1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx

101 295 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất thải rắn y tế bao gồm tất cả các loại chất thải có chứa các vật chất của cơ thể sống của người hoặc động vật, phát sinh từ các lĩnh vực chăm sóc bệnh nhân, giải phẫu, nghiên cứu, cá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM

Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

TP Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp này, trước hết em xin gửi lời cảm ơn

đến Cô hướng dẫn của mình là ThS Vũ Hải Yến, người đã quan tâm giúp đỡ,

cùng những ý kiến đóng góp sâu sắc nhất cho em hoàn thành bài Luận văn tốt

nghiệp này

Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến tất cả các thầy cô khoa CNSH và Môi

trường, trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ Tp Hồ Chí MInh, đã hết lòng giảng

dạy, truyền đạt kiến thức và giúp đỡ cho em trong suốt quá trình học tập

Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn đến tất cả bạn bè đã động viên, cổ vũ, chia

sẽ với em những khó khăn trong thời gian học tập cũng như làm luận văn

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người thân yêu

nhất, đã giành cho em hết tình cảm và điều kiện, chia sẽ với em những lúc khó

khăn nhất để em có thể hoàn thành tốt quá trình học tập

Tp Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2011

Đồng Thị Phiên

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Thời gian nghiên cứu 4

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

7 nghĩa khoa học, kinh tế và xã hội của đề tài 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN, CHẤT THẢI RẮN Y TẾ & HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ 1.1 Khái niệm về chất thải rắn y tế 6

1.2 Thành phần và tính chất của chất thải rắn y tế 7

1.2.1 Thành phần 7

1.2.2 Phân loại chất thải rắn y tế 8

1.3 Lượng chất thải phát sinh tại các cơ sở y tế 12

1.3.1 Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới 12

1.3.2 Lượng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện ở Việt Nam 13

1.4 Phân tích nguy cơ và ảnh hưởng của chất thải y tế đến cộng đồng và môi trường 14 1.4.1 Những nguy cơ của chất thải y tế 14

1.4.2 Ảnh hưởng của các loại chất thải y tế 22

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ QUY NHƠN 2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 26

2.1.1 Vị trí địa lý và hành chính 26

2.1.2 Các đơn vị hành chính 26

2.1.3 Địa lý tự nhiên 27

2.1.4 Đặc điểm khí hậu 27

2.2 Tình hình kinh tế - thương mại 28

Trang 4

2.2.1 Nông -lâm nghiệp 28

2.2.2 Công nghiệp 29

2.2.3 Thuỷ sản 35

2.3 Cở sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng 35

2.3.1 Giao thông - vận tải 35

2.3.2 Cấp điện-cấp nước 37

2.3.3 Bưu chính viễn thông 37

2.3.4 Tài chính-ngân hàng 37

2.3.5 Giáo dục và đào tạo 38

2.3.6 Y tế 38

2.3.7 Tài nguyên thiên nhiên khoáng sản 38

2.3.8 Tiềm năng du lịch, danh lam thắng cảnh 39

2.4 Đinh hướng ưu tiên phát triển trong tương lai của thành phố 39

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CTR Y TẾ TẠI THÀNH PHỐ QUY NHƠN 3.1 Nhận định chung 40

3.2 Tình hình phát triển ngành y tế tại thành phố Quy Nhơn 41

3.3 Cơ cấu của cơ sở khám chữa bện 43

3.4 Thông tin về các cơ sở điều trị tại thành phố Quy Nhơn 44

3.5 Dự đoán lượng chất thải rắn y tế hiện tại và dự đoán ở mỗi cơ sở khám bệnh 46

3.6 Các khuynh hướng tác động đến tương lai 50

3.7 Hiện trạng công tác quản lý chất rắn y tế tại thành phố Quy Nhơn 51

3.7.1 Hiện trạng và hệ thống quản lý CTR y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh 53

3.7.2 Hệ thống quản lý chất thải rắn ngoài bệnh viện 58

3.7.3 Những vấn đề khó khăn bất cập chung trong công tác quản lý chất thải rắn y tế tại thành phố hiện nay 65

CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TP QUY NHƠN 4.1 Mục đích của các giải pháp 67

