MỤC LỤC 1 MỞ ĐẦU 3 1. Lý do chọn đề tài 3 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4 4. Lịch sử vấn đề 5 4.1. Những nghiên cứu về văn hóa tâm linh 5 4.2. Những nghiên cứu về văn hóa tâm linh trong truyện Lục Vân Tiên 7 5. Phương pháp nghiên cứu 9 6. Cấu trúc tiểu luận 10 CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT 13 1.1. Khái quát về văn hóa tâm linh 13 1.1.1. Khái niệm văn hóa 13 1.1.2. Khái niệm tâm linh 15 1.1.3. Khái niệm văn hóa tâm linh 20 1.2. Tác giả Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm Lục Vân Tiên 22 1.2.1. Tác giả Nguyễn Đình Chiểu 22 1.2.2. Tác phẩm Lục Vân Tiên 24 1.3. Cơ sở hình thành văn hóa tâm linh trong truyện Lục Vân Tiên 27 1.3.1. Từ trong tín ngưỡng dân gian 27 1.3.1.1. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên 27 1.3.1.2. Tín ngưỡng sùng bái con người 31 1.3.1.3. Vai trò của tín ngưỡng dân gian 35 1.3.2. Từ sự tiếp biến Nho – Phật – Đạo 38 1.3.3. Từ trong văn học dân gian 46 1.3.4. Từ trong văn học trung đại 47 CHƯƠNG II: BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA TÂM LINH TRONG LỤC VÂN TIÊN 52 2.1. Tín ngưỡng thờ cúng và thế giới thần linh, cõi âm 52 2.1.1. Tín ngưỡng thờ cúng 52 2.1.2. Thế giới thần linh, cõi âm 55 2.1.2.1. Trời, Phật, Thần, Thánh, Tiên 55 2.1.2.2. Cõi âm, sống chết, hồn ma 62 2.2. Những niềm tin dân gian 67 2.2.1. Vấn đề xem quẻ, bói toán 67 2.2.2. Vấn đề thề nguyền 71 2.2.3. Vấn đề chiêm bao, mộng mị 75 2.2.4. Vấn đề báo ứng, linh ứng 77 CHƯƠNG III: GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA TÂM LINH TRONG LỤC VÂN TIÊN 88 3.1. Văn hóa tâm linh – sự phản ánh hiện thực đời sống 88 3.1.1. Phản ánh hiện thực đời sống xã hội đương thời 88 3.1.2. Phản ánh hiện thực đời sống tâm linh 90 3.2. Văn hóa tâm linh – ý nghĩa giáo dục và ước mơ của con người 93 3.2.1. Thể hiện ý nghĩa giáo dục, hướng thiện con người 93 3.2.2. Thể hiện ước mơ, khát vọng hạnh phúc của con người 99 3.3. Văn hóa tâm linh – yếu tố góp phần tạo nên sức sống cho tác phẩm 100 3.3.1. Trong đời sống tinh thần người dân Việt 100 3.3.2. Trong đời sống văn học 106 KẾT LUẬN 119 TÀI LIỆU THAM KHẢO 123 PHỤ LỤC 125 1. Bảng 1: Các câu thơ chứa yếu tố Trời trong truyện Lục Vân Tiên 125 2. Bảng 2: Các câu thơ chứa yếu tố thần tiên, phép thuật trong truyện Lục Vân Tiên 126 3. Bảng 3: Các câu thơ chứa yếu tố duyên kiêp, số mệnh trong truyện Lục Vân Tiên 127 4. Bảng 4: Các câu thơ chứa yếu tố bói toán trong truyện Lục Vân Tiên 128 5. Bảng 5: Các câu thơ chứa yếu tố hồn ma trong truyện Lục Vân Tiên 128 6. Bảng 6: Các câu thơ chứa yếu tố lời thề trong truyện Lục Vân Tiên 129 7. Bảng 7: Các câu thơ chứa yếu tố phép lạ trong truyện Lục Vân Tiên 129 8. Bảng 8: Các câu thơ chứa yếu tố chiêm bao, mộng mị trong truyện Lục Vân Tiên 130
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
4 Lịch sử vấn đề 5
4.1 Những nghiên cứu về văn hóa tâm linh 5
4.2 Những nghiên cứu về văn hóa tâm linh trong truyện Lục Vân Tiên 7
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Cấu trúc tiểu luận 10
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT 13
1.1 Khái quát về văn hóa tâm linh 13
1.1.1 Khái niệm văn hóa 13
1.1.2 Khái niệm tâm linh 15
1.1.3 Khái niệm văn hóa tâm linh 20
1.2 Tác giả Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm Lục Vân Tiên 22
1.2.1 Tác giả Nguyễn Đình Chiểu 22
1.2.2 Tác phẩm Lục Vân Tiên 24
1.3 Cơ sở hình thành văn hóa tâm linh trong truyện Lục Vân Tiên 27
1.3.1 Từ trong tín ngưỡng dân gian 27
1.3.1.1 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên 27
1.3.1.2 Tín ngưỡng sùng bái con người 31
1.3.1.3 Vai trò của tín ngưỡng dân gian 35
1.3.2 Từ sự tiếp biến Nho – Phật – Đạo 38
1.3.3 Từ trong văn học dân gian 46
1.3.4 Từ trong văn học trung đại 47
CHƯƠNG II: BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA TÂM LINH TRONG LỤC VÂN TIÊN 52
2.1 Tín ngưỡng thờ cúng và thế giới thần linh, cõi âm 52
2.1.1 Tín ngưỡng thờ cúng 52
Trang 22.1.2 Thế giới thần linh, cõi âm 55
2.1.2.1 Trời, Phật, Thần, Thánh, Tiên 55
2.1.2.2 Cõi âm, sống chết, hồn ma 62
2.2 Những niềm tin dân gian 67
2.2.1 Vấn đề xem quẻ, bói toán 67
2.2.2 Vấn đề thề nguyền 71
2.2.3 Vấn đề chiêm bao, mộng mị 75
2.2.4 Vấn đề báo ứng, linh ứng 77
CHƯƠNG III: GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA TÂM LINH TRONG LỤC VÂN TIÊN 88
3.1 Văn hóa tâm linh – sự phản ánh hiện thực đời sống 88
3.1.1 Phản ánh hiện thực đời sống xã hội đương thời 88
3.1.2 Phản ánh hiện thực đời sống tâm linh 90
3.2 Văn hóa tâm linh – ý nghĩa giáo dục và ước mơ của con người 93
3.2.1 Thể hiện ý nghĩa giáo dục, hướng thiện con người 93
3.2.2 Thể hiện ước mơ, khát vọng hạnh phúc của con người 99
3.3 Văn hóa tâm linh – yếu tố góp phần tạo nên sức sống cho tác phẩm 100
3.3.1 Trong đời sống tinh thần người dân Việt 100
3.3.2 Trong đời sống văn học 106
KẾT LUẬN 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC 125
1 Bảng 1: Các câu thơ chứa yếu tố Trời trong truyện Lục Vân Tiên 125
2 Bảng 2: Các câu thơ chứa yếu tố thần tiên, phép thuật trong truyện Lục Vân Tiên 126
3 Bảng 3: Các câu thơ chứa yếu tố duyên kiêp, số mệnh trong truyện Lục Vân Tiên 127
4 Bảng 4: Các câu thơ chứa yếu tố bói toán trong truyện Lục Vân Tiên 128
5 Bảng 5: Các câu thơ chứa yếu tố hồn ma trong truyện Lục Vân Tiên 128
6 Bảng 6: Các câu thơ chứa yếu tố lời thề trong truyện Lục Vân Tiên 129
7 Bảng 7: Các câu thơ chứa yếu tố phép lạ trong truyện Lục Vân Tiên 129
8 Bảng 8: Các câu thơ chứa yếu tố chiêm bao, mộng mị trong truyện Lục Vân Tiên 130
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giá trị của tác phẩm văn học nghệ thuật không chỉ thể hiện quan niệm độc đáo, nghệ thuật tài hoa của tác giả mà còn ở chỗ nó mang một tầm vóc văn hóa, mang tính lịch sử và truyền thống văn hóa thời đại Lịch sử Việt Nam, đất nước Việt Nam mấy trăm năm qua đã bao phen “gió dập, sóng dồi”, nhưng chừng ấy
năm trôi qua mà truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu vẫn giữ nguyên được chân giá trị của nó Nhân dân Việt Nam yêu quý Lục Vân Tiên không chỉ vì
có chàng Vân Tiên anh hùng, nhân nghĩa mà còn với nét đẹp văn hóa tâm linh - một khía cạnh của truyền thống văn hóa Việt sẽ sống mãi trong lòng người bao thế
hệ, trở thành một phần máu thịt của người dân
Văn hóa tâm linh trong truyện Lục Vân Tiên bắt nguồn từ chính truyền thống
văn hóa của Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu về nó, chúng ta sẽ phần nào có thêm thông tin về nguồn gốc, biểu hiện cũng như giá trị văn hóa của dân tộc Thiết nghĩ đây là một giá trị văn hóa mà chúng ta không thể bỏ qua trong cuộc sống dù
xa xưa hay hiện tại
Nhằm tìm hiểu truyền thống văn hóa Việt trong quá trình tiếp biến văn hóa ngoại lai, nhằm góp phần trả lời những câu hỏi trên, cũng như mong muốn giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vốn đã được lưu truyền hàng trăm năm nay
Chúng tôi chọn đề tài “Văn hóa tâm linh trong truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn
Đình Chiểu”
2 Mục đích nghiên cứu
Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu ra đời và vận động trong một
môi trường văn hóa có những đặc trưng loại hình khác biệt Đó là một nền văn hóa
Trang 4trung đại với mô hình hai thế giới, với hệ thống giá trị, với phương thức cảm nhận
và tư duy khác chúng ta ngày nay Bên cạnh thế giới hiện hữu, người xưa hình dung ra một thế giới tâm linh với niềm tin vào sự huyền bí, những điều kì lạ siêu nhiên Chính thế giới thứ hai này đã quy định cách nhìn, cách cảm của người xưa trong đó có tác giả Nguyễn Đình Chiểu Cho nên mục đích của tiểu luận hướng đến
là cố gắng chỉ ra, hệ thống lại những biểu hiện của thế giới tâm linh trong tác phẩm một cách rõ nét nhất, từ đó thấy được sự ảnh hưởng của văn hóa tâm linh trong đời sống tinh thần của người xưa đồng thời cho thấy văn hóa tâm linh có giá trị như thế nào trong thời đại mới
Bên cạnh đó, tiểu luận còn mong muốn khẳng định sự sáng tạo của Nguyễn Đình Chiểu trong việc tiếp thu truyền thống văn hóa Việt Từ đó góp thêm tiếng
nói lí giải về sức sống lâu bền của truyện Lục Vân Tiên trong lòng dân tộc
Cuối cùng, tiểu luận mong muốn góp phần định hướng cho việc dạy – học
kiệt tác văn chương Lục Vân Tiên trong nhà trường trung học theo một hướng tiếp
cận, phân tích đầy mới mẻ và độc đáo: văn hóa tâm linh
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khoa học tiểu luận nghiên cứu là văn hóa tâm linh trong truyện
Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
Phạm vi khảo sát chủ yếu căn cứ trên cơ sở những ý kiến của các bậc nghiên cứu đi trước, chúng tôi sẽ tập trung khai thác thêm ở những vấn đề, những khiá cạnh có liên quan đến đề tài văn hóa tâm linh trong tác phẩm
Về phạm vi tư liệu: ngày nay có quá nhiều văn bản truyện Lục Vân Tiên
được lưu hành trên thị trường, rất khó có thể tìm được cơ sở chính xác Do đó, để
công việc nghiên cứu được tiến hành thuận lợi, chúng tôi xin chọn văn bản Lục
Trang 5Vân Tiên trong cuốn sách Truyện Lục Vân Tiên Nguyễn Thạch Giang (khảo đính
và chú giải) (1987), NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp
Ngoài ra, để có cái nhìn tổng quát hơn, khi cần, luận văn có thể đề cập thêm một số tác phẩm của một số tác giả khác
4 Lịch sử vấn đề
4.1 Những nghiên cứu về văn hóa tâm linh
