1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

TIẾN TRÌNH HỢP TÁC Á ÂU ( ASEM) VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CUA VIỆT NAM pptx

228 701 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiến trình Hợp Tác Á Âu (ASEM) Và Những Đóng Góp Của Việt Nam
Tác giả Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Thu Mỹ, Bùi Huy Khoất, Nguyễn Quang Thuấn, Dương Phỳ Hiệp, Trần Đức Cường, Nguyễn Cảnh Huệ, Nguyễn An Hà
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thu Mỹ
Trường học Hanoi University
Chuyên ngành Quan hệ Quốc tế
Thể loại Báo cáo Khoa học
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hai bên đã đi tới thoả thuận về một số vấn đề sau: - ASEM sẽ là một hội nghị không chính thức ở cấp cao nhất giữa các nhà lãnh đạo châu á và châu Âu và sẽ không có một chương trình nghị

Trang 1

NGUYỄN DUY QUÝ – NGUYỄN THU MỸ

( ĐỒNG CHỦ BIÊN)

TIẾN TRÌNH HỢP TÁC Á ­ ÂU ( ASEM)

VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CUA VIỆT NAM

HÀ NỘI- 2005

Trang 2

TẬP THỂ TÁC GIẢ :

1 Nguyễn Duy Quý ( GS.VS TSKH) ( chủ biên)

2 Nguyễn Thu Mỹ ( PGS.TS ) ( Đồng Chủ biên, người chấp bút sách)

3 Bùi Huy Khoát ( GS.TS)

4 Nguyễn Quang Thuấn ( PGS.TS )

5 Dương Phú Hiệp ( GS.TS )

6 Trần Đức Cường ( PGS.TS )

7 Nguyên Cảnh Huệ ( PGS.TS )

8 Nguyễn An Hà ( TS )

Trang 3

Bối cảnh ra đời ý t-ởng ASEM 8-39

và mục đích ủng hộ của các đối tác

Chương II

Tiến trình Hợp tác á - Âu : 40 -99 Quá trình thành lập và phát triển

Trang 4

Chương V

của ASEM trong những năm đầu thếkỷ XXI 209-238

Trang 5

Mở đầu

Hơn chín năm trước đây, vào ngày 1 tháng 3 năm 1996, tại Băng Cốc đã diễn ra một sự kiện quan trọng: Hai lăm người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ của 10 nước châu á, 15 nước thành viên của châu Âu và Chủ tịch Uỷ ban châu Âu đã gặp nhau tại Trung tâm Hội nghị mang tên Hoàng hậu Sirikít của Vương quốc Thái Lan Đây là lần

đầu tiên, trong lịch sử quan hệ đã kéo dài hàng trăm năm giữa hai châu lục cổ kính này, một cuộc gặp như vậy được tổ chức Từ cuộc gặp lịch sử đó, một quan hệ hợp tác mới,

đặt trên cơ sở châu lục với châu lục, đã được tuyên bố thành lập Mối quan hệ hợp tác mới này được tất cả những người khai sinh ra nó nhất trí gọi là Tiến trình ASEM, theo gợi ý của ông Vũ Khoan, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam lúc đó và là Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam hiện nay Sự ra đời của ASEM đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử quan hệ giữa châu á và châu Âu nói chung , giữa Đông á và EU nói riêng : giai

đoạn hợp tác của các đối tác bình đẳng

Từ sau Hội nghị thành lập ở Băng Cốc, các nhà lãnh đạo ASEM đã gặp nhau tại 4 Hội nghị cấp cao khác: Hội nghị cấp cao ASEM-2 tổ chức ở Luân Đôn tháng 4 năm

1998, Hội nghị cấp cao 3 ở Xơun tháng 10 năm 2000 , Hội nghị cấp cao

ASEM-4 diễn ra ở Copenhagen tháng 10 năm 2002 và Hội nghị cấp cao ASEM-5 tổ chức tại Hà Nội tháng 10 năm 2004 Bên cạnh các hội nghị cấp cao, hàng trăm hội nghị các cấp khác

đã được tiến hành Các hoạt động hợp tác của ASEM được triển khai đồng đều thông qua

ba trụ cột là chính trị, kinh tế và văn hoá - xã hội

Số đối tác thành viên ASEM đã tăng từ 26 lên 39, sau đợt mở rộng đầu tiên tiến hành tại ASEM-5, Hà Nội

Sau hơn 9 năm hoạt động, tiến trình ASEM đã gặt hái được nhiều thành tựu và

đóng góp to lớn vào việc thúc đẩy các quan hệ hợp tác giữa châu á và châu Âu nói chung, giữa EU và Đông á nói riêng Đồng thời “ giúp nâng cao uy tín của châu á và châu Âu”, đúng như Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Nguyễn Dy Niên đã khẳng

định trong bài phát biểu tại lễ khai mạc Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEM lần thứ sáu tại Aixơlen tháng Tư năm 2004 vừa qua

Cùng với 9 nước Đông á khác (6 nước thành viên cũ của ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc), Việt Nam đã tham gia vào tiến trình hợp tác liên khu vực này với tư cách là một thành viên sáng lập Trong những năm qua, Việt Nam đã tham gia tích cực vào tất cả các hoạt động hợp tác của ASEM Sự tham gia nhiệt tình và có hiệu quả đó của Việt Nam đã được tất cả các đối tác ASEM thừa nhận Chính vì thế, Hội nghị cấp cao ASEM- 4 họp ở Copenhagen tháng 10 năm 2002 đã nhất trí trao cho Việt Nam vinh dự tổ chức Hội nghị cấp cao á- Âu lần thứ năm tại Hà nội

Việc tổ chức thành công ASEM -5 đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế nói chung và trong ASEM nói riêng Những kinh nghiệm tổ chức ASEM-5 sẽ giúp Việt Nam tổ chức tốt các hội nghị quốc tế quan trọng khác sau này, trong đó có Hội nghị cấp cao APEC, dự kiến tổ chức vào năm 2006

Trang 6

Với mong muốn đóng góp vào việc chuẩn bị tổ chức Hội nghị cấp cao ASEM-5, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia Việt Nam, nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, đã được chính phủ Việt Nam cho phép tiến hành một công trình nghiên cứu toàn diện về Tiến trình ASEM và triển vọng tham gia của Việt Nam vào tiến trình này

Các kết quả nghiên cứu của đề tài được phản ánh trong cuốn sách này

Trong quá trình thực hiện và công bố các kết quả nghiên cứu của dự án , chúng tôi đã nhận được sự quan tâm của Chính phủ Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện khoa học xã hội Việt Nam, Uỷ ban quốc gia về ASEM-5, Ban Thư ký ASEM-5, Bộ Ngoại giao, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia và Nhà xuất bản khoa học xã hội

Nhân dịp cuốn sách ra mắt bạn đọc, thay mặt tập thể tác giả, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tới cá nhân Phó Thủ tướng Vũ Khoan, các Bộ, các ngành đã tận tình giúp đỡ chúng tôi trong quá trình triển khai dự án

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới các nhà khoa học Việt Nam như Giáo sư, Nhà Giáo nhân dân Vũ Dương Ninh, Khoa Quốc tế học; Phó Giáo sư Nguyễn Quốc Hùng, Khoa Đông Phương, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Phó Giáo sư Nguyễn Huy Quý, Viện nghiên cứu Trung quốc; PGS.TS Ngô Văn Doanh, Viện nghiên cứu Đông Nam á ; PGS.TS Võ Kim Cương, Viện Sử học Việt Nam, PGS.TS Tạ Kim Ngọc, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới; Thạc sỹ Nguyễn Nguyệt Nga, Phó Vụ trưởng, Ban ASEM, Bộ Ngoại giao những người đã nhiệt tình cộng tác và đóng góp ý kiến giúp đỡ cho Nhóm công trình trong suốt thời gian qua

Lời cảm ơn chân thành của chúng tôi được gửi tới Quỹ á- Âu, Viện quốc tế nghiên cứu về châu á (IIAS ) của Hà Lan, Trung tâm á - Âu của Trường Đại học khoa học chính trị Pháp , Chương trình nghiên cứu châu Âu ở Việt Nam ( ESPV) và các nhà khoa học nước ngoài như Tiến sỹ David Camroux, Giám đốc Điều hành, Trung tâm á -

Âu ở Pari; Tiến sỹ Michael Reiterer, Phó Phái đoàn châu Âu tại Nhật Bản; Giáo sư Corrado Letta, chuyên gia nổi tiếng của Italia về ASEM; TS Dent Christopher, Giảng viên cao cấp của Trường Đại học Tổng hợp Leed , Vương quốc Anh và một số nhà khoa học khác vì sự giúp đỡ quý báu của quý vị cho công việc nghiên cứu của chúng tôi

Do phạm vi và nội dung của các vấn đề được đề cập trong cuốn sách quá rộng và phức tạp , chắc chắn cuốn sách này của chúng tôi không tránh khỏi các sai sót, các nhược điểm nhất định Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhà hoạt đọng thực tiễn và bạn đọc gần xa để có thể sửa , nâng cao chất lượng cong trình koha học này trong lần tái bản sau Xin trân trọng cảm ơn!

Thay mặt tập thể tác giả

GS.VS Nguyễn Duy Quý

Trang 7

Phần thứ nhất

tiến trình ASEM

sau 9 năm ra đời và phát triển

Chương I

Bối cảnh ra đời ý tưởng ASEM

và mục đích ủng hộ của các đối tác

Tháng 3 năm 1996, tại Băng cốc đã diễn ra Hội nghị cấp cao á - âu Đây là lần

đầu tiên trong lịch sử quan hệ giữa hai châu lục, một Hội nghị như vậy được tổ chức Từ thời điểm này, một quan hệ quốc tế mới đã xuất hiện trong hệ thống các quan hệ quốc

tế hiện đại Đó là quan hệ Hợp tác á - âu Mối quan hệ này được gọi là Tiến trình ASEM ( viết tắt của cụm từ tiếng Anh : Asia - Europe Meeting ) Điều đáng chú ý là Việt nam, nước vừa được kết nạp vào ASEAN chỉ hơn 7 tháng trước đó, chính là người

đã đặt tên cho mối quan hệ quốc tế mới này

Kể từ khi ra đời đến nay, ASEM đã trở thành đối tượng nghiên cứu hấp dẫn đối với nhiều nhà khoa học trên thế giới Tiến trình này đã được nhìn nhận từ nhiều góc độ

khác nhau Từ mỗi góc nhìn đó, ASEM đã hiện lên với những hình ảnh khác nhau

Cho tới nay có ba hình ảnh chính về tiến trình này

1) Hình ảnh ASEM qua góc nhìn của Trường phái hiện thực

Những người theo trường phái hiện thực 1 cho rằng sự thay đổi có tính chất hệ thống trong phân phối quyền lực quốc tế là nguyên nhân chính dẫn tới sự ra đời của ASEM

Sự thay đổi đó thể hiện qua sự suy yếu tương đối của Mỹ, sự xuất hiện của Đông

á với tư cách là một lực lượng kinh tế hùng mạnh vào đầu những năm 90 của thế kỷ

XX và một EU mở rộng, đang ngày càng hội nhập để trở thành một chủ thể toàn cầu trong trật tự thế giới mới đang xuất hiện Với quan điểm như vậy, các nhà khoa học như Juergen Rueland và Heiner Haenggi cho rằng việc tạo ra ASEM là một hành động cân bằng Quan điểm trên của họ dựa trên sự biện luận rằng vào giữa những năm 90, người châu âu ngày càng cảm thấy bị bức bối bởi cái mà họ nhận thức như là sự dịch chuyển

1

Chủ nghĩa hiện thực đã thống trị việc nghiên cứu về chính trị và quan hệ quốc tế từ sau Đại chiến thế giới thứ hai

Hiện nay, chủ nghĩa hiện thực và các biến thể của nó như Chủ nghĩa hiện thực mới, Chủ nghĩa hiện thực cấu trúc, vẫn được xem là một trường phái nghiên cứu về Quan hệ quốc tế và Kinh tế chính trị quốc tế

Trang 8

sức hấp dẫn trong nền kinh tế và chính trị thế giới từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương Một thập kỷ tăng trưởng nhanh chóng của các nền kinh tế Đông á trái ngược với

sự suy thoái kéo dài của châu âu trong những năm 80 và đầu thập kỷ 90 đã gây nên nỗi

sợ hãi đó Kết quả là sự suy giảm phần đầu tư cuả châu Âu ở Đông á so với Mỹ và Nhật Bản Châu Âu đang thất bại trong cuộc cạnh tranh tay ba

Do đó, ASEM, được người châu Âu nhìn nhận như là một diễn đàn để giành

được một chỗ đứng mạnh hơn ở Đông á và như một sự cân bằng với APEC Đối với người châu á, nó cũng là một phương cách để cân bằng vai trò của Mỹ trong khu vực

và như một biện pháp để đa dạng hoá các quan hệ kinh tế.2

2) Hình ảnh ASEM qua góc nhìn của Trường phái cấu trúc

Những người theo chủ nghĩa cấu trúc3, về cơ bản, nhìn ASEM từ góc độ xây dựng bản sắc Họ thừa nhận rằng, mặc dù về phương diện chính thức, các nhà nước tham gia vào ASEM theo khả năng cá nhân, nhưng trong thực tế, họ thường hành động theo

đường lối của khu vực, đặt cơ sở trên những bản sắc đang hiện hữu hoặc những bản sắc tập thể mới chớm nở Xây dựng bản sắc đang được xúc tiến tại phía châu á ASEM có thể giúp xây dựng một khái niệm về chủ nghĩa khu vực Đông á thông qua một loạt các cơ chế phối hợp Bởi vì, các nước Đông á đang phải quan hệ với một thực thể khu vực

đã định hình hơn nhiều như EU Ngược lại, sự chấp nhận của châu âu và cách thức hành

xử của 10 nhà nước thành viên Đông á với tư cách là một thực thể chung, đã tăng cường khái niệm Đông á như là một thực thể khu vực

Với cách biện luận như vậy, những người theo Trường phái cấu trúc cho rằng không chỉ người Đông á sử dụng ASEM để xây dựng bản sắc, người châu Âu cũng sử dụng ASEM nhằm củng cố Chính sách Đối ngoại và An ninh chung, đồng thời tăng cường bản sắc châu Âu để phô diễn với thế giới bên ngoài

3) Hình ảnh ASEM qua cách nhìn của Trường phái thể chế tự do

Những ngươì theo Chủ nghĩa thể chế tự do4, nhấn mạnh tới sự trỗi dậy mối quan tâm tới chủ nghĩa khu vực vào những năm 80 thế kỷ trước và xem ASEM như là sự phản

ánh khuynh hướng đối thoại liên khu vực đang tăng lên, thay thế cho chủ nghĩa song phương truyền thống, vốn bị xem là không còn thoả đáng để đối phó với các vấn đề toàn

2

Jurgen Ruland : “ Asia- Europe Cooperation- ASEM Process : European View “ in Mnuck Jernect and Ulbrich

Nieman(eds) : Asia –Europe :ủegional Cooperation in a globalising World (Singapore , Asia- Europe Foundation ,

2000 P.186

3

Theo Trường phái cấu trúc, chiến tranh lạnh kết thúc đã mở ra không gian rộng rãi cho những quan điểm về văn hoá và lô gích xã hội trong quan hệ quốc tế Các quan hệ quốc tế được tạo lập không phải chỉ bởi các lực lượng vật chất như quyền lực, sự giàu có mà cả bởi các lực lượng liên chủ thể ( inter- subjective forces) bao gồm các ý tưởng, nền văn hoá và bản sắc Việc xây dựng và lắp ghép bản sắc đóng vai trò quan trọng trong nền chính trị quốc tế

Để hiểu rõ hơn quan điểm của Chủ nghĩa cấu trúc, có thể đọc : John Vasquer: “ The Post Positivists Debate :

Reconstructing Scientifique Inquiry and international relations Theory of Enlightement’s Fall” in Ken Booth and

Steve Smit ( eds ) : International Relations Today ( Cambridge Polity Press,1995 )

4

Chủ nghiã thể chế là một trong các biến thể cuả chủ nghĩa tư do Mặc dù không phủ nhận rằng nhà nước là chủ thể quan trọng, họ cũng xem các công ty đa quốc gia, các tổ chức quốc tế và các nhân tố xuyên quốc gia khác là những chủ thể ( players ) quan trọng, đặc biệt trong một số lĩnh vực nào đó của nền chính trị thế giới Những người theo trường phái thể chế tin rằng các thể chế như các hệ thống quốc tế , các tổ chức phi chính phủ ( NGO ) có thể

có tác động tới cách hành xử của nhà nước và kết quả của các chính sách

Trang 9

cầu ASEM và sự phát triển các sắp đặt khu vực như APEC là các cơ chế để quản lý ”sự phụ thuộc lẫn nhau phức tạp” vốn đang chiếm ưu thế trong hệ thống kinh tế thế giới”

Vậy trong 3 hình ảnh trên, hình ảnh nào phản ánh đúng bản chất của ASEM nhất

? Phải chăng Tiến trình Hợp tác á - Âu chỉ có một hình ảnh duy nhất theo cách nhìn của một trong 3 trường phái trên, hay nó là tổng hợp của cả ba hình ảnh được họ miêu tả

? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần tìm hiểu xem ASEM đã ra đời trong bối cảnh nào? Vì sao các nước ASEAN và các cường quốc lớn như EU, Trung quốc, Nhật bản lại ủng hộ ý tưởng ASEM do một nước nhỏ như Xingapo đề xướng?

