Những vấn Đề an ninh phi truyền thống của việt nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế Những vấn Đề an ninh phi truyền thống của việt nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Tên đề tài: Những vấn đề an ninh phi truyền thống của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Mã số đề tài: QG.16.55
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Trúc Lê
Hà Nội, 2017
Trang 21
PHẦN I THÔNG TIN CHUNG
1.1 Tên đề tài: Những vấn đề an ninh phi truyền thống của Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập quốc tế
1.2 Mã số: QG.16.55
1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài
TT Chức danh, học vị,
1 PGS.TS Nguyễn Trúc Lê Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG
2 TS Lưu Quốc Đạt Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội Thành viên
3 TS Trần Quang Tuyến Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG
4 TS Vũ Văn Hưởng Học Viện Tài Chính, Hà Nội Thành viên
5 ThS Nguyễn Đức Lâm Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội Thư ký
1.4 Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội
1.5 Thời gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 1 năm 2018
1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng… năm…
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 12 năm 2017
1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có):
(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện;
Nguyên nhân; Ý kiến của Cơ quan quản lý)
1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 250 triệu đồng
PHẦN II TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Đặt vấn đề
An ninh phi truyền thống (ANPTT) là một khái niệm mới xuất hiện và được bàn đến khá nhiều trong thời gian gần đây Đây là mối quan tâm lớn của các quốc gia dân tộc trên thế giới, là một trong những chủ đề quan trọng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, được bàn luận trên nhiều diễn đàn quốc tế, cũng như trong nhiều nội dung của các quan hệ hợp tác song phương và đa phương (Nguyễn Mạnh Hưởng, 2011) Tuy nhiên, cho đến nay, việc nhận thức và xác định những vấn đề ANPTT vẫn
Trang 32
tồn tại những khác biệt đáng kể Tùy thuộc vào cách nhìn nhận, góc độ, lĩnh vực tiếp cận, hoàn cảnh cụ thể mà từng nhà nghiên cứu đưa quan niệm khác nhau về ANPTT (Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển, 2016)
Trong số các lĩnh vực của ANPTT, an ninh năng lượng (ANNL) nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế Đảm bảo ANNL có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia Khái niệm về ANNL được bắt đầu đề cập đến từ thập niên 70 của thế kỷ trước, đặc biệt là giai đoạn xảy ra cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973-1974 Trong giai đoạn này, ANNL được hiểu theo nghĩa hẹp đồng nghĩa với “an ninh dầu lửa”, tức là đảm bảo khả năng tự cung cấp dầu ở mức cao nhất đồng thời giảm mức nhập khẩu dầu và kiểm soát được những nguy cơ đi kèm việc nhập khẩu (Tạ Ngọc Tấn, 2015)
Ngày nay, sự nóng lên của trái đất và sự thay đổi của khí hậu toàn cầu làm cho các quốc gia dần thay đổi cách nhìn về an toàn năng lượng Do đó, nội hàm ANNL đã thay đổi, ANNL được xem là vấn đề tồn tại song song với duy trì sự phát triển ổn định
và bền vững ANNL đối với một quốc gia khu vực hiện nay phải gắn liền với duy trì phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và đảm bảo trạng thái môi trường Trải qua nhiều
tranh luận, khái niệm ANNL hiện nay có thể được hiểu một cách chung nhất đó là “sự
đảm bảo đầy đủ năng lượng dưới nhiều dạng khác nhau, sạch và rẻ” (Hoàng Minh Hằng, 2007) Mặc dù vậy, một số nghiên cứu cho rằng, khái niệm ANNL vẫn còn chưa rõ ràng, và điều này gây khó khăn cho việc đo lường và đánh giá (Winzer, 2015; Löschel, 2010; Kruyt, 2009)
Nhận biết được tầm quan trọng của ANNL, đã có nhiều nghiên cứu xem xét các khía cạnh và nội dung khác nhau của ANNL (tiêu biểu là các nghiên cứu của Cheng, 2008; Coq và Paltseva, 2009; Sovacool, 2011; Månsson, 2014; Brown và các cộng sự, 2014; Cherp và Jewell, 2014; Ren và Sovacool, 2014; Winzer, 2015; Tạ Ngọc Tấn, 2015) Tuy nhiên, các nghiên cứu khác nhau liên quan tới ANNL trên thế giới, nhưng
số lượng các nghiên cứu liên quan tới ANNL của Việt Nam còn rất hạn chế và chủ yếu dựa trên các phân tích định tính
2 Mục tiêu
Mục tiêu của nghiên cứu như sau:
Trang 43
- Nghiên cứu cơ sở lý luận vể ANPTT nói chung và ANNL nói riêng, cụ thể làm
rõ nội hàm khái niệm ANPTT và ANNL
- Đánh giá thực trạng những vấn đề ANPTT của Việt Nam hiện nay, trong đó tập trung đánh giá thực trạng ANNL trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ANNL của Việt Nam
- Đưa ra những khuyến nghị, giải pháp cho cơ quan chức năng tại Việt Nam trong việc hoạch định chính sách nhằm đảm bảo nền kinh tế - xã hội phát triển
bền vững trong tiến trình hội nhập quốc tế
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Dựa trên tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế, hai nhóm nhân tố (nguy cơ) gây mất ANNL gồm: nhóm nhân tố tác động (thang đo) từ nguồn cung năng lượng (S) và nhóm nhân tố tác động (thang đo) từ cầu năng lượng (D) Cụ thể, nhóm nhân tố ảnh hưởng tới nguồn cung năng lượng gồm: Sự cạn kiệt nguồn nguyên/nhiên liệu hóa thạch (S1), Bất ổn chính trị trên thế giới và trong khu vực (S2), Phụ thuộc nguồn nguyên/nhiên liệu nhập khẩu (S3), Nguy cơ tội phạm, khủng bố tại các cơ sở cung cấp điện (S4), Biến đổi khí hậu (thiên tai) (S6), Ngành công nghiệp năng lượng chậm phát triển (S6), Hiệu quả của quá trình khai thác, sản xuất năng lượng chưa cao (S7), Công nghệ phục vụ phát triển ngành năng lượng còn lạc hậu so với thế giới (S8), Các nguồn năng lượng mới chưa được khuyến khích phát triển (S9); nhóm nhân tố ảnh hưởng tới cầu năng lượng gồm: Gia tăng cầu năng lượng trong lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam (D1), Gia tăng cầu năng lượng trong lĩnh vực công nghiệp của Việt Nam (D2),
