường xuất khẩu Cần ban hành chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp, như ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm và khuyến khích sử dụng đất bỏ hoang Đồng thời, cần đảm bảo quyền tự chủ sản xuất cho các xí nghiệp và xây dựng kế hoạch phù hợp với thị trường Hội nghị cũng khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, linh hoạt áp dụng hình thức tổ chức sản xuất theo từng ngành nghề Các hợp tác xã cần duy trì những gì hoạt động hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện cho tiểu, thủ công nghiệp và tư nhân phát triển sản xuất các mặt hàng hiện do quốc doanh quản lý.

Cần uốn nắn nhận thức lệch lạc và thực hiện đúng chủ trương của Đảng về sự tồn tại các thành phần kinh tế để tận dụng mọi khả năng lao động, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý nhằm phát triển sản xuất Đối với công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, cần nắm vững phương châm tích cực và vững chắc, đồng thời chống lại tư tưởng nóng vội, chủ quan, cưỡng ép, mệnh lệnh, làm ồ ạt gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân Bên cạnh các chủ trương đổi mới trong lĩnh vực kinh tế-xã hội, Đảng cũng chú trọng kiện toàn bộ máy Nhà nước và tăng cường công tác xây dựng Đảng.

Vào tháng 9 năm 1979, Hội đồng Chính phủ đã ban hành quyết định nhằm khai thác đất đai nông nghiệp cho mục đích khai hoang và phục hóa, đảm bảo người lao động nhận được thù lao xứng đáng Ngoài ra, họ cũng được phép sử dụng toàn bộ sản phẩm thu hoạch và được miễn thuế.

Vào tháng 10 năm 1979, Hội đồng Chính phủ đã quyết định xóa bỏ các trạm kiểm soát ngăn sông cấm chợ, cho phép người sản xuất tự do đưa sản phẩm ra thị trường mà không phải nộp thuế, sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước Quyết định này đã góp phần tăng sản lượng lương thực lên 1.718.500 tấn so với năm 1978.

Vào ngày 13/1/1981, trước tình trạng “khoán chui” trong hợp tác xã nông nghiệp ở một số địa phương, Ban Bí thư đã tổ chức thí điểm và ban hành Chỉ thị 100-CT/TW Chỉ thị này nhằm cải tiến công tác khoán và mở rộng khoán sản phẩm cho nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và quản lý.

Theo Chỉ thị này, mỗi xã viên được giao khoán trên một diện tích nhất định và tự thực hiện ba khâu: cấy, chăm sóc và thu hoạch, trong khi hợp tác xã đảm nhận các khâu khác Nếu sản lượng thu hoạch vượt mức khoán, xã viên sẽ được hưởng lợi Chính sách này nhanh chóng nhận được sự ủng hộ từ nông dân cả nước, tạo ra một phong trào quần chúng sâu rộng Nông dân đã tích cực lao động, góp phần tạo động lực mới cho sản xuất nông nghiệp Kết quả là sản lượng lương thực bình quân tăng từ 13,4 triệu tấn/năm (1976-1980) lên 17 triệu tấn/năm (1981-1985), diện tích cây công nghiệp tăng 62,1%, đàn bò tăng 33,2%, đàn lợn tăng 22%, và lương thực cung cấp cho Nhà nước tăng gấp đôi, đồng thời giảm thiểu các hiện tượng tiêu cực và lãng phí trong sản xuất nông nghiệp.

Nhà nước và nhân dân đang tăng cường đầu tư cho sản xuất nông nghiệp nhằm đảm bảo lương thực, thực phẩm, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và thúc đẩy xuất khẩu nông sản Đặc biệt, chú trọng vào sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, cùng với việc thăm dò và khai thác dầu khí Ngoài ra, cần đầu tư hợp lý cho các ngành điện, than, giao thông vận tải, cơ khí, sản xuất phân bón hóa học và vật liệu xây dựng, từ đó mở rộng quyền tự chủ cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh.

Vào ngày 21/1/1981, trước tình trạng “xé rào” bù giá vào lương tại Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An, Chính phủ đã ban hành các quyết định quan trọng Quyết định số 25/CP cho phép các xí nghiệp quốc doanh có quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và tự chủ về tài chính, trong khi Quyết định số 26/CP mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và áp dụng tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước Những chính sách này đã tạo động lực mới, góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch, với ngành công nghiệp địa phương vượt kế hoạch 7,5% trong năm 1981.