1 Bối cảnh ra đời ý tưởng ASEM

Chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu là sự kiện lịch sử quan trọng cuối thế kỷ XX Kết thúc thời kỳ chiến tranh lạnh, chấm dứt chạy đua vũ trang giữa hai hệ thống, hai phe đối lập , đứng đầu là Liên xô và Mỹ Trật tự thế giới chuyển từ hai cực sang đơn cực với một siêu cường là Mỹ Thế giới đang chuyển mạnh

từ chạy đua quyết liệt về quân sự, tranh giành những khoảng trống quyền lực sang cạnh tranh về kinh tế, chiếm lĩnh các thị trường Sức mạnh kinh tế ngày càng có vai trò quyết

định vị thế của mỗi nước trên trường quốc tế

ở thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ đã điều chỉnh chiến lược, gia tăng chủ nghĩa đơn phương trong chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế, với ưu tiên hàng đầu là tăng cường sức mạnh kinh tế, tất cả chỉ vì lợi ích và an ninh của nước Mỹ

Bức tranh kinh tế thế giới ở thời kỳ hậu Xô Viết cũng có nhiều thay đổi Sức mạnh của nền kinh tế Mỹ trong tương quan so sánh với Liên minh châu Âu và Nhật Bản ngày càng suy giảm, trong khi đó kinh tế Trung quốc lại đang phát triển mạnh mẽ với tốc độ cao và ổn định

Các nền kinh tế tập trung kế hoạch hoá theo mô hình Xô Viết tan rã, kinh tế thị trường trở nên phổ biến với nhiều hình thức, nhiều mức độ, góp phần tăng cường xu thế

tự do hoá kinh tế, vừa hợp tác vừa cạnh tranh trên cấp độ toàn cầu

Cùng với những thay đổi về chính trị, kinh tế, trong thập niên cuối của thế kỷ XX, thế giới cũng đang chuyển mình dưới tác động mạnh mẽ của tiến bộ khoa học kỹ thuật,

đặc biệt là công nghệ tin học và viễn thông Sự xuất hiện của mạng Internet đã tác động

to lớn tới từng cá nhân, từng doanh nghiệp, các tổ chức, các quốc gia trên toàn cầu Internet còn dẫn tới sự thay đổi phương thức làm việc, học tập, giải trí của con người và làm thay đổi các phương thức thương mại quốc tế cũng như các phương tiện sản xuất trong nền kinh tế “Sự phát triển của xã hội không còn dựa chủ yếu vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếu dựa vào những nguồn lực có yếu tố tri thức, nguồn lực con người, dần dần hình thành nên nền kinh tế tri thức với thông tin và tri thức là những yếu tố đầu vào quan trọng của hệ thống sản xuất, quản lý”5

Tất cả những thay đổi về chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ những năm cuối thế kỷ XX đã tác động to lớn tới nền kinh tế thế giới Vốn, hàng hoá, dịch vụ, sức lao

động cùng với công nghệ, tri thức đều hoạt động xuyên quốc gia, các hoạt động thương mại, đầu tư đã vượt ra khỏi biên giới từng quốc gia và trở thành hoạt động mang tính toàn cầu

5

Nguyễn Duy Quý ( Chủ biên ) Thế giới trong hai thập niên đầu thế kỉ 21 Nhà xuất bản Chính trị quốc gia , Hà nội , 2002 Tr 29

Trang 10

Toàn cầu hoá, nhất là toàn cầu hoá về kinh tế đã trở thành một xu thế phổ biến trong quan hệ quốc tế Quá trình này, một mặt, gắn kết các nước lại với nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết vào một làng toàn cầu thông qua việc mở rộng thị trường quốc tế và công nghệ thông tin hiện đại; mặt khác, lại làm gia tăng và làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng đang tồn tại trong việc phân bổ của cải và nguồn tài nguyên giữa các quốc gia

và trong ngay một quốc gia.”6

Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, xu hướng liên kết kinh tế khu vực cũng phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức, nhiều cấp độ ở châu âu, từ Cộng đồng Kinh tế Châu Âu ( EEC ) thành lập năm 1957 với 6 nước sáng lập viên là Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Bỉ, Lúcxembua phát triển lên, đến năm 1992, Hiệp ước Maastrichts đánh dấu sự ra đời của Liên minh Châu Âu, một tổ chức khu vực đạt mức độ liên kết rất cao, với thị trường thống nhất, với liên minh kinh tế - tiền tệ, không chỉ liên kết kinh tế mà còn thực thi một chính sách đối ngoại và an ninh chung

ở châu Mỹ, vào năm 1991, khối Thị trường chung Nam Mỹ - MERCOSUR cũng

được tuyên bố thành lập Một năm sau, Hiệp định thành lập Khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) được ký kết với sự tham gia của Mỹ, Canađa và Mêhicô

Tại châu á, Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) được thành lập từ năm

1967, cũng tăng cường liên kết kinh tế khu vực với việc thành lập Khu vực mậu dịch tự

do ASEAN - AFTA bắt đầu từ 1 / 1 / 1993

Không chỉ liên kết ở qui mô châu lục, mà đã xuất hiện liên kết xuyên châu lục như Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu á - Thái Bình Dương ( APEC), được thành lập từ năm 1989, sau đó APEC kết nạp thêm Trung Quốc, Hồng Công và Đài Loan (1991), Nga, Việt Nam (1998)

Thập kỷ cuối của thế kỷ XX cũng đánh dấu sự trỗi dậy của các nền kinh tế Đông

á như Hàn quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Xingapo, Malaixia, Thái Lan7, biến châu á - Thái Bình Dương trở thành một khu vực kinh tế năng động, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới Từ năm 1985 đến năm 1992, tỷ trọng thương mại của

Đông á từ 20,1% tăng lên 23,6% thương mại toàn cầu, trong đó tỷ lệ nhập khẩu tăng từ 16,8% lên 20,6%.8 Đến năm 1996, tỷ trọng của Đông á vượt hơn 25% thương mại toàn cầu, GNP của Đông á đạt 7.650 ngàn tỷ USD so với EU-15 là 8.450 tỷ và Mỹ là 7.430

8

Julie Gilson, Asia meets Europe, Edward Elgar UK P 51

9 Philippe Laserre, Strategies for Asia Pacific: Beyond the Crisis P 9,11

Trang 11

dịch quốc tế, đầu tư trực tiếp, công nghệ thông tin và GDP”10 Do sức mạnh kinh tế của

nó, bộ ba kinh tế trên đang chi phối sự phát triển của nền kinh tế thế giới và sẽ là lực lượng quyết định diện mạo của kinh tế toàn cầu trong thế kỷ XXI

Trong những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước, giữa các cực trong bộ ba kinh

tế này đã diễn ra một cuộc cạnh tranh rất gay gắt Sự vươn lên mạnh mẽ của Đông á đã khiến cho nhiều người ở Tây Âu và Bắc Mỹ lo ngại Họ sợ rằng sự phát triển của Đông

á sẽ dẫn tới sự đi xuống của Tây Âu và Bắc Mỹ Tuy nhiên, cho tới giữa những năm 90, mối quan hệ giữa các chủ thể trong bộ ba kinh tế trên đã thay đổi Thay vì cạnh tranh với nhau gay gắt, các cường quốc đóng vai trò hạt nhân trong bộ ba đó đã nhận thấy “ cần thiết nuôi dưỡng sự hợp tác bộ ba Bắc Mỹ đã được kết nối với Đông á qua APEC từ năm 1989, Tây Âu được kết nối với Bắc Mỹ qua Chương trình nghị sự xuyên Đại Tây Dương mới thành lập vào năm 1993

Mặc dù đến năm 1996, thương mại hai chiều giữa EU và Đông á đã đạt mức 302

tỷ USD, vượt qua thương mại hai chiều giữa EU và Mỹ (mới đạt 295,4 tỷ USD) 11, nhưng cho đến trước khi ASEM ra đời, mối quan hệ giữa châu âu và châu á còn yếu nhiều so với mối quan hệ giữa Mỹ và châu á”12 Cạnh thứ ba trong tam giác kinh tế Tây Âu - Bắc Mỹ- Đông á còn bỏ ngỏ

Nhận ra sự thiếu cân bằng trong tam giác kinh tế toàn cầu trên, tại Hội nghị cấp

cao Kinh tế EU và Đông á do Diễn đàn kinh tế thế giới tổ chức tại Xingapo năm 1994, Thủ tướng Gô Chốc Tông đã đề xuất ý tưởng tổ chức một cuộc gặp cấp cao giữa các nhà lãnh đạo châu á và châu Âu

2- Mục đích đề xuất ý tưởng ASEM của Xingapo

Khi Thủ tướng Xingapo Gô Chốc Tông đưa ra ý tưởng triệu tập Hội nghị cấp cao

á - Âu, trước hết ông xuất phát từ mong muốn nâng cao vị thế của nước ông trong khu vực và thế giới

Như mọi người đều biết , Xingapo là một quốc gia nhỏ nhất Đông Nam á xét về tầm cỡ lãnh thổ và nhỏ thứ hai khu vực xét về quy mô dân số 13 Mặc dù nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người của Xingapo đều không thể so sánh với các nước trong vùng, nhưng nhờ hoạch định được đường lối phát triển kinh tế đúng đắn

và không phải đối phó với những nguy cơ xâm lược, thôn tính từ bên ngoài suốt từ khi lập quốc đến nay, Xingapo đã trở thành một trong 4 con rồng nhỏ về kinh tế ở Đông á ngay từ đầu những năm 80 thế kỷ trước và là nước đứng đầu Đông Nam á về trình độ phát triển Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Xingapo đạt mức 10,1 % trong suốt hai năm

1993 -1994 Thu nhập bình quân theo đầu người của Xingapo vào năm 1995 gấp khoảng

7 lần thu nhập bình quân theo đầu người của Malaixia, nước có trình độ phát triển cao thứ hai trong khu vực ( 28.517,8 USD so với 4.226,1 USD ), gấp 28 lần GDP theo đầu người của Inđônêxia, quốc gia lớn nhất về tầm cỡ lãnh thổ và dân số ở Đông Nam á14

Trang 12

Mặc dù đã đứng đầu ASEAN về trình độ phát triển, vị thế chính trị của Xingapo ở

Đông Nam á còn rất khiêm tốn Trong khi các nước ASEAN khác đã có thể đưa ra rất nhiều sáng kiến khu vực có sức sống lâu dài như sáng kiến ZOPFAN của Malaixia, sáng kiến AFTA của Thái lan, sáng kiến về Sức bật dân tộc và Sức bật khu vực, về Hệ thống

ưu đãi thuế quan hiệu lực chung ( CEPT) của Inđônêxia, sáng kiến về Khu vực Đông Nam á không có vũ khí hạt nhân của Philíppin, thì cho tới cuối những năm 80 đầu những năm 90 thế kỷ XX, Xingapo chưa có sáng kiến nào được ASEAN chấp nhận là sáng kiến chung của Hiệp hội Thực tế này, có lẽ, đã là một trong những nguyên nhân thúc đẩy Thủ tướng Xingapo Gô Chốc Tông đưa sáng kiến về một Hội nghị cấp cao á -

Âu Khi đề xuất ý tưởng này, ông” muốn gây ấn tượng với thế giới rằng làm việc với Xingapo sẽ có giá trị nào đó, rằng Xingapo không chỉ là hải cảng buôn bán mà còn có trọng lượng về chính trị và ngoại giao trong lĩnh vực quốc tế mà nó có thể góp phần tháo

gỡ và thực hiện các ý tưởng do nó đề xuất.”15

Ngoài lý do trên, việc Xingapo theo đuổi ý tưởng tổ chức hội nghị cấp cao á - Âu còn xuất phát từ quan điểm riêng của Xingapo về phương cách bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia Cũng như các nước nhỏ khác, các nhà lãnh đạo đảo quốc này cho rằng một nước nhỏ như Xingapo, tồn tại bên cạnh những nước lớn, lại không mấy thiện cảm với Xingapo như Inđônêxia, Malaixia thì cách tốt nhất để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia của mình là phải đi theo đường lối ngoại giao đa phương và tích cực tham gia vào các tổ chức khu vực và quốc tế Đường lối này sẽ giúp”các nước nhỏ trở nên vững chắc hơn, có thể được thừa nhận nhiều hơn” và ”tăng thêm vận may sống sót cho Xingapo”.16

Tuy nhiên, động cơ đằng sau việc Thủ tướng Gô Chốc Tông đưa ra ý tưởng ASEM không phải chỉ có vậy Với nhận thức rằng sự thịnh vượng của Xingapo”gắn liền với khu vực”, nên các nhà lãnh đạo nước này tin rằng”thúc đẩy sự thịnh vượng và ổn

định trong khu vực là rất quan trọng” đối với Xingapo Vậy tình hình kinh tế và chính trị

ở Đông Nam á vào đầu những năm 90 ra sao? Có mối đe doạ nào đối với hoà bình và phát triển của các nước trong khu vực này không? Những phân tích dưới đây sẽ trả lời những câu hỏi trên

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, do vị trí địa chiến lược quan trọng, do nguồn tài nguyên thiên nhiên và con người phong phú của nó, Đông Nam á đã trở thành nơi tranh giành ảnh hưởng và quyền lợi quyết liệt giữa các nước lớn, đặc biệt là Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Liên xô Khu vực này cũng đang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa các lực lượng giải phóng dân tộc theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa và các lực lượng xâm lược bên ngoài

Tuy nhiên, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, cuộc đối đầu Đông –Tây đã giảm xuống Các nước lớn đều tiến hành điều chỉnh quan hệ giữa họ với nhau trên phạm vi toàn thế giới cũng như ở từng khu vực

Trang 13

ở Đông Nam á, do vấn đề Cămpuchia đã được giải quyết với việc ký Hiệp định Pari vào ngày 23 tháng 10 năm 1991, Hoa kỳ đã quyết định rút khỏi các căn cứ quân sự nằm trên lãnh thổ Philíppin Nước Nga, người thừa kế của Liên xô trước đây, cũng tính tới việc rút bỏ sự có mặt về quân sự ở bán đảo Đông dương, để giành ưu tiên cho các vấn

đề trong nước và những khu vực quan trọng hơn đối với Nga về phương diện chiến lược.Việc Mỹ và Nga giảm cam kết an ninh ở Đông Nam á đã làm xuất hiện”một khoảng trống quyền lực”ở khu vực này và kích thích tham vọng của một số cường quốc khu vực, nhất là Trung Quốc và Nhật Bản

Nhằm thay thế ảnh hưởng của Mỹ và Nga ở Đông Nam á, cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản đều tăng cường các hoạt động trong khu vực Trong khi Nhật Bản cam kết sẽ không trở thành cường quốc quân sự, thì Trung Quốc hứa hẹn không hướng sức mạnh quân sự và kinh tế của họ vào Đông Nam á Tự biết không thể so sánh với Nhật Bản trong việc cung cấp cho các nước trong khu vực vốn đầu tư trực tiếp, viện trợ phát triển

và công nghệ tiên tiến, Trung Quốc áp dụng một cách tiếp cận khác để tăng cường ảnh hưởng và quyền lợi của mình ở vùng này Đó là chinh phục nhân tâm người Đông Nam

á Năm 1991, được Bắc kinh chọn làm năm”Đối thoại với ASEAN” Đầu năm 1993 Trung Quốc triển khai chiến dịch ngoại giao”Láng giềng thân thiện”với các nước trong khu vực Chỉ trong năm đó, tất cả các nhà lãnh đạo ASEAN đã được mời tới thăm Trung Quốc Số người Đông Nam á tới thăm Trung Quốc trong 6 tháng đầu 1993 lên tới 6,5 vạn người Nhưng, bất kể các cố gắng của Trung Quốc, các nước Đông Nam á đều nhìn Bắc Kinh với thái độ nghi ngờ Bởi vì, trong khi hứa hẹn với ASEAN về tình hữu nghị lâu dài, đầu năm 1992, Trung Quốc đã thông qua Luật lãnh hải mới, theo đó 3/ 4 diện tích của biển Đông, nơi đang diễn ra tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc, Đài loan

và 4 nước Đông Nam á là Việt Nam, Phi líppin, Malaixia và Brunây, được coi là lãnh thổ của Trung Quốc Để thực hiện tham vọng của mình, Trung Quốc ra sức hiện đại hoá quân đội và tăng cường khả năng quân sự

Những biến đổi như vậy trong môi trường chiến lược ở Đông Nam á đẫ gây nên những quan ngại về an ninh cho ASEAN và các nước Đông Nam á khác Nhằm đảm bảo an ninh khu vực, các nước ASEAN đã quyết định mở cửa Hiệp hội để đưa các nước

Đông Dương, trứơc hết là Việt Nam, tham gia vào tổ chức hợp tác khu vực này.Việc Việt Nam tham gia ASEAN đã mở đầu cho quá trình thống nhất Đông Nam á và tạo điều kiện tăng cường hợp tác giữa các nước trong vùng vì hoà bình, ổn định và phát triển của toàn khu vực

Bên cạnh hoạt động trên, ASEAN còn quyết định đưa hợp tác an ninh, một vấn đề thường bị né tránh trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh vào chương trình nghị sự Sau nhiều cố gắng tìm kiếm, tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 27 họp ở Băng Cốc tháng 7 năm 1994, Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) đã chính thức được thành lập, thu hút sự tham gia của tất cả các nước Đông Nam á, các cường quốc lớn trên thế giới và các đối tác đối thoại của ASEAN Từ khi ra đời tới nay, ARF đã có những đóng góp

đáng kể trong việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và xây dựng lòng tin giữa các nước tham gia Tuy nhiên, do ARF quá đa dạng về chế độ chính trị, văn hoá cũng như quan

Trang 14

niệm, nhận thức về an ninh, Diễn đàn này chưa trở thành một công cụ đảm bảo an ninh tin cậy ở châu á - Thái Bình Dương

Trong lĩnh vực kinh tế, những thách thức mà ASEAN phải đối diện cũng không ít Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, do vị trí của ASEAN rất quan trọng trong cuộc đấu tranh chống các lực lượng giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam á, Mỹ, Tây Âu

và Nhật Bản đã giành cho ASEAN nhiều ưu đãi về thị trường, vốn đầu tư và viện trợ phát triển Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của các nước phương Tây và nhờ hoạch định được các chiến lược phát triển phù hợp với tiềm năng về nguồn lực của đất nước và nhờ môi trường hoà bình trong khu vực, Hiệp hội các nước ASEAN đã tạo nên những kỳ tích về kinh tế, gây xôn xao dư luận quốc tế trong những năm cuối thập kỷ 80 đầu 90 của thế kỷ