Sự gia tăng của cầu năng lượng trong lĩnh vực dịch vụ của Việt Nam (D3), Gia tăng cầu năng lượng trong sinh hoạt của người dân (D4), Nguồn năng lượng chưa được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả (D5), Mức giá đối với các mặt hàng năng lượng là thấp (D6) Trong nghiên cứu này, phương pháp điều tra xã hội học thông qua sử dụng phiếu khảo sát được sử dụng để thu thập dữ liệu sơ cấp Thang đo likert 5 được sử dụng trong bảng hỏi, trong đó “5 = rất đồng ý” và “1 = rất không đồng ý” Bảng hỏi được gửi tới các chuyên gia và nhà quản lý thuộc lĩnh vực liên quan tới năng lượng Dữ liệu thu được từ bảng hỏi sẽ được làm sạch và phân tích sử dụng mô hình cấu trúc mạng (AMOS) nhằm xác định nhóm nhân tố ảnh hưởng ANNL
Trang 54
Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện, một trong các hình thức chọn mẫu phi xác suất Theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, đối tượng được chọn những phần tử (đối tượng nghiên cứu) có thể tiếp cận được (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2009) Đối tượng khảo sát của nghiên cứu này là các cán bộ làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên Theo Hair và các cộng sự (1998), để thực hiện được phân tích nhân tố EFA thì kích thước của mẫu áp dụng trong nghiên cứu phải tối thiểu là gấp 5 lần tổng số biến quan sát Bài nghiên cứu có 20 biến quan sát, như vậy số mẫu tối thiểu là 20*5 = 100; Đối với phân tích hồi quy đa biến: cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức là 50 + 8*m (m: số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1996) Nghiên cứu có 3 biến độc lập, do vậy kích thước mẫu tối thiểu là: 50+8*3 = 74 quan sát Như vậy, tổng số mẫu trong nghiên cứu là 103 hoàn toàn phù hợp với yêu cầu được đặt ra và đảm bảo tính đai diện cho tổng thể
3.2 Phương pháp phân tích cấu trúc mạng
Các thang đo được đánh giá sơ bộ thông qua 2 công cụ chính là hệ số tin cậy Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Hệ số Cronbach Alpha được sử dụng trước để loại các biến không phù hợp trước Các biến có hệ số tương quan biến tổng (Item - Total correlation) nhỏ hơn 0.30 sẽ bị loại và tiêu chuẩn chọn thang đo khi
nó có độ tin cậy Alpha từ 0.60 trở lên (Nunnallly và Berntein, 1994) Tiếp theo, phương pháp EFA được sử dụng Trong phần này, các biến có trọng số (factor loading) nhỏ hơn 0.40 trong EFA sẽ tiếp tục bị loại Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50% (Gerbing và Anderson, 1988) Cuối cùng, thang đo được đánh giá lại bằng phương pháp phân tích nhân tố khẳng định CFA thông qua phần mềm phân tích cấu trúc tuyến tính AMOS21
3.3 Mô hình phân tích thứ bậc (AHP)
Trong nghiên cứu này, phương pháp AHP mở rộng (đề xuất bởi Chang, 1996) được sử dụng để xác định trọng số của các nhân tố ảnh hưởng tới ANNL Mô hình này
sử dụng biến ngôn ngữ để biểu diễn các đánh giá so sánh được đưa ra bởi hội đồng ra quyết định
Đặt: X = { x 1 , x 2 , …, x n } là tập hợp của n đối tượng;
G = {g 1 , g 2 , …, g m } là tập hơp của m mục tiêu so sánh
Trang 65
Theo phương pháp của Chang (1996) thì mỗi một đối tượng x i được biểu diễn
tương ứng với một đối tượng so sánh, ký hiệu là: g i Theo đó, mỗi đối tượng x i sẽ được
so sánh với m mục tiêu, ta ký hiệu như sau:
Trang 7i i
4 Tổng kết kết quả nghiên cứu
4.1 Nội hàm của an ninh phi truyền thống
Các nhà nghiên cứu đã chia an ninh thình hai lĩnh vực lớn ANTT và ANPTT (Trương Minh Huy Vũ, 2016) Trong khi ANTT chủ yếu nhấn mạnh tới an ninh quốc phòng với biện pháp đảm bảo quân sự và ngoại giao để bảo vệ chủ quyền quốc gia thì ANPTT lại tập trung vào các nguy cơ rât đa dạng đe dọa cuộc sống của cá nhân, cộng đồng và quốc gia dân tộc từ các nguồn phi quân sự Những mối đe doạ này không phải chỉ đến từ bên ngoài mà còn đến từ bên trong của một quốc gia như thương mại, ô nhiễm môi sinh, biển đổi khí hậu, thiên tai, bệnh tật, nghèo đói, di dân…ANPTT đã được các học giả quốc tế như Caballero-Anthony (2010) định nghĩa là những thách thức đối với sự tồn tại và hạnh phúc của các dân tộc và các quốc gia chủ yếu bắt nguồn ngoài yếu tố quân sự, như biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường xuyên biên giới và cạn kiệt nguồn tài nguyên, các bệnh truyền nhiễm, các thảm họa tự nhiên, di cư bất thường, thiếu lương thực, buôn lậu, buôn bán ma túy, và các hình thức khác của tội phạm xuyên quốc gia Tương tự với quan điểm trên, Amitav Acharya cho rằng an ninh phi truyền thống là “các thách thức đối với sự tồn vong và chất lượng cuộc sống của con người và nhà nước có nguồn gốc phi quân sự như thay đổi khí hậu, khan hiếm nguồn lực, bệnh dịch, thiên tai, di cư không kiểm soát, thiếu lương thực, buôn người,
Trang 87
buôn ma túy và tội phạm có tổ chức” Trong cách tiếp cận vấn đề an ninh phi truyền thống thì có hai đối tượng bị thách thức trực tiếp ở đây là nhà nước và con người (Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển, 2016)