4.2 Các giải pháp cải thiện tình hình quản lý chất thải rắn y tế hiện nay 68

Trang 5

4.2.1 Quản lý nhà nước về môi trường 68

4.2.2 Trách nhiệm Nhà Nước trong công tác môi trường bệnh viện 70

4.2.2.1 Bộ y tế 70

4.2.2.2 Các đơn vị trực thuộc 71

4.2.2.3 Sở y tế 71

4.2.2.4 Trung tam y tế dự phòng thành phố 71

4.2.3 Giải pháp về cải thiện tình hình quản lý tại các cơ sở khám chữa bệnh 72

4.2.3.1 Thành lập ban chỉ đạo xử lý chất thải 72

4.2.3.2 Trách nhiệm của giám đốc bệnh viện 72

4.2.3.3 Trách nhiệm của người phụ trách công tác quản lý chất thải 73

4.2.3.4 Trách nhiệm của trưởng khoa 75

4.2.3.5 Trách nhiệm của trưởng phòng y tá điều dưỡng 75

4.2.3.6 Hộ lý các khoa, buồng bệnh có trách nhiệm 75

4.2.3.7 Nhân viên đội vệ sinh môi trường có trách nhiệm 75

4.2.3.8 Bảo vệ cá nhân 76

4.2.3.9 Báo cáo tai nạn và sự cố 76

4.2.3.10 Xử lý tai nạn do các vật sắc nhọn 77

4.2.3.11 Xử lý chất thải rơi vãi 77

4.2.3.12 Tránh và giảm thiểu chất thải 78

4.2.3.13 Mã hóa màu sắc và thùng đựng chất thải 79

4.2.3.14 Phân loại và vận chuyển các túi thùng đựng chất thải 80

4.2.3.15 Nơi lưu giữ chất thải trong bệnh viện 80

4.2.4 Giải pháp quản lý chất thải rắn y tế ngoài cơ sở khám chữa bệnh 81

4.2.5 Đề xuất biện pháp xử lý cho tình hình hiện nay của thành phố 83

4.2.6 Giải pháp nguồn tài chính 85

4.2.7 Giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng 86

KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 1 Kết luận 88

2 Kiến nghị 89

Trang 6

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Thành phần trong chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam được thống kê 8

Bảng 1.2 Các hạt nhân phóng xạ sử dụng trong các cở sở y tế 10

Bảng 1.3 Lượng chất thải phát sinh tại tại các nước theo tuyến bệnh viện 13

Bảng 1.4 Lượng chất thải y tế phát sinh tại các châu lục 13

Bảng 1.5 Lượng chất thải phát sinh tại các bệnh viện 13

Bảng 1.6 Một số bệnh truyền nhiễm và ký sinh thường gặp 15

Bảng 1.7 Nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da 18

Bảng 1.8 Các loại vi sinh vật và phương tiện lây truyền 19

Bảng 1.9 Các thuốc độc hại tế bào gây nguy hiểm cho mắt da 22

Bảng 3.1 Vị trí địa lý của các cơ sở y tế của Thành phố Quy Nhơn 42

Bảng 3.2 Vị trí địa lý của các cơ sở y tế của Tỉnh Bình Định 44

Bảng 3.3 Tình hình khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế năm 2008 45

Bảng 3.4 Thông tin dự đoán đến năm 2020 45

Bảng 3.5 Thành phần chất thải bệnh viện 46

Bảng 3.6 Thông tin điều tra năm 2009 46

Bảng 3.7 Dự đoán đến năm 2020 47

Bảng 3.8 Lượng chất thải phát sinh tại Khoa Hồi sức cấp cứu 47

Bảng 3.9 Lượng chất thải phát sinh tại Khoa điều trị hệ nội 48

Bảng 3.10 Lượng chất thải phát sinh tại Khoa nhi 48

Bảng 3.11 Lượng chất thải phát sinh tại Khoa điều trị Ngoại 48

Bảng 3.12 Lượng chất thải phát sinh tại Khoa phụ sản 49

Bảng 3.13 Lượng chất thải phát sinh tại Khoa Mắt – Tai mũi họng 49

Bảng 3.14 Lượng chất thải phát sinh tại Khoa Cận lâm sàng 49

Bảng 3.15 Bảng định lượng từng thành phần rác thải 53

Bảng 3.16 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý CTRYT 56

Bảng 3.17 Các bệnh viện đã đăng ký thu gom và vận chuyển với CTMTĐT 59

Bảng 4.1 So sánh 2 phương án 85

Trang 7

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ quy hoạch khu công nghiệp Phú Tài 30