XX

Tuy nhiên, tình hình đã thay đổi khi ASEAN bước vào thời kỳ Hậu chiến tranh lạnh Do các nước lớn đã bước vào thời kỳ hoà dịu với nhau, thừa nhận các lợi ích của nhau ở Đông Nam á, vị trí của ASEAN trong chính sách của các nước lớn không còn quan trọng nữa Cùng với nó, sự giúp đỡ về kinh tế của Mỹ, và EU dành cho ASEAN cũng giảm xuống Trong khi Hoa kỳ đe doạ trừng phạt các nước ASEAN vì vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, thì từ năm 1991, trong chính sách viện trợ phát triển, Cộng đồng châu Âu đã thông qua Nghị quyết về Quyền con người, dân chủ và phát triển, theo đó, viện trợ được dành cho các hoạt động ủng hộ tự do bầu cử, tự do truyền thông, các nhóm

dễ bị tổn thương, những vấn đề nhạy cảm về nhân quyền hơn là phát triển kinh tế Trong lĩnh vực thương mại, từ năm 1995, EU đã quyết định áp dụng một Hệ thống ưu đãi mới

được thực hiện đến năm 2004, theo đó hàng loạt hàng hoá xuất khẩu của ASEAN bị loại

ra khỏi danh mục hàng hoá được ưu đãi tại thị trường EU

Trong bối cảnh như vậy, việc Mỹ tuyên bố thành lập Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và Liên minh Châu Âu thành lập Thị trường thống nhất (ESM) nhất vào năm 1992 đã làm cho ASEAN càng gặp khó khăn hơn trong quá trình triển khai các chiến lược kinh tế - xã hội của họ Bởi vì, các khối mậu dịch này đã tạo nên sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư trên thế giới FDI chảy vào EC từ 28,2 % FDI toàn cầu đầu những năm 80 đã tăng lên tới 44.4% vào năm 1993.17 Còn Mỹ cũng chiếm tới 42% đầu tư nước ngoài của Nhật Bản, tính đến năm 1992

Ngoài NAFTA và ESM, FDI còn bị thu hút vào các thị trường đầu tư khác, đặc biệt là Trung Quốc Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào và tiềm lực cực kỳ to lớn về thị trường, Trung Quốc đã trở thành một đối thủ cạnh tranh với ASEAN không chỉ về thị trường mà cả về vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài

Trong khi FDI đang được mời gọi từ mọi phía, thì ASEAN hầu như đã mất các lợi thế so sánh, từng tạo nên sức hấp dẫn của họ với tư cách là các thị trường đầu tư Tình trạng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, giá nhân công đắt đỏ và kết cấu hạ tầng không theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế tất cả những điều đó đã làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài FDI, do vậy, đã chuyển hướng sang Trung Quốc và các thị trường mới nổi khác

Để giữ vốn đầu tư ở lại trong khu vực, các nước ASEAN, một mặt ra sức cải thiện môi trường trong nước như nâng cấp kết cấu hạ tầng, cải cách hành chính, tạo

17

Jorgensen: European Integration-An Economic Perspectives, P.148

Trang 15

nhiều ưu đãi cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, mặt khác, đã quyết định đưa hợp tác kinh

tế khu vực lên một bình diện mới với việc xây dựng Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), trong vòng 15 năm, bắt đầu từ mồng 1 tháng giêng năm 199318 Với một thị trường 500 triệu người tiêu dùng, đang trở nên thông thoáng hơn, do xoá bỏ dần các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, ASEAN hy vọng khu vực này sẽ giúp họ lôi cuốn các nhà đầu tư nước ngoài trở lại Tuy nhiên, sau hai năm thực hiện, AFTA chưa đưa lại những kết quả chờ đợi.19 Do thiếu vốn đầu tư, các nền kinh tế ASEAN bắt đầu phát triển chậm lại.Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Inđônêxia chỉ còn 4,6 % , Malai xia : 7,8 %, Thái lan: - 0,4 vào năm 199720

Xem xét tình hình Đông Nam á những năm đầu của thời kỳ Hậu chiến tranh lạnh, Thủ tướng Xingapo nhận thấy rằng biện pháp tốt nhất để giúp khu vực này vượt qua những thách thức mà nó đang phải đối diện ở thời kỳ Hậu chiến tranh lạnh là tạo ra một thế cân bằng lợi ích giữa các nước lớn ở khu vực này

Để hiện thực hoá tư duy chiến lược đó, Xingapo đã cố gắng duy trì sự hiện diện về quân sự của Mỹ ở Đông Nam á bằng cách cho phép các tàu chiến Mỹ lui tới sửa chữa tại các hải cảng của Xingapo và lôi kéo châu Âu tăng cường sự sự hiện diện của họ trong khu vực Sự tiếp tục có mặt của Mỹ, dù ở mức độ thấp hơn trước đây và sự hiện diện

được tăng cường của EU về chính trị và kinh tế sẽ giúp cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc và Nhật Bản trong khu vực Chính sự cân bằng này sẽ khiến Bắc kinh và Tôkyô không thể thực hiện tham vọng lấp”khoảng trống quyền lực”đang tồn tại trong khu vực sau khi Mỹ và Nga rút khỏi Đông Nam á

3- Mục đích ủng hộ ý tưởng ASEM của các đối tác á , Âu

3.1- Mục đích ủng hộ ý tưởng ASEM của các nước ASEAN

Những tính toán chiến lược trên của Xingapo đã được tất cả các nước ASEAN chia

sẻ Tuy nhiên, ngoài việc cân nhắc sử dụng sự hiện diện của EU để cân bằng với ảnh hưởng đang tăng lên của Trung Quốc và Nhật Bản trong khu vực, các nước ASEAN còn

hy vọng rằng thông qua ASEM, ASEAN có thể tạo ra một sự năng động mới trong quan

hệ ASEAN – EU, vốn bị trì trệ do việc EU lấy vấn đề Đông Timo làm lý do để từ chối yêu cầu nâng cấp Hiệp định hợp tác kinh tế ASEAN – EEC được hai bên ký kết từ năm

1980

Quan hệ giữa ASEAN và Cộng đồng châu Âu được thiết lập từ tháng 11 năm

1972, thông qua cuộc gặp gỡ chính thức giữa hai bên tại Brúcxen Lúc đầu quan hệ ASEAN- EC chỉ bao gồm các cuộc đối thoại về hợp tác thương mại Sau khi Nhóm nghiên cứu chung ( JSG ) được thành lập ( 9/ 1974 ), các quan hệ hợp tác đã được mở rộng để bao trùm lên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và phát triển Từ năm 1978, các cuộc đối thoại chính trị đã trở thành một trong những nội dung quan trọng trong

18

Về sau, do được thuyết phục bởi các giá trị tạo mậu dịch của A FTA và trước việc APEC quyết định xây dựng

khu mậu dịch tự do APEC vào năm 2010 với các nền kinh tế phát triển và 2015 với các nền kinh tế đang phát triển, Hội nghị Thượng đỉnh A SEAN lần thứ năm, tổ chức ở Băng cốc tháng 12 năm 1995 đã quyết định rút ngắn quá trình xây dựng A FTA xuống còn 10 năm

Trang 16

chương trình nghị sự của các hội nghị Bộ trưởng ASEAN - EC Tháng 3/1980, tại Cuala Lămpua Hiệp định hợp tác giữa ASEAN và Cộng đồng Kinh tế Châu Âu EEC được ký kết Mục tiêu của Hiệp định là phát triển các quan hệ kinh tế, thương mại, văn hoá, giáo dục song phương cùng có lợi đồng thời góp phần vào việc mở rộng thương mại quốc tế Trong Hiệp định, hai bên thoả thuận dành cho nhau qui chế Tối huệ quốc

Cho đến cuối thập kỉ 1980, quan hệ giữa Cộng đồng Châu Âu và ASEAN đã

được triển khai thông qua một cơ cấu thể chế bao gồm : Hội nghị bộ trưởng, Uỷ ban hợp tác chung, Hội nghị quan chức cao cấp, Nhóm nghiên cứu chung Ngoài lĩnh vực kinh

tế thương mại, trong các chương trình nghị sự hai bên đã quan tâm tới các vấn đề thời sự của thế giới như hoà bình, giải trừ quân bị, chấm dứt chạy đua vũ trang, kiểm soát vũ khí hạt nhân, các vấn đề về môi trường, phát triển nguồn nhân lực v v

Khi ủng hộ ý tưởng ASEM của Xingapo, các nước ASEAN còn hy vọng có thể dựa vào sự hỗ trợ của các nước Đông Bắc á để tăng sức mạnh mặc cả cuả mình với Liên minh châu Âu, nhằm bảo vệ các lợi ích chính đáng của ASEAN trong quan hệ mậu dịch

và đầu tư với EU, một mối quan hệ mà về bản chất, là quan hệ Bắc – Nam

Ngoài ra, ASEM còn được ASEAN sử dụng để theo đuổi một mục đích khác, không kém phần quan trọng Đó là hiện thực hoá ý tưởng xây dựng một Nhóm kinh tế

Đông á (EAEG) do Thủ tướng Mahathia Môhamét của Malaixia đưa ra từ đầu thập kỷ

90 thế kỷ trước Mục đích của việc thành lập EAEG là để đối phó với sự xuất hiện của Khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ và Thị trường thống nhất châu Âu vào năm 1992, đồng thời nâng cao vị thế của Đông á trong tam giác kinh tế thế giới bao gồm Tây Âu, Bắc Mỹ và

3.2- Mục đích ủng hộ ý tưởng ASEM của các nước Đông Bắc á

3.2.1-Mục đích ủng hộ ý tưởng ASEM của Trung Quốc

Có thể thấy rằng Trung Quốc hết sức coi trọng và ủng hộ tiến trình ASEM Theo quan điểm của Trung Quốc, ”ASEM là một cơ chế hợp tác liên khu vực phục vụ cho việc thiết lập một quan hệ đối tác toàn diện mới giữa Châu á và Châu Âu nhằm tăng cường đối thoại, hiểu biết và hợp tác cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và xã hội giữa hai châu lục và duy trì một thế giới hoà bình và ổn định” 22

Xét từ lợi ích quốc gia, tiến trình ASEM, một khi được thành lập sẽ có khả năng giúp Trung Quốc thu hút được nhiều hơn các nguồn lực từ các đối tác ASEM, đặc biệt là từ EU để đẩy nhanh qúa trình hiện đại hoá kinh tế của họ Điều này giải thích vì sao Trung Quốc đặc biệt coi trọng trụ cột kinh tế trong tiến trình ASEM.23

Thủ tướng Lý Bằng ngay từ Hội nghị ASEM 1 đã cho rằng ASEM nên ưu tiên đối với hợp tác kinh tế và Trung

Quốc đề nghị thiết lập hai ủy ban chuyên gia để nghiên cứu về hợp tác kinh tế và trao đổi công nghệ giữa hai khu

Trang 17

Theo cách nhìn của Trung Quốc, ASEM được coi là cơ hội quý giá để Trung Quốc tăng cường quan hệ với EU và các đối tác châu á của ASEM Châu á cũng như phát triển quan hệ mọi mặt với EU, những đối tác mậu dịch và đầu tư quan trọng của Trung Quốc

Trong những năm 60 của thế kỷ XX, khi mà quan hệ Trung- Xô xấu đi, quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Cộng đồng châu âu đã khá phát triển, chiếm tới 1/4 xuất nhập khẩu của nước này Khi diễn ra cách mạng văn hóa ở Trung Quốc, quan hệ giữa hai bên đã xấu đi nhanh chóng Phải đến năm 1972, khi Mỹ bình thường hoá quan

hệ với Trung Quốc, quan hệ giữa Cộng đồng châu Âu ( EC ) và Trung Quốc mới được cải thiện Tháng 5/1975, EC chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc Năm

1978, Hiệp định khung về thương mại toàn diện được hai bên ký kết, theo đó Cộng đồng châu Âu đã ưu tiên cho Trung Quốc được hưởng Qui chế tối huệ quốc đối với các nước không phải là thành viên của GATT Đến năm 1985, EC và Trung Quốc lại ký tiếp Hiệp

định hợp tác và thương mại

Trong giai đoạn này, Trung Quốc còn ký nhiều hiệp định song phương với các nước thành viên của Cộng đồng Kinh tế Châu Âu Đến năm 1988, Cộng đồng châu Âu đã đặt Phái đoàn Châu Âu tại Bắc Kinh, mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ giữa hai bên Tuy nhiên, sau sự kiện Thiên An Môn vào năm 1989, quan hệ giữa EC và Trung Quốc lại trở nên xấu đi EU đưa ra Luật cấm bán vũ khí cho Trung Quốc nhằm trừng phạt Bắc Kinh vì đàn áp phong trào dân chủ ở nước này Trong quan hệ mậu dịch với EU, Trung Quốc liên tục bị thua thiệt trong suốt thời gian từ 1978 tới 2002

Do vậy, với việc thành lập ASEM, Trung Quốc hy vọng tiến trình này sẽ tạo cơ hội cho Trung Quốc bày tỏ các quan điểm của mình về các vấn đề khu vực và quốc tế, qua đó giúp EU và các đối tác khác hiểu biết nhiều hơn về Trung Quốc Sự hiểu biết

được tăng cường sẽ đưa lại các lợi ích về mậu dịch và đầu tư

Tiến trình ASEM cũng sẽ giúp Bắc Kinh thúc đẩy các quan hệ hợp tác với Nhật Bản, Hàn Quốc và ASEAN Thông qua các cuộc gặp gỡ trao đổi và nhất là phối hợp hoạt

động trong ASEM, Trung Quốc hy vọng xây dựng và củng cố sự tin cậy lẫn nhau với các nước láng giềng gần gũi của mình ở châu á

Vì những lợi ích trên Trung Quốc đã xem :”ASEM là một phần trong chính sách

đối ngoại toàn phương vị của Trung Quốc Trung Quốc tham gia tiến trình ASEM trên tinh thần thực dụng, cầu đồng tồn dị, mở rộng đối thoại và thúc đẩy hợp tác để tận dụng phục vụ công cuộc cải cách của Trung Quốc, mở cửa và phát triển kinh tế”24

Không những thế, đối với Bắc Kinh, ASEM còn được nhìn nhận như một phương tiện để Trung Quốc có thể sử dụng làm đối trọng với Mỹ, chống lại chủ nghĩa bá quyền Mỹ và phục vụ cho việc tạo dựng một trật tự thế giới đa cực, trong đó một cực

sẽ do Trung Quốc nắm giữ Trung Quốc cho rằng Đông á và Châu Âu là các cực quan trọng trong việc cân bằng quyền lực Mỹ và cần phải thúc đẩy hai đối tác này theo đuổi

Trang 18

các quan hệ đối ngoại độc lập với Mỹ Trong lời phát biểu tại các hội nghị hợp tác á -

Âu, các lãnh đạo Trung Quốc luôn nhấn mạnh rằng Châu á và Châu Âu là hai lực lượng chính trong khuynh hướng đa cực hoá và sự hợp tác á - Âu có tầm quan trọng rất lớn đối với việc duy trì hoà bình ở Châu á, Châu Âu và toàn thế giới cũng như đối với sự phát triển khuynh hướng đa cực hoá chính trị

Như vậy, có thể nói đối với Trung Quốc, ASEM được đánh giá rất cao bởi tầm quan trọng và lợi ích mà tiến trình này có thể mang lại cho Trung Quốc

3.2.2- Mục đích ủng hộ ý tưởng ASEM của Nhật Bản

Trong suốt thời kỳ tái thiết sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản phụ thuộc nhiều vào Mỹ, quan hệ Nhật Bản với Cộng đồng Châu Âu trong giai đoạn đầu những năm

1960 chỉ là những cuộc đàm phán thúc đẩy thương mại trong khuôn khổ của GATT Đến năm 1969, tại La Hay hai bên đã ký kết Hiệp định Hợp tác chính trị, đồng thời cũng nhấn mạnh tiếp tục đàm phán nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế

Vào đầu những năm 1980, thị trường Châu Âu đã thực sự hấp dẫn với các nhà

đầu tư Nhật Bản Năm 1981, tổng đầu tư trực tiếp của Nhật Bản là 5,3 tỷ USD và chiếm 11,6% tổng đầu tư FDI của Nhật Bản ra nước ngoài Đến năm 1985, số lượng FDI từ Nhật Bản vào châu Âu đã tăng lên gấp đôi 11 tỷ USD và đến năm 1989 tổng

đầu tư của Nhật Bản vào châu Âu là 45 tỷ USD (1985 - 1989) với mức trung bình đầu tư hàng năm giai đoạn này vào Châu Âu là 14,8 tỷ USD

Quan hệ hợp tác giữa EC - Nhật Bản bước vào một kỷ nguyên mới vào đầu

những năm 90, khi hai bên ký Tuyên bố La Hay (tháng 7 năm 1991) Tuyên bố này

là cơ sở để EC và Nhật Bản tiếp tục hợp tác chặt chẽ trên mọi lĩnh vực như : chính sách cạnh tranh và hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp; đối thoại về chính sách vĩ mô kinh tế; hợp tác khoa học và giáo dục; giao thông vận tải và viễn thông; hợp tác trong lĩnh vực môi trường, hỗ trợ phát triển; đối thoại về các vấn đề chính trị toàn cầu

Do những lợi ích quan trọng trong quan hệ với Liên minh châu Âu, Nhật Bản

đã hoan nghênh ý tưởng về một Hội nghị cấp cao á - Âu Bởi vì ASEM sẽ là diễn đàn chung đầu tiên giữa các lãnh đạo các quốc gia ở hai châu lục trong lịch sử quan hệ á -

Âu Tại ASEM, các quốc gia từ hai châu lục, kể cả các quốc gia vốn từng có quan hệ phức tạp trong quá khứ, sẽ có cơ hội”lần đầu tiên ngồi cùng nhau để thảo luận các vấn

đề tương lai trên cơ sở bình đẳng Nó thực sự là một hội nghị có ý nghĩa lịch sử,"25 như Thủ tướng Nhật Bản Hasimôtô đã chỉ rõ trong bài phát biểu của ông tại Lễ khai mạc Hội nghị cấp cao á -Âu lần thứ nhất tổ chức tại Băng Cốc tháng 3 năm 1996

