1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về công tác cán bộ và sự vận dụng Đối với công tác cán bộ tại trường cao Đẳng công nghệ thủ Đức hiện nay

94 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Công Tác Cán Bộ Và Sự Vận Dụng Đối Với Công Tác Cán Bộ Tại Trường Cao Đẳng Công Nghệ Thủ Đức Hiện Nay
Tác giả Tô Thanh My
Trường học Trường Cao Đẳng Công Nghệ Thủ Đức
Thể loại nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (0)
  • 1.2. Tình hình nghiên cứu (8)
  • 1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu (10)
  • 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (10)
  • 1.5. Phương pháp nghiên cứu (11)
  • 1.6. Đóng góp của đề tài (11)
  • 1.7. Kết cấu của đề tài (11)
  • 1.1 Điều kiện và tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ 9 (11)
    • 1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam và bối cảnh thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ (13)
    • 1.1.2 Những tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ (18)
  • 1.2 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ (11)
    • 1.2.1 Vị trí, vai trò công tác cán bộ (37)
    • 1.2.2 Công tác phát hiện, lựa chọn cán bộ (42)
    • 1.2.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ (49)
    • 1.2.4 Công tác đánh giá, sử dụng cán bộ (52)
    • 2.1.1 Tình hình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức hiện nay (60)
    • 2.1.2 Kết quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức hiện nay (66)
  • 2.2 Giải pháp phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ đối với công tác cán bộ tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức hiện nay (12)
    • 2.2.1 Giải pháp công tác cán bộ của tổ chức Đảng (81)
    • 2.2.2 Giải pháp công tác cán bộ của chính quyền (83)
    • 2.2.3 Giải pháp công tác cán bộ của các tổ chức đoàn thể (86)
  • KẾT LUẬN (59)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ là sự kết hợp tinh tế giữa lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam.. Đó là tác phẩm “Tư tưởn

Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và nhà nghiên cứu Nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố bởi cá nhân và tập thể ở các cấp độ và quy mô khác nhau Trong số đó, có nhiều nhà khoa học và chính trị gia đã thực hiện các nghiên cứu sâu sắc về tư tưởng của Người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ các góc độ khác nhau như chính trị, quân sự, đạo đức, giáo dục, văn hóa và triết học Kể từ Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1991, tư tưởng này được xác định là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đã được thực hiện một cách công phu và hệ thống, bao gồm giáo trình tại các trường đại học và cao đẳng Đặc biệt, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ cũng đã được đề cập rộng rãi, với các nghiên cứu phân tích nội dung công tác cán bộ theo tư tưởng của Người được chia thành nhiều nhóm vấn đề khác nhau.

Nhóm nghiên cứu lý luận về tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác cán bộ được thể hiện rõ qua tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ” của Bùi Đình Phong, xuất bản năm 2006 Tác giả đã tập hợp và phân tích những tư liệu quan trọng, đánh giá những đóng góp của Hồ Chí Minh đối với vấn đề cán bộ Tác phẩm được cấu trúc thành 4 chương: chương 1 khám phá quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ; chương 2 nêu rõ tư tưởng của Người về cán bộ; chương 3 tập trung vào công tác cán bộ; và chương 4 bàn về việc vận dụng tư tưởng này trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngoài ra, tác phẩm “Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám” của Trần Văn Giàu, xuất bản năm 1993, cũng góp phần làm sáng tỏ chủ đề này.

Bài viết "Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn cán bộ phục vụ sự nghiệp cách mạng" của Hoàng Chí Bảo, đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội năm 2020, cùng tác phẩm "Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ" của Mạch Quang Thắng, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tiêu chuẩn và vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, nhấn mạnh tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh và hiệu quả.

Bài viết "Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí cán bộ và công tác cán bộ" của Thành Duy, đăng trên Tạp chí Thông tin lý luận số 05 năm 1997, đã làm nổi bật quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của cán bộ trong công tác quản lý Nhiều luận án, luận văn và bài viết khác cũng đã thảo luận sâu sắc về vấn đề này, thể hiện tầm quan trọng của công tác cán bộ trong việc xây dựng và phát triển đất nước theo tư tưởng của Người.

Nhóm nghiên cứu tập trung vào việc áp dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ vào thực tiễn hiện nay tại các cơ sở Tác phẩm "Tư tưởng Hồ Chí Minh" đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và nâng cao hiệu quả công tác cán bộ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh và đáp ứng yêu cầu phát triển Việc nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tư tưởng của Bác mà còn tạo ra các giải pháp thực tiễn cho công tác cán bộ hiện đại.

Bài viết "Chí Minh về cán bộ, công tác cán bộ và sự kế thừa, vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam" do Bộ Nội vụ phát hành năm 2021, cùng với bài viết "Thực trạng công tác cán bộ và nhiệm vụ, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh" của Nguyễn Thị Phương Hoa trên Tạp chí Quân đội nhân dân năm 2018, và tác phẩm "Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đánh giá cán bộ đối với công tác đánh giá cán bộ ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn, đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc cải cách và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đồng thời đề xuất các giải pháp thiết thực để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này trong bối cảnh cách mạng hiện nay.

Mậu Linh (2021) đã xuất bản tác phẩm "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp ở nước ta" Ngoài ra, Nguyễn Thị Hồng Nhung và Lê Thị Tố Nga đã trình bày nghiên cứu "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược" trên Tạp chí Khoa học chính trị (2019) Tương tự, Nguyễn Xuân Trung và Trần Thị Thanh Giang cũng đã công bố tác phẩm "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược" trên Tạp chí Cộng sản (2016).

Bài viết “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác sử dụng cán bộ, công chức” của

Vũ Xuân Chính, Tạp chí khoa học xã hội, số 6, năm 2001

Cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào hệ thống hóa nghiên cứu về việc áp dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác cán bộ tại các đơn vị giáo dục nghề nghiệp Do đó, tác giả quyết định nghiên cứu đề tài này.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ nhấn mạnh tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức, việc vận dụng tư tưởng này thể hiện qua việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng và đạo đức cho cán bộ, giảng viên Sự chú trọng vào công tác cán bộ không chỉ giúp cải thiện môi trường giáo dục mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà trường Việc áp dụng những nguyên tắc của Hồ Chí Minh trong quản lý và phát triển cán bộ sẽ tạo ra một đội ngũ chuyên môn vững mạnh, đáp ứng nhu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, đồng thời áp dụng những nội dung này vào công tác cán bộ tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức.

❖ Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được những mục đích trên đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, làm rõ điều kiện, tiền đề hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng

Hồ Chí Minh về công tác cán bộ

Thứ hai, phân tích thực trạng công tác cán bộ tại trường CĐCN Thủ Đức hiện nay

Cách tiếp cận nghiên cứu đề tài này nhằm đề xuất giải pháp áp dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác cán bộ tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Thủ Đức trong thời gian tới Việc phát huy tư tưởng này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển nguồn nhân lực tại trường, đảm bảo đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong Triết học Mác – Lênin, nhằm xem xét và giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả Bên cạnh đó, nghiên cứu còn áp dụng các phương pháp hỗ trợ như phương pháp lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, so sánh, và thống kê số liệu để làm rõ nội dung và kết quả của đề tài.

Đóng góp của đề tài

Bài viết này chỉ ra thực trạng công tác cán bộ tại trường Cao đẳng Công nghiệp Thủ Đức và đề xuất các giải pháp áp dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác cán bộ Những giải pháp này nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện sứ mệnh giáo dục nghề nghiệp của nhà trường.

Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 2 chương, 4 tiết

- Chương I: Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ

Điều kiện và tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ 9

Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam và bối cảnh thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng tiêu cực từ chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Năm 1858, thực dân Pháp chính thức xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng Sau khi hoàn tất việc xâm lược, họ thiết lập bộ máy thống trị trên toàn quốc nhằm cướp đoạt tài nguyên và bóc lột nhân công rẻ mạt, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa cho "chính quốc" Chính sách này đã làm thay đổi mạnh mẽ xã hội Việt Nam, biến nước này từ một quốc gia “phong kiến độc lập” thành một “thuộc địa nửa phong kiến”.