Trong những năm gần đây, các vấn đề về văn hóa, tâm linh, mối quan hệ giữa văn hóa với văn học đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, văn học nước nhà Đúng hơn, vấn đề về văn hóa tâm linh thực sự được bàn luận ở góc độ khoa học chỉ từ khoảng đầu thập niên 90 đến nay Điển hình nổi bật có thể kể đến các công trình nghiên cứu và các bài báo khoa học sau:
Công trình nghiên cứu “Văn hóa tâm linh” của Nguyễn Đăng Duy xuất bản
năm 2005 đã đề xuất khái niệm tâm linh, văn hóa tâm linh khá đầy đủ “Tâm linh là
cái linh thiêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được ngưng đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm” “Văn hóa tâm linh là văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” Công trình chủ
yếu viết về văn hóa tâm linh người Việt ở miền Bắc trong các lĩnh vực như: tín ngưỡng thần thánh, trời, đất, thờ mẫu, tang ma, thờ cúng tổ tiên, các tôn giáo Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo Tác giả cũng điểm qua tâm linh trong mọi mặt của đời sống cá nhân, gia đình, tín ngưỡng, tôn giáo và cả mê tín dị đoan
Tâm linh cũng được Sơn Nam đề cập trong bài “Nói thêm về tâm linh trong
liên hệ với văn hóa Việt Nam” Theo đó, “Tâm linh tồn tại trong mọi mặt đời
Trang 6sống từ xưa cho tới nay, từ trong truyền thuyết, các bài văn tế, các tác phẩm văn học, trong việc thờ cúng tổ tiên, cúng cô hồn cho tới những ca khúc về tổ quốc và
cả những hành động, mọi việc làm, nghĩa cử cao đẹp của con người bình thường trong cuộc sống” Tâm linh của con người ngưng đọng trong trí nhớ và con người
luôn tâm niệm, thành kính về điều mình đã tin, đã làm:“Trí nhớ không phải đứng
dừng một chỗ, lâu ngày phát triển thêm rồi tồn đọng trở thành tâm linh”
Gần với quan niệm tâm linh của hai tác giả trên, có thể nói đến công trình
“Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ” của Nguyễn Hữu Hiếu Tác giả chú ý đến
văn hóa tâm linh ở khía cạnh đời thường của người Việt Nam bộ không theo tôn
giáo: “Trong cuộc sống tâm linh đời thường, niềm tin thiêng liêng phong phú, đa
dạng hơn nhiều và đối tượng mà họ đặt niềm tin có khi gần gũi và thân thiết hơn”
Trên cơ sở tiếp biến văn hóa Chăm, Khmer, Hoa, người Việt có hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh đa dạng: hiện tượng thờ Phật và thờ Mẫu, hiện tượng đồng bóng đặc biệt là sinh hoạt tâm linh tại gia
Hồ Bá Thâm trong bài viết “Tín ngưỡng dân gian - một lĩnh vực trong đời
sống tâm linh cần sự quan tâm của xã hội”, tác giả khẳng định “Tín ngưỡng dân
gian là một bộ phận cơ bản của văn hóa tâm linh, một lĩnh vực nhạy cảm mà trong lịch sử nhận thức và giao tiếp văn hóa đã có những nhận thức, đánh giá khác nhau” Cho nên theo tác giả, chúng ta cần phải có sự quan tâm đúng mức đối với
lĩnh vực này
Công trình “Văn hóa tâm linh trong văn xuôi Trung đại”, Hoàng Thị Minh
Phương đã có sự công phu, đầu tư để nghiên cứu về văn hóa tâm linh trong văn xuôi Trung đại Tác giả đã đề cập đến biểu hiện của thế giới tâm linh như: giấc
mộng, thần thánh “Trong “Lĩnh Nam chích quái” là các truyện có hai vị thần
Long Nhãn và Như Nguyệt: được thần báo mộng giúp âm phù chống Tống, vua Lê
Trang 7Đại Hành lập tức đốt hương ở trước thuyền ngự mà khấn, rồi giết súc vật tế lễ, đốt
mũ áo, voi ngựa giấy, tiền giấy” Từ đó, tác giả đúc kết được hiệu quả của yếu tố
tâm linh trong phản ánh hiện thực và nhận thức, tư tưởng về cuộc sống; phản ánh hiện thực đời sống xã hội Đồng thời tác giả cho thấy yếu tố tâm linh có hiệu quả nghệ thuật tạo nên sức hấp dẫn riêng của văn xuôi Trung đại
Công trình “Các bình diện văn hóa Việt Nam văn hóa Việt Nam những
điều học hỏi”, Vũ Ngọc Khánh có giới thiệu một bài viết có liên quan đến vấn đề
sinh hoạt tâm linh Bài viết “Tiếp cận đến vấn đề tâm linh”, Sơn Nam trình bày
tâm linh tồn tại trong mọi mặt của đời sống từ xưa đến nay, từ trong truyền thuyết, các bài văn tế, các tác phẩm văn học, trong tục thờ cúng tổ tiên, cúng cô hồn cho tới những khúc ca về tổ quốc và cả những hành động, việc làm, nghĩa cử cao đẹp của những con người bình thường trong cuộc sống Tâm linh ở đây chính là niềm tin của con người động lại trong trí nhớ và con người luôn tâm niệm, thành kính về điều mình tin, mình làm Phần tâm linh trong văn hóa Việt Nam còn nhắc đến trong phương diện thờ cúng tổ tiên, các vị anh hùng dân tộc, thành hoàng làng với
ý nghĩa là đạo lí biết ơn bên cạnh còn là tín ngưỡng “Thần thánh, một trong
những biểu hiện của tâm linh luôn có mặt, hoặc ẩn khuất” “Bài Quốc ca với câu:
“Cờ pha máu chiến đấu mang hồn nước” Nước là tổ quốc, có hồn Không nên
bảo đó là duy tâm, cũng như ta, cúi đầu khi mặc niệm chiến sĩ trận vong”
4.2 Những nghiên cứu về văn hóa tâm linh trong truyện Lục Vân Tiên
Trong nhiều công trình nghiên cứu về truyện Lục Vân Tiên, một số tác giả
đã có đề cập đến khía cạnh văn hóa tâm linh trong tác phẩm
Luận văn “Biểu hiện của thuyết nhân quả nghiệp báo qua truyện thơ Nôm
Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu” (2013) của Huỳnh Thị Mai Ly đã đi sâu
vào khía cạnh ảnh hưởng của Phật giáo ảnh hưởng đến tư duy của người Việt Nam
Trang 8Bên cạnh tư tưởng luân hồi nghiệp báo thì “Tư tưởng từ bi của Phật giáo thấm
đẫm trong tâm hồn Việt từ người bình dân đến tri thức, từ truyện dân gian đến thơ văn bác học”
Bài viết “Nhân nghĩa trong Lục Vân Tiên” của Võ Phúc Châu đã khái quát
quá trình tiếp biến và dung hòa tư tưởng Nho Phật Đạo trong Lục Vân Tiên Theo
tác giả, “Trong suốt 2082 câu thơ, Nguyễn Đình Chiểu đã tiếp biến đầy sáng tạo
ba tư tưởng Nho Phật Đạo, trên nền tảng đạo đức, đạo lý của nhân dân Truyện thơ Lục Vân Tiên, chính vì thế, là một bài ca lớn về tư tưởng Người đọc tìm thấy
sự hợp lưu kỳ thú giữa các luồng tư tưởng ngay trên mảnh đất Nam Bộ trẻ trung, hoang sơ và phóng khoáng Nho giáo đạo mạo nơi đâu, Đạo giáo tu tiên chốn nào chẳng hay, Phật giáo cầu siêu cõi nào chưa rõ Chỉ thấy rõ ràng, ba luồng sáng
ấy hội tụ và soi rọi một điều trang trọng: tư tưởng, đạo đức, đạo lý ngàn đời của dân tộc Việt Nam là tốt đẹp và phù hợp với tư tưởng tiến bộ của nhân loại từ xưa”
Công trình “Nguyễn Đình Chiểu tác giả trong nhà trường”, Vũ Nguyễn có
giới thiệu một bài viết “Văn hóa truyền thống trong truyện Lục Vân Tiên và
cuộc sống của tác phẩm” Huỳnh Ngọc Trảng đã so sánh tác phẩm với truyện cổ
tích: trừng trị kẻ xấu, Phật, Bụt hiện lên giúp đỡ người hiền còn có: “Yếu tố thần kì
nhận ra sự hiện diện của hàng loạt các tín ngưỡng dân gian ở miền Nam: giao long, sóng thần, sơn quân, phù phép của các đạo sĩ… Ở đây còn có cả Phật bà Quan âm của đạo Phật, những Du thần của các đạo sĩ Đạo phái” Đây là bài viết
trực tiếp nhắc đến vấn đề tâm linh trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: Phật, yếu tố thần linh
Trong bài viết “Truyện thơ Lục Vân Tiên, sự tiếp biến ba tư tưởng Nho –
Phật – Đạo”, Võ Phúc Châu đã khái quát một số điểm tiêu biểu trong sự dung hòa
ba tư tưởng của tác phẩm Ông khẳng định “ Về điểm này, quả thật, Nguyễn Đình
Trang 9Chiểu đã có công lao xuất sắc” Ba tư tưởng ấy cũng chính là một nét tiêu biểu
cho văn hóa tâm linh của tác phẩm
Trong bài viết “Phép thuật, tướng số, nói toán, phong thủy – Niềm tin tâm
linh trong văn học trung đại” của Lê Thu Yến và Đàm Anh Thư đã giới thiệu một
số yếu tố tâm linh như phép thuật, tướng số, bói toán, phong thủy… Những yếu tố này tồn tại trong văn học trung đại như một niềm tin tuyệt đối về mặt tâm linh Và đứng ở góc độ văn hóa bài viết nhận xét đánh giá về sự hiểu biết cũng như trình độ
tư duy của con người được phán ánh trong văn học thời đó Đặc biệt, bài nghiên cứu có dùng truyện Lục Vân Tiên để làm dẫn chứng cho những biểu hiện trên Hai
tác giả nhận định: “Nhân vật tôn sư – thầy học của Vân Tiên tinh thông sách vở,
đồng thời giỏi cả bói toán, pháp thuật Con đường công danh trắc trở Vân Tiên trải qua trong tương lai đã chứng minh thuật đoán số của thầy chính xác vô cùng Điều này càng cho thấy từ xưa niềm tin vào bói toán, thuật số đã bén rễ rất sâu trong đời sống tinh thần của dân tộc”
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tư liệu, người viết nhận thấy thực sự
chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu về văn hóa tâm linh trong truyện Lục
Vân Tiên Các bài viết cũng như các công trình nghiên cứu khoa học trên đây, do
phạm vi đề tài hoặc quá rộng hoặc là quá hẹp nên chỉ mới đưa ra những nhận định
khái quát về phương diện tâm linh trong truyện Lục Vân Tiên Trong công trình
này, người viết cố gắng hệ thống và làm rõ những vấn đề trên
5 Phương pháp nghiên cứu
Triển khai đề tài “Văn hóa tâm linh trong truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn
Đình Chiểu”, chúng tôi sẽ vận dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Trang 10Phương pháp thống kê phân loại: Là phương pháp chính, nhằm thống kê và phân loại các yếu tố tâm linh sau đó rút ra nhận xét
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận
và khảo sát trực tiếp văn bản và đưa ra những luận điểm khái quát của luận văn
Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Xem xét các yếu tố tạo nên cấu trúc tác phẩm, tìm ra nguyên tắc chi phối sự hình thành của chúng Từ đó, rút ra kết luận về nguyên tắc chi phối việc sáng tạo toàn bộ cấu trúc tác phẩm
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học và văn hóa để có cơ sở đánh giá khách quan tác dụng của văn học trong việc phản ánh văn hóa dân tộc