Từ định nghĩa trên, chúng ta thấy các mối đe dọa an ANPTT có một vài đặc điểm chung Về bản chất các nguy cơ ANPTT không bắt nguồn từ yếu tố quân sự, phạm vi xuyên quốc gia, và có khả năng lan truyền nhanh chóng do toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghệ thông tin Điều này ngụ ý rằng những mối đe dọa phi truyền thống nhiều hơn nữa đáng sợ hơn so với những truyền thống bởi chúng yêu cầu các lãnh đạo quốc gia phải xem xét không chỉ với hợp tác quốc tế bên ngoài mà còn phải giải quyết các vấn đề nội bộ bên trong đất nước để giải quyết các vấn đề ANPTT(Chaudhuri, 2016) Do vậy, cách tiếp cận nhà nước làm trung tâm hiện hữu đối với an ninh quốc gia, giới hạn trong việc bảo vệ đất nước chống lại sự xâm lược lãnh thổ, cần được được mở rộng với ý tưởng an ninh bao gồm một bộ phận lớn hơn các mối đe dọa cho người dân của nhà nước (Raghavan, 2007) Chaudhuri (2016) cho rằng để phân tích được toàn diện các khía cạnh khác nhau của ANPTT, chúng ta nên xác định sáu lĩnh vực rộng lớn của ANPTT, cụ thể là, khủng bố quốc tế, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, an ninh môi trường, di cư bất hợp pháp, an ninh năng lượng và
an ninh con người
Có nhiều tổ chức và học giả trong nước và quốc tế đưa ra các khái niệm khác nhau về ANPTT Theo Nguyễn Mạnh Hưởng (2011), không phải ngẫu nhiên mà cách đặt vấn ANPTT của mỗi quốc gia, khu vực và cộng đồng có những điểm khác nhau nhất định Việc xác định những vấn đề cụ thể nào đó trong nội hàm của vấn đề ANPTT như các nhận thức nêu trên đều mang ý nghĩa tương đối, nhằm phục vụ cho việc hoạch định, xây dựng chính sách, chiến lược an ninh của đất nước và những cam kết an ninh song phương, đa phương trong hợp tác, liên kết quốc tế nhất định Kế thừa
từ các nghiên cứu và áp dụng với điều kiện cụ thể của Việt Nam, ANPTT có thể hiểu như sau:
“An ninh phi truyền thống là việc đảm bảo an toàn, không có hiểm nguy cho cá nhân con người, quốc gia dân tộc và toàn nhân loại trước các nguy cơ đe dọa có nguồn gốc phi quân sự như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, khan hiếm nguồn
Trang 98
lực, dịch bệnh lây lan nhanh, việc làm, đói nghèo và bất bình đẳng, tiếp cận giáo dục
và y tế, tội phạm nguy hiểm xuyên biên giới, chủ nghĩa khủng bố Các nguy cơ đe dọa
an ninh phi truyền thống thường lan truyền nhanh và có ảnh hưởng sâu và rộng mang tính khu vực hoặc toàn cầu, do tác động bởi mặt trái của kinh tế thị trường, của toàn cầu hóa, của sử dụng thành tựu khoa học - công nghệ và quản lý yếu kém của các quốc gia” Trong khái niệm này, tác giả có đề cập thêm nguy cơ đe dọa ANPTT bao
gồm tình trạng đói nghèo và bất bình đẳng, thiếu việc làm, và thiếu tiếp cận tới giáo dục và y tế Hơn nữa, nguyên nhân của các nguy cơ trên không chỉ bắt nguồn từ mặt trái cơ chế thị trường, từ toàn cầu hóa mà còn do sự quản lý yếu kém của các quốc gia trong giải quyết các vấn đề nêu trên
Ở Việt Nam trong các năm gần đây cho thấy rằng chính phủ đã quan tâm nhiều hơn tới các vấn đề ANPTT và điểu đó đã được thể hiện rõ trong các diễn đàn đối thoại chính sách khu vực và quốc tế cũng như trong việc giải quyết các vấn đề nội bộ quốc gia Việt Nam đã đạt được những thành công đáng kể trong giải quyết một số vấn đề ANPTT như xóa đói giảm nghèo, phổ cập giáo dục cơ bản và đảm bảo sự tiếp cận dịch
vụ y tế Các mối quan tâm của chính phủ, và các chính sách liên quan đã và đang được điều chỉnh để đảm bảo ứng phó với các vấn đề về ANPTT
Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề khác liên quan tới ANPTT đòi hỏi Việt Nam tập trung nhiều nguồn lực cũng như sự phối kết hợp giữa các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế để giải quyết như: biến đổi khí hậu, thiên tai, ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó quá trình hội nhập cũng đem lại một số hệ quả tiêu cực như cạnh tranh và mất việc làm cho lao động địa phương, sự phát triển thiên lệch làm gia tăng mức sống giữa các nhóm dân cư và các vùng Cần nhận thức rõ được những bối cảnh kinh tế xã hội cụ thể của Việt Nam gắn với các vấn đề ANPTT Chúng tôi cho rằng sự phát triển yếu kém của khu vực kinh tế nhà nước, quy mô nhỏ và hiệu quả thấp của khu vực kinh tế
tư nhân phản ảnh nội lực kinh tế của Việt Nam còn yếu và đây cần coi là một vấn đề của ANPTT ở Việt Nam cần tập trung giải quyết trong thời gian tới
An ninh năng lượng (ANNL) là một trong những lĩnh vực của ANPTT Nội hàm ANNL thay đổi theo thời gian Trước những năm 50 thì khái niệm này chưa xuất hiện Cho đến thập niên 50 của thế kỷ XX, tiến trình công nghiệp hóa và tiêu thụ năng
Trang 109
lượng đã có nhiều biến động ANNL lúc này được hiểu là đảm bảo khả năng tự cung
tự cấp, giảm thiểu sự nhập khẩu từ nước ngoài Năm 1974, cơ quan năng lượng quốc
tế (IEA) được thành lập và chính thức đưa ra khái niệm về ANNL ANNL được lý giải
là “một trạng thái mà người tiêu thụ có thể ổn định và tin cậy để dành được năng lượng cần thiết, là chỉ mức độ liên tục và ổn định trong việc đảm bảo cung ứng năng lượng để thỏa mãn nhu cầu sinh tồn và phát triển của quốc gia (Tạ Ngọc Tấn, 2015)
Ngày nay, khái niệm ANNL có thể được hiểu một cách chung nhất đó là “sự đảm bảo đầy đủ năng lượng dưới nhiều dạng khác nhau, sạch và rẻ” (Hằng, 2007) Theo nghĩa
rộng, “anh ninh năng lượng là một khái niệm bao hàm rất nhiều các vấn đề liên kết năng lượng với tăng trưởng kinh tế và quyền lực chính trị” (Lâm, 2013)
4.2 Thực trạng năng lượng của Việt Nam