Vào ngày 23/6/1980, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 26/NQ-TW nhằm cải tiến công tác phân phối và lưu thông, một lĩnh vực quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội của đất nước thời bấy giờ Nghị quyết này đã xác định rõ mục tiêu, biện pháp và các bước cụ thể để cải tiến công tác này Tuy nhiên, một trong những hạn chế của Nghị quyết là tập trung khuyến khích sản xuất trước (bước 1), sau đó mới cải tiến công tác phân phối lưu thông dựa trên sự phát triển của sản xuất (bước 2 và 3).

Mặc dù thực tiễn đòi hỏi cải tiến công tác phân phối lưu thông để thúc đẩy sản xuất, nhưng tình hình phân phối lưu thông sau Nghị quyết 26 vẫn chưa có sự chuyển biến đáng kể.

Trong giai đoạn 1976-1980, sản lượng lương thực bình quân đạt 13,4 triệu tấn/năm, sau đó tăng lên 17 triệu tấn/năm trong giai đoạn 1981-1985 Điều này cho thấy sự cải thiện đáng kể trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời giảm thiểu các hiện tượng tiêu cực và lãng phí.

Chủ trương của Đảng đã tạo ra động lực mới cho ngành công nghiệp, giúp thúc đẩy sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch đề ra, đặc biệt là công nghiệp địa phương, với mức tăng trưởng vượt kế hoạch 7,5%.

Bước đột phá đổi mới kinh tế lần thứ nhất đã được nhân dân cả nước đón nhận nồng nhiệt, với nhiều điển hình về cách làm ăn mới phát huy hiệu quả tích cực Tuy nhiên, các giải pháp từ Hội nghị Trung ương sáu vẫn chưa đủ để giải quyết triệt để những khó khăn hiện tại Sau một thời gian thực hiện, nhiều vấn đề mới lại phát sinh: sản xuất phát triển nhưng không đúng hướng, hàng lậu và hàng giả gia tăng, cùng với sự leo thang của giá cả.

Hội nghị trung ương 8 ( tháng 6/1985)

Hội nghị Trung ương 8 khoá V (6-1985) đánh dấu bước đột phá quan trọng trong đổi mới kinh tế của Đảng, với mục tiêu xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu - bao cấp trong giá và lương Hội nghị nhấn mạnh việc chuyển đổi nền kinh tế sang hạch toán và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động và tính sáng tạo của các cấp, ngành Cần xây dựng cơ chế quản lý mới, điều chỉnh giá cả sát với chi phí sản xuất và thực tế thị trường, đồng thời thúc đẩy sản xuất phát triển hợp lý, khai thác tiềm năng lao động và cơ sở vật chất hiện có Mục tiêu là ổn định đời sống nhân dân, cân bằng ngân sách, và tạo nguồn tích lũy cho công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Hội nghị cũng nhấn mạnh việc hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, tăng cường kinh tế quốc doanh và phát triển kinh tế gia đình, đồng thời góp phần vào quốc phòng và an ninh, chống lại các hiện tượng tiêu cực.

Nội dung xoá quan liêu, bao cấp trong giá - lương - tiền hiện nay chủ yếu là:

Để đảm bảo giá thành sản phẩm hợp lý, cần tính toán đầy đủ chi phí thực tế, giúp người sản xuất có lợi nhuận hợp lý và Nhà nước từng bước tích lũy Điều này cũng nhằm xóa bỏ tình trạng Nhà nước mua và bán với giá thấp, cũng như tình trạng bù lỗ không hợp lý.

Cần thực hiện phân công và phân cấp hợp lý trong quản lý giá giữa các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương, đảm bảo quyền tập trung của trung ương trong việc định giá hàng hóa chủ yếu có tính toàn quốc, đồng thời tạo điều kiện cho địa phương chủ động về giá cả hàng hóa mang tính đặc thù địa phương Để đạt được mục tiêu này, cần tăng cường kỷ luật trong quản lý giá, đặc biệt đối với hàng hóa địa phương, giá cả sẽ do chính quyền địa phương hoặc cơ sở sản xuất quyết định.

Giá mua lương thực và nông sản cần phản ánh và hỗ trợ đường lối phát triển nông nghiệp, nhằm xây dựng cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý Điều này thể hiện mối quan hệ hợp tác giữa công nghiệp và nông nghiệp, đảm bảo cả hai lĩnh vực phát triển đồng đều và đóng góp xứng đáng cho Nhà nước, qua đó cải thiện đời sống của công nhân và nông dân.