Những phương pháp này sẽ được chúng tôi vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình nghiên cứu
6 Cấu trúc tiểu luận
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, thư mục tham khảo, nội dung luận văn gồm
ba chương:
Chương I: Những vấn đề khái quát
1.1 Khái quát về văn hóa tâm linh
1.1.1 Khái niệm văn hóa
1.1.2 Khái niệm tâm linh
1.1.3 Khái niệm văn hóa tâm linh
1.2 Tác giả Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm Lục Vân Tiên
Trang 111.2.1 Tác giả Nguyễn Đình Chiểu
1.2.2 Tác phẩm Lục Vân Tiên
1.3 Cơ sở hình thành văn hóa tâm linh trong Lục Vân Tiên
1.3.1 Từ trong tín ngưỡng dân gian
1.3.2 Từ sự tiếp biến tư tưởng Nho – Phật – Đạo
1.3.3 Từ trong văn học dân gian
1.3.4 Từ trong văn học trung đại
Chương II: Biểu hiện của văn hóa tâm linh trong Lục Vân Tiên
2.1 Vấn đề tín ngưỡng thờ cúng và thế giới thần linh, cõi âm
2.1.1 Tín ngưỡng thờ cúng
2.1.2 Thế giới thần linh, cõi âm
2.2 Những niềm tin dân gian
2.2.1 Vấn đề xem quẻ, bói toán
2.2.2 Vấn đề thề nguyền
2.2.3 Vấn đề chiêm bao, mộng mị
2.2.4 Vấn đề báo ứng, linh ứng
Chương III: Giá trị của văn hóa tâm linh trong Lục Vân Tiên
3.1 Văn hóa tâm linh – sự phản ánh hiện thực đời sống
3.1.1 Phản ánh hiện thực đời sống xã hội đương thời
Trang 123.1.2 Phản ánh hiện thực đời sống tâm linh
3.2 Văn hóa tâm linh – ý nghĩa giáo dục và ước mơ của con người
3.2.1 Thể hiện ý nghĩa giáo dục, hướng thiện con người
3.2.2 Thể hiện ước mơ, khát vọng hạnh phúc của con người
3.3 Văn hóa tâm linh – yếu tố góp phần tạo nên sức sống cho tác phẩm
3.3.1 Trong đời sống tinh thần người dân Việt
3.3.2 Trong đời sống văn học
Trang 13CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT
1.1 Khái quát về văn hóa tâm linh
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần
Nó là toàn bộ cuộc sống; cả vật chất, tinh thần của từng cộng đồng người Như vậy, có thể khẳng định rằng: tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa Riêng ở nước ta, cũng có khá nhiều quan niệm về văn hóa
Từ đầu thế kỉ XX, Đào Duy Anh trong “Việt Nam văn hóa sử cương” đã
phát hiện văn hóa phải gắn liền với sinh hoạt của con người nảy sinh trong quá trình lao động và trong từng hoàn cảnh địa lí nhất định: Theo ông, nghiên cứu
“Các điều kiện địa lí có ảnh hưởng lớn đối với cách sinh hoạt của con người, song người là giống hoạt động cho nên trở lại cũng có thể dùng sức mình mà xử trí và biến những điều kiện ấy cho thích hợp với những điều kiện cần thiết của mình Cách sinh hoạt vì thế mà cũng biến chuyển và khiến văn hóa cũng biến chuyển theo Nghiên cứu xem sự hoạt động để sinh hoạt về các phương diện của một dân tộc xưa nay biến chuyển thế nào, là nghiên cứu văn hóa lịch sử của dân tộc ấy”
Trong giáo trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa
về văn hóa như sau: “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” Từ định
nghĩa của Trần Ngọc Thêm, có thể thấy bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử Ở đây chúng tôi căn cứ vào tính giá trị của văn hóa Theo đó có thể chia giá trị văn hóa làm hai loại: giá trị vật chất
và giá trị tinh thần
Trang 14Theo nghĩa hẹp, các tác giả cho rằng văn hóa tinh thần là những dấu ấn tinh
thần, những giá trị tinh thần đặc thù của một quốc gia dân tộc nhằm phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Tiêu biểu cho cách hiểu này là khái niệm văn hóa của
UNESCO được thừa nhận rộng rãi: Văn hóa là “tổng thể sống động các hoạt động
sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” Năm 2002, UNESCO cho rằng: “Văn hóa nên được xem là tập hợp các đặc trưng tâm linh, vật chất, trí tuệ và cảm xúc riêng biệt của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội, và ngoài văn học và nghệ thuật, nó bao gồm lối sống, cách chung sống, hệ giá trị, truyền thống và đức tin”
Ở khía cạnh này, đầu tiên phải kể đến khái niệm văn hóa của nhà nhân học
E.B Tylor trong công trình “Văn hóa nguyên thủy” năm 1871: “Văn hóa như một
phức hợp bao gồm trí thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục cũng như mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội tiếp thu được”
Tiêu biểu cho cách hiểu này còn có A.K Vlêđốp: “Việc coi văn hóa tinh
thần chỉ là tổng hợp những giá trị tinh thần là phiến diện Văn hóa tinh thần như
là sự hoạt động sáng tạo tích cực của con người, như là sự sản xuất cất giữ và sử dụng những giá trị tinh thần”
Với đối tượng là văn hóa tâm linh, chúng tôi căn cứ trên hai định nghĩa
của UNESCO để định hướng cho việc tìm hiểu các phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng… Những vấn đề gắn liền với yếu tố tâm linh - vấn đề cơ bản trong đời sống văn hóa tinh thần dân tộc
Trang 151.1.2 Khái niệm tâm linh
Tâm linh gồm chữ “tâm” và chữ “linh” tạo nên Theo “Từ điển Hán Việt”
của Thiều Chửu, “tâm” có nghĩa là tim (lòng), thuộc về thế giới bên trong “Linh”
có rất nhiều nét nghĩa như: “linh” trong linh hoạt, nhạy bén; “linh” trong thần linh; người chết cũng được gọi là “linh”; “linh” còn dùng để nói đến những ứng nghiệm, bói toán
Theo Hoàng Phê trong “Từ điển Tiếng Việt”, ông cũng cho rằng tâm linh là
“tâm hồn, tinh thần” hoặc là “khả năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm”
Vậy tâm linh là niềm tin của con người vào sự linh thiêng Một trong những xác định súc tích và khá chuẩn về tâm linh phải kể đến, là khái niệm tâm linh của
Nguyễn Đăng Duy trong “Văn hóa tâm linh”: “Tâm linh là cái linh thiêng cao cả
trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được ngưng đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm” Từ khái niệm của Nguyễn Đăng Duy, chúng
ta nhận thấy tâm linh trước hết phải gắn liền với ý thức con người Cũng tức là sẽ không có tâm linh nằm ngoài ý thức con người Nhưng ý thức nói chung của con người hết sức rộng lớn Nên chỉ khi nào con người có ý thức về cái thiêng, cái cao
cả thì mới gọi đó ý thức tâm linh Không như các dạng ý thức khác, ý thức tâm linh tựa như mạch suối ngầm nuôi dưỡng tâm hồn người, làm thăng hoa đời sống tâm linh của con người Đẹp hơn Lung linh hơn Ý thức tâm linh không chỉ tồn tại ở dạng ý niệm mà nó còn được biểu hiện ra ở những hình ảnh, những biểu tượng phát ra tín hiệu thiêng về cội nguồn đất nước, tổ tiên, tình yêu quê hương như cây
đa, bến nước, đình, đền, miếu mạo Rồi tới lúc nào đó, các biểu tượng thiêng liêng này quay trở lại tác động vào tâm hồn người những rung cảm thẩm mĩ, khiến
Trang 16nó tự bộc lộ ra bằng những hoạt động hành động cụ thể như cúng vái, cầu nguyện, tham gia hội hè Tâm linh do đó, tự bản thân nó có sức truyền cảm, tập hợp to lớn khó cưỡng lại được Tâm linh có trong mọi mặt đời sống con người từ phạm vi cá nhân, gia đình đến phạm vi cộng đồng làng xã, tổ quốc, từ các loại hình nghệ thuật đến tín ngưỡng, tôn giáo
Một câu hỏi đặt ra là, tâm linh bắt nguồn từ đâu? Phải chăng tâm linh có cơ
sở từ niềm tin! Thật vậy, nói đến tâm linh là nói đến niềm tin của con người Bởi không ai sống mà không có niềm tin Nó là hạt nhân cơ bản xác lập mọi mối quan
hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên Theo Nguyễn Đăng Duy, niềm tin được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, song có thể quy về ba
cấp độ: “niềm tin trao đổi”, “niềm tin lý tưởng” và “niềm tin tâm thức” Trong đó
niềm tin tâm thức gắn liền với tâm linh, gắn liền với niềm tin thiêng liêng vì nó có
sự “hòa quyện cả tình cảm và lí trí, dẫn đến sự say đắm, say sưa tự nguyện hành
động theo niềm tin ấy” Đó là niềm tin thiêng liêng về tổ tiên, niềm tin về Mẫu,
Phật, Chúa, niềm tin về các thần thành hoàng Niềm tin thiêng liêng do vậy, được xem là yếu tố then chốt tạo nên đời sống tâm linh, văn hóa tâm linh đúng nghĩa và trang trọng Một xã hội văn minh, phát triển, niềm tin thiêng liêng, niềm tin cao cả càng có giá trị bền vững
Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn nội hàm tâm linh, thiết nghĩ chúng ta nên đặt nó trong mối tương quan với các khái niệm khác: tâm linh với tín ngưỡng - tôn giáo, tâm linh với mê tín dị đoan
Tâm linh với tín ngưỡng - tôn giáo:
Hoàng Phê, tác giả của “Từ điển Tiếng Việt”, cho rằng tôn giáo có hai nghĩa: Một là “hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và
sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên
Trang 17định đoạt tất cả, con người phải phục tùng tôn thờ Tôn giáo nảy sinh từ rất sớm,
từ trong xã hội nguyên thủy” Hai là “hệ thống những quan niệm tín ngưỡng một hay những vị thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy”
Thiết nghĩ, ở đây Hoàng Phê đã vô hình chung đã gộp tôn giáo với tín ngưỡng vào nhau Nhưng thực chất tôn giáo không đồng nhất với tín ngưỡng
Tín ngưỡng (tin tưởng và ngưỡng mộ) là “một cách từ thực tế cuộc sống
cộng đồng con người ý thức về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con người đó tin theo tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng” (Văn hóa tâm linh – Nguyễn Đăng
Duy) Cùng quan điểm này, Mai Thanh Hải trong “Từ điển tôn giáo” cho rằng,
“dù ở những trình độ khác nhau, tín ngưỡng đều có hai đặc tính: một là tin vào cái
gì thiêng liêng có sức mạnh chi phối số phận con người; hai là niềm tin ấy được nhiều người thừa nhận và cùng tin theo, cùng làm theo một số nghi thức gì đó để bày tỏ niềm tin chung”