Thực dân Pháp thực hiện chính sách cai trị chuyên chế, tập trung quyền lực vào tay các viên quan Pháp, tước bỏ quyền lực của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn Họ đàn áp tự do dân chủ, khủng bố và dìm các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong máu Việt Nam, một quốc gia thống nhất, bị chia cắt thành ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ để dễ bề cai trị Hồ Chí Minh đã chỉ trích chính sách phản động của thực dân Pháp, nhấn mạnh rằng họ không cho nhân dân chút tự do nào, lập nhiều nhà tù hơn trường học, và tàn sát những người yêu nước Ông cũng chỉ ra rằng những ai đề cập đến bình đẳng, tự do đều bị coi là tội phạm và phải chịu sự trừng phạt khắc nghiệt Nhân dân Việt Nam, đặc biệt là thanh niên, sống trong cảnh bơ vơ, không có lãnh đạo và không thấy lối thoát.

Thực dân Pháp áp đặt chính sách độc quyền về xuất nhập khẩu, khai thác mỏ, giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính, thuốc phiện và muối tại Việt Nam, nhằm mục đích khai thác thuộc địa Chúng chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân để lập đồn điền và áp đặt hàng trăm loại thuế vô lý, dẫn đến tình trạng nghèo đói và thiếu thốn cho người dân Thay vì du nhập hoàn chỉnh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, Pháp duy trì quan hệ sản xuất phong kiến, kết hợp hai hình thức bóc lột để thu lợi nhuận siêu ngạch Hồ Chí Minh chỉ trích thực dân Pháp vì đã bóc lột nhân dân đến tận xương tủy, khiến đất nước rơi vào cảnh tiêu điều và bần cùng.

Thực dân Pháp áp dụng chính sách "ngu dân" trong giáo dục và "đầu độc" văn hóa tại Đông Dương, đồng thời tuyên truyền về chính sách "khai hóa" của "nhà nước bảo hộ" Họ đã du nhập văn hóa phẩm đồi trụy, khuyến khích tệ nạn cờ bạc, rượu chè và nghiện hút Hồ Chí Minh đã chỉ trích tội ác của chế độ thực dân, nhấn mạnh rằng người dân không chỉ bị áp bức và bóc lột nhục nhã, mà còn phải sống trong cảnh tối tăm, không có quyền tự do học tập.

Dưới tác động của chính sách cai trị và kinh tế, xã hội Việt Nam đã trải qua quá trình phân hóa sâu sắc, dẫn đến sự hình thành giai cấp công nhân và giai cấp tư sản dân tộc Vào đầu thế kỷ XX, những mâu thuẫn giữa các giai cấp như công nhân và tư sản, nông dân và địa chủ phong kiến, cũng như giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp ngày càng trở nên quyết liệt Những mâu thuẫn này đã tạo tiền đề cho các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giai cấp mạnh mẽ Hồ Chí Minh đã nhận định rằng, mặc dù có sự phục tùng, nhưng người Đông Dương đang âm thầm chuẩn bị cho một cuộc bùng nổ mạnh mẽ khi thời cơ đến, với toàn dân Việt Nam kiên quyết chống lại âm mưu của thực dân Pháp.

Việt Nam, mặc dù là một quốc gia nghèo và lạc hậu về kinh tế, nhưng lại có truyền thống yêu nước mãnh liệt và tinh thần đoàn kết dân tộc cao Nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp để bảo vệ độc lập Hồ Chí Minh từng khẳng định rằng tổ tiên ta với ý chí kiên cường và lòng yêu nước nồng nàn đã liên tiếp vùng dậy, luôn nêu cao ngọn cờ độc lập tự do Phong trào chống thực dân Pháp dưới sự lãnh đạo của vua Hàm Nghi (1885 – 1896) đã mở đường cho các phong trào giải phóng dân tộc, nhưng do thiếu đường lối chính trị rõ ràng và sự ủng hộ từ đông đảo nhân dân, các phong trào này cuối cùng đều thất bại, khiến nhân dân Việt Nam rơi vào tình trạng bế tắc trong cuộc đấu tranh cứu nước.

Vào đầu thế kỷ XX, tư tưởng tư sản của các nhà lãnh đạo như Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vị, Tôn Dật Tiên cùng với các tư tưởng Khai sáng Pháp đã được nhân dân Việt Nam tiếp nhận, đặc biệt là tư tưởng “tự do – bình đẳng – bác ái” Sự kìm kẹp của thực dân Pháp, kết hợp với những biến đổi tích cực về kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đã tạo ra tiền đề cho việc thiết lập một trật tự xã hội mới Để thực hiện điều này, cần có phương pháp phù hợp, như phương pháp của Phan Châu Trinh với việc khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh; của Phan Văn Trường với lý thuyết thấu nhân tâm; và của Phan Bội Châu với việc cầu cứu đồng văn, đồng chủng Tuy nhiên, các phương pháp này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách của xã hội Việt Nam thời điểm đó, dẫn đến việc các phong trào như Đông du, Đông kinh nghĩa thục, và Duy tân nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp.

Vào nửa cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền và chủ nghĩa đế quốc, dẫn đến việc các nước đế quốc gia tăng bóc lột nhân dân lao động và xâm lược các dân tộc thuộc địa Đến cuối thế kỷ XIX, quân sự hóa của các nước đế quốc đối với các thuộc địa đã cơ bản hoàn tất, với hầu hết các nước nhược tiểu ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ La-tinh trở thành thuộc địa Các đế quốc áp đặt ách thực dân dưới nhiều hình thức khác nhau, làm gia tăng sự áp bức và thôn tính dân tộc, từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn mới Những mâu thuẫn này bao gồm xung đột giữa giai cấp vô sản và tư sản chính quốc, giữa người lao động và địa chủ phong kiến, giữa các nước đế quốc với nhau, cũng như giữa dân tộc thuộc địa và đế quốc thực dân Sự phát triển gay gắt của những mâu thuẫn này đã tạo điều kiện cho các cuộc cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX.

Trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc trở thành kẻ thù chung của giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa, giai cấp tư sản cùng hệ tư tưởng dân chủ tư sản không còn được xem là tiến bộ Phong trào cách mạng thế giới yêu cầu một hệ thống lý luận khoa học để làm vũ khí tư tưởng cho giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Chính vì lý do này, chủ nghĩa Mác đã ra đời.

Năm 1848, bản “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là thông qua Đảng Cộng sản để đoàn kết đấu tranh, lật đổ chính quyền tư sản và thiết lập chuyên chính vô sản Tuyên ngôn trở thành vũ khí lý luận cho giai cấp công nhân toàn cầu trong cuộc chiến chống lại giai cấp tư sản với khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” Dưới sự dẫn dắt của chủ nghĩa Mác, giai cấp công nhân phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, với con đường đấu tranh từ tự phát đến tự giác Vào đầu thế kỷ XX, V.I Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác – Lênin, đánh dấu bước ngoặt cách mạng trong tư tưởng xã hội, thu hút quần chúng nhân dân lao động ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản Cách mạng tháng Mười Nga (1917) mở ra thời đại mới cho giai cấp công nhân và thu hút sự chú ý của những người yêu nước Việt Nam, đặc biệt là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, người đã ca ngợi tác động mạnh mẽ của cách mạng này trong việc giải phóng dân tộc và chống lại chủ nghĩa đế quốc.

Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập theo yêu cầu của phong trào cộng sản quốc tế, đánh dấu bước phát triển quan trọng cho phong trào cộng sản và công nhân toàn cầu Tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản năm 1929, V.I Lênin đã công bố “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”, chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa từ lập trường cách mạng vô sản Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng để đạt được thành công trong cách mạng, An Nam cần sự hỗ trợ từ Đệ tam quốc tế, khẳng định rằng con đường cứu nước và giải phóng dân tộc chỉ có thể thông qua cách mạng vô sản.

Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Việt Nam đối mặt với nhiều biến động lịch sử và xã hội, dẫn đến tình trạng khủng hoảng trong việc tìm kiếm con đường cứu nước Các nhà tư tưởng Việt Nam cần áp dụng phương pháp luận khoa học để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt là về cán bộ và công tác cán bộ, nhằm đảm bảo thành công trong cuộc đấu tranh giành độc lập và mang lại cuộc sống ấm no, tự do cho nhân dân Nhiệm vụ lịch sử này đã được Hồ Chí Minh tiếp nhận và thực hiện qua việc đào tạo, huấn luyện cán bộ, góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang Những bước đi quyết đoán của Hồ Chí Minh trong hành trình tìm đường cứu nước đã mở ra hướng đi mới cho dân tộc.

Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ

Vị trí, vai trò công tác cán bộ

Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của cán bộ trong mọi công việc và coi họ là nguồn lực chủ chốt cho sự phát triển của đoàn thể Ngay từ những ngày đầu hoạt động cách mạng, Người đã tập trung vào việc tuyển chọn, đào tạo và tổ chức đội ngũ cán bộ nòng cốt Điều này không chỉ chuẩn bị cho sự nghiệp cách mạng mà còn xây dựng một thế hệ cán bộ vững mạnh, phục vụ cho công cuộc kiến thiết đất nước và phát triển lên chủ nghĩa xã hội.

Cán bộ được định nghĩa là một phần thiết yếu của bộ máy nhà nước, tương tự như dây chuyền trong một động cơ; nếu dây chuyền không hoạt động tốt, toàn bộ hệ thống sẽ bị tê liệt Họ là những người thực thi chính sách của Chính phủ và đoàn thể trong cộng đồng Nếu cán bộ không đủ năng lực, ngay cả những chính sách tốt cũng sẽ không thể thực hiện hiệu quả Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò quan trọng của cán bộ trong mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, đồng thời xác định chức năng của họ trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nơi cán bộ không phải là “ông quan cách mạng” mà là đại diện của nhân dân, có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ được giao phó.

Cán bộ giữ vị trí quan trọng trong xã hội mới, cần có đủ tầm vóc về đức và tài để đại diện cho nhân dân Họ phải phục vụ các nguyên tắc chính đáng của nhân dân và thực hiện hiệu quả các chức năng của bộ máy nhà nước và đoàn thể, đáp ứng yêu cầu của xã hội XHCN.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm cán bộ không chỉ đơn thuần là những người có chức vụ trong bộ máy nhà nước mà còn là những cán bộ cách mạng, những người phải có ý thức phục vụ cho sự nghiệp cách mạng và nhân dân Mặc dù Hồ Chí Minh ít sử dụng thuật ngữ cán bộ cách mạng, nhưng Người luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phục vụ tận tâm cho lý tưởng cách mạng, lấy chính tấm gương của Người làm động lực phấn đấu cho mọi cán bộ trong xã hội.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng Đảng ta bao gồm hàng triệu người và hàng vạn cán bộ với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, từ sĩ, nông, công, thương, đến binh, cùng với trình độ văn hóa và tình hình cá nhân đa dạng Tuy nhiên, bất chấp sự phong phú đó, đội ngũ cán bộ cách mạng của chúng ta vẫn có những chức năng và vai trò chung quan trọng.

Chức năng thông báo và chuyển tiếp thông tin từ Đảng, Nhà nước và đoàn thể đến quần chúng nhân dân là rất quan trọng, đồng thời cũng tiếp nhận phản ánh từ quần chúng để thông báo kịp thời cho Đảng và Nhà nước Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng cán bộ đóng vai trò then chốt trong việc giải thích chính sách của Đảng và Chính phủ cho dân, cũng như báo cáo tình hình của dân chúng để xây dựng chính sách phù hợp Do đó, cán bộ được xem là gốc rễ của mọi công việc.

Chức năng lãnh đạo và quản lý là nhiệm vụ chung của tất cả cán bộ, dù vai trò có thể khác nhau theo thời gian và cấp bậc Đảng Cộng sản Việt Nam, với vai trò lãnh đạo, đã dẫn dắt toàn dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội XHCN Mỗi đảng viên, dù không giữ chức vụ nào, vẫn có trách nhiệm lãnh đạo vì họ là thành viên của Đảng, tổ chức có nhiệm vụ lãnh đạo chính quyền và nhân dân Đảng yêu cầu đảng viên phải gương mẫu trong trách nhiệm công dân và có trách nhiệm trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng Hồ Chí Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của cán bộ đảng viên và thường đề cập đến chức năng lãnh đạo nhiều hơn chức năng quản lý Ông cho rằng ba điều kiện của cách mạng bao gồm thiên thời, địa lợi và nhân hoà, trong đó nhân hoà là yếu tố quyết định, bao gồm sự phối hợp giữa đoàn thể, chính phủ, bộ đội và nhân dân.

Kinh nghiệm cho thấy rằng chính sách và phương châm của chính phủ là đúng đắn, và bộ đội cùng nhân dân luôn sẵn sàng hy sinh vì những mục tiêu lớn nhỏ Có hai loại cán bộ: loại thứ nhất nắm vững chính sách, học hỏi và thực hiện đúng, từ đó đạt được thành công nhờ sự đoàn kết và hợp tác chặt chẽ với nhân dân Ngược lại, loại cán bộ không chịu khó học hỏi, tự ý thay đổi chính sách và thiếu sự bàn bạc với nhân dân sẽ dẫn đến thất bại.

Người đã nhấn mạnh rằng cán bộ, từ Bộ trưởng đến cán bộ cơ sở, cần phải gương mẫu và chân thành tự phê bình, đồng thời khuyến khích quần chúng phê bình mình Việc mở rộng dân chủ và phát động quần chúng một cách sôi nổi và liên tục là điều cần thiết Tuy nhiên, tiếc rằng những lời dạy của Người vẫn chưa được nhiều cán bộ, đảng viên, kể cả những người ở cấp cao, ghi nhớ và thực hiện một cách nghiêm túc.

Chức năng phục vụ của cán bộ là một phần quan trọng trong vai trò lãnh đạo, nhằm phục vụ nhân dân thông qua các phương thức lãnh đạo hiệu quả Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng các cơ quan Chính phủ, từ trung ương đến địa phương, phải thực sự là công bộc của dân, có nghĩa là phục vụ lợi ích chung của nhân dân, chứ không phải áp bức họ như thời kỳ Pháp, Nhật.

Nhiệm vụ của chính quyền và đoàn thể là phục vụ nhân dân, nghĩa là làm đầy tớ cho nhân dân Để phục vụ tốt, cần phải thực hiện những việc lợi cho dân và tránh xa những việc hại dân Hồ Chí Minh nhấn mạnh tinh thần phục vụ của cán bộ, bản thân Người luôn gương mẫu và không bao giờ đặt mình cao hơn dân Việc lạm dụng chức quyền để trục lợi là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân mà Người đã phê phán Hồ Chí Minh khẳng định công tác cán bộ là vấn đề trọng yếu và cần thiết, nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ đủ năng lực, đáp ứng yêu cầu cách mạng và đại diện cho nguyện vọng của nhân dân Đảng cần thực hiện các bước công tác cán bộ để xây dựng đội ngũ lãnh đạo tin cậy và yêu mến của dân.

1 Phái biết rõ cán bộ

2 Phải cất nhắc cán bộ một cách cho đúng,

3 Phải khéo dùng cán bộ,

4 Phải phân phối cán bộ cho đúng

5 Phải giúp cán bộ cho đúng

6 Phải giữ gìn cán bộ

Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ ràng về quy trình khoa học trong công tác cán bộ từ những ngày đầu hoạt động cách mạng Ông nhấn mạnh rằng để hiểu rõ về cán bộ và đối đãi một cách đúng đắn, trước hết cần phải khắc phục những khuyết điểm của bản thân Ông khẳng định: "Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng." Do đó, việc loại bỏ những khuyết điểm cá nhân là rất quan trọng để đảm bảo sự chính xác trong đánh giá cán bộ.

2 Ưa người ta nịnh mình,

3 Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người:

4 Đem một cái khuôn khổ nhất định chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau

Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng việc mắc sai lầm trong công tác cán bộ là điều bình thường và không nên bị đánh giá mãi mãi, vì quá khứ, hiện tại và tương lai của mỗi người có thể khác nhau Ông khẳng định rằng cán bộ là gốc rễ của mọi công việc, và sự thành công hay thất bại của công việc phụ thuộc vào chất lượng cán bộ Từ đó, Người đã dành nhiều tâm huyết cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng và lãnh đạo cách mạng, góp phần vào việc xây dựng xã hội mới ở miền Bắc và thống nhất đất nước ở miền Nam Giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh về công tác cán bộ thể hiện rõ tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề này trong mọi giai đoạn phát triển.