4.2.1 Giới thiệu chung về tình hình năng lượng tại Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa Đông Nam Á, có nguồn tài nguyên nhiên liệu năng lượng đa dạng, đầy đủ chủng loại như than đá, dầu khí, thủy điện và các nguồn năng lượng tái tạo khác như năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối, năng lượng gió, năng lượng địa nhiệt, năng lượng biển… Mặc dù Việt Nam có nguồn nguyên nhiên liệu năng lượng đa dạng, song không thực sự dồi dào (Nguyễn Anh Tuấn, 2017)
Hình 1 Tương quan giữa phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng năng lượng từ năm
2005 đến 2030
Nguồn: Hiệp hội năng lượng Việt Nam (2014)
Hình 1 cho thấy so sánh tương quan giữa tăng trưởng kinh tế (GDP) và tổng nhu cầu năng lượng, từ năm 2025 đến năm 2030 khả năng thiếu năng lượng đáp ứng nhu cầu
Trang 1110
tăng trưởng kinh tế là không tránh khỏi, đòi hỏi ngay từ bây giờ chúng ta phải có chiến lược đáp ứng tổng nhu cầu năng lượng sớm Tăng trưởng nhu cầu năng lượng của Việt Nam theo dự báo là 8,1-8,7% giai đoạn 2001 - 2020 (Vũ Nhật Quang, 2014) Đặc biệt
là nhu cầu tiêu thụ năng lượng trong công nghiệp của nước ta tăng nhanh: từ 4,36 triệu tấn quy dầu TOE (năm 2000) lên đến 16,29 triệu tấn TOE (năm 2010); 23,74 triệu tấn TOE (năm 2015) và dự báo sẽ đạt 33,12 triệu tấn TOE (năm 2020) Hơn nữa hiệu suất
sử dụng năng lượng nước ta không cao, để tạo ra 1.000 USD GDP, Việt Nam đã phải tiêu tốn khoảng 600 kg dầu quy đổi, cao gấp 1,5 lần so với Thái Lan và gấp 2 lần mức bình quân của thế giới Như vậy Việt Nam đang đứng trước khó khăn làm sao để sử dụng năng lượng một cách hiệu quả và nguy cơ phụ thuộc năng lượng nhập khẩu là rất lớn
Hình 2 Các lĩnh vực sử dụng năng lượng ở Việt Nam giai đoạn 2010-2030
Nguồn: Nguồn: Hiệp hội năng lượng Việt Nam (2014b)
Xét trong giai đoạn 2010-2030, dựa trên Hình 2 ta thấy ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng nhất, tiếp đến là giao thông vận tải, sau đó là dân dụng và dịch vụ thương mại Tăng trưởng sử dụng năng lượng đối với ngành công nghiệp, giao thông vận tải và dịch vụ thương mại có sự tăng nhanh so với dân dụng và nông nghiệp
4.2.2 Thực trạng các nguồn cung năng lượng
a Về dầu khí
Trang 1211
Theo Tạ Ngọc Tấn và các cộng sự (2015), trữ lượng dầu khí đã được phát hiện
là 1,3 tỷ tấn quy dầu và nghiên cứu đánh giá tiềm năng còn lại ước tính từ 2,8 đến 3,6
tỷ tấn quy dầu Còn theo công ty năng lượng toàn cầu (PB) của Anh thì ước tính trữ lượng dầu khí đã được chứng minh của Việt Nam là 4,4 tỷ thùng quy dầu, đứng ngay sau Trung Quốc, tức là đứng thứ hai ở Đông Á(Wikipedia)
Từ điểm mốc khai thác m3 khí đầu tiên vào tháng 6/1981 và khai thác tấn dầu thô đầu tiên vào tháng 6/1986, đến nay Tập đoàn dầu khí Việt Nam đang khai thác 25
mỏ dầu khí ở trong nước và 10 mỏ ở nước ngoài với tổng sản lượng khai thác đến nay đạt trên 455 triệu tấn quy dầu (trong đó, khai thác dầu là trên 346 triệu tấn và khai thác khí là trên 108 tỷ m3), doanh thu từ bán dầu đạt trên 140 tỷ USD, nộp ngân sách nhà nước đạt trên 67 tỷ USD (Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, 2015)
Ngành dầu khí đóng góp phần lớn ngoại tệ cho quốc gia với các sản phẩm phục
vụ nền kinh tế như điện khí, xăng dầu, khí nén cao áp và năng lượng sạch Xuất khẩu dầu thô có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, đóng góp phần lớn kim ngạch xuất khẩu
cả nước, đặc biệt là giai đoạn trước năm 2009, trên 15% Từ năm 2009, tỷ trọng này đã giảm và chỉ còn chiếm khoảng 7,5%
Hình 3 Sự đóng góp của ngành dầu khí cho thị trường xuất khẩu cả nước giai đoạn
2004 - 2012
Nguồn: Tạp chí Tài chính Việt Nam (2012)
Trang 1312
Theo quyết định của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 41 về định hướng chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035 là: với trọng tâm là tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí; công nghiệp khí; chế biến dầu khí; tồn trữ và phân phối các sản phẩm dầu khí; dịch vụ dầu khí, đặc biệt là dịch vụ kỹ thuật dầu khí chất lượng cao1
b Về ngành than
Tổng trữ lượng và tài nguyên than dự tính đến ngày 31/12/2015 đạt khoảng 48,88 tỷ tấn gồm khoảng 2,26 tỷ tấn trữ lượng và 46,62 tỷ tấn tài nguyên, trong đó có 0,34 tỷ tấn than bùn (Song Hà, 2016) Trữ lượng và tài nguyên than quy hoạch khoảng 3,05 tỷ tấn gồm khoảng 1,22 tỷ tấn trữ lượng và 1,83 tỷ tấn tài nguyên, trong đó có 0,06 tỷ tấn than bùn
Việt Nam là nước có tiềm năng về than khoáng các loại Than biến chất thấp (lignit - á bitum) ở phần lục địa trong bể than sông Hồng tính đến chiều sâu 1700m có tài nguyên trữ lượng đạt 36,960 tỷ tấn (210 tỷ tấn với độ sâu 3500m) Than biến chất trung bình (bitum) đã được phát hiện ở Thái Nguyên, vùng sông Đà và vùng Nghệ Tĩnh với trữ lượng tổng tài nguyên gần 80 triệu tấn Than biến chất cao (anthracit) phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh, Thái Nguyên, sông Đà, Nông Sơn với tổng tài nguyên đạt trên 18 tỷ tấn Bể than Quảng Ninh là lớn nhất với trữ lượng đạt trên 3 tỷ tấn, đã được khai thác phục vụ tốt cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu từ hơn 100 năm nay (Tổng hội Địa chất Việt Nam, 2011)