Nhà nước áp dụng chính sách giá mua cao hơn cho những vùng có điều kiện thiên nhiên khó khăn và cơ sở vật chất thấp kém, nhằm hỗ trợ đời sống người dân Đồng thời, các chính sách đầu tư cũng được triển khai để cải thiện tình hình Đối với những vùng có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, cần thiết phải có các chính sách thuế và giá phù hợp để khuyến khích phát triển.

Nhà nước cần thực hiện quản lý thống nhất và độc quyền trong kinh doanh lương thực và nông sản chủ yếu thông qua chính sách giá hợp lý Cơ chế giá thống nhất do Nhà nước quy định sẽ giúp khắc phục tình trạng "thả nổi" giá cả và quản lý giá một cách linh hoạt hơn Mục tiêu là từng bước ổn định giá cả dựa trên việc kiểm soát kế hoạch sản xuất, phân phối, và quản lý thị trường hiệu quả.

Thực hiện trả lương bằng tiền có hàng hoá là cần thiết để đảm bảo người lao động sống chủ yếu bằng tiền lương Mức lương thực tế cần tái sản xuất sức lao động và phù hợp với khả năng của nền kinh tế quốc dân Đặc biệt, ở Việt Nam, mức lương tối thiểu phải đảm bảo cung cấp cho người lao động ít nhất 2.000 calo/ngày, trong đó chi phí ăn uống chiếm khoảng 70% tiền lương.

Gắn kết tiền lương với năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động là cần thiết để thực hiện phân phối công bằng theo lao động Cần thiết phải trả lương bằng tiền với hàng hóa đảm bảo, đồng thời loại bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, nhằm thoát ly khỏi giá trị hàng hóa.

Chế độ lương thống nhất trên toàn quốc cần xem xét sự khác biệt hợp lý giữa các vùng và ngành nghề, đồng thời ưu đãi cho các lĩnh vực nặng nhọc, độc hại và yêu cầu kỹ thuật cao, như giáo dục, y tế, văn hóa và nghệ thuật Cần sắp xếp lại thang lương và bậc lương phù hợp với trình độ, trách nhiệm và cống hiến của công nhân, viên chức, bảo đảm đãi ngộ hợp lý giữa các ngành nghề Mức lương của sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp trong quân đội và công an nên cao hơn một chút so với cán bộ, nhân viên ở các ngành nghề nặng nhọc Ngoài ra, cần thiết lập phụ cấp thâm niên hợp lý cho những công nhân, viên chức gắn bó lâu dài với ngành nghề, và áp dụng phụ cấp vượt khung cho những người đã đạt bậc cao nhất trong thang lương mà vẫn tiếp tục cống hiến.

Vào thứ ba, chính sách tài chính và tiền tệ cần được điều chỉnh để cải thiện công tác tài chính và lưu thông tiền tệ, song song với việc điều chỉnh giá cả và lương.

Để phát triển sản xuất và cải thiện quản lý, cần hạ giá thành và phí lưu thông, đồng thời huy động mạnh mẽ các nguồn thu cho ngân sách nhà nước Cải tiến chế độ thu quốc doanh và các loại thuế là điều cần thiết Thực hiện tiết kiệm chi tiêu nghiêm ngặt và điều chỉnh các chế độ chi tiêu phù hợp với khả năng tài chính của Nhà nước Mục tiêu là tiến tới cân bằng ngân sách và chấm dứt phát hành cho chi tiêu ngân sách.

Xác lập quyền tự chủ tài chính cho các ngành kinh tế - kỹ thuật, địa phương và đơn vị cơ sở là cần thiết, gắn liền với việc sửa đổi cơ chế kế hoạch hoá và quản lý Cần chuyển đổi toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh sang cơ chế hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa ngay từ khâu kế hoạch hoá Tất cả tổ chức kinh tế phải tự chịu trách nhiệm về lợi nhuận và thua lỗ, đồng thời loại bỏ các khoản bù lỗ không hợp lý từ ngân sách nhà nước ở cả trung ương và địa phương Mọi trường hợp bù lỗ chỉ nên được xem xét trong những tình huống cá biệt, tạm thời và phải được quản lý chặt chẽ.

Xóa bỏ các khoản chi bao cấp không cần thiết từ ngân sách trung ương và địa phương; nỗ lực cân bằng ngân sách trong thời gian ngắn; đồng thời, đảm bảo ngân sách địa phương có nguồn thu ổn định và phát triển bền vững.