Khi ủng hộ ý tưởng ASEM, Nhật Bản mong muốn tiến trình này sẽ giúp họ đối phó hiệu quả hơn với những vấn đề an ninh, đặc biệt là các vấn đề an ninh phi truyền thống và tình hình phức tạp trên bán đảo Triều Tiên, nước láng giềng gần gũi nhất với Nhật Bản, xét từ góc độ địa lý Bởi vì, tuy là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới nhưng Nhật Bản lại bị hạn chế về sức mạnh quân sự do quy định của điều 9 Hiến pháp của họ

25

Trích phát biểu của Thủ tướng Háimôtô tại lễ khai mạc A SEM –1 Dẫn theo : Hisashi Owada, "The Japanese

view of ASEM" trên Website: http://www.asian-affairs.com

Trang 19

Nguyên nhân quan trọng thứ hai khiến Nhật Bản ủng hộ ASEM là thông qua tiến trình này, Tôkyô hy vọng củng cố và tăng cường hơn nữa quan hệ vốn có của họ với châu Âu, trong khi tiếp tục thực hiện chiến lược ngoại giao”nhập á” của mình Thật vậy, bước sang thập niên 90 thế kỷ XX, Nhật Bản đã tiến hành điều chỉnh chính sách

đối ngoại của họ từ”thoát á, nhập Âu” sang trở lại”nhập á” nhằm cải thiện hình ảnh của Nhật Bản trong khu vực, phục vụ cho mục đích trở thành”người khổng lồ về chính trị” Tuy nhiên, quan hệ với phương Tây, trong đó có EU, vẫn được Nhật Bản coi trọng Bởi vì, theo ngoại trưởng Nhật Masahiko Koumura :”Nhật Bản và EU cùng với Mỹ tạo thành ba trụ cột của cộng đồng quốc tế và đóng một vai trò thiết yếu trong thế giới với tư cách là những đối tác toàn cầu Trong bối cảnh này Nhật Bản và

EU cần thúc đẩy mối quan hệ gần gũi và hợp tác trong nhiều lĩnh vực trên tinh thần

đối thoại và hợp tác đã nêu ra trong Tuyên bố chung Nhật Bản-EU năm 1991”26 Như vậy, ASEM là cơ hội hiếm có giúp cho Nhật Bản có thể đạt được hai mục đích cùng lúc Đó là vừa tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực trong khi vẫn có thể tiếp tục đẩy mạnh quan hệ với EU

3.2.3 - Mục đích ủng hộ ý tưởng ASEM của Hàn Quốc

Có thể nói rằng những nhìn nhận và đánh giá của Hàn Quốc về tiến trình hợp tác

á- Âu tích cực hơn bất cứ quốc gia nào

Theo quan điểm của Hàn Quốc, về phương diện kinh tế, sự hình thành của Hội nghị cấp cao ASEM đã đánh dấu một bước ngoặt trong xu hướng hiện nay của kinh tế thế giới Bởi vì :

Thứ nhất, ASEM được coi như một nỗ lực để vượt qua khuynh hướng chủ nghĩa

khu vực vốn chiếm ưu thế áp đảo đặc biệt kể từ giữa những năm 80 27, thông qua việc tăng cường hợp tác liên khu vực

Thứ hai, ASEM đã cung cấp cho cả Châu á lẫn Châu Âu những cơ hội tuyệt vời

để theo đuổi lợi ích kinh tế

Thứ ba, với 10 quốc gia quan trọng nhất ở Đông á, ASEM đã cơ chế hoá hiệu

quả Hội nghị kinh tế Đông á (EAEC) thành một khuôn khổ cho việc hội nhập kinh tế châu á

Về phương diện chính trị, việc hình thành ASEM cũng có những ý nghĩa hết sức

quan trọng Trước hết, ASEM là một cơ chế hợp tác liên chính phủ đầu tiên trong lịch sử quan hệ giữa hai châu lục á - Âu Thứ hai, ASEM là khuôn khổ hợp tác liên khu vực và

liên chính phủ đầu tiên trong đó Mỹ với tư cách là siêu cường duy nhất của kỷ nguyên

Hậu chiến tranh lạnh đã không tham gia Thứ ba, cũng như Trung Quốc và nhiều đối tác

khác, Hàn Quốc coi ASEM như là ”mắt xích còn thiếu” để nối kết quan hệ giữa châu á

và châu Âu, tạo ra một quan hệ liên châu lục phát triển mạnh mẽ cả về lượng và chất

26

“EU-Japan: Global partnership for the XXI century” trên Website: http://www.jmission-eu.be

27

Vào giữa những năm 80 thế giới chứng kiến hai động thái quan trọng tiến tới chủ nghĩa khu vực mạnh hơn Một

là việc EU đưa ra chương trình Thị trường chung Châu Âu (SEM) mà đã bị các đối tác thương mại chính chỉ trích như là một công cụ để xây dựng cái gọi là “pháo đài Châu Âu” Và hai là việc Mỹ bắt đầu ký kết các hiệp định mậu dịch tự do với các đối tác thương mại của mình, FTA giữa Mĩ và Israel là một ví dụ

Trang 20

Riêng đối với Hàn Quốc, ASEM là diễn đàn quan trọng để khẳng định chính sách

đối ngoại và chính sách Liên Triều của mình cũng như để xem xét những đề nghị của các quốc gia khác vì sự phát triển chung của nhân loại28 Có thể thấy mối quan tâm lớn nhất của Hàn Quốc khi ủng hộ ý tưởng ASEM là vai trò có thể của tiến trình này đối với việc thúc đẩy quan hệ Liên Triều và vấn đề hoà bình trên bán đảo Triều Tiên Sự ủng hộ quốc tế sẽ có vai trò rất lớn trong việc tạo thuận lợi cho Hàn Quốc trong quá trình giải quyết các vấn đề của bán đảo Triều Tiên, từ đó nâng cao vị thế của Xơ un trong khu vực

Về phương diện quan hệ đối ngoại, Hàn Quốc cho rằng ASEM là nơi tạo cơ hội

”vô giá” cho Hàn Quốc củng cố và mở rộng quan hệ với các đối tác trong và ngoài khu vực Về các đối tác trong khu vực, ngoài các quốc gia ASEAN, đối tác quan trọng mà Hàn Quốc muốn phát triển quan hệ là Nhật Bản, một đối tác lớn nhưng do những rào cản về quá khứ 29 nên Xơ un vẫn chưa thực sự tranh thủ khai thác hết được Thông qua các Hội nghị cấp cao ASEM và các cuộc tiếp xúc song phương, tiến hành bên lề các hội nghị đó, lãnh đạo hai nước sẽ có cơ hội tháo gỡ những vướng mắc và tìm kiếm các biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai bên Hàn Quốc mong muốn việc tăng cường quan hệ với nước láng giềng Nhật Bản không chỉ đem lại lợi ích kinh tế to lớn mà còn giúp Hàn Quốc giải quyết vấn đề bán đảo Triều Tiên nhằm đảm bảo hoà bình trong khu vực

Thông qua ASEM, Hàn Quốc cũng hy vọng phát triển hơn nữa quan hệ của họ với EU và các nước thành viên của Liên minh châu Âu.Trong quan điểm của Hàn Quốc,

” Liên minh Châu Âu EU là đối tác hợp tác quan trọng và thiết yếu của Hàn Quốc”30 Hiện nay, EU đang là nhà đầu tư số một và đối tác thương mại lớn thứ ba của Hàn Quốc với khối lượng mậu dịch song phương đạt tới 44 tỷ USD31 nhưng”khoảng trống cho việc

mở rộng mậu dịch và đầu tư giữa Hàn Quốc và EU là vô hạn”

Ngoài những lợi ích kinh tế to lớn mà Xơ Un kỳ vọng từ việc phát triển quan hệ với Liên minh Châu Âu, Hàn Quốc còn muốn sử dụng quan hệ đó để giảm dần sự phụ thuộc vào Mỹ Điều này đã được chính Tổng thống Kim Dae Jung khẳng định trong phát biểu trước Nghị viện Châu Âu :” Chúng ta (Hàn Quốc và EU) phải giảm mức độ phụ thuộc vào Mỹ về xuất khẩu cũng như cần phải thúc đẩy cầu nội địa”, ”Hàn Quốc đang

mở rộng cửa cho các thành viên EU và chúng tôi muốn được phát triển giống như EU

Do vậy tôi hy vọng rằng EU và Hàn Quốc sẽ tiếp tục mở rộng quan hệ đối tác hợp tác của mình trong các thị trường khổng lồ của Đông á, bao gồm Nhật Bản và Trung Quốc Chúng ta sẽ” cùng đạt được thắng lợi”32

3.3- Mục đích ủng hộ ý tưởng ASEM của Liên minh châu Âu ( EU)

ý tưởng tổ chức một Hội nghị cấp cao á - Âu của Thủ tướng Xingapo đã nhận

được sự ủng hộ nhiệt tình của Tổng thống Pháp và các nhà lãnh đạo chủ chốt khác của Liên minh châu âu khi ông tới đây để vận động cho sáng kiến của mình Bởi vì, ý tưởng

"Korea's Major Security Issues and Korea-EU Cooperation" trên Website: http://www.mofat.go.kr

32 “ASEM leaders produce huge business deals” trênn Website: http://www.kn.koreaherald.co.kr

Trang 21

đó phù hợp với Chính sách đối ngoại mới của Liên minh châu Âu nói chung, chính sách

đối với châu á nói riêng

Thật vậy, trong trật tự thế giới hai cực của thời kỳ chiến tranh lạnh, vai trò và vị trí của Cộng đồng châu Âu ( EC ) trong nền chính trị quốc tế còn khá mờ nhạt Về phương diện an ninh, EC phụ thuộc vào Khối Bắc Đại Tây dương,

trong đó Hoa kỳ nắm vai trò lãnh đạo Mặc dù phải dựa vào

Mỹ về an ninh và phát triển kinh tế, các nhà lãnh đạo EC vẫn luôn luôn ấp ủ tham vọng giành lại vị thế lãnh đạo thế giới

đã mất của châu Âu, từ sau Đại chiến thế giới thứ hai tới nay

Với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên xô và Đông Âu, trật tự thế giới hai cực

đã tan vỡ Nước Nga, người thừa kế của Liên xô trước đây, đang lâm vào tình trạng suy yếu, không còn là mối đe doạ đối với an ninh của Cộng đồng châu Âu Sự có mặt về quân sự của Mỹ ở Tây Âu đã trở nên không thật cần thiết nữa Sau nhiều thập kỷ không phải tiêu phí các nguồn lực cho chiến tranh, xung đột và được sự giúp đỡ của Mỹ, EU

đã vươn lên trở thành một khối kinh tế hùng mạnh trên thế giới Khi sức mạnh kinh tế

đã tăng lên và mối đe doạ về an ninh từ phía Đông không còn nữa, các nhà lãnh đạo châu Âu nhận thấy rằng cơ hội đã tới để EC khôi phục lại vị thế trước đây của châu Âu trong nền chính trị thế giới Việc thống nhất nước Đức vào ngày 3 /10/1990 càng hỗ trợ cho quyết tâm trên Để thực hiện quyết tâm đó, ngày 7 / 2/ 1992, tại Hội nghị cấp cao

EC họp ở Maastricht, các nhà lãnh đạo Cộng đồng châu Âu đã ký Hiệp ước Maastricht

để thành lập Liên minh châu Âu ( EU ) Mục đích ra đời của EU là:

Thứ nhất, thúc đẩy tiến bộ kinh tế xã hội cân bằng và bền vững, đặc biệt thông

qua việc tạo ra một khu vực phi biên giới bên trong EU , thông qua việc tăng cường sự gắn kết về kinh tế và xã hội và thông qua việc thiết lập một Liên minh kinh tế và tiền tệ,

kể cả một đồng tiền chung.”( Điều B )

Thứ hai, khẳng định bản sắc của EU trên trường quốc tế, đặc biệt thông qua việc

thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung, bao gồm cả mục tiêu cuối cùng là xây dựng một chính sách phòng thủ chung ( Điều B và J )

Thứ ba, tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích của công dân các nhà nước thành viên

bằng việc thực hiện quyền công dân của Liên minh.( Điều B )

Thứ tư, phát triển sự hợp tác chặt chẽ trong các vấn đề liên quan tới tư pháp và

nội vụ ( Điều B và K )33

Sau khi được các nhà nước thành viên phê chuẩn, ngày 1 /1/1993, Liên minh châu

Âu đã chính thức được thành lập, với ba trụ cột :

- Cộng đồng châu Âu ( với Liên minh thuế quan, Thị trường chung, Chính sách nông nghiệp chung, Chính sách cơ cấu và Liên minh kinh tế, tiền tệ)

- Chính sách đối ngoại và An ninh chung

Trang 22

Sự ra đời của Liên minh châu Âu đã nâng cao vai trò và vị thế của Tây Âu trong nền chính trị và kinh tế quốc tế, tạo cơ sở vật chất và tinh thần cho các nhà lãnh đạo châu

Âu thực hiện tham vọng giành lại quyền lãnh đạo thế giới hay ít nhất là chia sẻ với Mỹ quyền lãnh đạo đó

Thực hiện tham vọng trên, một mặt EU nỗ lực đẩy nhanh quá trình hiện thực hoá các mục tiêu hội nhập kinh tế, nhất là xây dựng Thị trường châu Âu thống nhất ( ESM), Liên minh kinh tế và tiền tệ, mặt khác, tích cực tìm kiếm các biện pháp nhằm tăng cường

sự hiện diện về chính trị và kinh tế của châu Âu ở khắp nơi trên thế giới Nhằm mục đích này, năm 1993, EU đã ký “Hiệp định về Khuôn khổ hợp tác” với Trung Mỹ; tháng 11 năm 1995, Quan hệ đối tác châu Âu - Đại Trung hải ( hay còn gọi là tiến trình

Bácxêlôna ) được xây dựng

Đối với châu á, chính sách của EU cũng thay đổi Sự thay đổi trong chính sách châu á của EU một mặt là do sự thay đổi tổng thể trong chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu, mặt khác do chính những biến đổi đang diễn ra ở châu á Thật vậy, ”Sự trỗi dậy của châu á đang làm thay đổi một cách sâu sắc sự cân bằng của thế giới về sức mạnh kinh tế Vào năm 2000, theo ước tính của Ngân hàng thế giới, một nửa sự tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu sẽ đến từ Đông á và Đông Nam á Sự tăng trưởng này

sẽ đảm bảo rằng vào năm 2000, một tỷ người châu á sẽ có sức tiêu dùng lớn, trong số

đó, sẽ có 400 triệu người sẽ có mức thu nhập trung bình cao, nếu không nói là cao hơn những người châu âu hoặc Mỹ cùng thời với họ.”34

Khi sức mạnh kinh tế của châu á tăng lên trong nền kinh tế toàn cầu, “không tránh khỏi tạo nên sức ép ngày càng tăng về một vai trò lớn hơn trong các công việc thế giới35 Nói về ý nghĩa của sự vươn lên của châu á đối với lịch sử nhân loại, Bộ trưởng Ngoại giao Hà lan Hans van Mierlo nhấn mạnh:”Thế kỷ 17 là thời kỳ vàng của chúng ta Ngày nay, nhiều người tin rằng thế kỷ XXI sẽ là thời kỳ vàng cuả châu á Thế kỷ này

được xem như sự kết thúc của một kỷ nguyên dài trong đó các vấn đề toàn cầu bị thống trị bởi các cường quốc châu Âu Có thể sự thăng tiến ngoạn mục của châu á sẽ được xem là một trong những thay đổi quan trọng nhất trong các công việc của thế giới”36

Tuy nhiên những biến đổi của một châu á mới không chỉ có vậy Trong khi châu

Âu đang bận rộn với những công việc nội bộ của mình37, các nước lớn khác, đã sớm

34

Towards a New Asia Strategy “ Commission of the European Communities; Brussels 13 -07- 1994 P 1 Tài liệu

do Uỷ ban châu Âu cung cấp ,

1993, EU đưa ra các tiêu chuẩn hội nhập Copenhaghen cho các nước Trung Đông Âu và tích cực thúc đẩy quá trình mở rộng sang phía Đông, lần mở rộng lớn nhất trong lịch sử của EU Rõ ràng là sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, EU đã cố gắng tận dụng thời cơ để củng cố vị trí của mình ngay tại châu Âu bằng

Trang 23

nhận ra những cơ hội mà một châu á mới có thể tạo ra cho họ Vì thế, họ tìm cách tăng cường ảnh hưởng và quyền lợi của họ ở châu á “ Trong số các cường quốc trên, ảnh hưởng của Mỹ chiếm ưu thế Theo đánh giá của Uỷ ban châu âu,”Từ quan điểm an ninh, Mỹ vẫn còn là tác nhân chủ chốt trong khu vực và tình hình hiện nay được đặc trưng bằng màng lưới các thoả thuận an ninh song phương với một số nước châu á Vào thời điểm hiện nay, không một nước châu á hoặc một cường quốc ngoài khu vực nào có thể thách thức vai trò của Mỹ”

Không thoả mãn với ưu thế về chính trị và an ninh trong khu vực , Hoa kỳ đang

cố gắng tăng cường các lợi ích kinh tế ở vùng này.”Hoa kỳ đang trong quá trình phát triển quan hệ mạnh mẽ với châu á Trong thời gian chiến tranh lạnh, Hoa kỳ đã sẵn sàng

đặt lợi ích kinh tế dưới mục đích ngăn chặn, nay họ đang tập trung ngày càng nhiều vào khía cạnh kinh tế của mối quan hệ Dấu hiệu rõ nữa về một sự chuyển hướng như vậy trong chính sách của Mỹ là quyết định gần đây về việc gia hạn quy chế tối huệ quốc (với một vài loại trừ) cho hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc Như vậy, Hoa kỳ đã dỡ bỏ việc gắn thương mại với nhân quyền Sự chuyển hướng này có thể xem như một động thái hướng tới một chiến lược dài hạn hơn nhằm tác động vào sự phát triển ở Trung Quốc bằng cách hội nhập hơn nữa Trung Quốc vào các quan hệ mậu dịch và kinh tế thế giới”38 Nhằm tăng cường hơn nữa ảnh hưởng và quyền lợi ở châu á, ngay từ năm 1989,