Than để cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện hiện nay chủ yếu tập trung ở Bể than Đông Bắc (Quảng Ninh), và một số mỏ than ở các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Nông Sơn với sản lượng lần lượt là 46,98 triệu tấn năm 2010; 48,28 triệu tấn năm 2011; 44,33 triệu tấn năm 2012 và 42,85 triệu tấn 2013 (Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, 2014) Kế hoạch dài hạn của ngành than phấn đấu năm 2020 đạt sản lượng than thương phẩm khoảng 65-60 triệu tấn than, và 66 - 70 triệu tấn vào năm 2025, trên 75 triệu tấn vào năm 2030
Ngày nay, năng lượng thế giới đã chuyển từ việc tập trung khai thác và sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng tái tạo tuy nhiên Việt Nam đang có những bước
1 http://www.sggp.org.vn/kinhte/2016/4/418922/
Trang 14Hơn nữa hiệu suất sử dụng năng lượng trong các nhà máy nhiệt điện nước ta chỉ đạt 28-32% (thấp hơn mức thế giới 10%), hiệu suất các lò hơi công nghiệp chỉ đạt khoảng 60% (thấp hơn mức trung bình của thế giới khoảng 20%) (Hiệp hội năng lượng Việt Nam, 2014) Theo nghiên cứu của trung tâm phát triển sáng tạo xanh (GreenID), việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than như hiện nay ở Việt Nam sẽ thải ra một lượng tro xỉ khổng lồ gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường và sức khỏe cộng đồng, ước tính khoảng 14,8 triệu tấn mỗi năm từ năm 2020 và lên đến 29,1 triệu tấn mỗi năm từ 2030 (VIETTIMES, 2015)
Nhu cầu về năng lượng của Việt Nam được dự báo tăng bốn lần từ 2005 - 2030
và nhu cầu về điện sẽ tăng chín lần từ 2005 - 2025, do đó việc khai thác năng lượng tái tạo sẽ giúp Việt Nam giảm được sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng nhập khẩu và
đảm bảo ANNL quốc gia (Hiệp hội năng lượng Việt Nam, 2014c) Hơn nữa năng
lượng hóa thạch ngày càng gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho môi trường, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo, đề ra các mục tiêu sử dụng năng lượng tái tạo và hướng đến một thị trường cạnh tranh với nguồn đầu tư và mô hình kinh doanh đa dạng
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều Quyết định số 1855/QD-TTg ngày 27/12/2007 phê duyệt Chiến lược phát triển Năng lượng tái tạo quốc gia của Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2050, Quyết định số 1208/QĐ-TTg ngày 21/7/2011 phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm
2030, Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg ngày 20/11/2007 phê duyệt “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” trong đó: Chính phủ đã đề
ra mục tiêu tăng thị phần của năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng thương mại sơ cấp từ 3% năm 2010 lên 5% năm 2020 và 11% năm 2050, tăng thị phần điện sản xuất
Trang 15c Về thủy điện
Theo Tạ Ngọc Tấn và các cộng sự (2015), tài nguyên nước trên các dòng sông
đã được đưa vào sử dụng gần hết cho thủy điện (80% nguồn trữ lượng thủy năng) Trong năm 2012, có 48,26% công suất, 43,9% điện năng của nước ta là sự đóng góp của hệ thống thủy điện Theo báo cáo của Chính phủ, trong giai đoạn 2006- 2012 nước
ta có 160 dự án của 29 tỉnh, thành phố chuyển đổi mục đích sử dụng từ rừng sang thủy điện Diện tích rừng chuyển đổi lên tới 19.792 ha, tuy nhiên trên thực tế mới trồng thay thế được 375 ha (3,7% diện tích) Do đó đã để lại hậu quả rất nghiêm trọng: tài nguyên rừng bị tàn phá, bão lũ thất thường, nguồn nước ngày càng cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước, người dân tái định cư gặp nhiều khó khăn, hệ sinh thái bị tàn phá, xói mòn đất nghiêm trọng…
d Về năng lượng nguyên tử
Để thực hiện thành công Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020 và Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, Việt Nam đã tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế uy tín và các nước có nền công nghiệp hạt nhân hiện đại trên thế giới Đến nay, Việt Nam đã ký 08 hiệp định liên
Trang 1615
Chính phủ về Hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình với các quốc gia: Nga, Pháp, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ac-hen-ti-na; bên cạnh đó Việt Nam hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế liên quan đến hạt nhân như: IAEA, Ủy ban châu Âu (EC); là thành viên của Hiệp định hợp tác Vùng về nghiên cứu, phát triển và đào tạo trong lĩnh vực KHCN hạt nhân (RCA), Diễn đàn hợp tác hạt nhân châu Á (FNCA) (Hiệp hội năng lượng Việt Nam, 2016)
Quyết định của thủ tướng chính phủ số 06/QĐ-TTg ngày 17/6/2010 đã Phê duyệt định hướng quy hoạch phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam giai đoạn đến năm
2030 với định hướng năm 2020, tổ máy điện hạt nhân đầu tiên, công suất khoảng 1000
MW vào vận hành Năm 2025, tổng công suất các nhà máy điện hạt nhân khoảng 8.000
MW, chiếm khoảng 7% tổng công suất nguồn điện Năm 2030, tổng công suất các nhà máy điện hạt nhân khoảng 15.000 MW, chiếm khoảng 10% tổng công suất nguồn điện
Trang 1716
Bảng 1: Quy hoạch phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam giai đoạn đến năm 2030
(MW)
Năm vận hành
9 Điện hạt nhân khu vực miền Trung 1 và 2 2 x 1000 2026
10 Điện hạt nhân khu vực miền Trung 3 1.300 - 1.500 2027
11 Điện hạt nhân khu vực miền Trung 4 1.300 - 1.500 2028
12 Điện hạt nhân khu vực miền Trung 5 1.300 - 1.500 2029
13 Điện hạt nhân khu vực miền Trung 6 1.300 - 1.500 2030
Nguồn: Quyết định của thủ tướng chính phủ số 906/QĐ-TTg ngày 17/6/2010
e Về năng lượng gió
Bản đồ tiềm năng gió của Ngân hàng Thế giới được xây dựng cho bốn nước trong khu vực Đông Nam Á (gồm: Việt Nam, Cam-pu-chia, Lào, và Thái Lan) dựa trên phương pháp mô phỏng bằng mô hình số trị khí quyển Theo kết quả từ bản đồ năng lượng gió này, tiềm năng năng lượng gió ở độ cao 65 m của Việt Nam là lớn nhất