Từ các định nghĩa trên, chúng ta nhận thấy tín ngưỡng và tôn giáo đều có chung niềm tin thiêng liêng nhưng tín ngưỡng và tôn giáo không đồng nhất với nhau Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo là: tín ngưỡng không có giáo chủ, giáo lý, giáo hội cụ thể và đình, đền, miếu, phủ cũng không phải là giáo đường, không phải là nơi giảng kinh thuyết pháp mà chỉ là nơi thờ tự, cúng tế, hội hè Ở tín ngưỡng, con người ta thấy mọi vật chung quanh đều trở nên linh thiêng,
và chỉ tập trung giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, chứ không thiết kế một thiên đàng hay một miền cực lạc nào cả Trong khi tôn giáo có giáo chủ, giáo lí, giáo hội, có giới luật, thì tín ngưỡng vẫn bó kết con người vào sự sùng kính đơn sơ với niềm tin ngóng đợi đơn giản vào thần, mẫu, tổ tiên sẽ phù hộ độ trì cho họ được mạnh khỏe, bình yên, ăn nên làm ra Tín ngưỡng mang tính địa phương nhỏ hẹp, gần gũi với đời sống nhân dân nên có sức cuốn hút mạnh mẽ với
Trang 18đại đa số người dân còn tôn giáo cũng là một hiện tượng xã hội nhưng mang tính tổ chức cao, hướng đến một đời sống tâm linh siêu việt nên phạm vi ảnh hưởng và lan tỏa của tôn giáo rộng khắp thế giới Suy cho cùng, tín ngưỡng và tôn giáo tuy có khác nhau nhưng không loại trừ nhau mà vẫn cùng tồn tại xen kẻ bổ sung cho nhau
Như vậy, tín ngưỡng hướng con người tới sự thịnh vượng của cuộc sống Tức là tín ngưỡng đồng nghĩa với tâm linh (niềm tin thiêng liêng) còn tôn giáo không hoàn toàn là tâm linh mà chỉ là một dạng đặc biệt của tâm linh, tôn giáo cũng phải cứu cánh ở tâm linh Cùng phát ra tín hiệu thiêng nhưng tín ngưỡng gắn liên với đời sống trần tục một cách chặt chẽ thông qua tiềm thức của cá nhân và đều hướng đến chân, thiện, mỹ cho cuộc đời này Qua đây, chúng ta cũng phân biệt được tín ngưỡng (niềm tin thiêng liêng) còn gọi là tín ngưỡng dân gian hay tín ngưỡng truyền thống để phân biệt với tín ngưỡng (niềm tin thiêng liêng) tôn giáo
Tâm linh và mê tín dị đoan
Trong “Từ điển tôn giáo”, Mai Thanh Hải đã nói rất rõ về mê tín dị đoan:
“Mê tín là tin nhảm, tin xằng bậy, không thấy, không hiểu mà nhắm mắt tin theo
mù quáng, tin theo một cách mê muội, viễn vông, quàng xiên cả những việc, những hiện tượng trái lẽ tự nhiên, không có suy xét theo lẽ phải thông thường; dị đoan là suy luận, suy đoán một cách nhảm nhí, bậy bạ khác thường, rồi hành động bừa bãi, không lường trước được những hậu quả xấu về sức khỏe, tài sản, thời gian, có khi cả tính mạng cho mình Nói chung là những ý thức, hành vi mê muội, tin và dựa vào những biểu tượng trái lẽ tự nhiên, có những hành vi lễ bái, ứng xử mang tính chất cuồng tín, nhảm nhí, trái với lẽ phải và hành vi thông thường của mọi người chung quanh, làm hại đến đời sống vật chất và tinh thần của mọi người”
Trang 19Phải chăng tâm linh là mê tín dị đoan? Tâm linh không phải là mê tín dị đoan Nhưng cũng phải thừa nhận rằng có niềm tin thì mê tín mới tồn tại được Vậy mê tín dị đoan tồn tại là do đâu? Sở dĩ mê tín tồn tại được là do yếu kém về khoa học, con người không đủ trình độ để phân tích lí giải đúng sai nhảm nhí… hoặc lợi dụng khi tình trạng quẩn bách, mụ mẫm của con người không được kịp thời giải tỏa Hoặc là một trong những giây phút thăng hoa như lạc vào thế giới khác khiến cho con người mất tỉnh táo, tin vào sự nhảm nhí Nói cách khác đây là hiện tượng nhắm mắt tin mò, chứ không có cơ sở khách quan
Từ những điều vừa trình bày, chúng ta thấy được sự khác nhau giữa tâm linh với mê tín dị đoan ở chỗ, tâm linh là niềm tin thiêng liêng trong đời sống tinh thần của con người tin vào tổ tiên, thần thánh, phật, chúa hay những người không đi tu
mà họ vẫn đi chùa, đền, đình; vẫn lễ Phật, ăn chay, vẫn tin vào những điều thiêng liêng của Phật, thần thánh Niềm tin vào cái thiêng vì thế đã đánh thức trong tâm hồn con người ý chí, bản ngã để sống và làm việc, xử sự tốt hơn, xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của cha ông ta Còn mê tín dị đoan là dựa vào thần Phật để kiếm chác, thương mại hóa niềm tin, hoặc đặt ra bao nhiêu điều kì quái khác thường như trên chúng tôi vừa đề cập khiến cho người khác tin theo một cách mê muội, hành động theo sự tin ấy không những hao tốn về tiền bạc mà còn có khi thiệt hại về tính mạng bản thân
Giữa tâm linh và mê tín dị đoan chỉ cách nhau ranh giới nhỏ hẹp Điển hình như hiện tượng nói chuyện với người âm của các nhà ngoại cảm, trước đây được cho là mê tín phù phiếm thì nay đã được khoa học thừa nhận “khả năng ngoại cảm”
và bước đầu được nhà nước quan tâm đặc biệt Vì thế có những trường hợp không thể qui hoàn toàn tâm linh là mê tín dị đoan, là những ngộ nhận của con người Chẳng qua đấy chỉ là những vấn đề mà khoa học không hoặc chưa có cách nào chứng minh đúng hay sai mà thôi Vì vậy tâm linh luôn là một bí ẩn Điều chúng ta
Trang 20nên làm và có thể làm là cố gắng đẩy lùi và xóa bỏ dần dần hiện tượng “nghe ở đâu
có ông nọ, bà tê linh thiêng lắm” rồi đổ xô kéo đến cúng viếng mà chẳng biết rõ gốc tích thế nào
Qua sự phân biệt trên, chúng ta thấy tâm linh là một biểu hiện trong đời sống tinh thần của con người với tất cả sự phong phú và phức tạp của nó Do đó không nên đơn giản hóa cho rằng tâm linh là mê tín dị đoan, cũng không nên thần bí hóa, tuyệt đối hóa khái niệm tâm linh, gán cho nó những đặc tính cao siêu phi thường coi đó là cứu cánh của nhân loại Cần phải có thái độ nhận thức đúng đắn vấn đề nhạy cảm này, đồng thời khẳng định tâm linh là phương diện quan trọng, rất cần thiết cho đời sống tinh thần của nhân loại Ở đó, con người tin vào tín ngưỡng, vào
tôn giáo, và có cả niềm tin về chính cuộc sống trần thế này “không chỉ có Thượng
đế, có Chúa, Trời, Thần, Phật mới thiêng liêng, mà cả Tổ quốc, lòng yêu thương con người, sự thật công lí cũng thiêng liêng không kém” (S.Freud, C.Jung,
E.Fromm, R.Assagioli – Phân tâm học và văn hóa tâm linh)
1.1.3 Khái niệm văn hóa tâm linh
Từ việc giới thuyết về khái niệm văn hóa và khái niệm tâm linh, chúng tôi nhận thấy tất cả những gì liên quan đến đời sống tâm linh con người sẽ tạo nên văn hóa tâm linh Hơn nữa đã gọi là tâm linh thì nó không thể mất đi được Tâm linh là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống con người và khi đó họ ứng xử với tâm linh một cách có văn hóa Chẳng hạn như những dịp xuân về, tết đến, dù xa xôi cách trở, dù đi đâu và ở đâu, thì ai cũng muốn về sum họp với gia đình, với làng quê để thắp những nén hương lên trên bàn thờ gia tiên, trước là báo cáo với tổ tiên ông bà, con đã về; sau nữa là cầu khấn vong linh những người thân quá cố phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe, ăn nên làm ra Cũng có khi do điều kiện, hoàn cảnh con người ta không được về nơi chôn nhau cắt rốn, về với gia đình trong ngày thiêng
Trang 21liêng nhất, họ vẫn một lòng hướng về cội nguồn bằng cách lập bàn thờ “vọng” kính cẩn dâng lên những nén hương để tưởng niệm, khấn vái, cầu nguyện, tâm tình, chia
sẻ với ông bà, cha mẹ, người thân đã qua đời Hoặc cứ đến ngày 15/7 âm lịch hằng năm, mọi nhà đều cúng cô hồn Những việc làm này không biết tự bao giờ đã đồng hành cùng với con người Việt Nam
Như vậy, có thể khẳng định rằng đời sống tâm linh là một phần của đời sống tinh thần, ở đó con người tin vào cái thiêng Ở đó con người chủ yếu sống với phần tâm linh của mình Đó là không gian của những thần cây đa, ma cây gạo, của thần thánh, Phật tiên… Đó là thời gian giỗ, tết, các lễ hội với phần lễ thiêng liêng, những thời điểm giúp con người giao hòa với trời đất, thiên nhiên và các thế lực thánh thần Sống trong không gian, thời gian mang tính tâm linh ấy, con người được giải tỏa, cởi bỏ phiền muộn lo âu, cầu những điều tốt đẹp cho mình và người thân
Từ cách hiểu trên, theo chúng tôi, khái niệm văn hóa tâm linh của Nguyễn
Đăng Duy là tương đối đầy đủ: “Văn hóa tâm linh là văn hóa biểu hiện những giá
trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo”
Thuộc lĩnh vực tinh thần, nhưng văn hóa tâm linh không chỉ gồm giá trị văn hóa vô hình (nghi lễ, tập tục, ý niệm ) mà cả những văn hóa hữu hình phát tín hiệu thiêng liêng (đình, đền, miếu, phủ, chùa, nhà thờ )
Tóm lại, với những biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạng nhưng vẫn có thể
khẳng định, văn hóa tâm linh là sợi dây cố kết cộng đồng, lưu giữ truyền
thống, giáo dục lòng nhân ái và tinh thần hướng thiện đã góp phần tạo nên chiều sâu, sức sống cho nền văn hóa dân tộc Trong điều kiện về thời gian và
Trang 22khả năng của người viết, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng người Việt không theo tôn giáo
1.2 Tác giả Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm Lục Vân Tiên
1.2.1 Tác giả Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu tục gọi là Đồ Chiểu, tự Mạch Trạch hiệu Trọng Phủ sau khi bị mù có hiệu là Hối Trai sinh năm 1822 tại quê mẹ tại làng Tân Thới tỉnh Gia Định và mất năm 1888 ở làng An Đức, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre Quê quán ông vốn ở xã Bồ Đề, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên
Cha ông là Nguyễn Đình Huy hiệu Dương Minh Phủ Năm 1820 Lê Văn Duyệt vào làm tổng trấn Gia Định, Nguyễn Đình Huy cũng theo về làm thơ lại Nguyễn Đình Huy đã có vợ ở quê nhà nhưng vào đây được ít lâu ông lấy thêm một người vợ nữa là bà Trương Thị Thiệt bà sinh được 7 người con Nguyễn Đình Chiểu là con đầu lòng và lớn lên trong một gia đình bình thường, có truyền thống nho học