Mỹ đã cùng với úc, Niu Dilân, Canađa và một số đối tác khác, thành lập diễn đàn Hợp tác châu á - Thái Bình Dương Hội nghị cấp cao APEC lần thứ nhất họp ở Canbêra đã quy tụ các nhà lãnh đạo nhà nước và chính phủ 12 nước châu á - Thái Bình Dương, bao gồm Tổng thống Mỹ, các Thủ tướng Canađa, Nhật Bản, úc Niu Dilân, Tổng thống Hàn Quốc và 6 nguyên thủ các nước ASEAN Đây là lần đầu tiên, trong lịch sử ngoại giao của EC trước đây và EU ngày nay, Liên minh châu Âu không được mời tham gia một hội nghị tầm cỡ như vậy Trong quá trình phát triển của nó, APEC đã kết nạp thêm 6 thành viên nữa, trong đó có những thành viên rất quan trọng như Trung Quốc và Nga Tại Hội nghị APEC họp ở Băng Cốc năm 1992, APEC đã bước đầu được thể chế hoá với việc thành lập Thư ký thường trực đặt trụ sở tại Xingapo Bắt đầu từ Hội nghị Xiatơn, 1993, Hội nghị cấp cao APEC đã được triệu tập hàng năm Dưới sự chủ trì của Tổng thống Mỹ Bin Clintơn, APEC đã thông qua tầm nhìn, phê chuẩn Khuôn khổ Mậu dịch và đầu tư, thiết lập Diễn đàn kinh doanh Thái Bình Dương và dự kiến triệu tập Hội nghị các Bộ trưởng tài chính APEC Hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương đã có bước đột phá tại Hội nghị cấp cao APEC họp tại Bôgo, Inđônêxia năm 1994 với việc Tuyên bố thành lập Khu mậu dịch tự do APEC vào năm 2010 với các nứơc phát triển và vào 2020 với các nước đang phát triển Hội nghị cũng thiết lập 3 trụ cột hợp tác là: 1) Tự

do hoá mậu dịch và đầu tư ; 2) tạo thuận lợi mậu dịch và đầu tư ;3) hợp tác kinh tế và công nghệ

chiến lược tăng cường liên kết với các nước Trung, Đông Âu và chính sách hợp tác toàn diện với các nước trong

Cộng đồng các quốc gia độc lập Vì những lí do trên, EU chưa có sự quan tâm đúng mức tới quan hệ với châu á, một khu vực phát triển hết sức năng động trong giai đoạn này

38

Towards a New Asia Strategy “ Commission of the European Communities; Brussels 13 -07- 1994 tài liệu đa

dẫn P.8

Trang 24

Để được có mặt ở Hội nghị cấp cao APEC, EU đã nhiều lần tỏ ý muốn gia nhập Diễn đàn này, nhưng đều bị từ chối với lý do họ không thuộc châu á - Thái Bình Dương Trong bối cảnh đó, nếu tiếp tục chính sách châu á cũ, Liên minh châu Âu có để ”lỡ mất chuyến tàu châu á” mà nhiều cường quốc khác đã giành được chỗ từ lâu

Với nhận thức như vậy, ngày 13/ 7/ 1994, uỷ ban châu âu đã trình lên Hội đồng châu âu một văn kiện quan trọng nhan đề : “Hướng tới một chiến lược châu á mới (Towards a New Asia Strategy – NAS ”39

Mục đích được EU theo đuổi khi đề ra NAS là:

- Tăng cường sự có mặt về kinh tế ở châu á nhằm duy trì vai trò lãnh đạo của Liên minh trong nền kinh tế thế giới

- Đóng góp vào sự ổn định ở châu á bằng cách thúc đẩy hợp tác quốc tế và sự hiểu biết ;

- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế của những nước và khu vực kém thịnh vượng ở châu á

Để đạt được những mục đích này, trong Chiến lược châu á mới Liên minh châu

âu đã đề ra các ưu tiên :

- Tiếp tục tăng cường các quan hệ song phương của Liên minh với từng nước và khu vực;

- Tăng cường sự hiện diện của EU ở châu á;

- ủng hộ những hợp tác khu vực và tiểu khu vực nhằm tăng cường hoà bình và an ninh trong khu vực;

- Tăng cường các mối liên kết với các nước châu á trong các diễn đàn đa phương

và khuyến khích sự tham gia hơn nữa của châu á vào các tổ chức đa phương nhằm tăng cường hoà bình và an ninh quốc tế

- Đảm bảo mở cửa thị trường và môi trường kinh doanh không phân biệt đối xử, thuận lợi cho việc mở rộng thương mại và đầu tư Âu - á

- Khuyến khích những nền kinh tế chuyển đổi mở cửa liên kết vào thị trường tự do;

- Đóng góp vào sự phát triển bền vững và giảm đói nghèo ở các nước kém phát triển nhất ở châu á

Để triển khai Chiến lược châu á mới, Liên minh châu âu dự định tiếp tục sử dụng các công cụ như : các quan hệ song phương, quan hệ đa phương, chính sách thương mại, viện trợ phát triển và các công cụ chính sách khác

Trong bối cảnh như vậy, việc Xingapo đề xuất ý tưởng triệu tập một hội nghị cấp cao á - Âu là phù hợp với lợi ích của Liên minh châu Âu Bởi vì, ASEM sẽ cung cấp cho EU một công cụ nữa để triển khai NAS của họ

Ngoài ra, việc Liên minh châu Âu ủng hộ ý tưởng ASEM của Xingapo còn xuất phát từ sự cần thiết kết nối Tây Âu với Đông á Sự kết nối này tạo điều kiện cho châu Âu cân bằng với Mỹ về ảnh hưởng và quyền lợi ở châu á, trước hết là Đông á

39

5 tháng sau khi được trình cho Hội đồng châu âu, NAS đã được Hội đồng thông qua vào tháng 12, 1994 và

được Nghị viện châu âu phê chuẩn vào năm 1995.

Trang 25

Tại ASEM, “ Người châu Âu hy vọng đối thoại làm tăng mối liên kết kinh tế và tạo điều kiện cho châu Âu đuổi kịp Mỹ và Nhật bản ở châu á.”40

Nguyên nhân thứ ba khiến EU ủng hộ sáng kiến ASEM của Xingapo xuất phát từ nhận thức của EU về sự cần thiết thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm đối phó với những vấn

đề toàn cầu, vốn đang trở nên ngày càng nghiêm trọng dưới tác động của quá trình toàn cầu hoá

Toàn cầu hoá, theo quan điểm của châu Âu, làm tăng sự tuỳ thuộc lẫn nhau và hội nhập giữa các quốc gia, các khu vực “Hàng hoá, dịch vụ, tri thức của con người đã trở nên biến đổi rất nhanh ; liên lạc có thể tiến hành một cách tức thời ; thế giới tiếp tục bị

co ngắn lại ; các cuộc tiếp xúc cuả con người trở nên vô cùng dễ dàng hơn trước ; sự di cư đã trở thành một hiện tượng ồ ạt, toàn cầu, đồng thời cũng gây nên những phiền toái nào đó ”41

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, toàn cầu hoá đã làm trầm trọng hơn những vấn

đề toàn cầu “Các vấn đề như sự xuống cấp của môi trường, thay đổi khí hậu, sự quá tải

về dân số, phổ biến vũ khí thông thường và vũ khí hạt nhân không thể được giải quyết trong sự biệt lập” Do vậy, “tăng cường hợp tác quốc tế và đoàn kết hơn nữa là những tiền đề của sự thành công của những cố gắng để chống lại những mối đe doạ này và những mối đe doạ khác”42.Với nhận thức như vậy, EU hy vọng rằng quan hệ đối tác giữa châu Âu và châu á, sẽ tạo cơ hội cho hai bên thảo luận và hợp tác nhằm giải quyết các vấn đề trên

Do những lợi ích nhiều mặt mà ASEM có thể đưa lại cho EU và cho thế giới, các nhà lãnh đạo một số nước thành viên chủ chốt của EU đã hoan nghênh sáng kiến của ASEAN Tổng thống Frăngxoa Mitơrăng của Pháp đã tán thành đề nghị triệu tập hội nghị cao cấp á - âu khi Thủ tướng Gô Chốc Tông, với tư cách là nước Điều phối quan

hệ ASEAN - EU, nêu đề nghị này với ông Sau khi trở thành Tổng thống Pháp, ông Giắc Sirắc cũng tiếp tục ủng hộ ý tưởng trên Về phần mình, Thủ tướng Đức Hen Mútcôn đã cổ vũ cho hợp tác Âu- á, khi ông tiến hành các chuyến viếng thăm tới Trung Quốc, Nhật Bản, Xingapo và Việt nam vào cuối năm 1995.43 Bởi vì chính Đức đã là một trong những nước châu âu đầu tiên lên tiếng về sự cần thiết phải thay đổi chính sách với châu á Còn Thủ tướng Hà Lan thì bày tỏ hy vọng Hội nghị cấp cao á -Âu sắp được triệu tập tại Băng Cốc ”sẽ dẫn tới một cuộc đối thoại tăng cường và các quan hệ chặt chẽ hơn giữa hai châu lục chúng ta” và ”sẽ đóng góp vào một cấu trúc chính trị, kinh tế tam giác cho thế kỷ mới ”44

Trang 26

Thứ nhất, trong môi trường thế giới hoà bình ở thời kỳ Hậu chiến tranh lạnh và

dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ, quá trình toàn cầu hoá và khu vực diễn ra rất mạnh mẽ Một trong những kết quả của sự kết hợp giữa các quá trình trên là

sự xuất hiện và ngày càng phát triển của bộ ba kinh tế Tây Âu, Bắc Mỹ và Đông á Bộ

ba này tạo thành ba cực của nền kinh tế thế giới Trong khi Tây Âu và Bắc Mỹ, Bắc Mỹ

và Đông á đã được kết nói với nhau thông qua Chương trình nghị sự xuyên Đại Tây Dương và APEC, tam giác kinh tế toàn cầu còn thiếu cạnh Tây Âu và Đông á Thủ tướng Gô Chốc Tông là người đầu tiên nhận ra sự thiếu vắng này

Thứ hai, mặc dù ASEM là sáng kiến của Xingapo, được đề xuât trước hết nhằm

mục đích nâng cao vị thế của Xingapo trong khu vực và quốc tế, nhưng nó đã đáp ứng

được lợi ích của ASEAN, các nước Đông Bắc á và Liên minh châu Âu Vì vậy, ý tưởng này đã nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của tất cả các đối tác trên

Thứ ba, những lợi ích mà các đối tác tương lai của ASEM theo đuổi là một bộ các

lợi ích ở ba cấp độ : quốc gia, khu vực và toàn cầu Những lợi ích đó không chỉ là các lợi ích kinh tế, chính trị mà cả các lợi ích phát triển

Chương II

Tiến trình hợp tác á - Âu : Quá trình thành lập và phát triển

I- Quá trình thành lập Tiến trình hợp tác á - Âu ( ASEM )

1- Hội nghị cấp cao á- Âu lần thứ nhất (ASEM - 1) và Sự ra đời của Tiến trình

ASEM

Được sự ủng hộ nhiệt tình của các nhà lãnh đạo ASEAN, Đông Bắc á và EU, tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN họp ở Brunây tháng 7/ 1995, các quan chức cao cấp đại diện cho châu á và châu âu đã làm việc cùng nhau để vạch ra một kế hoạch cụ thể cho Hội nghị cấp cao á - Âu Hai bên đã đi tới thoả thuận về một số vấn đề sau:

- ASEM sẽ là một hội nghị không chính thức ở cấp cao nhất giữa các nhà lãnh đạo châu á và châu Âu và sẽ không có một chương trình nghị sự định sẵn;

- ASEM sẽ cố gắng xây dựng một sự hiểu biết chung giữa hai khu vực;

- Hội nghị ASEM đầu tiên ở Băng Cốc sẽ có sự tham dự của những người đứng đầu nhà nước và chính phủ 7 nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cùng 15 nước thành viên châu Âu và Chủ tịch Uỷ ban châu âu

Sau đó, nhiều cuộc hội nghị khác nhau đã được triệu tập tại mỗi khu vực hoặc giữa hai khu vực ý tưởng ASEM đã được sự ủng hộ mạnh mẽ của Hội nghị cấp cao ASEAN họp ở Băng Cốc và Hội nghị cấp cao EU họp ở Mađơrít (12/ 1995)

1- Diễn biến và các kết qủa của ASEM - 1

Các hoạt động chuẩn bị cho Hội nghị cũng được cả ASEAN và EU tích cực triển khai Kết quả của những nỗ lực đó là Hội nghị cấp cao á - Âu lần thứ nhất ( ASEM- 1 )

đã được chính thức khai mạc tại Trung tâm Hội nghị quốc gia mang tên Hoàng hậu

Sirikít ở Băng Cốc ngày 1 tháng 3 năm 1996 Dưới chủ đề : ”Xây dựng quan hệ đối tác

mới toàn diện á - Âu vì sự phát triển mạnh mẽ hơn”, ASEM - 1 đã thu hút sự tham gia

Trang 27

của các nhà lãnh đạo 25 quốc gia bao gồm 10 nước châu á ( Việt Nam, Thái Lan, Malaixia, Philippin, Xingapo, Inđônêxia, Brunây, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc)

và 15 nước thành viên Liên minh châu âu - EU ( Pháp, Đức, áo, Anh, ý, Bỉ, Hà Lan,

Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển, Lúcxembua, Hy Lạp, Ailen, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha) và Chủ tịch Uỷ ban châu âu

Trong Diễn văn khai mạc, Thủ tướng Thái Lan, đồng thời là Chủ tịch đầu tiên của ASEM đã nêu bật ý nghĩa của Hội nghị: ”Trước đó, chưa bao giờ có một cuộc tập hợp rộng lớn như vậy giữa các nhà lãnh đạo châu âu và châu á trên đất châu á trên cơ sở thoả thuận chung Chúng ta tập trung ở đây với một mục đích chung là: Tạo ra một mối

quan hệ mới năng động và lập ra một Quan hệ đối tác mới giữa châu âu và châu á ” 45 Hợp tác á- âu, theo quan điểm của các nước châu á, được nhằm vào các mục

đích : thúc đẩy giải trừ quân bị, kể cả việc cấm phổ biến và đi tới cấm hẳn vũ khí hạt nhân, vũ khí sinh học và vũ khí hoá học; hợp tác trong việc cải cách Liên Hợp Quốc, cả

về cơ cấu, tài chính và dân chủ hoá tổ chức này; tăng cường và mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực khác như quyền con người, kiểm soát ma tuý, chống rửa tiền và khủng bố quốc tế

Để hợp tác có kết quả, Thủ tướng Thái Lan nhấn mạnh rằng hội nghị phải liên kết

châu á với châu âu ” theo tinh thần đối tác bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.”46 Châu á

và châu âu cần suy nghĩ lại cách tiếp cận về nhau Bởi vì, “ Hai khu vực chúng ta đã đi theo các con đường phát triển hoàn toàn khác nhau Tương tự như vậy, mỗi khu vực đã sản sinh ra các giá trị và chuẩn mực văn hoá phù hợp với hoàn cảnh riêng của chúng ta.”47 Do đó, ” trong việc phát triển một quan hệ đối tác chặt chẽ, chúng ta cần học để

đánh giá đúng những sức mạnh và điểm yếu của nhau Chúng ta phải phát triển các thái

độ giúp nuôi dưỡng sự hiểu biết về các nhận thức và giá trị của nhau Thông qua đối thoại, chúng ta có thể tìm những cơ sở chung và xây dựng trên đó một quan hệ đối tác

á- Âu toàn diện mới vì sự phát triển lớn hơn”.48 Tiếp đó,Thủ tướng Banharn đưa ra một

số gợi ý hợp tác cụ thể trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, văn hoá và khoa học kỹ thuật

Thay mặt Liên minh châu âu, Thủ tướng ý, Lamberto Dini trên cương vị Chủ tịch Hội đồng châu âu, trong Diễn văn tại lễ khai mạc ASEM, cũng nhấn mạnh tới tầm quan trọng của hợp tác á - âu ông nói :” Chúng ta đang sống trong một thế giới, nơi mà chúng ta chỉ có thể kiểm soát các sự kiện nếu chúng ta có khả năng đạt tới một mức độ hợp tác cao Điều đó, tất nhiên, bao hàm cả chính trị và kinh tế.”49

Phản ứng tích cực trước đề nghị xây dựng quan hệ đối tác mới giữa châu á và châu

âu, ông Lamberto cho rằng: ” Quan hệ đối tác phải bao hàm trước hết việc mở ra một

Speech at the opening Session of Thai PM ,1 March Bangkok, ASEM 1 Xem : http://asem.inter.net.th

13 Speech at the opening Session of Italian PM, 1 March Bangkok, ASEM 1 Xem : http://asem.inter.net.th

Trang 28

viễn cảnh lâu dài cho đối thoại và cộng tác trong tất cả các lĩnh vực thuộc lợi ích chung,

đặc biệt là những vấn đề mà ngày nay được gọi là một phản ứng tập thể ”50

Trong Diễn văn của mình, ông cũng lưu ý rằng châu á và châu âu cần phải tìm

kiếm một sự cân bằng quan hệ á - âu với quan hệ riêng của mỗi khu vực đối với các tổ

chức khác Phải làm cho quan hệ á - âu ngang bằng với các quan hệ trong APEC cũng

như với đối thoại châu Âu - Đại Tây Dương Như vậy, sẽ giúp bổ sung một cạnh tam

giác trong tam giác kinh tế Tây âu - Bắc mỹ và Đông á Vì mục đích đó, Thủ tướng ý

đề nghị đối thoại á - âu phải là một tiến trình mở cho sự tham gia cuả các nước khác

trong tương lai

Đề cập tới khả năng hợp tác kinh tế giữa hai châu lục, ông cho rằng châu âu có

truyền thống công nghiệp lâu dài và có những khả năng của một nền kinh tế tiên tiến,

châu á tăng trưởng nhanh và tiến bộ lớn về công nghệ Do đó, hai bên có thể hợp tác với

nhau trên cơ sở khu vực, phù hợp với các hệ thống đã được thiết lập trong khuôn khổ của