so với các nước khác trong khu vực, với tiềm năng năng lượng gió lý thuyết lên đến 513.360 MW (Ngân hàng thế giới, 2001).Theo Tạ Ngọc Tấn và các cộng sự (2015), so với công suất của thủy điện Sơn La lớn hơn 200 lần, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020 Những khu vực có tiềm năng lớn trên toàn lãnh thổ
là khu vực ven biển và cao nguyên miền nam Trung Bộ và Nam Bộ Tuy nhiên, các kết quả mô phỏng này được đánh giá là khá khác biệt so với kết quả tính toán dựa trên
số liệu quan trắc của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN), sự khác biệt này có thể là do sai số tính toán mô phỏng
Năm 2007, EVN cũng đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tiềm năng gió, xác định các vùng thích hợp cho phát triển điện gió trên toàn lãnh thổ với công suất kỹ thuật 1.785 MW (Khanh, 2007) Trong đó miền Trung Bộ được xem là có tiềm năng gió lớn nhất cả nước với khoảng 880 MW tập trung ở hai tỉnh Quảng Bình và Bình Định,
Trang 1817
tiếp đến vùng có tiềm năng thứ hai là miền Nam Trung Bộ với công suất khoảng 855
MW, tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận
Đến năm 2012, có khoảng 48 dự án điện gió đã đăng ký trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và Nam bộ, với tổng công suất đăng ký gần 5.000 MW, quy mô công suất của các dự án từ 6 MW đến 250 MW Tuy nhiên, hiện nay do đầu tư của dự án điện gió vẫn còn khá cao, trong khi giá mua điện gió là khá thấp 1.614 đồng/ kWh theo Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg, cao hơn 310 đồng/ kWh so với mức giá điện bình quân hiện nay là 1.304 đồng/ kWh, được xem
là chưa hấp dẫn các nhà đầu tư điện gió trong và ngoài nước
Ngày 17/1/2016, thành phố Bạc Liêu đã tổ chức Lễ khánh thành Nhà máy Điện
gió lớn nhất nước ta hiện nay Dự án xây dựng nhà máy được chính thức khởi công vào ngày 9/9/2010 Sau 5 năm triển khai, dự án hoàn thành, nhà máy đạt được công
suất 99,2 MW và điện lượng sản xuất hàng năm khoảng 320 triệu KWh
f Về năng lượng mặt trời
Năng lượng mặt trời ở Việt Nam có sẵn quanh năm, khá ổn định và phân bố rộng rãi trên các vùng miền khác nhau của đất nước Ở các vùng miền trung và miền nam của đất nước, với cường độ bức xạ mặt trời trung bình khoảng 5 kWh/m2 Còn ở các vùng phía Bắc do điều kiện thời tiết với trời nhiều mây và mưa phùn vào mùa đông và mùa xuân, ước tính khoảng 4 kWh/m2 Ở Việt Nam, bức xạ mặt trời trung bình 230-250 kcal/cm2 theo hướng tăng dần về phía Nam, chiếm khoảng 2.000 - 5.000 giờ trên năm, với ước tính tiềm năng lý thuyết khoảng 43,9 tỷ TOE (Hiệp hội năng lượng Việt Nam, 2014c) Đặc biệt, số ngày nắng trung bình trên các tỉnh của miền trung và miền nam là khoảng 300 ngày/năm Năng lượng mặt trời được khai thác sử dụng chủ yếu cho các mục đích như: sản xuất điện và cung cấp nhiệt
Hiện nay Việt Nam có hơn 3.000 hộ dân vùng sâu, vùng xa được điện khí hóa bằng hệ điện mặt trời gia đình, 8.500 hộ sử dụng điện mặt trời qua các trạm sạc ắc quy nhưng tại các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, chỉ có duy nhất ngôi nhà sử dụng điện mặt trời của kỹ sư Trịnh Quang Dũng do tổ chức SIDA Thụy Điển tài trợ (Trang tin điện tử ngành điện, 2014) Ở Hà Nội, có rất ít công trình sử dụng pin mặt trời như: Hệ thống pin mặt trời hòa của Trung tâm Hội nghị Quốc gia, trạm pin mặt
Trang 19g Về năng lượng địa nhiệt
Trên đất liền Việt Nam có khoảng gần 300 điểm lộ nước nóng và hàng ngày vẫn thường gọi là nước nóng - nước khoáng Những điểm lộ đó nằm rải rác từ miền Bắc tới miền Nam, nhiệt độ thường vào khoảng từ 30oC tới 105oC, nhiều nhất ở 12 tỉnh ven biển miền Trung Một số trong gần 300 điểm lộ đó đã và đang được sử dụng trực tiếp phục vụ đời sống dân sinh Sau đây là 4 điểm lộ điển hình, từ miền Bắc vào miền Nam:
Điểm lộ thứ nhất, Nước nóng - nước khoáng Mỹ Lâm, nhiệt độ trung bình là
610C ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, cách thủ đô Hà Nội khoảng 150km về phía Tây Bắc Ngày 24 tháng 4 năm 1974 Bộ trưởng Bộ Y tế Vũ Văn Cẩn có Quyết định số 161/BYT-QĐ thành lập Viện điều dưỡng Mỹ Lâm trực thuộc Bộ Y tế Và sau này bệnh viện được đổi tên thành Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm và khai thác trực tiếp nguồn nước khoáng để chữa bệnh
Điểm lộ thứ hai, nước nóng - nước khoáng Suối Bang- nhiệt độ đầu nguồn lên
đến 1050C ở Huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới chừng 60km về phía Tây Nam Công ty Du lịch Nước khoáng COSEVCO (thuộc Tổng Công
ty Xây dựng miền Trung) đang quản lý, đầu tư và từng bước khai thác khu du lịch sinh thái và nguồn nước khoáng Bang này Nước khoáng Bang có nhiều tác dụng dược lý, được các nhà khoa học đánh giá là quý hiếm và rất tốt trong việc chữa trị một số bệnh cho con người
Điểm lộ thứ ba, Nước nóng - nước khoáng Hội Vân, nhiệt độ 850C, ở Huyện Phù Cát, Tỉnh Bình Định, cách TP Quy Nhơn 40km về phía Tây Bắc Nam 1996, nhà
Trang 2019
nghiên cứu của Đại học Bách khoa Hà Nội thử nghiệm và đã thành công đề án sấy khoai lát mỏng, sắn lát mỏng, mực, dược liệu bằng hơi nước nóng Hội Vân Với cảnh quan hội tụ đủ núi, sông, suối đẹp như bức tranh thủy mặc, nơi đây được biết đến như điểm du lịch chữa bệnh giàu tiềm năng, nhưng đến nay, tỉnh Bình Định vẫn chưa tận dụng triệt để thế mạnh này để phát triển kinh tế du lịch tương xứng với tiềm năng
Điểm lộ thứ tư: nước nóng - nước khoáng Bình Châu, Vũng Tàu, nhiệt độ 37-820C