Năm 1822 Lê Văn Khôi nổi lên chiếm thành Phan An (Sài Gòn) rồi chiếm luôn 6 tỉnh Nam kì Nguyễn Đình Huy trốn chạy về kinh và bị cách chức Sau đó ông vào Nam đưa Nguyễn Đình Chiểu ra Huế gửi ở nhà một người bạn làm phó thái, hằng ngày chăm lo việc điếu đãi hầu hạ vừa học tập Ở đây Nguyễn Đình Chiểu được theo học 8 năm, đến năm 1840 lại trở về Nam, chăm lo đèn sách để chờ thi hương Năm 1843 ông đỗ tú tài ở trường Gia Định
Năm 1846 Nguyễn Đình Chiểu lại ra Huế để chờ thi hương Đầu năm 1849 được tin mẹ mất ông đành bỏ thi vội vàng trở về Nam chịu tang mẹ Giữa đường ông mắc bệnh nặng, bị mù và không chữa được Nguyễn Đình Chiểu bị mù năm 27 tuổi và sống trong bóng tối gần 40 năm
Trang 23Sinh ra trong thời loạn lạc, lớn lên ông cũng gặp cảnh gian nan trong cuộc đời Đầu năm 1849, sắp thi thì được tin mẹ mất từ cuối năm trước, ông vội vàng về Nam chịu tang mẹ Giữa đường ông mắc bệnh nặng Chuyện tình duyên của ông cũng đầy éo le Trước đây khi ông thi đỗ tú tài có nhà phú hộ ở vùng quê đã hứa gả con gái cho ông nhưng nay thấy ông bị mù nên đành bội ước Vậy là giấc mộng công danh không thành lại thành người tàn phế, tình duyên thì trắc trở Tương lai tưởng như chấm hết, cánh cửa cuộc đời tưởng chừng như đóng sập trước mắt ông Thế nhưng bằng ý chí và nghị lực phi thường ông đã vượt qua mọi khó khăn, biến đau thương thành sức mạnh vươn lên làm chủ số phận của mình Sau khi mãn tang
mẹ, ông mở trường dạy học, học trò theo ông rất đông và từ đó người ta gọi ông là
Đồ Chiểu Ngoài việc dạy học ông còn nghiên cứu thêm về y học và bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân Đây quả là tấm gương sáng về ý chí và nghị lực sống làm cho nhiều người cảm phục
Không chỉ vậy cuộc đời ông là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân và tinh thần bất khuất trước kẻ thù Tuy bị mù không thể trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến nhưng ông vẫn thường bàn bạc việc quân với Đốc binh
Là và trao đổi thư từ với Trương Định- những lãnh tụ nghĩa quân chống pháp lúc bấy giờ Khi tản cư về quê vợ ở Ba Tri ông vẫn giao thiệp với các nhà chí sĩ yêu nước và làm thơ văn phục vụ công cuộc kháng chiến của dân tộc Khi Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây, các cuộc khởi nghĩa ở miền Nam đã bị dập tắt, khi một số nhà chí sĩ ra Bình Thuận thì Nguyễn Đình Chiểu vẫn ở lại Ba Tri nêu cao tấm gương bất hợp tác với địch mặc dù thực dân Pháp tìm mọi cách để mau chuộc dụ
dỗ nhưng ông vẫn một mực cự tuyệt Khi chiếu Cần Vương được ban bố phong trào kháng Pháp lại sôi sục khắp Bắc và Trung kì ông lại tràn đầy tin tưởng vào cuộc chiến đấu mới của dân tộc
Trang 24Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương ngời sáng về nghị lực Con
người ấy người đọc đã gặp trong hình ảnh chàng trai Lục Vân Tiên người thanh niên lí tưởng của thời đại trong “Truyện Lục Vân Tiên”
Cuộc đời ông làm cảm phục và thơ văn ông cũng được ta yêu mến Ông đã
để lại cho đời sau nhiều tác phẩm quý: Lục Vân Tiên, Dương Từ- Hà Mậu, Ngư
tiều y thuật vấn đáp, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh, văn tế Trương Định Giá trị của những áng văn thơ ấy vẫn còn sống mãi
trong lòng người đọc bởi lý tưởng đạo đức, nhân nghĩa và tấm lòng yêu nước thương dân tha thiết của ông, không có loại thơ văn thuần túy giải sầu, chúng nhằm mục đích chiến đấu, bảo vệ đạo đức của nhân dân và quyền lợi của tổ quốc, ở đó lý tưởng nhân nghĩa luôn được đề cao Lý tưởng ấy phù hợp với truyền thống văn hóa của nhân dân ta
1.2.2 Tác phẩm Lục Vân Tiên
Lục Vân Tiên là một tác phẩm truyện thơ nôm nổi tiếng của Nguyễn Đình
Chiểu được sáng tác theo thể lục bát vào đấu những năm 50 của thế kỉ XIX và được Trương Vĩnh Kí cho xuất bản lần đầu tiên vào năm 1889 Đây là một trong những sáng tác có vị trí cao của văn học miền Nam Việt Nam
Truyện Lục Vân Tiên (mà người Nam thường gọi là thơ Lục Vân Tiên) là một
cuốn truyện về luân lí cốt bàn đạo làm người với quan niệm “văn dĩ tải đạo” Tác
giả muốn đem gương người xưa mà khuyên người ta về cương thường – đạo nghĩa
Truyện Lục Vân Tiên được viết bằng thể lục bát, vì được in nhiều lần nên có
nhiều văn bản khác nhau, có khi thêm bớt cả trăm câu thơ Theo văn bản thường dùng hiện nay truyện có 2082 câu thơ lục bát kết cấu theo lối chương hồi
Trang 25Lục Vân Tiên quê ở huyện Đông Thành, khôi ngô tuấn tú, tài kiêm văn võ
Nghe tin triều đình mở khoa thi, Vân Tiên từ giã thầy xuống núi đua tài Trên đường về thăm cha mẹ gặp bọn cướp Phong Lai đang hoành hành, chàng đã một mình đánh tan bọn cướp cứu được Kiều Nguyệt Nga Cảm tạ ân đức ấy, Nguyệt Nga tự nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên Còn Vân Tiên tiếp tục cuộc hành trình, gặp và kết bạn với Hớn Minh, một sĩ tử khác
Sau khi về thăm cha mẹ, Vân Tiên cùng tiểu đồng lên đườg đi thi ghé thăm
Võ Công người đã hứa gả con gái là Võ Thể Loan cho chàng Từ đây, Vân Tiên có thêm người bạn là Vương Tử Trực tới kinh đô gặp Trịnh Hâm, Bùi Kiệm Thấy Vân Tiên tài cao, Trịnh hâm và Bùi Kiệm sinh lòng đố kị, ghen ghét Lúc sắp vào trường thi, Vân Tiên nhận được tin mẹ mất, liền bỏ thi trở về quê chịu tang Dọc đường về, Vân Tiên đau mắt nặng rồi bị mù cả hai mắt lại bị Trịnh , Hâm lừa đẩy xuống sông Nhờ giao long dìu đỡ đưa vào bãi Vân Tiên được gia đình ngư ông cưu mang Sau đó,chàng lại bị cha con Võ Công hãm hại đem bỏ vào hang níu Thương Tòng được Du thần và ông Triều cứu ra, Vân Tiên may mắn gặp lại Hớn Minh( vi trừng trị cậu công tử con quan ỷ thế làm càn Hớn Minh phải bỏ thi sống lẩn lút trong rừng Hớn Minh đón Vân Tiên về am dưỡng bệnh Khoa thi năm ấy
Tử Trực đỗ thủ khoa, trở lại nhà họ Võ hỏi thăm tin tức Vân Tiên Võ Công ngỏ ý muốn gả Thể Loan bị Tử Trực cự tuyệt và mắng thẳng vào mặt, Võ Công hổ thẹn quá ốm chết
Nghe tin Lục Vân Tiên đã chết, Kiều Nguyệt Ng thề thủ tiết suốt đời Thái sư
đương triều hỏi nàng cho con trai không được đem lòng thù oán tâu vua bắt Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua Thuyền đi tới biên giới nàng mang theo bức hình Vân Tiên nhảy xuống sông tự tử Phật Bà Quan Âm đưa nàng dạt vào vườn hoa nhà họ Bùi Bùi Công nhận nàng làm con nuôi nhưng Bùi Kiệm nằng nặc đòi lấy nàng làm
vợ Nguyệt Nga phải trốn nhà họ Bùi vào rừng nương tựa một bà lão dệt vải
Trang 26Lục Vân Tiên ở với Hớn Minh được tiên cho thuốc mắt lại sáng Liền trở về
thăm cha, viếng mộ mẹ, thăm cha của Kiều Nguyệt Nga Đến khoa thi, chàng đõ Trạng Nguyên và được nhà vua cử đi dẹp giặc Ô Qua Hớn Minh được tiên cử làm phó tướng Đánh ta giặc Vân Tiên một mình lạc trong rừng và gặp lại Nguyệt Nga Chàng về triều tâu hết sự tình, kẻ gia ác bị trừng trị người nhân nghĩa được đền đáp
Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga sum vầy hạnh phúc
Mục đích chính của Nguyễn Đình Chiểu khi viết Lục Vân Tiên là để truyền dạy đạo lí làm người:
Hỡi ai lẳng lặng mà nghe
Dữ răn việc nước lành dè thân sau
Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình
Coi trọng tình nghĩa giữa người với người: tình cha con, mẹ con, tình nghĩa
vợ chồng, bạn bè, tình yêu thương cưu mang, đùm bọc những người gặp khó khăn hoạn nạn
Đề cao tinh thần nghĩa hiệp sẵn sang cứu khốn phò nguy( Vân Tiên đánh cướp, Hớn Minh bẻ giò Đặng Sinh) Thể hiện khát vọng của nhân dân hướng tới lẽ công bằng và những điều tốt đẹp trong cuộc đời thông qua kết thúc có hậu của tác phẩm là thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà
Lục Vân Tiên là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Đình
Chiểu Truyện có kết cấu ước lệ gần như đã thành khuôn mẫu Tác phẩm khắc họa
thành công những phẩm chất tốt đẹp của hai nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều
Nguyệt Nga
Trang 27Đúng như nhận định của thủ tướng Phạm Văn Đồng : “ Phải hiểu đúng Lục
Vân Tiên thì mới thấy hết giá trị của bản trường ca này Đúng, đây là một bản
trường ca, ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời ca gợi những người trung nghĩa”
1.3 Cơ sở hình thành văn hóa tâm linh trong truyện Lục Vân Tiên
1.3.1 Từ trong tín ngưỡng dân gian
1.3.1.1 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là một trong những cơ sở hình thành văn hóa tâm linh, bắt nguồn và chịu ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, tâm lí, thói quen và tính cách của người Việt
Sinh sống trong điều kiện địa lí sinh thái đầy khắc nghiệt, khí hậu thời tiết thay đổi thất thường, khi hạn hán, lúc lũ lụt… suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời nhưng nhiều khi kết quả chỉ là con số không tròn trĩnh Điều này tất yếu dẫn đến tâm lí phụ thuộc, ý thức tôn sùng và thái độ hòa hợp với thiên nhiên Đầu tiên phải kể đến “đất” và “nước” là hai thành tố có vai trò quyết định, mà cư dân nông nghiệp lúa nước luôn quyện chặt với nó tựa như “Người ta là hoa đất” Nhưng để có nước (mưa) thì cần đến “trời”, do vậy người xưa tín ngưỡng tôn thờ Trời, Đất, Nước và các hiện tượng thiên nhiên có liên quan đến đời sống nông nghiệp như mây, mưa, sấm, chớp Trong đó Trời là trên hết, vì theo người xưa trời sinh ra mọi vật “Trời sinh voi sinh cỏ” Cái gì cũng phải xin trời, lạy trời:
“Lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày”
Trang 28Khi đã có mưa, người ta hân hoan biết ơn, cần cù làm việc:
“Ơn Trời mưa nắng phải thì, Nơi thì cầy cạn, nơi thì bừa sâu.”