Công tác phát hiện, lựa chọn cán bộ

Vai trò của con người trong mọi công việc là vô cùng quan trọng, quyết định đến chất lượng và hiệu quả Dù ý tưởng hay kế hoạch có tuyệt vời đến đâu, nếu không có người thực hiện, chúng chỉ là những khả năng chưa thành hiện thực Hơn nữa, ngay cả khi có người thực hiện, thành công vẫn không đảm bảo nếu họ không phù hợp với yêu cầu công việc Vì vậy, việc phát hiện và lựa chọn đúng người cho từng công việc trong điều kiện cụ thể là một trong những vấn đề hàng đầu và quan trọng nhất trong công tác tuyển chọn cán bộ.

P.M.Kéc - Gien – Txép viết: “nhiệm vụ của người tổ chức trước hết là ở chỗ phải lựa chọn hợp lý người để đưa vào biến chế của mình, giao cho mỗi người một lĩnh vực cụ thể nhất định” [38, 117] Nhận thức sâu sắc vấn đề này, nên ngay từ những ngày đầu cách mạng và trong suốt quá trình lãnh đạo nhân dân ta vừa kháng chiến vừa kiến quốc

Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến việc phát hiện và lựa chọn cán bộ, như đã nêu trong Chỉ thị “Tìm người tài đức” trên báo Cứu quốc ngày 20-11-1946, khi ông nhấn mạnh rằng "nước nhà cần phải kiến thiết và cần có nhân tài." Để trọng dụng những tài năng, các địa phương cần điều tra và báo cáo ngay cho Chính phủ về những người có khả năng đóng góp cho đất nước Để lựa chọn cán bộ thành công, lãnh đạo phải xây dựng tiêu chí rõ ràng, phù hợp với yêu cầu công việc, tránh dựa vào cảm tính hay tình cảm cá nhân Hồ Chí Minh cũng phê phán những sai lầm trong việc sử dụng cán bộ, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn đúng người cho đúng việc.

1 Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài

2 Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình và chán ghét những người chính trực

3 Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người không hợp với tính tình của mình

Hành động bao dung và che chở cho những người sai phạm đã dẫn đến tình trạng ngày càng hư hỏng trong xã hội Ngược lại, những người chính trực lại bị soi mói và trả thù, làm tổn hại đến công việc của Đảng và danh giá của lãnh đạo.

Việc xây dựng tiêu chí rõ ràng và đầy đủ là rất quan trọng để lựa chọn đúng cán bộ, tránh tình trạng dao động và mất phương hướng trong quá trình này Không nên quá khắt khe, vì điều đó có thể lãng phí nhân tài Hồ Chí Minh đã thiết lập tiêu chí lựa chọn cán bộ rộng rãi nhưng chặt chẽ, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân tài phục vụ tổ quốc và tạo cơ hội cho những người tài đức Chính sách cầu hiền tài của Người thể hiện rõ ràng qua việc đoàn kết với những ai có tài, đức và lòng phụng sự nhân dân Đồng thời, Người cũng đưa ra bốn tiêu chí cụ thể để lựa chọn cán bộ, đảm bảo tính chặt chẽ trong công tác này.

“Những người tỏ ta rất trung thành và hăng hải trong công việc, trong lúc đấu tranh

Những người có mối liên hệ chặt chẽ với cộng đồng và hiểu biết về nhu cầu của dân chúng luôn chú trọng đến lợi ích của họ, từ đó tạo dựng niềm tin và sự tín nhiệm từ phía dân Họ là những người có khả năng giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn, trở thành những nhà lãnh đạo đáng tin cậy.

Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo c Những người luôn giữ đúng kỷ luật” [25, 275]

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, việc lựa chọn cán bộ cần dựa trên tiêu chí chất lượng, đồng thời cần mở rộng hợp tác với những người có đạo đức và năng lực ngoài Đảng Đảng không thể hoạt động đơn độc và cần xóa bỏ thói khinh người, kiêu ngạo Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng phong trào giải phóng đã sản sinh ra nhiều nhân tài ngoài Đảng, và chúng ta không được bỏ rơi họ Cần thân thiết và gần gũi với những người này, tận dụng tài năng của họ trong công cuộc kháng chiến cứu nước, đồng thời loại bỏ những căn bệnh kiêu ngạo, hẹp hòi và bao biện.

Báo Cứu quốc số 411, ngày 20 tháng 11 năm 1946, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện cán bộ, với Bác Hổ cảnh báo rằng "Nếu Chính phủ không chú ý, sẽ khó tìm ra những bậc tài đức", từ đó khẳng định rằng không cần lo lắng về việc thiếu nhân tài.

Phát hiện và lựa chọn cán bộ là một nhiệm vụ quan trọng và liên tục trong công tác cán bộ của người lãnh đạo Đây không phải là một công việc chỉ thực hiện một lần, mà là quá trình thường xuyên nhằm xây dựng đội ngũ kế cận Diễn biến công việc luôn phức tạp và khó lường, do đó, việc thường xuyên phát hiện và lựa chọn cán bộ là cần thiết Như Hồ Chí Minh đã viết: “nơi nào cán bộ cấp trên lựa chọn và dìu dắt, thì có nhiều cán bộ mới này nở và công việc rất phát triển; trái lại, nơi nào cán bộ cấp trên không biết lựa chọn, dìu dắt, thì vẫn cứ thiếu người mà công việc cử luộm thuộm.”

Để tuyển chọn cán bộ, cần xây dựng quy chế thi nhằm đánh giá chất lượng đội ngũ công chức, đảm bảo việc bổ nhiệm và xếp ngạch đúng với tài năng, đức độ và trình độ nghề nghiệp của từng người Sắc lệnh số 188 năm 1948 và số 76 năm 1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký đã quy định các môn thi biên chế nhà nước, bao gồm: lĩnh vực chính trị với các môn đại cương về hiến pháp và tổ chức chính quyền; lĩnh vực pháp luật với kiến thức về chính thể Cộng hòa dân chủ Việt Nam, chế độ bầu cử và tổ chức hành pháp, tư pháp; lĩnh vực địa lý với kiến thức về địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội của Việt Nam và các nước lân cận; và lĩnh vực lịch sử với kiến thức về triều đình nhà Nguyễn và sự xâm lược của Pháp tại Việt Nam.

Dương nghiên cứu các phong trào xã hội, tư tưởng và học thuật tại Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, bao gồm sự thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Ngoài ra, trong phần thi ngoại ngữ, thí sinh có thể tự nguyện dịch một bài tiếng Anh ở trình độ trung học chuyên ngành, dịch một bài tiếng Hoa ở trình độ trung học chuyên khoa, và viết một bức thư bằng tiếng Pháp.

Trong bối cảnh dân tộc đang nỗ lực hết mình cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chương trình thi cử chưa được triển khai rộng rãi Tuy nhiên, ý nghĩa của chương trình này lại rất quan trọng cho sự phát triển và hoàn thiện đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước.

Mặc dù đã chọn đúng cán bộ theo những tiêu chí nhất định, nhưng điều này không đảm bảo rằng họ sẽ luôn giữ được những tiêu chí đó trong suốt quá trình làm việc Khi đảm nhận các vị trí và cương vị khác nhau, nhiều vấn đề có thể phát sinh, do đó cần có cách thức quản lý và xử sự phù hợp với từng loại cán bộ, bao gồm cả cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng, những người có khuyết điểm cũng như thành tích, và cần quan tâm đến tình cảm, tư tưởng, cũng như đời sống gia đình của họ Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, có năm cách tiếp cận đối với cán bộ.

Chỉ đạo trong công tác quản lý cần dựa trên đường lối của Đảng, cho phép cán bộ cấp dưới tự chủ và chịu trách nhiệm Không nên can thiệp quá mức, khiến họ trở thành máy móc phụ thuộc vào mệnh lệnh, dẫn đến sự ỷ lại và thiếu sáng kiến Thay vào đó, cần hướng dẫn họ về phương hướng và cách thức thực hiện công việc, nhằm phát triển năng lực và sáng tạo của cán bộ, phù hợp với các định hướng lớn đã được xác định.