- Bình Châu là tên Huyện Bình Châu, thuộc TP Vũng Tàu Suối khoáng nóng Bình Châu
(Bà Rịa - Vũng Tàu) đã được Tổ chức du lịch thế giới công nhận là một trong 65 khu du lịch sinh thái bền vững nhất trên thế giới Bình Châu là khu du lịch hoàn hảo nhất hiện nay của Việt Nam về lĩnh vực du lịch, tham quan nước nóng nước khoáng
Trước năm 2000, các nghiên cứu về nguồn địa nhiệt Việt Nam đã được đầu tư
và chú ý, kết quả nghiên cứu địa nhiệt thềm lục địa Việt Nam đã tham gia vào dự án thiết lập bản đồ Dòng nhiệt khu vực Đông và Đông Nam châu Á, đăng tải 1 lần trên tạp chí kỹ thuật CCOP, tham gia 8 Hội Nghị quốc tế lớn Trong những hội nghị đó, Địa nhiệt Việt Nam đã được sự quan tâm và chú ý một cách đặc biệt Bởi vì, trước đó, đối với thế giới, dòng nhiệt Biển Đông là một “vùng trắng” Tuy nhiên từ năm 2000 đến nay các nghiên cứu về năng lượng địa nhiệt của nước ta không thực sự đuợc đẩy mạnh và phát triển Vì vậy Đảng và Nhà nước ta cần có những chính sách để khai thác nguồn năng lượng tiềm năng này
h Về năng lượng sinh khối
Với lợi thế một quốc gia mà nông nghiệp là chủ yếu, Việt Nam có nguồn sinh khối lớn và đa dạng từ gỗ củi, trấu, bã cà phê, rơm rạ và bã mía… Phế phẩm nông nghiệp phần lớn tập trung ở Vùng đồng bằng sông Mê kông (50% tổng sản lượng phế phẩm nông nghiệp toàn quốc) và sau đó là vùng đồng bằng sông Hồng (15% tổng sản lượng toàn quốc) (Hiệp hội năng lượng Việt Nam, 2014c) Việt Nam mỗi năm có gần
60 triệu tấn sinh khối từ phế phẩm nông nghiệp, trong đó 40% được sử dụng đáp ứng nhu cầu năng lượng cho hộ gia đình và sản xuất điện Các nguồn sinh khối khác bao gồm sản phẩm từ gỗ, chất thải đô thị, chất thải gia súc và các sản phẩm, phế phẩm từ
gỗ tại các công ty sản xuất chế biến gỗ Khoảng 90% sản lượng sinh khối được dùng
để đun nấu trong khi chỉ có 2% được dùng làm phân bón hữu cơ và phân bón vi sinh
Trang 2120
(từ nguồn phế phẩm chăn nuôi trồng trọt, bùn và bã mía từ các nhà máy đường); 0.5% được sử dụng để trồng nấm và khoảng 7.5% chưa được sử dụng Sinh khối được sử dụng ở hai lĩnh vực chính là sản xuất nhiệt và sản xuất điện Đối với sản xuất nhiệt, sinh khối cung cấp hơn 50% tổng năng lượng sơ cấp tiêu thụ cho sản xuất nhiệt tại Việt Nam (Cơ quan năng lượng quốc tế, 2006) Tuy nhiên phần đóng góp này của sinh khối đang ngày càng giảm dần trong những năm gần đây khi các dạng năng lượng hiện đại khác như khí hoá lỏng LPG được đưa vào sử dụng Ở các vùng nông thôn, hơn 70% dân số sử dụng năng lượng sinh khối là nguồn nhiên liệu chính để đun nấu Sinh khối cũng là nguồn nhiên liệu truyền thống cho nhiều nhà máy sản xuất tại địa phương như sản xuất thực phẩm, mỹ nghệ, gạch, sứ và gốm Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu năng lượng, ứng dụng sinh khối phù hợp còn giúp giảm thiểu phát thải nhà kính, giảm thiểu những tổn hại đến sức khoẻ do việc đun đốt than và cải thiện vệ sinh môi trường
i Về nhiên liệu sinh học
Ngày 20/11/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2007/QĐ-TTg
về việc phê duyệt “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” tại Việt Nam với mục tiêu tổng quát là Phát triển nhiên liệu sinh học, một dạng năng lượng mới, tái tạo được để thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch truyền thống, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường Chính phủ đã đề
ra mục tiêu đạt sản lượng hàng năm 100 nghìn tấn xăng E5 (xăng E5 là loại xăng chứa 5% xăng sinh học trong tổng thể tích) và 50 nghìn tấn dầu B5 (dầu B5 là loại dầu chứa 5% dầu sinh học trong tổng thể tích) vào năm 2010 tương đương với 0,4% tổng nhu cầu xăng dầu dự kiến của cả nước; năm 2015 sản lượng ethanol và dầu thực vật đạt 250.000 tấn (pha được 5 triệu tấn E5, B5), đáp ứng 1% nhu cầu xăng dầu của cả nước;1,8 triệu tấn xăng ethanol và dầu thực vật hay 5% nhu cầu xăng dầu vào năm
2025
Cho tới nay, 7 nhà máy sản xuất nguyên liệu sinh học (ethanol), nhà máy Ethanol Dung Quất vốn đầu tư 2.219 tỷ đồng, nhà máy ethanol Bình Phước vốn đầu tư 1.700 tỷ đồng, nhà máy ethanol Tam Nông (Phú Thọ) vốn đầu tư (tạm tính) 2.484 tỷ đồng, nhà máy ethanol Đại Tân (Quảng Nam) vốn đầu tư 575 tỷ đồng, nhà máy ethanol Đại Việt (Đăk Nông) vốn đầu tư 500 tỷ đồng, nhà máy ethanol Đăk Tô (Kon
Trang 22Bio-21
Tum), nhà máy ethanol Tùng Lâm (Đồng Nai) vốn đầu tư 928 tỷ đồng Như vậy, nhà máy Bio-Ethanol Dung Quất, nhà máy ethanol Bình Phước và ethanol Phú Thọ là 3 nhà máy do các doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) đầu tư có vốn đầu tư lớn nhất
Tuy nhiên, trong quá trình thiết kế một số hạng mục thiết bị chưa tính toán đúng, đủ công suất làm kéo dài thời gian thực hiện và làm tăng tổng mức đầu tư của
dự án… Chủ đầu tư cũng không lường trước thị trường khi báo cáo khả thi dự án đưa
ra giá nguyên liệu trung bình cả đời dự án khoảng 1.800 đồng/kg sắn và giá thành sản phẩm là 10.000 đồng/lít Tuy nhiên, năm 2012-2013 giá sắn đã lên đến 5.000 đồng/kg trong khi giá bán ethanol là 13.000 đồng/kg do vậy các nhà máy đã phải hoạt động cầm chừng hoặc đóng cửa
Khi nguồn năng lượng hóa thạch truyền thống như than đá, than bùn, dầu khí… ngày càng cạn kiệt, thì băng cháy với trữ lượng lớn đang được xem là nguồn năng lượng có hiệu suất cao, sạch và là năng lượng thay thế tiềm tàng trong tương lai Chính