“Nhờ trời mưa gió thuận hòa, Nào cày nào cấy trẻ già đua nhau.”
Hình ảnh mặt trời vì thế đã để lại dấu ấn sâu sắc trong đời sống của cư dân lúa nước đến mức tôn sùng, quy phục:
“Trông trời trông đất trông mây Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng”
Chính sự phụ thuộc này đã đưa người Việt cổ hình thành lối tư duy tổng hợp
và tín ngưỡng thờ đa thần! Cùng với triết lí âm dương, chú trọng yếu tố nữ - âm tính nên các vị thần được tôn vinh trở thành các nữ thần là bà trời, bà đất, bà nước rất gần gũi gắn bó với cư dân lúa nuớc Khi có ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai thì
bộ ba nữ thần vẫn tồn tại trong dân gian dưới dạng tam phủ (mẫu thượng thiên, mẫu thượng ngàn, mẫu thoải) cai quản muôn loài Khi Phật giáo du nhập vào ta, trong phương thức tồn tại, nó cộng sinh ngay với tín ngưỡng bản địa thì nhóm nữ thần này được nhào nặn thành hế thống Tứ Pháp: Pháp Vân - Pháp Vũ - Pháp Lôi - Pháp Diện
Cũng như hệ thống nữ thần thiên nhiên được xem như là bà đỡ của nghề nông, thì núi, sông, biển cũng được cư dân lúa nước nhân cách hóa thành thần núi,
Trang 29thần sông, thần biển Những vị thần tự nhiên thờ ở nhiều làng, hầu như chỉ thấy
có nghi thức thờ cúng chứ chưa có tích về thần Có lẽ do con người nguyên thuỷ chưa có nhiều khả năng tư duy, hư cấu các chuyện về thần để chúng trở thành các pho thần thoại có sức sống mãnh liệt hơn Thần núi Tản Viên, lúc đầu cũng chỉ đơn giản là thần núi được thờ để che chở cho con người nhưng vì thần núi cao, nên uy linh hơn các thần tự nhiên khác Bước vào nhà nước Văn Lang thời cổ đại, Tản Viên được nhân hóa và lịch sử hóa trở thành vị anh hùng truyền thuyết của cả cộng đồng quốc gia dân tộc Tản Viên sơn thánh
Xuất phát từ quan niệm “vạn vật hữu linh”, từ con người đến con vật, cây cối, từ những vật vô cơ như đất, đá, nước, lửa đến cả những vật do con người tạo ra như xe, chum vại… đều có linh hồn Nên trong tín ngưỡng sùng bái giới tự nhiên của người xưa còn có việc thờ động vật và thực vật – vật thiêng
Nếu như ở loại hình văn hóa gốc du mục, người ta thờ con vật có sức mạnh như chó sói, hổ, chim ưng, đại bàng thì ở loại hình văn hóa nông nghiệp dẫn người Việt Nam đến tục thờ các con vật hiền lành hơn như chim, rùa, rắn, cá sấu…
là các con vật gần gũi với cuộc sống của cư dân lúa nước Người Việt quan niệm
“nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng” nên đã nâng các con vật này lên mức biểu trưng : Tiên, Rồng thông qua các truyền thuyết về họ Hồng Bàng Trong đó Tiên được trừu tượng hoá từ giống chim sống ở trên cạn, còn Rồng được trừu tượng hoá
từ hai loại bò sát rắn và cá sấu sống ở dưới nước Theo nguyên lí âm – dương và lối sống hòa hợp, thích nghi với thiên nhiên, người nông nghiệp đã biến con vật thành chim mẹ, rồng cha làm nên cội nguồn tổ tiên của người Việt Con rồng, rắn, rùa…vì thế đã đi vào các câu chuyện thần thoại trong dân gian về con vật thiêng phù hộ cho con người trong công cuộc dựng nước và giữ nước Hình tương rồng cũng được các triều đại phong kiến Việt Nam chọn làm biểu tượng của vương quyền, càng về sau vẻ mạo của nó càng thể hiện uy quyền phong kiến Ngày nay,
Trang 30rồng dùng để đặt tên cho nhiều địa danh trong nước: Hàm Rồng, Thăng Long, Hạ Long, Cửu Long v.v Tất cả việc làm này thể hiện ý thức bảo toàn nòi giống và lòng tôn kính, tự hào dân ta thuộc dõng dõi con rồng cháu tiên
Ở thời thượng cổ, cư dân trồng lúa nước quan niệm rằng lúa sinh ra thóc gạo
để nuôi sống con người nên người ta gắn lúa với hình ảnh của người phụ nữ Vì tin rằng lúa là một loại cây có “hồn” nên dân ta nảy sinh tín ngưỡng thờ thần lúa Để được mùa, hằng năm cư dân lúa nước phải làm lễ rước mạ, gọi hồn lúa, lễ nhập lúa vào kho Thứ đến các loài cây xuất hiện sớm ở vùng nông nghiệp lúa nước như cây
đa, cây dâu, quả bầu cũng được người dân tôn thờ Dân gian thường truyền tụng:
“thần cây đa, ma cây gạo” hay “cây thị có ma, cây đa có thần” Tin rằng cây có linh hồn, nên có tục, hễ nhà nào có đám ma, có người chết thì gia chủ phải đeo tang cho cây, vì sợ cây buồn, héo mà chết Cây cũng là nơi ngự trị của các thần,
ma Loại cây sống lâu năm đều có thể thành tinh- mộc tinh Nên với đặc tính cộng sinh, sống hòa hợp với thiên nhiên thì dù thần hay ma, người Việt cũng kính trọng, cúng vái rất trang nghiêm
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và thờ vật thiêng tạo nên bản sắc văn hóa của cộng đồng người Việt, như nhắc nhỡ người dân Việt sống chan hòa như dây bầu dây bí cũng đều chung một dàn, và đầy tính bao dung Ngoài ra, trong tâm linh người dân Việt còn tin thờ thần không gian- Bà Ngũ hành nương nương và thần thời gian – mười hai vị thần (Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Múi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) và mười hai bà mụ có nhiệm vụ làm cho mọi vật sinh sôi phát triển
Từ thời nguyên thuỷ người Việt cổ đã biết nhận thức về thế giới khách quan nhưng với khả năng tư duy trừu tượng của buổi đầu, con người chưa thật sự phân biệt được giữa mình với giới tự nhiên mà mình đang cùng sống, đang phải phụ thuộc Khi ấy con người đã đồng nhất giữa mình với các vật thể của thiên nhiên
Trang 31Tác giả cuốn “Việt Nam Phật giáo sử luận”, Nguyễn Lang chỉ rõ quan niệm người xưa: “Ông Trời ở trên cao có thể nhìn thấy mọi việc dưới đất, biết trừng phạt kẻ
làm ác, giúp đỡ kẻ làm lành … Ông Trời có những thuộc hạ gần xa Gần thì có ông Sấm, bà Sét Xa có Sơn Tinh, Thủy Tinh, thần cây đa, ông Táo, ông Địa v.v Rồi linh hồn con người không hẳn là bất diệt, nhưng có thể tồn tại một thời gian khá lâu quanh quẩn bên xác người chết và có thể ở chung với người thân thích còn sống trong một thời gian để che chở, bảo hộ”
1.3.1.2 Tín ngưỡng sùng bái con người
Con người được cấu tạo bởi hai phần: thể xác và linh hồn Người Việt còn tách linh hồn ra làm hai yếu tố “hồn” và “vía” (ba hồn chín vía) Có người lành vía, người dữ vía Vía phụ thuộc nhiều vào thể xác, nên khi gặp người có vía độc thì cần phải đốt vía, giải vía (thường gặp nhất ở hoạt động buôn bán) Khi chết thì vía theo xác mà tan ra Còn “hồn” trừu tượng hơn nên có thể xem như tồn tại độc lập với thể xác Quan niệm dân gian cho rằng khi ngủ thì hồn lìa khỏi xác đi đây đi đó,
do vậy mà nảy sinh hiện tượng chiêm bao, mộng mị, giấc mơ vì thế lúc ngủ, theo dân gian con người không được bôi vật lạ lên mặt vì sợ hồn không nhập được vào xác…
Cũng vậy, khi chết thì chỉ chết về phần xác nhưng linh hồn vẫn còn tồn tại, được thần linh mang đi sống ở một thế giới khác- thế giới âm phủ Nói theo triết lý
âm dương thì khi chết là hồn đi từ miền dương gian đến cõi âm ty, âm phủ Tuy thuộc về thế giới khác nhưng linh hồn vẫn dõi theo gây họa hay tác phúc cho người đang sống Chính điều này đã hình thành tín ngưỡng thờ cúng người chết Tín ngưỡng sùng bái con người được biểu hiện qua hình thức: thờ cúng tổ tiên, thờ các anh hùng liệt sĩ, thờ tà thần
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Trang 32Trước khi Nho giáo du nhập, người Việt Nam đã có truyền thống cúng giỗ
tổ tiên Cúng giỗ tổ tiên không phải là biểu hiện tôn giáo mà là biểu hiện huyết thống Huyết thống thì bao giờ cũng có nguồn gốc Vì vậy, thờ cúng tổ tiên là một nét văn hóa truyền thống đẹp nhất của người Việt, là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của chúng ta Đó là đạo lí, là phong tục, tập quán của một dân tộc và còn chỉ rõ ta là người có cội có nguồn, có tổ có tông, chứ không phải là một tay ma cà bông… không có gia phả Người xưa cũng từng nói “cây có gốc mới
nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu” như nhắc nhỡ chúng ta khắc sâu ý thức về cội nguồn tổ tiên trong đời sống tâm linh của mình Đồng thời cũng răn dạy con cháu mai hậu nhất thiết không được đánh mất cái mà tổ tông đã
có “Giấy rách phải giữ lấy lề”
Nếu như người phương Tây chú trọng vào ngày sinh thì người Việt Nam lại chú trọng vào ngày giỗ (ngày mất) Bởi theo quan niệm của người xưa đây là ngày con người đi vào cõi vĩnh hằng Người xưa tin rằng thể xác tuy tiêu tan nhưng linh hồn thì bất diệt nên sau khi chết linh hồn của con người vẫn tiếp tục sống với tổ tiên, ông bà ở nơi chín suối Tin rằng nơi đó, tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân đã qua đời vẫn có thể đi về thăm nom, phù hộ độ trì cho con cháu trong gia đình Tin rằng ở đó, người chết cũng có một cuộc sống như cuộc sống ở trần gian, tức là cũng cần đến nhu cầu sinh hoạt như ăn, mặc, ở, đi lại theo quan niệm “dương sao