Hình 2.2 Một số hình ảnh về cầu vượt vượt biển Thị Nại 34

Hình 3.1 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải bệnh viện hiện nay 52

Hình 3.2 Một vài hình ảnh phân loại chất thải rắn y tế tại nguồn 54

Hình 3.3 Quá trình thu gom CTR y tế tại các bệnh viện 59

Hình 4.1 Sơ đồ quản lý CTRYT có hiệu quả 68

Hình 4.2 Sơ đồ tổ chức mạng lưới quản lý bảo vệ môi trường ngành y tế 70

Hình 4.3 Các vùng thu gom rác 82

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Cụm CN & TTCN Cụm Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhờ những thay đổi có tính chiến lược trong đường lối xây dựng kinh tế - xã hội của Đảng và Chính phủ ta, Thành phố Quy Nhơn đang bước vào một thời kỳ đổi mới toàn diện, trong đó các hoạt động đang chuyển từ tình trạng chậm phát triển sang một nhịp điệu mới sinh động và bước đầu đã đạt được nhiều hiệu quả kinh tế đáng khích lệ Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội là quá trình cải tạo, nâng cấp đô thị hiện có, mở rộng các khu đô thị mới, quy hoạch và xây dựng các khu công nghiệp tập trung Hiện nay thành phố Quy Nhơn hiện đã được công nhận là thành phố loại I của cả nước

Cũng như các thành phố khác trong cả nước, quy mô đô thị của thành phố Quy Nhơn đang được mở rộng nhanh chóng, dân số đô thị ngày càng gia tăng Thành phố Quy Nhơn đã và đang không ngừng phát triển kinh tế - xã hội mà còn

ở các lĩnh vực dịch vụ Quy Nhơn là một thành phố trung tâm hành chính kinh tế của tỉnh, thu hút nhiều nhà đầu tư Chính những điểm mạnh trên cũng đã kéo theo

ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, mà đặc biệt là CTR y tế không được quản lý chặt chẽ làm ảnh hưởng đến môi trường nghiêm trọng

Hiện nay ngành y tế ở các bệnh viện với các quy mô khác nhau tập trung chủ yếu ở các khu đô thị với quy mô giường bệnh khá lớn Khối y tế tư nhân từ phòng khám đến bệnh viện tư nhân đang hoạt động, ngoài ra nhiều công ty, xí nghiệp dược trong quá trình sản xuất cũng thải ra rất nhiều chất độc hại Lượng chất thải

y tế ngày càng tăng dần do sự gia tăng dân số, mức sống, sự nâng cao khám chữa bệnh

Tuy nhiên, cho đến nay công tác quản lý chất thải tại hầu hết các bệnh viện chưa thực hiện triệt để từ khâu thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý Sự phân công trách nhiệm chưa được cụ thể, thiếu nhân viên được đào tạo về quản lý chất thải y tế, thiếu phương tiện vận chuyển, thu gom, sử dụng phương pháp đốt/chôn lấp đơn giản… Vì thế các chất thải y tế nguy hại phát sinh từ hoạt động bệnh viện

Trang 10

đã và đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của cộng đồng xã hội

Nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải bệnh viện còn kém, chính vì vậy dòng chất thải bệnh viện

đã và đang hoà lẫn vào dòng chất thải khác, đặc biệt là dòng chất thải sinh hoạt Đây là điều hết sức nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng Việc quản lý chất thải rắn bệnh viện tại thành phố Quy Nhơn cũng nằm trong bối cảnh chung, do đó việc cải thiện điều kiện quản lý chất thải bệnh viện tại thành phố Quy Nhơn nhằm chủ động phòng bệnh và bảo vệ môi trường là vấn đề hết sức cấp bách