Điều chỉnh mối quan hệ giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương là cần thiết để thực hiện chế độ phân cấp ngân sách hiệu quả, đảm bảo sự nhất trí giữa lợi ích của toàn xã hội, tập thể và cá nhân Điều này sẽ tạo điều kiện cho các địa phương chủ động khai thác tiềm năng phát triển kinh tế, tăng nguồn thu và bố trí ngân sách phù hợp với nhu cầu chi tiêu Đồng thời, cần áp dụng các biện pháp hiệu quả để cải tiến lưu thông tiền tệ, thu hút tiền nhàn rỗi và tăng tốc độ quay vòng đồng tiền Chuyển đổi mạnh mẽ hoạt động của ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất - kinh doanh theo giá mới.

Thứ tư, nhanh chóng chuyển hẳn công tác ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa

Tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành và địa phương thực hiện hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, với hiệu quả kinh tế làm tiêu chuẩn hàng đầu trong hoạt động tín dụng ngân hàng Để kiểm soát sản xuất, thị trường và phân phối, cần chủ động kế hoạch hoá phát hành và nỗ lực chấm dứt lạm phát trong chi tiêu ngân sách.

Bước đột phá thứ 3: Hội nghị bộ chính trị khóa V (THÁNG 8/1986) 33

Hội nghị Bộ Chính trị khóa V vào tháng 8 năm 1986 đã đưa ra những kết luận quan trọng về quan điểm kinh tế, đánh dấu bước đột phá thứ ba trong công cuộc đổi mới kinh tế Sự kiện này cũng là yếu tố quyết định cho sự hình thành đường lối đổi mới của Đảng.

Hội nghị nhận định rằng cơ cấu sản xuất hiện tại đang gặp nhiều vấn đề do chủ quan và nóng vội trong việc đề ra các chủ trương lớn về quy mô và nhịp độ xây dựng, dẫn đến tình trạng sản xuất stagnation trong 5 năm qua, năng suất lao động giảm và chi phí sản xuất tăng Tình hình này ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết các vấn đề về lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu, cũng như việc tạo nguồn hàng cho xuất khẩu Do đó, cần thực hiện một cuộc điều chỉnh lớn trong cơ cấu sản xuất và đầu tư, tập trung vào nông nghiệp, phát triển công nghiệp nhẹ và lựa chọn quy mô, nhịp độ phù hợp cho công nghiệp nặng, đồng thời chú trọng đến quy mô vừa và nhỏ để phục vụ hiệu quả cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và xuất khẩu Cần huy động nguồn lực, đặc biệt là vốn và vật tư, để thực hiện ba chương trình quan trọng về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu và hàng xuất khẩu.

Hội nghị nhấn mạnh rằng cải cách xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ liên tục trong quá trình chuyển đổi lên chủ nghĩa xã hội, và việc chưa nắm vững quy luật này đã dẫn đến nhiều khuyết điểm Cần lựa chọn bước đi và hình thức phù hợp cho từng vùng, lĩnh vực, từ quy mô nhỏ đến lớn, đồng thời nhận thức đúng đắn về đặc trưng của thời kỳ quá độ với nền kinh tế đa thành phần Điều này không chỉ nhằm phát triển lực lượng sản xuất và tạo thêm việc làm, mà còn yêu cầu sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế Cải tạo xã hội chủ nghĩa không chỉ là thay đổi chế độ sở hữu mà còn bao gồm quản lý và phân phối, là một quá trình gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, không thể thực hiện một lần hay trong thời gian ngắn.

Hội nghị nhấn mạnh rằng việc bố trí lại kinh tế cần gắn liền với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tạo ra động lực mới thúc đẩy sản xuất phát triển Cơ chế quản lý kinh doanh xã hội chủ nghĩa chủ yếu tập trung vào việc đổi mới kế hoạch hóa, phát huy vai trò của các quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời áp dụng đúng các quy luật quan hệ hàng hóa – tiền tệ Điều này bao gồm việc trao quyền tự chủ cho các đơn vị kinh tế trong sản xuất và kinh doanh, phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính của Nhà nước với chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh của các đơn vị Cuối cùng, cần phân công, phân cấp để đảm bảo quyền tập trung thống nhất của Trung ương ở các khâu then chốt, đồng thời giữ quyền chủ động cho địa phương và quyền tự chủ cho các cơ sở sản xuất kinh doanh.

2.3.2 Quá trình đột phá Đại hội VI Đảng, ta đã nắm bắt chính xác cái ‘chìa khóa” quyết định nhất để đổi mới nền kinh tế nước ta chính là đổi mới cơ chế kinh tế, chấm dứt cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường.