WTO

Để hợp tác có hiệu quả, Thủ tướng ý kêu gọi: ” Trước thềm thiên niên kỷ thứ ba,

chúng ta phải thống nhất hơn Những hiểu lầm vốn làm tổn hại quan hệ của chúng ta

trong quá khứ, phải được khắc phục, thông qua sự hiểu biết nhiều hơn về văn hoá và các

giá trị, vốn là cơ sở cho những hiểu lầm đó.”51 Phát biểu với tư cách đại diện cho Uỷ ban châu Âu, ông Giắccơ Santê, Chủ tịch Uỷ

ban châu âu cũng đã đưa ra một số gợi ý về hợp tác giữa hai châu lục Theo ông, hợp

tác á - âu cần nhằm vào các mục tiêu như : làm cho hệ thống mậu dịch đa phương vận

hành một cách trôi chảy; nâng cao vị trí cuả hai khu vực trong một số ngành công nghệ

cao; xây dựng xã hội thông tin làm cho nó có lợi cho tất cả các dân tộc; phát triển những

chính sách chung để phát triển bền vững; giảm nghèo khổ; đối thoại về văn hoá để học

tập lẫn nhau

Sau 2 ngày thảo luận thẳng thắn và hiểu biết lẫn nhau, trên tinh thần, ” xây dựng

những lĩnh vực có chung lợi ích và dừng lại ở những chỗ bất đồng ”, Hội nghị cấp cao á-

Âu lần thứ nhất đã thu được những kết quả quan trọng Trong Tuyên bố của Chủ tịch

ASEM được công bố tại Băng Cốc ngày 2 tháng 3/ 1996, Thủ tướng Thái lan Banharn

Silpa- Archa đã thông báo các kết quả chính của ASEM -1 là :

Thứ nhất, Hội nghị đã quyết định thiết lập một ”Quan hệ đối tác mới toàn diện á -

Âu vì sự phát triển mạnh mẽ hơn” Mục đích của Quan hệ đối tác đó là “ tăng cường

quan hệ á - âu, qua đó đóng góp vào hoà bình, ổn định toàn cầu và thịnh vượng.”52

Ngoài ra, quan hệ đối tác á- âu còn nhằm mục đích chia sẻ trách nhiệm trong việc xây

dựng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc ở hai khu vực Những cuộc đối thoại trên cơ

sở bình đẳng, theo tinh thần hợp tác và thông qua sự chia sẻ nhận thức về hàng loạt vấn

Trang 29

đề, sẽ đóng góp vào việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và vào lợi ích cuả cả châu á

đối thoại chính trị đó cần được tiến hành ”trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, thúc

đẩy các quyền cơ bản và phù hợp với các nguyên tắc pháp luật và nghĩa vụ quốc tế,

không can thiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp vào công việc của nhau” 54

Để thúc đẩy đối thoại chính trị, Tuyên bố của Chủ tịch nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc tăng cường các diễn đàn đối thoại hiện có giữa châu á và châu âu như các đối thoại song phương giữa các nước châu á và các thành viên EU, các đối thoại đa phương trong khuôn khổ ARF, các Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng ASEAN( PMC ) Tuyên bố của Chủ tịch ASEM - 1 cũng khẳng định lại các cam kết của các nhà lãnh đạo ASEM đối với Hiến chương Liên Hợp Quốc, các Tuyên bố quốc tế quan trọng như Tuyên bố thế giới 1986 về Quyền con người, Tuyên bố về quyền phát triển; Tuyên

bố Rio 1992 về Môi trường và Phát triển; Tuyên bố Vienna 1993 và Chương trình hành

động của Hội nghị thế giới về quyền con người

Ngoài ra, các nhà lãnh đạo ASEM còn cam kết hợp tác để thúc đẩy cải cách Liên Hợp Quốc một cách hiệu quả và nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc tăng cường các sáng kiến toàn cầu nhằm kiểm soát và giải trừ quân bị, không phổ biến vũ khí giết người hàng loạt và việc sớm ký kết Hiệp ước cấm thử toàn diện vào năm 1996, không phổ biến và cấm vũ khí hoá học

Trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, sau khi phân tích những tiềm năng kinh tế của châu

á và châu Âu, Tuyên bố của Chủ tịch ASEM - 1 chỉ rõ: ”Các cơ hội đang tồn tại cho cả hai khu vực để mở rộng thị trường cho hàng hoá, thiết bị tư bản, các dự án phát triển thượng tầng và để tăng cường các dòng chảy kỹ năng và công nghệ”55

Để thúc đẩy hợp tác kinh tế, Hội nghị đã bày tỏ quyết tâm tăng cường buôn bán

đầu tư hai chiều giữa châu á và châu Âu Quan hệ đối tác kinh tế á - Âu sẽ được xây dựng trên cơ sở những cam kết chung đối với kinh tế thị trường, hệ thống thương mại đa phương, tự do không phân biệt đối xử và chủ nghĩa khu vực mở Hội nghị cũng nhấn mạnh rằng bất kỳ sự hợp tác và hội nhập khu vực nào cũng cần phù hợp với WTO và hướng ra bên ngoài

Nhằm mở rộng thương mại và đầu tư, ASEM –1 đã thoả thuận xúc tiến các biện pháp tạo thuận lợi và tự do hoá như : đơn giản hoá và cải thiện các thủ tục thuế quan và hài hoà tiêu chuẩn; giảm bớt các hàng rào thuế quan để tránh bóp méo thương mại và tạo

điều kiện thuận lợi hơn cho sự tiếp cận thị trường và khuyến khích đầu tư giữa châu á và châu âu Nhằm mục đích này, các nhà lãnh đạo ASEM đã yêu cầu các quan chức cao

18

Ibid P 156

19

Chairman’s Statement of ASEM 1, 1996, ASEM a Window of Opportunity, Annex 1, p 156

55 Chairman’s Statement of ASEM 1, 1996, ASEM a Window of Opportunity, Annex 1, p 157

Trang 30

cấp triệu tập một hội nghị vào thời gian sớm nhất để thúc đẩy hợp tác kinh tế, đặc biệt là

tự do hoá và tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và đầu tư

Những người tham gia Hội nghị cũng thoả thuận tăng cường hợp tác khoa học, công nghệ giữa châu á và châu âu, ưu tiên cho các khu vực kinh tế như nông nghiệp, thông tin, công nghệ viễn thông, năng lượng và vận tải vốn là những ngành quan trọng

để tăng cường những mối dây liên kết kinh tế giữa hai khu vực Hợp tác giáo dục, dạy nghề, đào tạo quản lý và phát triển nguồn nhân lực cũng sẽ được đẩy mạnh Hội nghị cũng nhận thấy sự cần thiết thúc đẩy hợp tác phát triển giữa hai khu vực, giành ưu tiên cho việc giảm nghèo khổ, khuyến khích vai trò của phụ nữ và hợp tác trong lĩnh vực y tế, ngăn ngừa và phòng chống HIV/AIDS

Hai bên cũng thoả thuận tăng cường hợp tác trong lĩnh vực môi trường thông qua việc chuyển giao các công nghệ về môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững

Các nhà lãnh đạo hai khu vực kêu gọi tăng cường hợp tác văn hoá, khuyến khích các cuộc tiếp xúc giữa nhân dân với nhân dân nhằm tăng cường sự hiểu biết và nhận thức

về nhau giữa hai khu vực

Thứ ba, Hội nghị cũng nhất trí về một số điểm liên quan tới nguyên tắc tổ chức và

hoạt động của ASEM Theo đó, ASEM sẽ là một tiến trình mở và tiệm tiến.” 56 Các hoạt động có tổ chức là cần thiết nhưng không cần thể chế hoá Các hoạt động tiếp theo

sẽ được tiến hành trên cơ sở phối hợp giữa những nước tham gia ASEM và trên nguyên tắc đồng thuận

Thứ tư, ASEM -1 đã thông qua được một số kế hoạch cụ thể nhằm triển khai các

chương trình hợp tác á - Âu và thoả thuận xem xét một số vấn đề khác như khả năng Hội nghị giữa các Bộ trưởng Tài chính; lập Khuôn khổ Hợp tác á- âu; lập nhóm nghiên cứu để tăng cường trao đổi công nghệ và hợp tác trong các lĩnh vực nông nghiệp, bảo vệ môi trường, nâng cấp công nghệ và cải cách doanh nghiệp, hợp tác phát triển hạ lưu sông

Mê Công, đặc biệt là dự án nối các đường sắt giữa Đông Nam á và Nam Trung Quốc Hội nghị cũng đã quyết định tổ chức ASEM- 2 tại Luân Đôn năm 1998 và ASEM-

3 tại Xơ un năm 2000

Những chương trình và các hoạt động cụ thể trên cho thấy quyết tâm của các nhà

lãnh đạo Đông á và Liên minh châu Âu trong việc biến ASEM từ ý tưởng thành một tiến

trình hợp tác giữa châu á và châu âu

2- Đặc điểm của ASEM

Khác với các tiến trình hợp tác liên khu vực được thành lập trước đó, tiến trình ASEM có những đặc điểm riêng, phù hợp với sự đa dạng về tầm cỡ lãnh thổ, quy mô dân số, truyền thống lịch sử, văn hoá, thể chế chính trị và trình độ phát triển và mức độ hiểu biết lẫn nhau giữa các đối tác tham gia tiến trình

Trong ASEM có những đối tác lớn về lãnh thổ và quy mô dân số như Trung Quốc, nhưng cũng có nước nhỏ về diện tích như Xingapo, ít dân số như Brunây Bên cạnh những nước có trình độ phát triển cao như Nhật Bản, Anh, Pháp, lại có nước còn rất lạc hậu về kinh tế như Việt Nam ASEM là hình ảnh thu nhỏ của thế giới về phương diện văn hoá và tôn giáo Đạo Thiên chúa, đạo Khổng, đạo Phật, đạo Hồi cùng với các nền văn hoá phát triển trên cơ sở những tôn giáo này, đều hiện diện một cách bình đẳng

56 Ibid.P 160

Trang 31

trong ASEM Sự đa dạng chính trị của thế giới cũng được phản ánh rõ rệt trong trong tiến trình này Trong khi hầu hết các nước thành viên của ASEM phát triển theo con

đường tư bản chủ nghĩa, thì Trung Quốc và Việt Nam vẫn kiên trì đi theo con đường phát

triển riêng, mặc dù cả hai đều tích cực tham gia vào tiến trình hội nhập quốc tế

Ngoài sự đa dạng trên, sự hiểu biết lẫn nhau giữa các đối tác ASEM nhất là sự hiểu biết giữa các nước đi theo những con đường phát triển khác nhau, còn rất hạn chế

do hậu quả của nhiều thập niên biệt lập với nhau

Để vượt qua những trở ngại đó và biến sự khác biệt giữa các thành viên trở thành các nguồn lực không chỉ bổ sung cho nhau mà còn làm phong phú lẫn nhau, các nhà lãnh đạo ASEM đã xây được một cơ chế hợp tác vừa tôn trọng sự đa dạng của các đối tác, vừa thúc đẩy các quan hệ hợp tác

Với sự đa dạng về thành viên như vậy, tính chất của ASEM được xác định là một tiến trình phi chính thức, phi thể chế hoá Trong Tài liệu công tác của Uỷ ban châu Âu

18 tháng 4 năm 2000, tính chất phi chính thức của ASEM được xác định như sau:

-Tiến trình ASEM được lập ra để bổ sung chứ không phải lặp lại công việc đã

được tiến hành bởi các diễn đàn khu vực và quốc tế khác

Hợp tác trong khuôn khổ ASEM là hoạt động đa chiều kích, được triển khai đồng

đều cả trong chiều kích chính trị, kinh tế lẫn văn hoá, phù hợp với ba trụ cột của ASEM

để đảm bảo quan hệ đối tác toàn diện

- Nhấn mạnh vào quan hệ đối tác bình đẳng, có lợi cho tiến trình đối thoại và hợp tác, tránh bất kỳ quan hệ nào đặt cơ sở trên viện trợ

- Tiêu điểm của tiến trình là chính Hội nghị cấp cao57

Tính chất phi chính thức của ASEM còn được nhấn mạnh ngay cả trong cách sắp xếp chỗ ngồi của các nhà lãnh đạo Khi tham dự hội nghị, họ ngồi trong ghế bành được xếp vòng tròn ASEM không có ban thư ký hoặc một cơ cấu thường trực Các kết quả của Hội nghị cấp cao được công bố dưới hình thức một bản Tuyên bố của Chủ tịch hội nghị ”Nó được đề cập như một diễn đàn lỏng lẻo để đối thoại, một mạng lưới hơn là một

tổ chức Không giống như APEC, ” ” ASEM không có ý định trở thành một hệ thống mậu dịch khu vực ASEM không mong mỏi tạo ra một khu mậu dịch tự do liên khu vực, không có một thời gian biểu để tự do hoá mậu dịch và đầu tư”58

Đặc điểm đáng lưu ý thứ hai của ASEM là ở chỗ nó là sáng kiến từ trên xuống ASEM khai sinh sự ra đời của mình từ một hội nghị cấp cao, trong khi đó APEC chỉ họp hội nghị cấp cao lần đầu tiên vào năm 1993, ở Xiatơn dưới sự chủ trì của Tổng thống Mỹ Bin Clintơn, tức là 4 năm sau khi đã được chính thức thành lập tại Canbêra vào năm

1989 Đặc điểm này, một mặt, cho thấy cam kết mạnh mẽ của các đối tác thành viên đối với tiến trình hợp tác á - âu, nhưng mặt khác cũng tạo khó khăm cho ASEM Bởi vì, do

là sáng kiến từ trên xuống, ASEM khó thu hút được sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân ở hai khu vực Chính điều này là một trong những nguyên nhân khiến ASEM không được biết tới nhiều ngay tại hai khu vực sản sinh ra nó

57

Yeo Lay Hwee : The Asia- Europe Meeting ( ASEM ) : From selective engagement to comprehensive

Partnership P.17 Bài viết do tác giả gửi cho Nhóm công trình qua Internet

58

John Lawrence V.Avita : Regional cooperation P.18 Tài liệu do Viện quốc tế nghiên cứu về châu á , Hà lan gửi

cho Nhóm cong trình

Trang 32

Tuy nhiên, trong bối cảnh phức tạp về thành viên và cách biệt nhau quá xa về phương diện địa lý, việc thiết kế ASEM với những đặc điểm như trên là phù hợp

3- ý nghĩa của ASEM - 1

Thành công của ASEM - 1 có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng Thứ nhất, đây là

lần đầu tiên, trong lịch sử quan hệ giữa hai châu lục này, một quan hệ hợp tác đặt trên cơ

sở châu lục với châu lục đã chính thức được thiết lập Trước đó, các quan hệ hợp tác giữa hai bên chỉ được tiến hành trên cơ sở song phương giữa các nước châu á với châu Âu, giữa cá nhân các nước châu á với Liên minh châu Âu, hoặc quan hệ giữa ASEAN với

EU, với tư cách là hai tổ chức hợp tác khu vực Với việc thiết lập ASEM, châu á và châu

Âu đã cho thấy quyết tâm khép lại quá khứ để xây dựng một quan hệ mới, mà bản chất của mối quan hệ đó là hợp tác cùng phát triển, vì lợi ích của mỗi khu vực nói riêng và lợi ích của toàn nhân loại nói chung

Bình luận về ý nghĩa của sự ra đời của ASEM, nhà nghiên cứu Mark Hong cho rằng :”ASEM là một sự thể nghiệm táo bạo và độc nhất vô nhị để cố gắng thúc đẩy hợp tác giữa hai khu vực chênh lệch về trình độ phát triển, không có lịch sử chung, ngoại trừ xung đột, đô hộ và bóc lột và có rất ít điểm chung trong lĩnh vực giá trị và hệ thống, về

địa lý, dân tộc, chính trị và lợi ích chiến lược” 59

ý nghĩa quan trọng thứ hai của sự ra đời của ASEM là nó đã hoàn tất việc tạo ra cạnh thứ ba của tam giác kinh tế toàn cầu với ba cực là Tây Âu, Đông á và Bắc Mỹ Theo Thủ tướng Gô Chốc Tông, người đề xuất sáng kiến ASEM, việc tạo ra cạnh thứ ba của tam giác kinh tế Tây Âu- Bắc Mỹ - Đông á sẽ mang lại những lợi ích sau :

Thứ nhất, nó sẽ tạo nên một mối quan hệ tam giác hùng mạnh giữa 3 khu vực lớn

của sự tăng trưởng kinh tế Nhờ đó, hệ thống kinh tế toàn cầu sẽ ổn định hơn khi ba khu vực được liên kết tốt hơn

Thứ hai, tạo tiềm năng lớn hơn cho sự đồng phối giữa châu á và châu Âu Các

nền kinh tế châu Âu đã phát triển trong nhiều thập kỷ, trong khi đó các nền kinh tế châu

á mới chỉ bắt đầu có thành tích tốt Các quan hệ chặt chẽ hơn giữa hai châu lục sẽ tạo

điều kiện cho cả hai khu vực khai thác lợi thế so sánh từ sự bổ sung cho nhau

Thứ ba, các nhà lãnh đạo châu á và châu Âu có thể tạo ra những đóng góp chung

vào hoà bình và ổn định toàn cầu trong thế kỷ mới 60

Ngoài ra, việc kết nối các cực kinh tế này còn tạo điều kiện cho cả châu á và châu Âu khai thác được những lợi ích của toàn cầu hoá đồng thời đối phó hiệu quả hơn với mặt trái cuả quá trình này

II- Quá trình phát triển của ASEM từ khi thành lập tới nay

1- Quá trình phát triển của ASEM từ 1996 - cuối 2003

1.1-Hội nghị cấp cao ASEM- 2 : Hợp tác á - Âu bắt đầu đi vào các hoạt động cụ thể