Trước những hiện trạng thực tế trên, hiện trạng quản lý CTR y tế trên địa bàn thành phố Quy Nhơn đang là một vấn đề nan giải, gây khó khăn cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý Ngoài ra còn làm tốn kém kinh phí và gây ô nhiễm môi trường Chính những lý do trên, nhằm góp phần làm cho công tác quản lý, thu gom cũng như vận chuyển, xử lý CTR y tế đạt được hiệu quả Chính vì vậy

mà đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y

tế tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” được thực hiện với mục tiêu tìm

hiểu công tác quản lý CTR y tế để từ đó đưa ra những giải pháp tối ưu nhằm giải quyết những vấn đề nan giải hiện nay của thành phố Quy Nhơn

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua các số liệu thu thập và thông tin về hệ thống thu gom, vận chuyển CTRYT trên địa bàn thành phố Quy Nhơn nhằm tìm hiểu rõ hơn về cách quản lý CTRYT

- Đánh giá hiện trạng hệ thống quản lý CTRYT trên địa bàn thành phố Quy Nhơn (nguồn, thu gom, vận chuyển, xử lý,…)

- Dự báo tốc độ phát sinh CTRYT trong những năm sắp tới (tính đến năm 2020)

- Đề xuất các giải pháp quản lý tối ưu để dạt được hiệu quả trong công tác quản

lý CTRYT trên địa bàn TP Quy Nhơn

3 Nội dung nghiên cứu

Trang 11

Để đạt được mục tiêu cần nghiên cứu, các nội dung của luận văn tập trung chủ yếu vào các vấn đề trọng tâm của đề tài :

- Tổng quan về CTRYT & hệ thống các phương pháp quản lý CTR y tế

- Tổng quan về thành phố Quy Nhơn phục vụ cho quá trình làm luận văn

- Đánh giá hiện trạng quản lý CTRYT ở thành phố Quy Nhơn

- Đề xuất các biện pháp để cải thiện tình hình quản lý chất thải rắn y tế cho hiện tại và tương lai của thành phố

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Thu thập số liệu đã được thống kê về lượng CRT y tế phát sinh cũng như nguồn phát sinh, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý,…trên địa bàn thành phố Quy Nhơn Mà điều đáng quan tâm là CTR y tế nếu không được quản lý tốt sẽ lây lan, truyền nhiễm các bệnh nguy hiểm cho mọi người xung quanh khi tiếp xúc Đưa ra những dự báo phát sinh lượng CTR y tế trong tương lai (tính đến 2020) cũng như những ảnh hưởng của CTR y tế đến sức khoẻ cộng động và môi trường

Việc lưu trữ, thu gom, vận chuyển và xử lý chưa đạt được hiệu quả Do đó, làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan của thành phố và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Từ đó đề xuất biện pháp quản lý CTR y tế trên địa bàn thành phố Quy Nhơn cho phù hợp với tình hình hiện nay

Nhằm đạt được những hiệu quả cao trong công tác thu gom, vận chuyển CTR

y tế thì trước hết cần đưa ra sơ đồ hoá cụ thể cách quản lý CTR y tế cho thành phố Quy Nhơn

4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

4.2.1 Tham khảo tài liệu

Sưu tầm và thu thập dữ liệu thông qua các tài liệu đã được nghiên cứu Đây là bước không thể thiếu trong quá trình làm nghiên cứu Số liệu thu thập đã được công bố rộng rãi có liên quan đến CTRYT

Trang 12

Tìm hiểu các bài luận văn mẫu, các bài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia có liên quan đã được công nhận thông qua các phương tiện như: báo chí, internet,… Tham khảo các bài giảng có nội dung liên quan của các giáo viên các trường

để bài luận văn được hoàn chỉnh hơn

4.2.2 Điều tra thực địa

Việc điều tra thực địa cũng rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu, tận mắt quan sát hiện trạng CTRYT đang tồn tại trong khu vực Từ đó đưa ra những nhận xét chính xác về công tác quản lý CTRYT tại thành phố Quy Nhơn Công tác này được thực hiện thông qua các chuyến khảo sát thực tế tại các bệnh viện, phòng khám và trung tâm y tế để hiểu rõ hơn về tình hình thu gom, lưu trữ CTR y tế trên địa bàn thành phố Quy Nhơn