Mỗi cán bộ cần có ý thức vươn lên để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, không thể dừng lại ở sự tự mãn Tuy nhiên, việc tự nâng cao là chưa đủ; người lao động cần tìm cách học hỏi thêm về lý luận và phương pháp làm việc để cải thiện tư tưởng và năng lực Nâng cao năng lực là quy luật trong công tác cán bộ, vì nếu không tiến bộ, sẽ dẫn đến thoái bộ, gây cản trở cho sự phát triển của công việc cách mạng.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

GS Trần Văn Giàu nhận định rằng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ coi đào tạo cán bộ là nhiệm vụ cách mạng hàng đầu Theo Hồ Chí Minh, cán bộ là gốc rễ của mọi công việc, và thành công hay thất bại đều phụ thuộc vào chất lượng cán bộ Để xây dựng đội ngũ cán bộ tốt, Đảng cần chú trọng đến công tác đào tạo, rèn luyện và bồi dưỡng, coi đây là công việc cốt lõi Trong quá trình đào tạo, cần phải chú trọng cả phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn Đội ngũ cán bộ không chỉ cần có tài năng và kinh nghiệm lãnh đạo, mà còn phải có đức, thể hiện qua lòng trung thành, thái độ phục vụ nhân dân, và sẵn sàng hy sinh vì lợi ích của nhân dân.

Khi nhắc đến đức và tài, nhiều người thường coi trọng tài năng, đặc biệt khi so sánh với Hồ Chí Minh Tuy nhiên, theo Người, đức là nền tảng quan trọng đối với người cán bộ Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng “người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức dù có tài giỏi đến mấy cũng không thể lãnh đạo được nhân dân.” Đạo đức cách mạng được Người định nghĩa là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Hơn nữa, Người cũng khẳng định rằng “đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống” mà được hình thành qua quá trình rèn luyện, học tập của cán bộ và từ phong trào quần chúng.

Quan niệm đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh không thể đơn giản coi là ảnh hưởng của Nho giáo, mà cần hiểu rõ sự tác động sâu sắc của truyền thống đạo đức Việt Nam Nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu đã chỉ ra rằng, ảnh hưởng của Nho giáo mang tính chất tích cực, đặc biệt là truyền thống coi trọng tư cách đạo đức của người Việt Trong bối cảnh lịch sử, Việt Nam, một nước nhỏ bên cạnh một nước lớn, đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh để bảo vệ lãnh thổ Chính nhờ vào tư cách và đạo đức, người Việt Nam đã nâng cao sức mạnh của mình, giúp đất nước tồn tại và phát triển qua thời gian Truyền thống này được tiếp nối và phát huy bởi các thế hệ sau, trong đó có Nguyễn.

Huấn luyện là một khái niệm bao gồm giảng dạy và hướng dẫn luyện tập Theo Hồ Chí Minh, huấn luyện không chỉ là dạy dỗ mà còn là rèn giũa để loại bỏ những tư tưởng tiêu cực Sau cách mạng, Đảng đã tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ, nhưng vẫn còn nhiều khuyết điểm như thiếu tính thực tiễn trong dạy chính trị, không gắn liền với nghề nghiệp, và chưa nâng cao trình độ văn hóa cho công nhân và nông dân Đặc biệt, việc huấn luyện lý luận cho cán bộ cao cấp cũng chưa thực sự liên kết giữa lý thuyết và thực tiễn, thường chỉ dạy theo hình thức học thuộc lòng.

“việc huấn luyện còn hữu danh vô thực, làm chỉ cốt nhiều mà không thiết thực chu đáo”

Rèn luyện đạo đức là nội dung đào tạo đầu tiên, trong khi đào tạo lý luận chính trị là yếu tố bao trùm trong công tác đào tạo cán bộ Chủ nghĩa Mác - Lênin được coi là nền tảng vững chắc cho Đảng, giúp cán bộ hiểu và thực hiện đúng đường lối cách mạng Theo Hồ Chí Minh, việc trang bị lý luận tiền phong cho cán bộ không chỉ giúp họ phát triển bản thân mà còn góp phần giác ngộ quần chúng, tạo nên sức mạnh cho phong trào cách mạng.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Huấn luyện chính trị, môn nào cũng phải có” [22,

Mục tiêu của cách mạng là giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó đào tạo lý luận chính trị cho cán bộ là rất quan trọng để thực hiện nhiệm vụ này Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng việc tổ chức trường học lý luận cho cán bộ nhằm nâng cao trình độ lý luận của Đảng, đáp ứng yêu cầu của cách mạng và thực tiễn Chỉ khi nắm vững lý luận, con người mới có thể hành động tự giác, linh động và sáng tạo Tuy nhiên, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ cách mạng phải “vừa hồng vừa chuyên”, vì vậy việc đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cũng cần được chú trọng Ông khẳng định rằng mỗi cán bộ và đảng viên phải học lý luận và áp dụng vào thực tế, đồng thời cần khắc phục tình trạng xem nhẹ lý luận và lý luận suông.

Đào tạo cán bộ cách mạng không chỉ yêu cầu kiến thức lý luận mà còn cần sự tiên phong trong hành động Cán bộ cần phải dẫn dắt quần chúng trong cuộc đấu tranh và sẵn sàng nhận trách nhiệm cho những nhiệm vụ khó khăn Để Đảng thành công, cần đào tạo những cán bộ dũng cảm, nhiệt huyết và có khả năng lãnh đạo Việc đào tạo cán bộ không thể hoàn thành trong thời gian ngắn; thay vào đó, cần xây dựng dần dần tác phong làm việc qua quá trình học tập liên tục.

Để đạt được mục tiêu đào tạo cán bộ có khả năng vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp chủ nghĩa Mác-Lênin vào giải quyết các vấn đề cách mạng cụ thể, việc học tập cần tuân thủ nguyên tắc lý luận gắn liền với thực tiễn.

Công tác đánh giá, sử dụng cán bộ

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đánh giá cán bộ là một khâu quan trọng trong công tác cán bộ, bao gồm ba nội dung trọng tâm cần chú ý.

1) Phải tiến hành thường xuyên: nhiệm vụ cách mạng luôn vận động và biến đổi, do đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ cũng phải thay đổi theo Việc đánh giá cán bộ thường xuyên sẽ giúp bố trí cán bộ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng; giúp cho tổ chức “biết rõ cán bộ”, nắm chắc đội ngũ cán bộ để có chính sách và biện pháp thích hợp, đồng thời tạo tâm lý yên tâm cho đội ngũ cán bộ trong hoạt động thực tiễn

2) Phải khách quan, toàn diện: muốn đánh giá cán bộ một cách khách quan phải chú ý đến năng lực, phẩm chất, hiệu quả công việc Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng đánh giá cán bộ phải chú trọng đến phẩm chất đạo đức và coi đây là yếu tố quan trọng nhất Người chỉ rõ: “Ai mà hay khoe công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích người khác, hay tự tâng bốc mình, những người như thế, tuy họ làm được việc, cũng không phải cán bộ tốt” Ngược lại: “ai cứ cắm đầu làm việc, không ham khoe khoang, ăn nói ngay thẳng, không che giấu khuyết điểm của mình, không ham việc dễ, tránh việc khó, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi, những người như thế, dù công tác kém một chút cũng là cán bộ tốt” Theo Người, việc đánh giá cán bộ cần phải dựa vào nhân dân, phát huy dân chủ và nắm bắt được dư luận xã hội mới bảo đảm thực chất và hiệu quả

Việc đánh giá cán bộ cần phải xem xét toàn diện công việc của họ, không chỉ dựa vào những biểu hiện bên ngoài mà còn phải đứng trên quan điểm “động” và “phát triển” Trong thế giới luôn biến đổi, tư tưởng của con người cũng không ngừng thay đổi.

Vì vậy, cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp nhất, vì nó cũng phải biến hóa

Không có ai là hoàn hảo và không mắc sai lầm, nhưng điều đó không có nghĩa là họ sẽ không mắc sai lầm trong tương lai Quá khứ, hiện tại và tương lai của mỗi người luôn có sự thay đổi và phát triển.