âm vậy” Chính vì vậy, ngoài mồ mả tổ tiên ở nghĩa địa, thì trong mỗi gia đình gia chủ đều dành vị trí sang trọng, đẹp nhất của thế nhà lập nên bàn thờ cúng tổ tiên
Từ việc thờ cúng, người xưa cho rằng giữa thế giới thực tại, hữu hình với thế giới siêu nhiên, vô hình; giữa con cháu với tổ tiên, ông bà, những người thân đã mất luôn luôn như có một sợi dây liên hệ mật thiết Đây cũng là dịp để người sống giao tiếp – thông linh với người đã khuất Trong khi cúng bái, người sống khấn vái, cầu nguyện một điều gì đó với tổ tiên, ông bà, người thân qua đời Nhưng nhìn chung
Trang 33niềm tin vào tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, là họ mong muốn tổ tiên phù hộ cho họ được sức khỏe, hạnh phúc, ăn nên làm ra, gặp rủi hóa may, vạn sự như ý… Qua thờ cúng, con cháu một mặt thể hiện lòng tôn kính, biết ơn, tri ơn đối với tổ tiên mình, Mặt khác thờ cúng tổ tiên là một nhu cầu tinh thần bù đắp những thiếu hụt trong cuộc sống thực tại khó khăn, đau khổ, hiểm nguy của chính họ
Thờ cúng các vị anh hùng có công dựng nước và giữ nước
Nếu như trong phạm vi gia đình, dòng họ, người Việt thờ cúng tổ tiên thì trong phạm vi cả nước, dân ta cũng thờ cúng vua Hùng và anh hùng có công dựng nước và giữ nước Người Việt Nam vẫn thường nhắc nhỡ nhau ý thức về tổ Hùng Vương - cội nguồn của dân tộc:
“Dù ai đi ngược về xuôi, Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”
“Dù ai sinh sống gần xa, Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười”
Đến với lễ hội vua Hùng, người dân hân hoan trong không khí thiêng liêng
và bằng tấm lòng thành thắp những nén nhang cảm tạ ơn nghĩa Vua cha đất tổ đã
mở đường cho con cháu Lạc Hồng xây nền đất Việt trời Nam Sau này, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhỡ thế hệ sau: “Vua Hùng có công dựng nước, Bác cháu
ta phải có công giữ nước”
Thật vậy! dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao thăng trầm sóng gió, bao gian khổ hiểm nguy, bao tủi nhục đắng cay trong suốt một thời gian lịch sử rất dài mới có được một đất nước đẹp và thanh bình như ngày hôm nay Trong cuộc chiến trường kì đẫm máu và nước mắt đó, đã biết bao người đã ngã xuống vì tổ quốc, vì
Trang 34nhân dân Công lao của họ đời đời được đất nước, nhân dân ghi công Máu và nước mắt của họ đã thấm sâu vào lòng đất và đi vào lịch sử, vào cõi bất tử của miền nhân gian Để rồi với sự ngưỡng vọng và tôn kính, dân gian đã linh thiêng hóa các anh hùng tiết liệt để họ trở thành những vị thần được thờ phụng, tưởng nhớ một cách uy linh, trân trọng
Từ nhiều thế kỉ nay, ông cha ta đã dành phần thiêng liêng nhất cho việc thờ cúng biết ơn các anh hùng có công dựng nước và giữ nước Lạc Long Quân, Tản Viên Sơn Thánh, Thánh Gióng đến Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Quang Trung, bất
kể là những vị anh hùng có nguồn gốc từ tự nhiên hay có thật trong lịch sử thì họ cũng là những con người sống khôn thác thiêng, lập công trạng khi sống và hiển linh phù trợ giúp dân giúp nước khi chết
Vì thế, thờ cúng tổ tiên – gia đình và thờ cúng tổ tiên - đất nước là điều linh thiêng, hết sức quan trọng không thể thiếu được trong phong tục của người Việt Nam Qua đó, khẳng định lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của cư dân Việt
Tục cúng cô hồn
Xuất phát từ việc tôn kính người chết và lòng nhân ái bao dung, người Việt
có tục cúng cô hồn Cô hồn là những linh hồn cô đơn, cô độc “vô gia cư” khổ sở, đói rách, ngày đêm lang thang đi tìm miếng ăn, thức uống, kiếm chỗ ở… Nhưng mấy ai biết mà cho, mà cúng Đói rét, vất vưởng Những lúc ấy, oan hồn có thể bằng hình thức này hay hình thức khác về quấy nhiễu người sống, làm cho người ở cõi trần gian không thể sống yên ổn… Vậy nên, quan niệm “dương sao âm thế”,
“có thờ có thiêng, có kiêng có lành” dân ta đã xây am chúng sinh và cúng cô hồn, một mặt làm vơi bớt phần nào sự cực khổ của những linh hồn kém may mắn không người cúng vái, mặt khác cầu cho cô hồn sớm được giải thoát, không còn quấy nhiễu người dương thế
Trang 351.3.1.3 Vai trò của tín ngưỡng dân gian
* Tín ngưỡng sùng bái thiên nhiên và con người dẫn đến việc hình
thành lễ hội dân gian
Có lẽ không một nền văn hóa truyền thống của dân tộc nào lại không có lễ hội Cũng như Trung Quốc và các nước khác, Việt Nam là một đất nước có rất nhiều lễ hội Theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thì Việt Nam
có tới 500 lễ hội lớn nhỏ trải dài theo lịch sử dân tộc, rộng khắp ở mọi miền đất nước và suốt cả bốn mùa xuân hạ thu đông Lễ hội chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng: Tết Nguyên đán (1-1): buổi sáng đầu năm (tính theo Âm lịch), Tết Nguyên tiêu (15-1): đêm rằm đầu tiên trong năm, treo đèn, còn gọi là thượng nguyên, Tết Thanh minh (5-3): rẩy mã, viếng mộ, chơi xuân, hội đố lá, Tết Đoan ngọ (5-5): tết hoa quả, diệt sâu bọ, mừng con nước, đua thuyền, Tết Thất tịch (7-7): hoặc Vu lan, xá tội vong nhân, cúng cô hồn (15-7) còn gọi Trung nguyên, Tết Trung thu (15-8): thưởng trăng, gia đình đoàn tụ, múa lân rồng, Tết Trùng cửu (9-9): còn gọi là trùng dương, số 9 là con số của trời, cầu trời mưa thuận gió hòa, Tết Hạ nguyên (15-10): tết cơm mới, mừng mùa màng thu hoạch ; Lễ hội tái hiện lịch sử nhằm suy tôn những con nguời, những anh hùng dân tộc như Lễ Hội Đền Hùng, Hội Hai Bà Trưng, Hội Gióng… và Lễ hội tái hiện phong tục tín ngưỡng như Hội chùa Dâu, hội chùa Keo, Hội chùa Hương, Hội bà chúa Sam…
Lễ Hội luôn đan xen xoắn xuýt nhau Lễ đi kèm với hội dưới hình thức cúng kiến, bái viếng đối với thần thánh, tiên, phật, hoặc người dưới cõi âm như lễ rước thần lúa, lễ cầu mưa, nghi lễ phồn thực, lễ tảo mộ, lễ cúng cầu siêu cho các vong hồn… lễ diễn ra trong một không gian thời gian nhất định Người tham gia lễ thường có thái độ nghiêm túc và có một ý thức lễ nghi rõ rệt Hội là cuộc chơi, thường mang tính chất hội hè Hội thường gắn với những trò chơi dân gian, gắn
Trang 36với những cuộc thi thố, tranh tài trong một số lĩnh vực nào đó Tính chất vui, trào tiếu trong hội là nét nổi bật Con người không chỉ sống trong cái thiêng mà còn sống trong cái vui Vì vậy lễ phải có hội mới cuốn hút, hội phải có lễ thì mới linh thiêng, mới đi vào nề nếp Lễ hội còn là một ngôn ngữ hoạt động làm phong phú, hấp dẫn hơn và dễ đi sâu vào tâm thức con người hơn nhưng triết lí giáo điều khô khan của các tôn giáo, tín ngưỡng Không có lễ hội thì cũng không còn tôn giáo và tín ngưỡng Do đó nhân dân ta rất thích lễ hội Dù con người ta có ở xa đến mấy, mỗi khi có lễ hội họ đều tìm đến Lúc ấy, họ được sống trong một không gian thiêng, một khoảnh khắc thời gian thiêng Chỉ là khoảnh khắc thôi, nhưng để lại niềm lưyến lưu trong tâm hồn người để từ đó thêm có trách nhiệm với cộng đồng, thêm gắn bó với xung quanh Lễ hội là dịp để để các giai nhân tri ngộ, nam thanh
nữ tú gặp gỡ, trò chuyện, kết bạn, vui chơi, hẹn hò…, cũng là dịp biểu dương sức mạnh, đoàn kết, gắn bó mọi thành viên với cộng đồng Mỗi dịp lễ hội là một dịp chuyển giao văn hóa, sáng tạo văn hóa Vì thế, người Việt Nam rất cần đến lễ hội
Đó là sợi dây tâm linh kết nối tình cảm giữa con người với con người, là nhịp cầu nối giữa quá khứ - hiện tại - tương lai Cho nên, với sự kết hợp sâu sắc giữa cái thiêng và cái phàm, giữa thần thánh cao xa và ước muốn bình dị của con người, lễ hội luôn sống mãi với thời gian Nói như GS Phùng Quý Nhâm lễ hội chính là
“bảo tàng sống của văn hóa dân tộc ta” Vì vậy chúng ta cũng như thế hệ mai sau phải biết trân trọng, bảo tồn di sản văn hóa thiêng liêng này
* Tín ngưỡng dân gian chi phối đời sống xã hội
Do có niềm tin đặc biệt vào tín ngưỡng dân gian, nên người dân Việt tin rằng tín ngưỡng dân gian có sự chi phối sâu sắc đời sống của họ Biểu hiện dễ thấy nhất trong hoạt động xem bói, chấm tử vi, phong thủy, coi ngày giờ
Dẫu biết rằng chuyện gì đến sẽ đến, không nên lo lắng, sầu thương, vấn vương! Hãy để nó đến tự nhiên rồi đi tự nhiên Con người ai rồi cũng phải chết!