Phát phiếu thăm dò cho các đối tượng như: cán bộ chuyên môn, nhân viên vệ sinh của bệnh viện, nhân viên thu gom, người dân,…để đưa ra ý kiến của từng cá nhân mà đưa ra ý kiến chung nhất

Thu thập số liệu về lượng CRT y tế phát sinh tại các cơ quan quản lý

5 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu luận văn là 12 tuần Luận văn được tính bắt đầu từ ngày

01 tháng 11 năm 2010 đến 23 tháng 01 năm 2011

6 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn chủ yếu:

- Chất thải rắn y tế từ bệnh viện

- Chất thải rắn y tế tại các trung tâm y tế

- Chất thải rắn y tế từ nhà máy, xí nghiệp sản xuất dược phẩm

- Chất thải rắn y tế từ các phòng khám tư nhân

- Chất thải rắn y tế từ các hộ gia đình và nhà thuốc tây

Phạm vi nghiên cứu: do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung chủ yếu vào chất thải rắn y tế và phạm vi nghiên cứu trong địa bàn khu vực thành phố Quy Nhơn

Trang 13

7 Y nghĩa khoa học, kinh tế và xã hội của đề tài

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

& HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

1.1 Khái niệm về chất thải rắn y tế

Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng ) Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống

Chất thải rắn y tế bao gồm một lượng lớn chất thải nói chung và một lượng nhỏ hơn các chất thải có tính nguy hại cao Chất thải y tế có thể tạo nên những mối nguy cơ cho sức khoẻ con người

Chất thải rắn y tế bao gồm tất cả các loại chất thải có chứa các vật chất của cơ thể sống của người hoặc động vật, phát sinh từ các lĩnh vực chăm sóc bệnh nhân, giải phẫu, nghiên cứu, các phương tiện chuyên chở hoặc y tế hoặc từ các công việc khám nghiệm, xử lý tử thi, giải phẫu học, bệnh lý học, các công việc khám chữa bệnh về răng miệng cũng như khám chữa bệnh thú y

Mặc khác CTR y tế cũng bao gồm:

- Các vật sắc nhọn: khái niệm về các vật sắc nhọn bao gồm các vật dụng, đối tượng, và thiết bị có đầu nhọn hoặc có các bộ phận lồi ra có có khả năng cắt đứt hoặc xuyên qua vào da Các vật này bao gồm kim tiêm dưới da, dao mổ, ống thuốc tiêm vỡ lọ thuỷ tinh

- Các dược liệu: khái niệm về các dược chất bao gồm các loại dược liệu, thuốc tân dược sử dụng trong việc phòng tránh, chuẩn đoán, chăm sóc và chữa bệnh, đau ốm, thương tích hoặc khuyết tật ở người hoặc động vật

- Các độc chất đối với tế bào: các độc chất đối với tế bào bao gồm các dược chất, thuốc chữa bệnh bảng độc có khả năng gây ung thư, làm ngưng trệ tế bào, đầu độc tế bào, gây biến dị… Chúng được sử dụng trong việc điều trị ung thư và có khả năng gây tổn thương cho da hoặc các mô tế bào nếu tiếp xúc với

Trang 15

chúng Chất thải thuộc loại này cũng bao gồm cả các dụng cụ dùng để chứa đựng và xử lý các độc chất đối với tế bào chẳng hạn như các vật sắc nhọn, bơm tiêm, dụng cụ, tiêm truyền tĩnh mạch, ống thuốc tiêm, chai lọ nhỏ đựng thuốc, găng tay và băng gạc

Ngoài ra, trong lĩnh vực y tế còn phát sinh các ô nhiễm khác:

- Chất thải rắn y tế phát sinh từ các lĩnh vực chăm sóc bệnh nhân, giải phẫu, nghiên cứu, các phương tiện chuyên chở hoặc y tế và từ các công việc khám nghiệm, xử lý tử thi, giải phẫu học, bệnh lý học cũng như khám chữa bệnh thú

- Bơm tiêm kèm kim tiêm

- Thiết bị giải phẫu;

- Bông băng vệ sinh;

- Mô tế bào người hoặc động vật;