vì thế, băng cháy đã thu hút sự chú ý của nhiều quốc gia biển, quốc đảo trên toàn thế giới Hiện nay đã có hơn 90 nước trên thế giới tiến hành các chương trình nghiên cứu điều tra băng cháy ở các mức độ khác nhau Băng cháy có khả năng bay hơi trong điều kiện bình thường nên các tổ chức quốc tế đã cảnh báo nếu các quốc gia hành động thiếu trách nhiệm khi sử dụng công nghệ lạc hậu trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác, bảo quản và sử dụng băng cháy sẽ dẫn đến hệ lụy lớn về môi trường Bởi vậy, trong những năm gần đây, các nhà khoa học trong nước đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề điều tra, nghiên cứu về băng cháy tại thềm lục địa Việt Nam Theo tính toán của các nhà khoa học, toàn bộ khu vực Biển Đông đứng thứ 5 châu Á về băng cháy và Việt Nam được đánh giá là quốc gia có trữ lượng băng cháy khá lớn
Vì thế, Chính phủ rất quan tâm đến vấn đề này và năm 2010 Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 796/QĐ-TTG phê duyệt “Chương trình nghiên cứu, điều tra cơ bản về tiềm năng khí hydrate ở các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam” Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam phối hợp với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam thực hiện chương trình này thông qua hợp tác với các nước có kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến nhằm tìm ra một hướng đi mới cho nền năng lượng Việt Nam
Trang 2322
Ngoài ra, với sự ưu đãi lớn của thiên nhiên như đường bờ biển dài, khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam còn có tiềm năng lớn về năng lượng sóng, thủy triều,… Tuy nhiên để khai thác một cách hiệu quả lại là một bài toán lớn về kĩ thuật, kinh tế và môi trường
4.3 Kết quả phân tích các nhân tố tác động tới an ninh năng lượng tại Việt Nam
4.3.1 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo
4.3.1.1 Kiểm định độ tin cậy thang đo nhóm yếu tố ảnh hưởng tới nguồn cung năng lượng tại Việt Nam
Tiến hành kiểm tra độ tin cậy thang đo nguồn cung năng lượng cho thấy các biến/yếu tố trong thang đo nguồn cung năng lượng tại Việt Nam có hệ số Cronbach’s Alpha = 0.833 > 0.6 và hệ số tương quan biến tổng >0.4 (Bảng 2) Tuy nhiên, nếu loại biến S3 sẽ làm hệ số Cronbach’s Alpha tăng lên là 0.834 Do đó, biến S3 bị loại bỏ mô hình Kết quả hệ số Cronbach’s Alpha của các biến còn lại sau khi loại biến S3 được trình bày trong Bảng 3 là hoàn toàn phù hợp Do đó các biến này được giữ lại để phân tích trong các bước tiếp theo
Bảng 2 Hệ số tin cậy Cronbach alpha (lần 1) của các biến trong nhóm nhân tố nguồn cung
Phương sai nếu loại biến
Hệ số tương quan biến tổng
Hệ số CA nếu loại thang đo
Trang 244.3.1.2 Kiểm định độ tin cậy thang đo nhóm yếu tố ảnh hưởng tới cầu năng lượng
Kết quả Bảng 4 cho thấy các biến trong thang đo cầu năng lượng có hệ số Cronbach’s Alpha = 0.715 > 0.6 và hệ số tương quan biến tổng của hầu hết các biến là
> 0.4 Tuy nhiên, nếu loại biến D6 sẽ làm hệ số Cronbach’s Alpha tăng lên là 0.783 (đồng thời hệ số tương quan biến tổng của D6 là 0.026 < 0.4) Do đó, biến D6 bị loại
bỏ mô hình Kết quả hệ số Cronbach’s Alpha của các biến còn lại sau khi loại biến D6 được trình bày trong Bảng 5 là hoàn toàn phù hợp Do đó các biến này được giữ lại để phân tích trong các bước tiếp theo
Bảng 4 Hệ số tin cậy Cronbach alpha (lần 1) của các biến trong nhóm nhân tố cầu
Trang 254.3.1.3 Kiểm định độ tin cậy thang đo nhóm yếu tố an ninh năng lượng
Tiến hành kiểm tra độ tin cậy thang đo ANNL cho thấy các biến/yếu tố trong thang đo có hệ số Cronbach’s Alpha = 0.843 > 0.6 và hệ số tương quan biến tổng >0.4
(Bảng 6) Do đó, toàn bộ thang đo được giữ lại để nghiên cứu tiếp phần sau
Bảng 6 Hệ số tin cậy Cronbach alpha của các biến trong nhóm nhân tố An ninh năng lượng
Cronbach’s Alpha =0.843
Ký hiệu bình thang đo Giá trị trung
Trung bình thang đo nếu
loại biến
Phương sai
nếu loại biến quan biến tổng Hệ số tương
Hệ số CA nếu loại
4.3.2 Phân tích nhân tố EFA
Sau khi thực hiện phân tích Cronbach’s Alpha, nghiên cứu tiến hành phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xác định độ hội tụ và phân biệt của các thang đo EFA sử dụng phương pháp “Principle Axis Factoring” với phép quay “Promax” và điểm dừng khi trích các yếu tố có eigenvalue là 1 vì phương pháp này sẽ phản ánh cấu trúc dữ liệu chính xác hơn dùng “Principles Component” với phép quay “Varimax” (Thọ & Trang,
2007, Anderson & Gerbing, 1988)
Trang 2625
Thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA bằng phương pháp Principle Axis Factoring và phép quy Promax với yêu cầu: Hệ số tải nhân tố lớn nhất của mỗi Item
>=0.4; tại mỗi Item, chênh lệch hệ số tải nhân tố lớn nhất và hệ số tải nhân tố ở nhân
tố bất kỳ phải >=0.5 (mức có ý nghĩa thực tiễn); tổng phương sai trích
>=50% (Anderson & Gerbing, 1988); KMO>=0.5, Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig<0.05)
Tiến hành phân tích EFA cho các nhóm nhân tố, kết quả cho thấy hệ số KMO = 0.705 > 0.5, kiểm định Bartlett’s có Sig.=0.000 chứng tỏ phân tích nhân tố phù hợp với dữ liệu Tổng phương sai trích = 57.834% thỏa mãn yêu cầu đặt ra Tuy nhiên, biến quan sát S2 không thỏa mãn về hệ số tải nhân tố (Bảng 7) Do vậy, biến quan sát này cần loại khỏi mô hình
Bảng 7 Ma trận xoay thang đo
Rotation Method: Promax with Kaiser Normalization
a Rotation converged in 6 iterations
Trang 27tố lớn hơn 0.5 Do đó các nhân tố thỏa mãn yêu cầu đặt ra về tính hội tụ và phân biệt
Bảng 8 Ma trận xoay thang đo
Rotation Method: Promax with Kaiser Normalization
a Rotation converged in 6 iterations