3) Phải tự “biết mình”, phải sáng suốt, tỉnh táo: để đánh giá người khác, trước hết bản thân phải là cán bộ có đủ tư cách, phẩm chất đạo đức cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái ở người ta, thì trước phải biết đúng sự phải trái của mình Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu” Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ cách mạng phải có đầy đủ chuẩn mực đạo đức thì trong công việc mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Người còn nhắc nhở những người làm công tác cán bộ phải dũng cảm nhìn nhận và kiên quyết khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của mình

Quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động cách mạng đã chỉ ra rằng một cơ cấu cán bộ tốt không nhất thiết mang lại kết quả cao nếu không biết cách sử dụng đúng người Do đó, cần phải hiểu rõ và đánh giá chính xác cán bộ để có kế hoạch bồi dưỡng và huấn luyện phù hợp Việc đánh giá đúng cán bộ bao gồm việc xác định ai có năng lực, điểm mạnh, điểm yếu, khả năng hoàn thành công việc và mối quan hệ với quần chúng, từ đó phát hiện những nhân tài mới và loại bỏ những người không đủ năng lực.

Cán bộ là con người chịu tác động của hoàn cảnh lịch sử - xã hội, vì vậy khi đánh giá cán bộ, Hồ Chí Minh luôn xem xét một cách toàn diện và đa chiều Ông nhấn mạnh rằng một cán bộ có thể mắc sai lầm trong quá khứ nhưng không nhất thiết sẽ sai lầm mãi mãi, và ngược lại, những cán bộ chưa mắc sai lầm hiện tại cũng có thể gặp phải trong tương lai Đánh giá cán bộ cần phải dựa trên toàn bộ quá trình công tác của họ, không chỉ qua bề ngoài hay một sự kiện đơn lẻ Hồ Chí Minh khẳng định tiêu chuẩn đánh giá cán bộ phải dựa trên phẩm chất và năng lực, trong đó người cán bộ tốt phải hội tụ đủ đức và tài Đức là đạo đức cách mạng, kiên quyết, liêm chính, và công bằng, trong khi tài là khả năng hành động hiệu quả Sự thống nhất giữa đức và tài là điều cần thiết, với đức được coi là nền tảng.

Hồ Chí Minh đã cảnh báo về những người muốn làm mật thám, thường thể hiện sự nhiệt tình trong công việc nhưng thực chất lại che giấu bản chất thật của mình Trong bối cảnh hiện nay, điều này đặc biệt nguy hiểm khi những người này cố gắng lọt vào các vị trí lãnh đạo Nghị quyết trung ương 9 khóa IX nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện và sử dụng người tài trong công tác cán bộ Sai lầm lớn nhất là nhận diện nhầm người tài; nếu điều này xảy ra do sự vô tình hay thiếu sót trong nhận thức, vẫn cần phải xử lý nghiêm khắc việc lẫn lộn giữa bản chất thật và giả, nhằm đảm bảo sự chính xác trong đánh giá cán bộ.

Hồ Chí Minh gọi đó là “khuyết điểm to”

Để đánh giá cán bộ một cách chính xác, người đánh giá cần phải công tâm, vô tư và khách quan Điều này đòi hỏi họ phải "tự sửa mình" để có thể nhận biết đúng sai trong bản thân, từ đó mới có thể đánh giá đúng cán bộ tốt hay xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng nếu không hiểu rõ bản thân, sẽ rất khó để hiểu người khác Vì vậy, việc tự nhận thức về sự đúng sai của chính mình là điều kiện tiên quyết để đánh giá đúng đắn về cán bộ.

Người lãnh đạo thiếu văn hóa thường chỉ đánh giá những ai phù hợp với họ, ngay cả khi đó là những người kém phẩm chất, trong khi lại xem thường những người chính trực và có năng lực Họ có xu hướng tự mãn, coi thường người khác và dễ dàng bị ảnh hưởng bởi những lời nịnh bợ Hệ quả là những cán bộ có năng lực thực sự thường bị đánh giá thấp, trong khi những người kém năng lực nhưng khéo léo trong việc nịnh bợ lại được coi là tốt Thiếu văn hóa lãnh đạo dẫn đến việc đánh giá sai lệch, khi mà cán bộ bị nhìn nhận qua lăng kính hạn hẹp Để có đánh giá chính xác, cần phải lắng nghe ý kiến của người dân và thảo luận để đạt được sự đồng thuận Việc đánh giá cán bộ không chỉ ảnh hưởng đến kế hoạch huấn luyện mà còn phản ánh cách lãnh đạo Đánh giá và sử dụng cán bộ là hai mặt không thể tách rời, việc đánh giá đúng sẽ giúp sử dụng cán bộ hiệu quả và ngược lại.

Theo Hồ Chí Minh, việc xác định đúng yêu cầu công việc và tránh thiên vị cá nhân là rất quan trọng trong quản lý nhân sự Sử dụng người là một nghệ thuật, vì vậy việc bố trí đúng sẽ phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của cán bộ Ông nhấn mạnh rằng mỗi người đều có điểm mạnh và điểm yếu, và cần biết cách sử dụng nhân tài phù hợp với khả năng của họ Việc phân công công việc nên dựa trên năng lực thực tế, ví dụ như không nên để thợ rèn làm tủ hay thợ mộc làm dao, mà phải tận dụng đúng khả năng của từng người để đạt hiệu quả cao nhất.

Để sử dụng cán bộ hiệu quả, người lãnh đạo cần có tâm huyết, trí tuệ và bản lĩnh, thể hiện qua việc dám cất nhắc những người tài năng Sự dũng cảm trong việc sử dụng nhân sự có năng lực là yếu tố quan trọng để đạt được thành công trong quản lý.

Lãnh đạo cần biết phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu của nhân viên Họ không nên sợ mất vị trí mà phải biết trân trọng và sử dụng những người tài giỏi hơn mình Một lãnh đạo có tâm và trí tuệ sẽ biến tài năng nhỏ thành tài năng lớn, trong khi lãnh đạo thiếu trí tuệ sẽ làm cho tài năng lớn trở nên nhỏ bé và không phát triển Theo người Pháp, quản lý là nghệ thuật tổ chức để người khác làm việc hiệu quả Do đó, một trong những tiêu chí quan trọng nhất của lãnh đạo là khả năng sử dụng nhân sự đúng cách Các cán bộ lãnh đạo cần thực hiện năm vấn đề quan trọng khi sử dụng nhân sự.

Để đối xử với cán bộ một cách công bằng và không thiên lệch, chúng ta cần có sự độ lượng vĩ đại, giúp họ không bị bỏ rơi.

- Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình không ưa

- Phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ

- Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt

- Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình" [25, 279]

Tình hình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức hiện nay

2.1.1 Tình hình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức hiện nay

Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức, với gần 40 năm hình thành và phát triển, bắt nguồn từ Trung tâm Giáo dục Kỹ thuật Tổng hợp và Hướng nghiệp Thủ Đức, được thành lập năm 1984 theo Quyết định số 215/QĐ-UB của UBND TP Hồ Chí Minh Năm 2002, trường được đổi tên thành Trường Trung học Kỹ thuật và Nghiệp vụ Thủ Đức theo Quyết định số 2230/QĐ-UB Đến năm 2008, Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức chính thức được thành lập dựa trên nền tảng của Trường Trung học Kỹ thuật và Nghiệp vụ Thủ Đức theo Quyết định số 6426/QĐ-BGD-ĐT của Bộ Giáo dục – Đào tạo.

Nhà trường tại TP Hồ Chí Minh là một đơn vị đào tạo nhân lực chất lượng trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, có mối quan hệ lâu dài với các trường Đại học, Cao đẳng tại Hàn Quốc Trường đã triển khai nhiều chương trình tập huấn, đào tạo và trao đổi giảng viên, học sinh, sinh viên Hiện nay, nhà trường tham gia nhiều dự án quốc tế như Dự án SP (Singapore Polytechnic), đề án TAFE New Wales (Úc) và dự án APEFE (Bỉ) Với vị thế uy tín trong đào tạo nghề và xu hướng phát triển thông qua hợp tác quốc tế, nhà trường tạo ra nhiều cơ hội tiếp cận chương trình giáo dục mới, góp phần xây dựng đội ngũ giảng viên chất lượng và lực lượng tay nghề cao.