Trang 37Thế nhưng trong thực tế cuộc sống, tuyệt nhiên, không ai bằng lòng với điều đó cả! Dẫu biết rằng thiên cơ bất khả lậu, nhưng không ai là không muốn biết trước vận mệnh của cuộc đời mình Phải chăng những băn khoăn này đã thôi thúc con người
đi tìm ẩn số bằng cách xem tử vi, xem tướng, xem tuổi, xem ngày cưới hỏi, xem giờ động thổ làm nhà, xem giờ hạ huyệt v.v… Những việc làm này không thể thiếu trong cuộc sống của người dân Việt Đây là vấn đề tâm linh, xét cho cùng ranh giới giữa nó với mê tín di đoan gần nhau trong gang tấc Xưa đã thế mà nay cũng chẳng có gì khác hơn! Dù cho đây là thời đại của công nghệ thông tin, của khoa học nhưng đây cũng chính là thời mà con người ta bàn về tâm linh, đời sống tâm linh, văn hóa tâm linh nhiều nhất Và có chăng cái điều mà các nhà khoa học đang làm là tìm cách rút ngắn khoảng cách tâm linh với khoa học mà thôi Tâm linh là mảnh đất vô cùng phong phú và phức tạp như chính sự phức tạp và phong phú có trong cuộc đời của mỗi con người vậy! Chừng nào con người còn đau khổ chừng
đó tâm linh vẫn còn giá trị thiêng liêng Cho nên, bỏ qua những gì gọi là mê tín dị đoan, mụ mị thiết nghĩ đây là việc làm đáng quý, đáng trân trọng Bởi phàm sinh ra trong kiếp con người, bất luận như thế nào con người ta cũng ý thức được giá trị của bản thân, của sự sống Tránh xa cái rủi ro đem lại điều may mắn cho người đang sống mà không xúc phạm người đã khuất quả là một việc rất nên làm Từ đó chúng ta có thể khẳng định rằng: Niềm tin linh thiêng chi phối sâu sắc đời sống xã hội, đời sống tinh thần của con người
Lời thề cũng là một yếu tố thuộc về tâm linh Lời thề được thể hiện giữa con người với con người trong cuộc sống hàng ngày Khi chứng minh một điều gì đó là đúng là chân xác, người Việt thường nói “thề có trời đất chứng giám…”, “tôi thề, tôi mà nói sai sự thật thì…” Hay cao xa hơn, đó lời thề của công dân đối với đất nước Trong hoàn cảnh chống giặc ngoại xâm, lời tuyên thệ của các anh hùng vì tổ quốc quên thân trở nên thiêng liêng vô cùng… Và rõ nhất, dễ thấy nhất là trong
Trang 38tình yêu, đôi lứa yêu nhau thường hay thề nguyền Tin vào lời thề mà họ có thể chờ đợi nhau, hy sinh cho nhau Họ cũng rất sợ bị trừng phạt, quả báo nếu phản bội, phá vỡ lời thề Cho nên lời thề chính là khía cạnh tâm linh không thể không có ở mỗi con người
Tóm lại, tín ngưỡng dân gian người Việt vô cùng đa dạng, bao gồm tín ngưỡng thờ thánh thần, trời đất (thành hoàng làng, thần hộ mệnh cá nhân, thánh tổ nghề, thờ các vị phúc thần, các anh hùng lịch sử văn hoá…); tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên, tín ngưỡng thờ mẫu…; niềm tin tướng số phép thuật…Các tín ngưỡng song hành tồn tại trong đời sống nhân dân và trở thành những sinh hoạt văn hoá tạo nên bản sắc văn hoá truyền thống Việt Nam Và điều này cũng rất dễ thấy trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, tiêu biểu là truyện Lục Vân Tiên Trong ấy ta thấy cả một thế giới tâm linh ẩn hiện, bàng bạc mang nhiều nét tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Đó là niềm tin thiêng liêng đối với một số hiện tượng thiêng trong cuộc sống (trời, phật, cầu cúng cầu hồn, báo mộng…), đó là tập tục khấn nguyện hay tướng số, tử vi… Cho dù sau này các tôn giáo khác từ bên ngoài du nhập vào như : Đạo Phật, Thiên Chúa… thì cũng không thể nào xóa bỏ được văn hóa bản địa này, mà rốt cuộc phải sống chung với nó, nếu muốn thu phục tín đồ…
1.3.2 Từ sự tiếp biến Nho – Phật – Đạo
Việt Nam nằm ở ngã tư đường thuộc khu vực Đông Nam Á, là nơi gặp gỡ giữa các nền văn minh và đã có lịch sử ngàn năm Bắc thuộc do đó không tránh khỏi bị Trung Quốc hóa Trên cái vốn sẵn có của dân tộc là nền tảng yêu nước, thương nòi, ta tiếp thu những yếu tố ngoại lai, biến đổi nó, đồng hóa nó để tự xây dựng và phát triển Biểu hiện cụ thể là việc tiếp nhận và biến đổi ba hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo và hòa trộn chúng theo cách thức của người Việt
Trang 39Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và có phạm vi ảnh hưởng sâu
rộng Đầu tiên, Phật giáo Tiểu thừa được truyền trực tiếp từ Ấn Độ Khoảng đầu công nguyên và hạ bán thế kỉ thứ hai đã có một trung tâm văn hóa Phật giáo ở Luy Lâu Về sau Phật giáo Đại thừa từ Trung Quốc truyền vào nước ta với nhiều tông phái: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông
Phái Thiền tông đề cao cái tâm, Phật tại tâm, tâm là Phật, là niết bàn, nên nó đòi hỏi người tu thiền phải mất nhiều công phu và có trí tuệ, giữ tâm tĩnh lặng, suy nghĩ để tự mình tìm ra chân lí Do đó, Thiền tông chủ yếu gắn với tầng lớp trí thức, thượng lưu
Khác với Thiền tông, Tịnh độ tông gần gũi và phổ biến trong đời sống quần chúng nhân dân hơn Đi đâu ta cũng gặp người dân tụng niệm câu: “Nam mô A -
Di - Đà Phật” Tịnh độ tông ra đời ví như con thuyền bát nhã nâng đỡ con người đến với niết bàn tịch tịnh Bởi quan niệm cho rằng, đời sống của người bình dân khốn khó, vất vả, suốt ngày bận lo việc cơm áo nên không thể tự mình tĩnh tâm thiền được và do đó sẽ khó lòng đạt được bản thể chân như
Riêng Mật tông, chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí (linh phù, mật chú, ấn quyết…) mau chóng được giải thoát để đến niết bàn Do vậy khi vào nước
ta, Mật tông hòa nhập vào dòng tín ngưỡng của cư dân Việt như dùng pháp thuật yểm bùa, trị tà ma, chữa bệnh…
Đạo giáo gồm hai phái: phái thần tiên và phái phù thuỷ Phái thần tiên có hai cách tu: nội tu và dưỡng sinh Dưỡng sinh thì người tu đạo dùng thuốc linh đan để được trường sinh Nội tu là cách con người chủ yếu dựa vào mình, tự mình rèn luyện khí công mà chứng ngộ Đạo Phái Tu tiên khá thịnh hành nhưng chủ yếu dành cho giai cấp thống trị Phái phù thủy lấy bùa chú, phương thuật, nước phép và
cỏ dại chữa bệnh để thu hút mọi người
Trang 40Cũng như Phật giáo, Đạo giáo vào Việt Nam vào khoảng cuối thế kỉ thứ II
gắn liền với tích Cao Biền lùng tìm yểm huyệt, hy vọng cắt đứt long mạch hòng triệt tiêu nhân tài đất Việt Đạo giáo khi vào Việt Nam đã tìm thấy rất nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng ma thuật của người Việt xưa như việc sùng bái ma thuật, phù phép, tin rằng có thể dùng bùa chú để chữa bệnh, trừ tà, làm tăng sức mạnh…vì vậy đạo giáo phù thủy rất dễ dàng len lõi vào cuộc sống của người bình dân còn phái tu tiên vì gắn liền với thoát tục nên chỉ thịnh hành với tầng lớp trên Các nhà Nho ở nước ta, do ảnh hưởng của phái tu tiên, nên có khuynh hướng ưa thanh tịnh, thích nhàn lạc Nhất là đối với những nhà nho sinh bất phùng thời, gặp chuyện bất bình nơi chốn quan trường nên thường cáo quan lui về ở ẩn, sống cuộc đời thanh bần, giản dị, làm bạn với thiên nhiên
Khác với Phật, Đạo, Nho giáo với thế mạnh “trị quốc bình thiên hạ” không
đi sâu được vào các tầng lớp lao động mà chỉ đến với tầng lớp trí thức trong xã hội Nhưng khi nhà nước giành lại được chủ quyền, các triều đại phong kiến Việt Nam, nhất là triều Lê, Nguyễn đã học tập rất nhiều cách tổ chức triều đình và hệ thống pháp luật của người Trung Hoa Giáo dục và khoa cử lúc đầu còn lấy nội dung của
ba giáo Phật, Đạo, Nho, nhưng từ đời Hậu Lê trở đi chỉ dùng Nho học Nho học do
đó lan rộng trong xã hội Từ thế kỉ XVI về sau, chế độ phong kiến suy thoái, Nho giáo sa sút trở thành một lực cản trong sự phát triển của xã hội
Người Việt Nam ta đã tiếp thu tích cực ba hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo và biến đổi nó cho phù hợp với mục đích yêu cầu cuộc sống của dân tộc ta Từ đó mới nảy sinh chủ trương “tam giáo đồng nguyên” Đây là một sản phẩm văn hóa thông minh và sáng tạo, cho thấy khả năng điều hòa và dung hòa của dân tộc đối với các
hệ tư tưởng du nhập từ bên ngoài để làm giàu bản sắc dân tộc mình