Tư duy đổi mới đã có, nhưng những năm sau đó, nhất là giai đoạn 1987-

Năm 1988 đánh dấu giai đoạn khó khăn trong việc áp dụng đường lối đổi mới do ảnh hưởng từ quá khứ bao cấp và những thách thức mới trong bối cảnh tình hình trong và ngoài nước phức tạp Đây là thời điểm chứng kiến những điều chỉnh hợp lý, cẩn trọng và hiệu quả trong việc thực hiện các chính sách kinh tế mới.

Từ ngày 11/3/1987, Nhà nước đã quyết định bãi bỏ các trạm kiểm soát trên tất cả các tuyến giao thông nội địa, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa giữa các địa phương.

Vào ngày 14/11/1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 217-HĐBT, giao quyền tự chủ cho các xí nghiệp quốc doanh và xóa bỏ hệ thống chỉ tiêu kinh tế, chỉ giữ lại hai chỉ tiêu chính là giá trị sản lượng và khoản nộp ngân sách Quyết định này đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc giảm bớt áp lực từ các chỉ tiêu kinh tế, tạo điều kiện cho các xí nghiệp quốc doanh phát triển sản xuất và nâng cao năng suất lao động Tiếp theo, vào ngày 9/3/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 27-HĐBT về kinh tế tư doanh và Nghị định số 29-HĐBT về kinh tế gia đình, cho phép phục hồi thành phần kinh tế tư nhân Những nghị định này không chỉ giải quyết những khó khăn trong sản xuất kinh doanh mà còn thể hiện sự tiến bộ trong việc công nhận nền kinh tế đa thành phần.

Vào ngày 5 tháng 4 năm 1988, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 10/NQ nhằm đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp, tiếp tục cải tiến chế độ khoán sản xuất nông nghiệp, hay còn gọi là Khoán 10 Nghị quyết khẳng định sự tồn tại lâu dài và tác động tích cực của kinh tế cá thể tư nhân trong quá trình phát triển chủ nghĩa xã hội, đồng thời thừa nhận tư cách pháp nhân, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ bình đẳng trước pháp luật, cũng như bảo vệ quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ cá thể tư nhân.

Đến năm 1990, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều đặc điểm quan trọng cho thấy sự chuyển mình sang nền kinh tế thị trường, mặc dù thị trường về đất đai, lao động và vốn vẫn còn kém phát triển hoặc chưa tồn tại.

Sự chuyển đổi kinh tế đã hoàn tất, với phần lớn các giao dịch dựa trên nguyên tắc trao đổi tự nguyện và cùng có lợi Các chủ trương đổi mới và chuyển hướng nền kinh tế tiếp tục được khẳng định và thúc đẩy trong các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc tiếp theo.

Kể từ năm 1987, nhằm thực hiện chủ trương phát triển kinh tế đa dạng, khu vực kinh tế nhà nước đã nỗ lực cải cách và nâng cao khả năng cạnh tranh Các cải tiến này không chỉ giúp cải thiện vị thế của khu vực nhà nước mà còn hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, khẳng định vai trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế theo định hướng của Đảng.

Nhà nước Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thông qua việc sử dụng hiệu quả các công cụ điều tiết vĩ mô, cải thiện hệ thống phân phối và tự do hóa thương mại Chính sách đổi mới kinh tế và mở cửa tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu văn hóa và kinh tế quốc tế, từ đó tăng cường hợp tác quốc tế Các Đại hội IX (2001) và X (2006) khẳng định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở rộng hội nhập quốc tế Đại hội XI (2010) đặt quyết tâm đẩy mạnh đổi mới toàn diện, hướng tới mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại.

Kể từ khi đổi mới, Việt Nam đã tích cực hội nhập khu vực và quốc tế, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại và chú trọng đến việc huy động nguồn lực từ bên ngoài để thúc đẩy sản xuất và trao đổi hàng hóa trong nước, nhằm phát triển bền vững đất nước.

2.3.3 Kết quả và ý nghĩa của bước đột phá thứ ba a Kết quả của bước đột phá thứ ba

Bước đột phá thứ ba đã mang lại nhiều thành tựu quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam Chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã giúp khắc phục những yếu kém và thúc đẩy sự phát triển Kết thúc kế hoạch 5 năm (1986-1990), GDP tăng trưởng 4,4%/năm, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 3,8-4%/năm, và công nghiệp tăng 7,4%/năm, trong đó sản xuất hàng hóa tiêu dùng tăng 13-14%/năm Giá trị kim ngạch xuất khẩu cũng tăng 28%/năm Việc thực hiện hiệu quả ba chương trình mục tiêu về lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và xuất khẩu đã góp phần phục hồi sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát.

ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT 3 BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ TRƯỚC ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG

Qua tìm hiểu và nghiên cứu, nhóm nhận thấy Hội nghị Trung ương 6 khóa

Hội nghị IV vào tháng 8 năm 1979 đã khởi đầu quá trình đổi mới tại Việt Nam, mở ra con đường phát triển sản xuất và tư duy kinh tế Các chính sách được đề ra nhằm xóa bỏ rào cản, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển Tiếp theo, Hội nghị Trung ương 8 khóa V vào tháng 6 năm 1985 đã đánh dấu bước đột phá thứ hai trong đổi mới tư duy kinh tế, quyết liệt xóa bỏ cơ chế quan liêu và bao cấp, chuyển ngân hàng sang nguyên tắc kinh doanh, đồng thời áp dụng cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa cho mọi hoạt động sản xuất Những chính sách này đã tạo ra những điểm mới và bước tiến quan trọng trong sản xuất hàng hóa.

Vào năm 1985, tại Hội nghị Bộ Chính trị khóa V (tháng 8 năm 1986), một bước đột phá quan trọng trong tư duy kinh tế đã được đưa ra, nhấn mạnh nông nghiệp là mặt trận chủ chốt Các ngành công nghiệp nặng cần phát triển một cách chọn lọc, đồng thời phải chú trọng phát triển ngành công nghiệp nhẹ để tạo đà cho nền kinh tế Quản lý kinh tế cần lấy kế hoạch làm trung tâm, nhưng phải sử dụng đúng mối quan hệ hàng hóa – tiền tệ và loại bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp Đây là bước đột phá có ý nghĩa lớn, góp phần mang lại thành công cho Việt Nam.

Trước năm 1986, Việt Nam đã có những đột phá quan trọng, giúp cỗ xe đổi mới tiến xa hơn Những thay đổi này đã phá vỡ nhiều rào cản của cơ chế cũ, tạo điều kiện thuận lợi cho những bước tiến tiếp theo trong quá trình đổi mới.

Những đổi mới tư duy kinh tế hiện nay nhấn mạnh sự cần thiết phải giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và tạo động lực thiết thực cho người lao động, đặc biệt là quan tâm đến lợi ích kinh tế và vật chất của họ Mặc dù những tư duy này mới chỉ mang tính chất từng phần, nhưng chúng đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho sự phát triển nhảy vọt tại Đại hội VI.

Các bước đột phá vào tháng 8/1979, tháng 6/1985 và tháng 8/1986 đã thể hiện sự phát triển trong nhận thức từ khảo nghiệm thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân, dẫn đến việc hình thành đường lối đổi mới Qua ba bước đột phá đầu tiên, Đảng và Nhà nước đã nỗ lực phát triển và xem xét các phương án tối ưu để cải thiện tư duy kinh tế Mặc dù tư duy đổi mới chưa hoàn toàn cơ bản và toàn diện, nhưng đã tạo ra những chuẩn bị quan trọng và là tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ trong Đại hội VI.

Những nghị quyết đổi mới tư duy kinh tế đã thể hiện bản lĩnh và đường lối chỉ đạo vững chắc của Đảng, cùng với tư duy sáng tạo và nỗ lực không ngừng trong việc cải cách Điều này không chỉ tạo niềm tin cho nhân dân mà còn đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc phát triển và xây dựng đất nước, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế.

Tóm lại, đường lối đổi mới không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của một quá trình tìm tòi và thử nghiệm Qua những trăn trở và đấu tranh về tư duy, kết hợp giữa thực tiễn và lý luận, chúng ta đã tạo ra những đột phá quan trọng Quá trình này diễn ra từng bước, từ đổi mới bộ phận đến đổi mới căn bản, và từ đổi mới từng mặt đến đổi mới toàn diện.

Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân và phát huy vai trò sáng tạo của họ Cách mạng là sự nghiệp của, vì và do nhân dân, với ý kiến và sáng kiến của họ là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Ðảng Dựa vào thực tiễn phong phú của nhân dân, tổng kết và tìm ra quy luật các mặt của cuộc sống là chìa khóa dẫn đến thành công.

Ngày đăng: 13/11/2024, 21:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w