“Đạo đức – Tri thức – Kỹ năng”

Theo Nghị quyết của Chính phủ tháng 8 năm 2016, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội được giao làm cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp Đến tháng 5/2017, Sở GD&ĐT TP Hồ Chí Minh đã bàn giao các trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Hiện nay, các trường đang tiến hành chuyển đổi theo Luật giáo dục nghề nghiệp.

Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 và Luật viên chức 2010, khái niệm “Cán bộ” được định nghĩa là công dân Việt Nam, được bầu cử hoặc bổ nhiệm vào các chức vụ trong các cơ quan của Đảng Cộng sản, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội Cán bộ làm việc tại các cấp tỉnh, huyện và nhận lương từ ngân sách nhà nước (Điều 4, Luật Cán bộ, Công chức) Luật sửa đổi, bổ sung cũng đã được thông qua tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV, có hiệu lực từ 01/7/2020.

❖ Đối với Đảng bộ nhà trường:

Đảng bộ trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức là một tổ chức cơ sở trực thuộc Đảng bộ Sở GD&ĐT TP Hồ Chí Minh, được thành lập theo quyết định số 33/QĐ-ĐU ngày 19/4/2012 Tổ chức này được hình thành từ Chi bộ trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức và tính đến tháng 3/2022, đã có sự phát triển trong cơ cấu tổ chức.

Trường hiện có 05 chi bộ trực thuộc, bao gồm 02 chi bộ khối phòng/khoa/trung tâm, 02 chi bộ khối khoa/bộ môn và 01 chi bộ khối HSSV, với tổng số 85 đảng viên, chiếm 34,8% tổng số giảng viên và nhân viên Cơ cấu nhân sự theo Đề án nhân sự Đại hội đảng viên lần thứ V, nhiệm kỳ 2020-2025 bao gồm 01 Bí thư Đảng bộ.

Hiện nay, Đảng bộ có 01 Phó bí thư, 01 Ủy viên BTV và 06 UV BCH, cùng với 05 đồng chí trong Ủy ban kiểm tra Tất cả cán bộ thực hiện công tác đảng đều kiêm nhiệm, không có nhân sự hoặc bộ phận chuyên trách, tổng cộng có 20 cán bộ.

Nhằm hỗ trợ cán bộ thực hiện công tác đảng tại trường, nhà trường đã triển khai nhiều chế độ phúc lợi, bao gồm "Trợ cấp các chức vụ kiêm nhiệm", nhằm đảm bảo nguồn kinh phí kịp thời và tạo điều kiện an tâm cho cán bộ trong công việc.

Mục 8 Trợ cấp các chức vụ kiêm nhiệm, Điều 20 Chi phí nghiệp vụ chuyên môn của Quy chế chi tiêu nội bộ năm 2023 quy định: “Bí thư Đảng bộ: 1.500.000Đ/tháng; Phó bí thư Đảng bộ: 1.200.000Đ/tháng; Ủy viên BTV và Ủy viên BCH Đảng bộ: 800.000Đ/tháng, Bí thư Chi bộ: 700.000Đ/tháng; Phó bí thư Chi bộ: 600.000Đ/tháng; Chi ủy viên: 400.000Đ/tháng; Phụ trách công tác Đảng: 500.000Đ/tháng, Ủy viên UBKT Đảng ủy: 300.000Đ/tháng” [18, 45]

❖ Đối với công tác chính quyền:

Tính đến tháng 03/2023, có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản liên quan đến đặc điểm công tác cán bộ tại nhà trường hiện nay như sau:

Hiện tại, tổng số giảng viên và nhân viên là 244 người, trong đó có 141 giảng viên, chiếm 57,8%, và 103 nhân viên, chiếm 42,2% Lực lượng cán bộ quản lý gồm 65 người, tương đương 26,6% tổng số nhân sự.

Về trình độ học vấn: Đại học: 5; Thạc sĩ: 56; Tiến sĩ: 4

Về trình độ lý luận chính trị: Sơ cấp 6; Trung cấp 42; Cao cấp hoặc Cử nhân: 6

Về trình độ ngoại ngữ: Bậc 2: 10; Bậc 3: 29; Bậc 4: 8; Bậc 5: 3; Bậc 6: 1; Đại học: 13

Về trình độ tin học: Ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản: 52; Ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao: 13

Theo Thông tư số 33/2005/TT-BGDĐT ngày 08/12/2005 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định về chế độ phụ cấp chức vụ lãnh đạo trong các cơ sở giáo dục công lập, hệ số phụ cấp cho các vị trí lãnh đạo được xác định như sau: Hiệu trưởng có hệ số 0.9, Phó Hiệu trưởng 0.7, Trưởng khoa, phòng, bộ môn và tương đương 0.45, Phó trưởng khoa, phòng, bộ môn và tương đương 0.35, và Trưởng bộ môn, Tổ trưởng Trung tâm cùng tương đương là 0.25.

Để đảm bảo đội ngũ cán bộ thực hiện công tác chính quyền của nhà trường yên tâm làm việc và kịp thời nhận được nguồn kinh phí hỗ trợ, nhà trường đã triển khai các chế độ phúc lợi, trong đó có khoản "Trợ cấp các chức vụ kiêm nhiệm".

Mục 8 Trợ cấp các chức vụ kiêm nhiệm, Điều 20 Chi phí nghiệp vụ chuyên môn của Quy chế chi tiêu nội bộ năm 2023 quy định: “Hiệu trưởng: 1.500.000Đ/tháng; Phó Hiệu trưởng: 1.200.000Đ/tháng; Trưởng phòng/khoa, Giám đốc Trung tâm hoặc Trưởng bộ môn trực thuộc trường, kế toán trưởng: 1.000.000Đ/tháng; Phó phòng/khoa, Phó giám đốc Trung tâm: 800.000Đ/tháng; Trưởng bộ môn trực thuộc khoa: 700.000Đ/tháng” [18,

❖ Đối với tổ chức Công Đoàn:

Công đoàn cơ sở trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức đã chính thức hoạt động độc lập từ năm 1990, sau thời gian hợp nhất với Công đoàn trường Phổ thông trung học Vừa học vừa làm - Phân hiệu Nông nghiệp thuộc trường Sư phạm.

Công đoàn cơ sở trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức đã thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đoàn viên công đoàn Hiện tại, BCH Công đoàn cơ sở gồm 9 thành viên, quản lý 244 công đoàn viên được tổ chức thành 16 tổ công đoàn Tất cả cán bộ phụ trách công tác Công đoàn đều kiêm nhiệm, với tổng số 25 cán bộ, bao gồm 9 UV BCH và 16 Tổ trưởng Để chăm lo cho nữ giáo viên và nhân viên, Công đoàn trường đã thành lập Ban Nữ công với 5 cán bộ, bao gồm 1 Trưởng ban, 1 Phó ban và 3 Ủy viên, theo Quyết định số 02C/QĐ-CNTĐ-CĐ ngày 13/01/2023.

Giải pháp phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ đối với công tác cán bộ tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức hiện nay

Giải pháp công tác cán bộ của tổ chức Đảng

Đảng, chính quyền và các đoàn thể trong trường tạo thành một hệ thống thống nhất, với Đảng là hạt nhân lãnh đạo và Hiệu trưởng là người đứng đầu Đảng ủy và Ban Giám hiệu có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc các nghị quyết và chỉ thị của cấp trên Đảng ủy đảm bảo điều kiện để Hiệu trưởng thực hiện quyền hạn, trong khi Hiệu trưởng tạo điều kiện cho Đảng ủy thực hiện chức năng của mình Nếu có bất đồng giữa Hiệu trưởng và Ban Thường vụ Đảng ủy, Hiệu trưởng sẽ trao đổi với Ban Giám hiệu, và Ban Thường vụ Đảng ủy sẽ đưa ra thảo luận để ra Nghị quyết Nếu vẫn chưa thống nhất, Hiệu trưởng sẽ báo cáo với cơ quan chủ quản và Đảng ủy sẽ xin ý kiến từ Ban Thường vụ Đảng ủy Sở Giáo dục và Đào tạo Trong trường hợp khẩn cấp, Hiệu trưởng có quyền quyết định và chịu trách nhiệm với cấp trên.