1.1.1- Bối cảnh quốc tế và khu vực từ ASEM - 1 tới ASEM - 2

Ngay sau Hội nghị thành lập, nhiều hoạt động hợp tác đã được xúc tiến mạnh mẽ Một trong những hoạt động quan trọng là thành lập Quỹ á - âu ( ASEF) tại Hội nghị

60 Ibid P 16

Trang 33

các Bộ trưởng Ngoại giao (FMM) tại Xingapo tháng 2/1997, với nguồn đóng góp tự nguyện từ các nước thành viên 61

Hoạt động của ASEF được tiến hành thông qua 3 chương trình chính: Chương trình trao đổi tri thức; Chương trình trao đổi văn hoá và Chương trình trao đổi nhân dân với nhân dân ASEF được điều hành bởi một Ban thống đốc bao gồm 26 thành viên đại diện cho 25 nước đối tác và Uỷ ban châu Âu

Trong lĩnh vực kinh tế cũng diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi Hội nghị Bộ trưởng Tài chính lần thứ nhất tại Băng Cốc ngày 19/9/1997 và Bộ trưởng Kinh tế ngày 27-28/9/1997 tại Makuhari, Nhật Bản đã thúc đẩy hợp tác giữa hai khu vực trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, hỗ trợ tài chính Các Kế hoạch xúc đầu tư ( IPAP) và Thuận lợi hoá thương mại (TFAP) cũng được chuẩn bị để đệ trình tại ASEM -2

Nhờ những hoạt động trên, một không khí hợp tác hào hứng đã lan tràn khắp cả châu á và châu Âu Nhưng, chính trong lúc châu Âu đang say sưa “khám phá lại châu

á”, thì một cơn bão khủng hoảng tài chính - tiền tệ đã ập tới châu lục này Khởi phát ở Thái Lan, khủng hoảng tài chính tiền tệ đã lan nhanh sang các nước ASEAN khác như Hàn Quốc, Philíppin, Malaixia, Inđônêxia và Xingapo

ảnh hưởng về kinh tế và chính trị của khủng hoảng là cực kỳ trầm trọng ở Thái lan và Inđônêxia, chính phủ đã phải từ chức sau khi thất bại trong việc kiềm chế sự tụt dốc của nền kinh tế trong nước Lợi dụng việc chính phủ trung ương đang phải tập trung

đối phó với các tác động xấu do khủng hoảng gây ra, các phong trào li khai, vốn đã lắng xuống sau nhiều cố gắng của chính phủ các nước ASEAN, đã bùng nổ trở lại Sau một cuộc trưng cầu dân ý được chính phủ Inđônêxia do ông Wahid đứng đầu cho phép, Đông

Ti Mo đã tách ra khỏi Inđônêxia và tuyên bố độc lập Thành công của phong trào li khai

Đông Ti mo đã kích thích các lực lượng li khai khác ở Inđônêxia, Philíppin và Thái Lan tăng cường các hoạt động Tình trạng bất ổn định chính trị ngày càng lan rộng ở phần lớn các nước ASEAN 6

Những biến đổi trong môi trường chính trị, kinh tế - xã hội ở Đông á đã tác động sâu rộng tới nền chính trị và kinh tế thế giới Bởi vì, trong một thế giới đang toàn cầu hoá

về kinh tế, các nền kinh tế quốc gia đã trở nên phụ thuộc lẫn nhau Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Đông á, nếu không sớm được khắc phục, sẽ có nguy cơ lây lan sang các nền kinh tế khác, nhất là các nền kinh tế phát triển Do vậy, giúp đỡ châu á khắc phục khủng hoảng đã trở thành một yêu cầu cấp bách đặt ra cho cả cộng đồng quốc tế, trong

đó có các đối tác ASEM

1.1 2- Diễn biến và kết quả của Hội nghị

Hội nghị cấp cao á- âu lần thứ hai ( ASEM 2 ) được tổ chức tại Luân Đôn,

Vương quốc Anh trong 2 ngày 3- 4 tháng 4 năm 1998 25 nguyên thủ của 10 nước châu

61

Kể từ khi thành lập ( 2/1997 ) tới 31 / 3/ 2003, tổng số tiền đóng góp mà ASEF đã nhận được từ các nứơc thành

viên là 22.787.993 Euro Nhật Bản là nước đóng góp nhiều nhất vào Quỹ á -Âu với tổng số tiền lên tới 3.255.000 Euro ; Liên minh châu Âu đứng thứ hai : 2.961.807 Euro Tiếp đến là Xingapo : 2.790.000 Euro ; Đức : 1.258.064 Euro; ý : 1.067.499 Euro; Hà lan : 1.023.000 Euro Tổng số tiền của Trung Quốc và Việt Nam đóng

góp cho ASEF là 930.000 Euro và 111.600 Euro Dẫn theo : “Asia- Europe Foundation : Annual Report 2002-

2003 P.31

Trang 34

á, 15 nước châu Âu, Chủ tịch của Uỷ Ban châu âu đã tham dự, Thủ tướng Anh Tony Ble trên cương vị nước Chủ tịch luân phiên của EU chủ toạ Hội nghị Chủ đề của Hội

nghị là “ Châu á và châu  u: Một quan hệ đối tác mới ”

Những người tham dự Hội nghị đã thảo luận về những biến động ở hai khu vực

và trên thế giới kể từ sau ASEM - 1, đặc biệt là về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu á Các kết quả thảo luận về cuộc khủng hoảng này đã được phản ánh trong Tuyên

bố về tình hình tài chính và kinh tế ở châu á của ASEM - 2 Trong Bản tuyên bố đó, các nhà lãnh đạo ASEM đã nhấn mạnh ảnh hưởng của khủng hoảng tới kinh tế toàn cầu và

sự quan ngại của họ về những phí tổn về con người của nhân dân châu á Theo quan

điểm của ASEM - 2, để khắc phục khủng hoảng, thì “việc tăng cường vai trò của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) là trọng tâm của sự phản hồi toàn cầu đối với mối quan ngại toàn cầu” 62

Tuy nhiên, để các thể chế tài chính quốc tế có thể đóng vai trò hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thế giới, các nhà lãnh đạo ASEM cho rằng: “

Hệ thống tiền tệ và tài chính quốc tế cần được cải cách, tăng cường và tập trung tiêu

điểm vào việc ngăn ngừa khủng hoảng và giảm bớt tính dễ bị tổn thương của các hệ thống tài chính quốc nội trước những cú sốc tiềm tàng, kể cả sự bất ổn định do đầu cơ gây nên”63

Ngoài ra, ASEM - 2 cũng lưu ý tới tầm quan trọng của việc tăng cường và cải cách hệ thống tài chính cũng như cơ cấu kinh tế, kể cả khu vực công ty, nhằm hiện thực hoá những khả năng tiềm ẩn của châu á và đạt được sự phát triển bền vững về kinh tế Các nhà lãnh đạo cũng thừa nhận sự cần thiết xem xét ảnh hưởng xã hội của các khó khăn về kinh tế ở châu á Họ cho rằng việc thực hiện những chương trình cải cách toàn diện sẽ cung cấp cơ hội cho việc xây dựng một nền tảng chắc chắn cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững trong tương lai

Cùng với việc thảo luận về khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á, hội nghị thảo luận về những phát triển mới ở hai khu vực như: sự mở rộng ASEAN, Hội nghị cấp cao giữa ASEAN và ba nứơc Đông Bắc á (12/ 1997) và các thành tựu mà Liên minh châu

Âu đạt được trong việc hoàn thiện Liên minh kinh tế tiền tệ và những bước tiến lớn trong quá trình mở rộng EU

Tại Hội nghị, các nhà lãnh đạo ASEM đã xem xét những kết quả đạt được của Hợp tác á - âu trong giai đoạn từ ASEM - 1 và “ tái khẳng định vai trò của ASEM trong việc tăng cường quan hệ đối tác giữa châu á và châu Âu trong các lĩnh vực hợp tác chính trị, kinh tế, văn hoá và các lĩnh vực khác trong một thế giới tuỳ thuộc lẫn nhau chặt chẽ.”64

Để duy trì và phát triển ASEM, Hội nghị đã thảo luận về một khuôn khổ Hợp tác á

- Âu và quyết định thành lập Nhóm Tầm nhìn á - Âu (AEVG) theo sáng kiến của Tổng thống Hàn Quốc Kim Young Sam

62

Annex 3 : “ ASEM - 2 : Statement on the Financial and Economic Situation in Asia “

Xem: ASEM The Asia- Europe Meeting Ibid P 171

63 Ibid P173

64

Annex 2 : ASEM 2 : Chairman’s Statement 1998 See: ASEM The Asia- Europe Meeting A window of

opportunity” Ibid P 162

Trang 35

Mục đích của Nhóm là vạch ra một tầm nhìn từ trung hạn tới dài hạn cho tiến trình ASEM bước vào thế kỷ XXI Nhóm cũng có nhiệm vụ đánh giá những thành tựu của ASEM và đưa ra những khuyến nghị nhằm củng cố hơn nữa tiến trình này 65

Bên cạnh những vấn đề chung trên, ASEM - 2 đã đi sâu thảo luận từng lĩnh vực hợp tác giữa hai châu lục:

Về đối thoại chính trị: Hội nghị đánh giá cao hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao

ASEM tổ chức tại Xingapo tháng 2/1997 cùng với cuộc gặp gỡ của các quan chức cao cấp khác đã góp phần thảo luận các vấn đề quốc tế và khu vực vì lợi ích chung, cải thiện

sự hiểu biết, tình đoàn kết thông qua các nguyên tắc đối thoại chính trị được đưa ra trong

Tuyên bố Băng Cốc Tại ASEM 2, các nhà lãnh đạo đã đồng ý mở rộng đối thoại chính

trị á -Âu sang các vấn đề an ninh chun, khẳng định vai trò của ARF và các kết quả thực

chất thu được trong các biện pháp xây dựng lòng tin ( CBMs)

Đối với các vấn đề toàn cầu, Hội nghị đánh giá cao những kết quả đạt được trong việc cải tổ Liên Hợp Quốc, nhất là là kế hoạch cả gói về cải cách Kênh II của Tổng thư ký Các lĩnh vực kiểm soát vũ khí, giải trừ quân bị và không phổ biến vũ khí giết người hàng loạt như Công ước về vũ khí hoá học đã có hiệu lực hay Hiệp định cấm thử vũ khí hạt nhân đang chuẩn bị được thông qua Hội nghị ASEM - 2 tái khẳng

định cam kết phấn đấu vì một môi trường quốc tế hoà bình và ổn định Các vấn đề liên quan tới khu vực như Campuchia, Bán đảo Triều Tiên hay Bốtnhia, Côsôvô cũng

đã được thảo luận với tư cách là những vấn đề thuộc lợi ích chung

Về hợp tác kinh tế: Hội nghị khẳng định rằng vai trò quan trọng của việc thúc

đẩy hơn nữa thương mại và đầu tư hai chiều giữa hai khu vực trên cơ sở thị trường mở cửa và gắn kết các doanh nghiệp với các luật lệ quốc tế, sẽ giúp cho khu vực châu á hồi phục nhanh sau khủng hoảng kinh tế và tiếp tục tăng trưởng Các nhà lãnh đạo á - Âu cũng nhất trí phải củng cố hơn nữa WTO như một diễn đàn đa phương chính thức cho

đàm phán và cung cấp các phương tiện cho quá trình tự do hoá thương mại trên cấp độ toàn cầu trong khuôn khổ đa phương Trên cơ sở đó, Hội nghị nhấn mạnh rằng cần giúp

đỡ các thành viên của ASEM sớm trở thành thành viên chính thức của WTO

Để hỗ trợ thiết thực cho các nước châu á cải cách hệ thống tài chính, vượt qua khủng hoảng, Hội nghị đã quyết định thành lập Quĩ tín thác (ASEM Trust Fund ) đặt tại Ngân hàng thế giới với số tiền 43,5 triệu USD do 9 nước EU là Pháp, Anh, Italia, Hà Lan, Phần Lan, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Lúcxembua và Trung Quốc đóng góp Nhằm thúc đẩy hơn nữa các quan hệ hợp tác và đầu tư á - Âu , Hội nghị thông qua hai kế hoạch hành động: Kế hoạch hành động thuận lợi hoá thương mại (TFAP), Kế hoạch Hành động Xúc tiến đầu tư (IPAP) và thành lập Nhóm chuyên gia đầu tư (IEG)

65

Nhóm Tầm nhìn có 26 thành viên, mỗi nước thành viên ASEM có một thành viên, với những thành phần chuyên

môn khác nhau: chính trị, kinh doanh, dịch vụ công và giới học giả Cuộc họp đầu tiên của nhóm được tổ chức tại Trung tâm Moller, Trường đại học Churchill, Cambridge trong hai ngày 5 và 6 tháng 4 Trong cuộc họp đó , Ba nhóm công tác đã được thành lập , bao gồm Nhóm công tác về “Con người và Xã hội”, Nhóm công tác về “Thị trường” và Nhóm công tác về “Sự cai quản “ Các nhóm trên làm việc riêng rẽ để chuẩn bị báo cáo cho cuộc gặp

đầy đủ của Nhóm tại Xingapo vào 2-3 / 7 Các cuộc gặp tiếp theo được tổ chức tại ý vào đầu tháng 10 và tại Tôkyô vào đầu tháng 2/1999 Những khuyến nghị của AEVG được phối hợp để xây dựng một Khuôn khổ hợp tác á - âu toàn diện, dự kiến đệ trình tại ASEM - 3 ở Xơun năm 2000

Trang 36

Về hợp tác trong các lĩnh vực văn hoá - xã hội: ASEM - 2 khẳng định tầm quan

trọng của việc thúc đẩy hơn nữa những sáng kiến trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội nhằm củng cố và đa đạng hoá hợp tác giữa cộng đồng các nhóm chuyên gia, các nhóm nghiên cứu, các trường đại học ở hai châu lục Hội nghị hoan nghênh việc thành lập Quỹ á - âu, cũng như các sáng kiến của tổ chức Hội nghị các nhà lãnh đạo trẻ á - âu, Hội nghị bàn tròn các nhà xuất bản hay Diễn đàn văn hoá do Quỹ đề xuất Các nhà lãnh

đạo ASEM đề nghị Quỹ á - âu tập trung hơn nữa các hoạt động thúc đẩy sự tiếp xúc giữa nhân dân của hai khu vực và khẳng định tiếp tục ủng hộ cho Quỹ cũng như khuyến nghị các viện nghiên cứu, trường đại học, các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ hợp tác với Quỹ

Về các lĩnh vực khác: Hội nghị ASEM - 2 bày tỏ sự quan tâm tới các vấn đề toàn

cầu như phát triển nguồn nhân lực bao gồm quản lý giáo dục, chống đói nghèo, cải thiện lao động, nâng cao sức khỏe cộng đồng, phúc lợi cho trẻ em và phụ nữ, ủng hộ mục tiêu giảm tỷ lệ người sống trong điều kiện quá nghèo trên thế giới xuống 1/2 vào năm 2015 của Liên Hợp Quốc

Hội nghị phân tích những thách thức của sự thay đổi khí hậu, ủng hộ Nghị định thư Kyoto và khẳng định cần thúc đẩy quá trình chuẩn bị cho Hội nghị về môi trường tổ chức tại Buênốt Ai rét vào tháng 11/1998

Những người tham dự ASEM - 2 cũng nhất trí rằng để giải quyết vấn đề chống rửa tiền, cần phải tiếp tục làm minh bạch hoá hệ thống tài chính, nỗ lực đấu tranh chống buôn lậu, ma tuý, tội phạm có tổ chức và tấn công vào các tài khoản của tội phạm

Về phương hướng hoạt động của ASEM sau Hội nghị Luân Đôn, các nhà lãnh

đạo quyết định rằng việc thảo luận về thời gian và thể thức liên quan tới việc mở rộng thành viên cần được tiếp tục và nhất trí thông qua một số sáng kiến mới nhằm thúc đẩy hợp tác á - Âu 66

Điểm lại các nội dung, các vấn đề được thảo luận tại ASEM - 2 có thể thấy tiến trình Hợp tác á - Âu đã phát huy được nhiều sáng kiến nhằm thúc đẩy quan hệ giữa hai châu lục trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế Những kết quả của ASEM - 2 trong khoảng tối của cuộc khủng hoảng tài chính châu á đem lại sự lạc quan

về triển vọng hợp tác á - âu trong thế kỷ XXI “Các nhà sử học phát biểu rằng thế kỷ

66

Các sáng kiến được thông qua tại A SEM- 2 bao gồm :

-Tiến hành Hội nghị về bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá ở các nước ASEM tại Luân Đôn tháng 5/1998; tiếp

đó nhóm chuyên gia chính sẽ tổ chức gặp gỡ tại Việt Nam vào mùa thu năm 1998 để soạn thảo kế hoạch thực hiện sáng kiến này vào những năm sau;

-Tổ chức hội thảo về vai trò của nhà nước và thị trường tại Côpenhagen trước khi diễn ra hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao năm 1999;

-Thành lập chương trình Viễn thông và Công nghệ thông tin á - âu ( AEITTP ) do Thái Lan điều phối nhằm tăng cường hợp tác trong công nghệ tin học và viễn thông giữa hai châu lục;

-Tổ chức hội thảo ở Việt Nam vào quí 3 năm 1998 về nâng cao y tế cộng đồng, kết hợp giữa y học truyền thống và hiện đại á - âu trong việc chăm sóc sức khỏe;

-Xây dựng mạng lưới các thành phố lớn giữa các nước thành viên nhằm trao đổi quan điểm, thông tin, kinh nghiệm cũng như mở rộng hợp tác công nghệ nhằm hỗ trợ cho sự phát triển bền vững của các thành phố lớn -Diễn đàn các thống đốc thành phố á - âu sẽ được tổ chức tại Thái Lan trong năm 1999;

-Tổ chức Diễn đàn nông nghiệp á -Âu để trao đổi về quan điểm và hợp tác phát triển nông nghiệp bền vững