Đảng bộ nhà trường đang hoàn thiện cơ chế chính sách để tạo ra môi trường thuận lợi cho cán bộ, giúp họ tự khẳng định và phát triển Các quy định về quyền hạn và điều kiện làm việc được xác định rõ ràng nhằm phát huy năng lực và trách nhiệm của cán bộ quản lý cũng như các cán bộ có trình độ cao Đồng thời, việc rà soát và ban hành các chính sách mới đảm bảo cán bộ được hưởng lợi ích vật chất và tinh thần tương xứng với kết quả lao động của họ Hệ thống văn bản quy định cũng được hoàn thiện, tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả để đảm bảo lợi ích cho cán bộ khi chuyển giao phát minh, sáng kiến Cuối cùng, nhà trường mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế trong nhiều lĩnh vực.

Đảng ủy chú trọng thực hiện chính sách thu hút và đãi ngộ cán bộ, đồng thời tôn vinh những đóng góp của họ Việc trao đổi giảng viên với nước ngoài và tuyển chọn, đào tạo sinh viên ưu tú tham gia đội ngũ cán bộ nguồn cũng được ưu tiên Chính sách minh bạch trong tuyển dụng, bố trí và đánh giá cán bộ quản lý được thực hiện nghiêm túc, cùng với việc tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm của các đơn vị trong trường.

Để phát huy tối đa năng lực của cán bộ, cần sử dụng đúng chuyên môn và sở trường của họ Việc đề cao trách nhiệm thông qua xây dựng quy chế và cơ chế thông tin sẽ giúp trí thức nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như tình hình đất nước, địa phương và trường học Đồng thời, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng và bồi dưỡng đạo đức công vụ là cần thiết để phát huy những phẩm chất tốt đẹp của dân tộc.

Đảng ủy cần tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, tiếp tục rà soát quy hoạch cán bộ theo diện quản lý của BTV Đảng ủy Đồng thời, cần tạo điều kiện cho các khoa, trung tâm, phòng ban chủ động phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu phát triển quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo đến năm 2027 Công tác kiểm tra, đánh giá cần kịp thời để uốn nắn nhận thức và hành động không đúng trong xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng ủy và Ban giám hiệu cần tăng cường kiểm tra toàn diện, chỉ rõ hạn chế và nguyên nhân, đồng thời đề xuất biện pháp khắc phục cụ thể Cần đấu tranh khắc phục quan điểm sai lầm về công tác cán bộ, tránh tư tưởng ỷ lại và khuyến khích tính chủ động sáng tạo Triển khai hiệu quả Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị nhằm khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, giúp họ phát huy sở trường và tài năng trong công tác lãnh đạo, đối mặt với những khó khăn, thử thách thực tiễn.

Thứ tư, Đảng ủy căn cứ vào những quy định hiện hành của Đảng, của Thành ủy TP

Đảng bộ Hồ Chí Minh đã ban hành quy định về quy chế làm việc của Ban chấp hành và Ban Thường vụ Đảng ủy, nhằm xác định rõ mối quan hệ làm việc giữa Đảng ủy với Hiệu trưởng, các đoàn thể và cấp trên trực tiếp Đồng thời, các quy định cũng được áp dụng cho các chi bộ trực thuộc, giúp nâng cao hiệu quả lãnh đạo công tác cán bộ và khẳng định vai trò lãnh đạo vững chắc của Đảng trong toàn trường.

Giải pháp công tác cán bộ của chính quyền

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện hiệu quả và khoa học Quyết định 1018/QĐ-

CNTĐ-TCNS ngày 20/12/2022 đã ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức, được Hiệu trưởng phê duyệt nhằm cơ cấu tổ chức lại bộ máy các khoa, phòng, trung tâm Mục tiêu là từng bước hoàn thiện tổ chức, đáp ứng yêu cầu phát triển trường và nâng cao chất lượng đào tạo Việc rà soát chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị hiện có sẽ khắc phục hiện tượng chồng chéo chức năng Dựa trên yêu cầu phát triển, trường sẽ sắp xếp lại và thành lập mới một số đơn vị như Bộ môn Tiếng Nhật, Trung tâm Công nghệ thông tin và Quản lý cơ sở dữ liệu, và Bộ phận Quan hệ quốc tế.

Phòng Tổ chức nhân sự cần phát huy vai trò tham mưu cho Hiệu trưởng trong các hoạt động liên quan đến công tác cán bộ như tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo và chế độ phúc lợi Trong tuyển dụng, ưu tiên chọn nhân sự có trình độ đại học, chú trọng cân đối giới tính và thu hút cán bộ trẻ Đối với đào tạo, cán bộ cần không ngừng nâng cao trình độ để thực hiện tốt nhiệm vụ, trong khi nhà trường cần chú trọng đào tạo ngắn và dài hạn cho cán bộ quản lý Cần tạo điều kiện cho cán bộ đạt chuẩn học cao học và nghiên cứu sinh, đồng thời xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, ngoại ngữ và kỹ năng nghề phù hợp với yêu cầu công việc.

Tổng cục giáo dục nghề nghiệp nhấn mạnh rằng, việc xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ chỉ là bước khởi đầu; điều quan trọng là triển khai thực hiện quy hoạch đó Nhà trường cần đào tạo đội ngũ cán bộ đạt tiêu chuẩn để phù hợp với quy hoạch Công tác bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ cần được xem xét, điều chỉnh quy trình cho phù hợp với thực tế và phải đảm bảo kịp thời Cần mạnh dạn trẻ hóa đội ngũ cán bộ và sắp xếp nhân sự dựa trên khả năng và chuyên môn của họ Công tác thuyên chuyển phải được thực hiện một cách khoa học và thận trọng, không theo cảm tính Đối với đánh giá và tôn vinh cán bộ, cần cải tiến phương pháp đánh giá để tránh tình trạng xếp hạng thi đua không hiệu quả, đồng thời tăng cường chính sách tôn vinh những cán bộ có đóng góp nổi bật cho nhà trường Nhà trường cũng nên mở rộng đối tượng tuyên dương để khuyến khích sáng tạo và cống hiến trong các hoạt động kết nối doanh nghiệp, nghiên cứu khoa học và huy động nguồn tài trợ.

Nhà trường cần coi đào tạo thực tiễn là khâu bắt buộc trong quá trình phát triển cán bộ Bên cạnh trình độ học vấn, cán bộ cũng cần có kinh nghiệm thực tiễn thông qua các tổ chức và lãnh đạo đơn vị Sau khi hoàn thành đào tạo, cán bộ sẽ được tham gia các chương trình đào tạo ngắn hạn, hội thảo và tập huấn liên quan đến công việc của mình Việc bố trí hợp lý giữa cán bộ trẻ và cán bộ có thâm niên sẽ giúp nâng cao năng lực, kinh nghiệm và sự sáng tạo lẫn nhau.

Nhà trường cần chú trọng công tác cán bộ nữ, vì họ là cầu nối giữa tổ chức đảng và quần chúng phụ nữ, đồng thời là lực lượng quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nhà trường Việc nâng cao vai trò của cán bộ nữ không chỉ dựa trên quan điểm giới tính mà còn là yêu cầu thiết yếu trong công tác cán bộ Cần thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí cán bộ nữ một cách hiệu quả, đồng thời xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với từng giai đoạn Đảm bảo tỷ lệ nữ tham gia các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị và quản lý nhà nước, cũng như phát triển cán bộ nữ trong nghiên cứu khoa học và lãnh đạo Cần có chính sách cụ thể về quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ nữ, đồng thời ưu tiên thu hút nữ giảng viên có trình độ Tiến sĩ trong lĩnh vực kỹ thuật công nghệ.

Nhà trường đang xây dựng các chế độ đãi ngộ phù hợp để thu hút nhân lực đã qua đào tạo sau đại học làm việc lâu dài Đồng thời, nhà trường cũng chú trọng gửi đào tạo cả trong và ngoài nước, tận dụng các học bổng và dự án hợp tác quốc tế để bồi dưỡng nhân viên Bên cạnh đó, nhà trường từng bước cập nhật và hoàn thiện Quy chế chi tiêu nội bộ nhằm tạo cơ sở cho chính sách tài chính hỗ trợ phát triển đội ngũ cán bộ quản lý.

Ngày đăng: 10/11/2024, 19:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w