Trang 37

XIX thuộc về các nước diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp và thế kỷ XX thuộc về các siêu quyền lực, đặc biệt là Mỹ Liệu chúng ta có thể tự đặt ra cho mình mục tiêu rằng thế

kỷ XXI sẽ thúc đẩy những cách tiếp cận mới về hiểu biết và hợp tác với vai trò tiên phong của châu á và châu Âu”67

1.1.3- Các hoạt động hợp tác sau ASEM-2

Thực hiện những quyết định của ASEM - 2, trong thời gian từ 1998 tới năm 2000, nhiều hoạt động hợp tác đã được xúc tiến mạnh mẽ

Ngày 15-16 tháng 1 năm 1999, Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEM lần thứ hai

được tổ chức tại Frankfurt, Đức Hội nghị đã quan tâm tới việc đối phó với sự dao động

tỷ giá tiền tệ đang đe doạ các nền kinh tế mới nổi ở châu á, Mỹ La Tinh cũng như Liên bang Nga Tại Hội nghị này, sáng kiến về việc xây dựng một mạng điện tử giữa các Bộ trưởng Tài chính ASEM và một trang Web đã được đề xuất Cũng tại Hội nghị , Nhóm Tầm nhìn đã trình lên một bản báo cáo trong đó họ kêu gọi một sự hội nhập từ từ của châu á và châu Âu “ vào một khu vực hoà bình và phát triển cùng chia sẻ” Nhóm còn khuyến nghị các nhà lãnh đạo thành lập một Khu mậu dịch tự do á - Âu vào năm 2025

và tăng 5 lần trao đổi sinh viên giữa hai châu lục

Trong trụ cột kinh tế cũng diễn ra một số hoạt động quan trọng, trong đó có Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEM lần thứ hai đã được tổ chức tại Béclin tháng 10 năm

1999, Hội nghị các quan chức cao cấp về Mậu dịch và đầu tư (SOMTI) 68

ở trụ cột văn hoá - xã hội, đáng chú ý nhất là Hội nghị Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ ASEM lần đầu tiên được tổ chức tại Bắc Kinh trong hai ngày 14-15 tháng 10 năm

1999 Hội nghị nhấn mạnh tới tầm quan trọng của khoa học và công nghệ trong sự phát triển của xã hội tri thức, đặc biệt là trong việc xử lý các vấn đề khu vực và toàn cầu cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh kinh tế Hội nghị kêu gọi chú trọng cả khu vực nhà nước và tư nhân, tăng cường đầu tư vào nguồn lực con người, văn hoá và thể chế, tập trung kiến thức khoa học phục vụ cho phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế lâu dài

ở cả hai khu vực

Ngoài ra, trong thời gian từ ASEM - 2 tới ASEM - 3 còn diễn ra một số hoạt động khác như : Hành động bảo vệ trẻ em, tổ chức tại Luân Đôn tháng 10/1998; Hội nghị Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá tổ chức tại Hà Nội ngày 21-22 tháng 1 năm 1999 Hội nghị thông qua Chương trình hành động và thành lập Uỷ ban điều phối và giám sát việc thực hiện chương trình trên

1.2- Hội nghị cấp cao ASEM –3: Ra Tuyên bố chính trị đầu tiên và hoàn tất cơ sở pháp lý cho Hợp tác á - Âu trong thế kỷ XXI

1.2.1- Bối cảnh quốc tế và khu vực trong thời gian từ ASEM - 2 tới ASEM -3

Trong thời gian giữa hai kỳ Hội nghị Thượng đỉnh á - âu, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động Tại bán đảo Triều Tiên, nơi sẽ diễn ra ASEM - 3, nhờ sự

Trang 38

ủng hộ của cộng đồng quốc tế* và tác động của chính sách ánh Dương do Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae Jung đưa ra ngay sau khi lên cầm quyền (1998), tình hình trên bán

đảo Triều Tiên đã có những dấu hiệu tích cực Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên đã trở thành thành viên thứ 23 của Diễn đàn khu vực ASEAN (2000) ở bán đảo Đông Dương , quá trình mở rộng ASEAN đã được hoàn tất với việc Cămpuchia trở thành thành viên thứ 10 của Hiệp hội này vào 30 tháng Tư năm 1999 Tuy nhiên, vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông lại nổi lên, cùng với những rạn nứt trong quan hệ giữa các thành viên cũ như Malaixia, Xingapo và Philíppin

Về kinh tế, nhìn chung các nền kinh tế Đông á bắt đầu hồi phục sau cuộc khủng hoảng tài chính Việc thực hiện Kế hoạch thuận lợi hoá thương mại và và Kế hoạch xúc tiến đầu tư được thông qua tại ASEM – 2 đã dẫn đến những thay đổi trong quan hệ mậu dịch giữa hai châu lục có lợi cho châu á : thâm hụt cán cân thương mại giữa EU và châu

á từ 13,3 tỷ Ecu năm 1996 lên 121,5 tỷ Ecu năm 2000.5 Trong khi đó, Hội nghị Bộ trưởng WTO tháng 12/1999 tại Xiatơn với tham vọng phát động Vòng đàm phán Thiên niên kỷ nhằm thúc đẩy hơn nữa quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu, đã thất bại do

sự bất đồng giữa các nước phát triển và đang phát triển

Trong bối cảnh quốc tế và khu vực như vậy, Hội nghị cấp cao á - Âu lần thứ ba (ASEM 3) đã được tiến hành tại Xơun, Cộng hoà Triều Tiên

1.2.2- Diễn biến và kết quả của Hội nghị cấp cao á - Âu lần thứ ba

Trước khi lên đường sang Xơun dự ASEM - 3, trong bài phát biểu tại Phòng Thương mại châu Âu ở Hồng Công ngày 18 tháng 10 năm 2000, ông Crít Páttơn , Uỷ viên phụ trách đối ngoại, Uỷ ban châu Âu đã cho thấy quan điểm của EU về ASEM - 3 Theo ông , “Quan hệ của chúng ta với châu á thường được nhìn nhận qua lăng kính kinh

tế ASEM - 1 ở Băng Cốc năm 1996 đã náo nhiệt bởi sự phởn phơ về kinh tế Hội nghị của chúng ta vừa qua ở Luân Đôn đã bị che phủ bởi bóng tối và sự bi quan của cuộc khủng hoảng tài chính.” 69 Châu Âu không muốn như vậy Bởi vì , theo quan điểm của

EU, những lợi ích cùng chia sẻ giữa châu á và châu Âu nhiều hơn thế EU muốn ASEM phải là một cái gì đó khác với APEC Vì thế, Liên minh châu Âu đã đặt ra những mục tiêu sau đối với ASEM – 3 :

- Mở rộng và làm sâu sắc hơn đối thoại chính trị với châu á;

- Khẳng định lại tầm quan trọng của những chuyển biến đang diễn ra ở châu Âu;

- Khẳng định tầm quan trọng của các mối quan hệ với châu á nói chung và với ASEM nói riêng vào thời điểm châu á đang phục hồi sau khủng hoảng ;

- Chứng tỏ cho công chúng thấy sự thích hợp của việc tăng cường đối thoại á - Âu ;

- Củng cố và tăng cường tiến trình ASEM bằng cách đưa ra một chương trình nghị sự cân bằng để thông qua tại Hội nghị á - Âu cấp cao lần thứ tư ở Côpenhagen

*

Tháng 3 năm 1995 Tổ chức phát triển năng lượng Bán đảo Triều Tiên KEDO ra đời và từ năm 1996, EU đã tham gia vào tổ chức này với số tiền đóng góp cho giai đoạn 1996-2000 là 75 triệu USD Cũng trong giai đoạn này, EU còn viện trợ cho Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên một khoản tiền trị giá khoảng 200 triệu đô la Mỹ

5 European Commission, Europe and Asia: A Strategic Framework for Enhanced Partnerships 2001, p.8

69

Xem : The EU and Asia in the new Millenium Speech by the Rt.Hon Chris Patten p.2 http://

europa.eu.intent/comm/external_relations/news/patten/speech_00_383.htm p.2

Trang 39

Trong những mục tiêu trên, thì “thiết lập tầm quan trọng cơ bản của trụ cột chính trị bên trong tiến trình ASEM là cơ bản” 70

Về phần mình, các nước châu á, đặc biệt là Hàn Quốc, cũng muốn thông qua ASEM - 3 để chứng tỏ với thế giới nói chung, các đối tác ASEM của châu Âu nói riêng, rằng họ đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế và đang phục hồi nhanh chóng Châu á

đã lấy lại sức hấp dẫn của nó với tư cách là một thị trường đầu tư

Ngoài mục đích kinh tế trên, thông qua ASEM -3, Hàn Quốc còn muốn quốc tế hoá vấn đề Triều Tiên, duy trì sự cam kết của EU đối với Tổ chức phát triển năng lượng Triều Tiên ( KEDO )* Vì những mục đích đó, Hàn Quốc đã nỗ lực chuẩn bị cho hội nghị ASEM -3 71

Dưới chủ đề “Quan hệ đối tác vì phồn vinh và ổn định trong Thiên niên kỷ mới ”,

Hội nghị cấp cao á - Âu lần thứ ba (ASEM -3) được tiến hành trong hai ngày 20 - 21 tháng 10 năm 2000 với những thành phần tham dự như các hội nghị cấp cao ASEM trước Chủ tịch Hội nghị là Tổng thống Cộng hoà Triều Tiên Kim Dae Jung Tổng thống Cộng hoà Pháp Giắc Sirắc tham dự với tư cách là Chủ tịch Hội đồng EU cùng với Chủ tịch Uỷ ban châu Âu, Crít Pattơn ASEM - 3 là Hội nghị cấp cao á - Âu đầu tiên trong thế kỷ XXI Vì thế, Hội nghị này có ý nghĩa rất quan trọng

Tại Hội nghị, sau khi nhìn lại những kết quả của ASEM, kể từ ASEM - 2, các nhà lãnh đạo á - Âu đã thảo luận về những phát triển mới trong tình hình quốc tế và khu vực Họ hoan nghênh những dấu hiệu sáng sủa về sự phục hồi kinh tế ở các nước châu á bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng, đồng thời bày tỏ sự lo ngại về tình trạng tăng giá dầu trên thị trường quốc tế

Đối với những phát triển mới về chính trị ở Đông á, các nhà lãnh đạo ASEM hoan nghênh việc Cămpuchia tham gia ASEAN và thừa nhận những tiến bộ lớn trong Hợp tác Đông á tại Hội nghị cấp cao ASEAN + 3 họp tại Manila tháng 11/ 1999 * và các hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Tài chính, Bộ trưởng Kinh tế của ASEAN + 3, coi đó như là sự tăng cường hơn nữa hợp tác kinh tế và tài chính ở Đông á Ngoài

ra, những người tham dự ASEM - 3 còn lưu ý tới những phát triển tiếp tục của Diễn đàn khu vực ASEAN, hoan nghênh Bắc Triều Tiên tham gia ARF, coi đó như là một bước tiến quan trọng để tăng cường ARF và đóng góp vào sự nghiệp hoà bình và an ninh khu vực

Về những phát triển mới ở khu vực châu Âu, các nhà lãnh đạo hoan nghênh việc

đưa đồng Euro vào sử dụng và ghi nhận rằng việc sử dụng đồng Euro sẽ góp phần vào

70

ý kiến của TS Michael Reiterer, cố vấn về A SEM của Ban tổng giám đốc về các quan hệ đối ngoại (ASEM

Counsellor in the Directorate - general for External relations) của uỷ ban châu Âu See: Michael Reiterer Ibid

P.17

*

KEDO được chính thức thành lập vào ngày 19 tháng 3 năm 1995., vài tháng sau khi Mỹ và Bắc Triều tiên ký Thoả thuận khung vào ngày 21 /10/1994 Các nước tham gia vào KEDO là Nhật bản, Hàn quốc , Mỹ Trong bản Thoả thuận khung này , Mỹ cam kết cung cấp cho CHĐCN Triều tiên hai nhà máy năng lwongj hạt nhân hiệnđại vào năm 2003, nếu bắc Triều tiên từ bỏ Chương trình hạt nhân của họ

71

Để tổ chức tốt Hội nghị, Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư hàng chục tỷ đô la Mỹ để xây dựng cung Hội nghị cao tới 41 tầng

*

Tại hội nghị này, các nhà lãnh đạo A SEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã ra tuyên bố về hợp tác Đông

á , trong đó chỉ rõ mục tiêu, tính chất và cơ cấu tổ chức của Hợp tác Đông á

Trang 40

việc ổn định hơn nữa tỷ giá trao đổi trong hệ thống tiền tệ quốc tế Họ cũng lưu ý tới những tiến bộ của Hội nghị liên chính phủ của nhằm tăng cường các thể chế của EU và tiến trình mở rộng Liên minh châu Âu cũng như những phát triển mới về hợp tác an ninh trong bối cảnh Chính sách đối ngoại và An ninh chung Khi thảo luận về các nội dung hoạt động của từng trụ cột hợp tác trong tiến trình ASEM, Hội nghị đã nhấn mạnh tới một số điểm sau:

Về đối thoại chính trị, các nhà lãnh đạo hoan nghênh cuộc họp Thượng đỉnh liên

Triều đầu tiên (tháng 6/2000), coi đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình hoà bình ở Bán đảo Triều Tiên Liên quan tới vấn đề này, Hội nghị đã ra “Tuyên bố Xơ Un về hoà bình của Bán đảo Triều Tiên” Tuyên bố hoan nghênh Hội nghị Thượng

đỉnh liên Triều tháng 6 năm 2000, kêu gọi các bên tiếp tục phát huy các kết quả đạt được

và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lôi cuốn CHDCND Triều Tiên tham gia vào các cuộc đối thoại đa phương Trong bối cảnh này, 4 nước thành viên EU bao gồm Anh,

Đức, Hà lan, và Tây Ban Nha đã tuyên bố ý định thiết lập quan hệ chính thức với Bắc Triều Tiên, nâng số thành viên EU có quan hệ ngoại giao chính thức với Bình Nhưỡng lên 10 72

Ngoài ra, tại ASEM - 3, nhiều vấn đề khu vực khác như vấn đề

Đông Ti Mo, Nam Âu và Trung Đông đã được các nhà lãnh

đạo ASEM thảo luận

Đối với các vấn đề quốc tế, Hội nghị đã hoan nghênh kết quả của Hội nghị Thiên niên kỷ diễn ra trong hai ngày 6 - 8 tháng

9 năm 2000 tại Tổng hành dinh của Liên Hợp Quốc và bày tỏ cam kết của họ đối với việc cải cách Liên Hợp Quốc vì mục

đích tăng cường, nâng cao tính chất đại diện, sự minh bạch

và hiệu quả của Liên Hợp Quốc, kể cả Hội đồng Bảo an

Tại ASEM - 3, tầm quan trọng của việc duy trì sự cân bằng và ổn định toàn cầu và tăng cường các sáng kiến toàn cầu và khu vực về kiểm soát vũ khí, giải trừ quân bị và không phổ biến vũ khí giết người hàng loạt đã được các nhà lãnh đạo á - Âu đặc biệt nhấn mạnh

Xem xét tình hình thế giới từ sau ASEM - 2, Hội nghị cho rằng “một thế giới

đang thay đổi nhanh chóng đặt ra những thách thức ghê gớm đối với toàn bộ cộng đồng quốc tế.”Trước tình hình đó, các nhà lãnh đạo ASEM đã “ bày tỏ cam kết của họ đối với việc ASEM đóng một vai trò xây dựng trong việc thúc đẩy tăng cường đối thoại đa phương và hợp tác dựa trên quan hệ đối tác bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi và trong việc xây dựng một trật tự chính trị và kinh tế quốc tế mới dưới ánh sáng của sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng của châu á và châu Âu và môi trường quốc tế đang thay đổi ”13

72 Các nước thành viên EU đã thiết lập quan hệ với CHDCND Triều tiên trước A SEM - 3 là : ý, áo, Bồ Đào Nha,

Thuỵ Điển ,Đan Mạch và Phần Lan

13

Annex 1 : Chairman’s Statement ASEM3 Ibid 143

Ngày đăng: 29/06/2014, 08:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3 :       Các đối tác mậu dịch chủ yếu - TIẾN TRÌNH HỢP TÁC Á ÂU ( ASEM) VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CUA VIỆT NAM pptx
Bảng 3 Các đối tác mậu dịch chủ yếu (Trang 93)
Bảng 4 :  Những ưu tiên trong hệ thống giá trị của 4  nước á - Âu - TIẾN TRÌNH HỢP TÁC Á ÂU ( ASEM) VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CUA VIỆT NAM pptx
Bảng 4 Những ưu tiên trong hệ thống giá trị của 4 nước á - Âu (Trang 100)
Bảng 1 : Những chỉ số chính về  các nước ASEM - TIẾN TRÌNH HỢP TÁC Á ÂU ( ASEM) VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CUA VIỆT NAM pptx
Bảng 1 Những chỉ số chính về các nước ASEM (Trang 138)
Bảng 1 : Xếp hạng khả năng cạnh tranh theo IMD và WEF 239 - TIẾN TRÌNH HỢP TÁC Á ÂU ( ASEM) VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CUA VIỆT NAM pptx
Bảng 1 Xếp hạng khả năng cạnh tranh theo IMD và WEF 239 (Trang 152)
Bảng 1: Danh sách các đối tác đóng góp vào Quỹ Tín thác ASEM - TIẾN TRÌNH HỢP TÁC Á ÂU ( ASEM) VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CUA VIỆT NAM pptx
Bảng 1 Danh sách các đối tác đóng góp vào Quỹ Tín thác ASEM (Trang 192)
Bảng 2 : Các dự án của Việt Nam nhận tài trợ từ Quỹ Tín thác ASEM - TIẾN TRÌNH HỢP TÁC Á ÂU ( ASEM) VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CUA VIỆT NAM pptx
Bảng 2 Các dự án của Việt Nam nhận tài trợ từ Quỹ Tín thác ASEM (Trang 193)
Bảng 3 : Các hoạt động do ASEF và Việt Nam phối hợp - TIẾN TRÌNH HỢP TÁC Á ÂU ( ASEM) VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CUA VIỆT NAM pptx
Bảng 3 Các hoạt động do ASEF và Việt Nam phối hợp (Trang 194)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w