- Xương;

- Nội tạng;

- Bào thai hoặc các bộ phận xủa cơ thể;

- Bình, túi hoặc ống dẫn chứa các chất lỏng từ cơ thể;

- Tất cả các vật dụng và vật chất khác bị loại bỏ trong khuôn khổ quá trình thăm khám và điều trị chuyên khoa, trong thực tế nghiên cứu về răng miệng hoặc

Trang 16

thú y, có nguy cơ tiềm tàng đối với sức khỏe của con người khi tiếp xúc với chúng

Bảng 1.1: Thành phần trong chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam được thống kê

Thủy tinh, ống kiêm, chai lọ thuốc,bơm kim tiêm nhựa 3.2%

1.2.2 Phân loại chất thải rắn y tế

Theo nguồn phát sinh chất thải y tế trong các cơ sở y tế được phân thành 5 loại như sau:

 Chất thải nhóm A bao gồm vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, các chất bài tiết của người bệnh như băng, gạc, bông găng tay, bột bó trong gãy xương

Trang 17

hở, đồ vải, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây

và túi đựng dịch dẫn lưu …

- Nhóm B là các vật sắc nhọn, bao gồm: Bơm tiêm, kim tiêm, lưỡi và cán dao

mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh tủy tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây

ra các vết cắt hoặc chọc thủng, cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn

- Nhóm C là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm, bao gồm: găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi sinh thiết/xét nghiệm/nuôi cấy, túi đựng máu…

- Nhóm D là chất thải dược phẩm bao gồm: Dược phẩm quá hạn, dược phẩm bị nhiễm khuẩn, dược phẩm bị đổ, dược phẩm không còn nhu cầu sử dụng Chú

ý những vỏ thuốc, vỉ thuốc không còn thuốc, các chai nhựa và thủy tinh đựng dịch truyền huyết thanh là chất thải sinh hoạt

 Thuốc gây độc cho tế bào, các thuốc gây suy giảm miễn dịch chủ yếu dùng tại các chuyên khoa ung bướu Chúng là các thuốc ung thư hoặc các thuốc hóa trị liệu ung thư Thuốc có khả năng phá hủy hoặc ngừng sự tăng trưởng của các tế bào, các thuốc này đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị các bệnh ung thư song cũng là các thuốc gây suy giảm miễn dịch trong việc ghép các phủ tạng hoặc điều trị các bệnh có liên quan tới miễn dịch Thuốc thông thường được sử dụng bằng đường tiêm, đường truyền

và đôi khi bằng đường uống dưới dạng viên nén, viên nang hoặc các thuốc nước uống

Các chất gây độc cho tế bào bao gồm:

 Các vật liệu bị ô nhiễm trong quá trình chuẩn bị và dùng thuốc cho người bệnh như bơm tiêm, kim tiêm, gạc, các lọ thuốc, hộp đóng gói…

 Các thuốc qua hạn, các dung dịch còn thừa lại, các độc chất tế bào từ các buồng bệnh đưa về

 Nước tiểu, phân, chất nôn có thể gây nguy hại do chứa thuốc gây độc tế bào hoặc các sản phẩm chuyển hóa của chúng Các chất thải của người

Trang 18

bệnh được diều trị bằng các thuốc gây độc tế bào cần xem như các chất gây độc trong vòng ít nhất là 48 giờ hoặc đôi khi hàng tuần sau khi dùng thuốc

 Tại các bệnh viện chuyên khoa ung thư, các chất thải gây độc tế bào có thể chiếm tới 1% toàn bộ chât thải của bệnh viện

- Nhóm E là các mô và cơ quan người – động vật, bao gồm: tất cả các mô của

cơ quan cơ thể (dù nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn ); các cơ quan, chân tay, bào thai, xác xúc vật thí nghiệm

Chất thải phóng xạ

- Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu Chất thải phóng xạ bao gồm: chất thải rắn, lỏng, khí

- Chất thải phóng xạ rắn bao gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị, như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giáy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ…

- Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ…

- Chất thải phóng xạ khí bao gồm: các chất khí dùng trong lâm sàng như 133

Xe, các khí thoát ra từ các kho chứa chát phóng xạ…

12,3 năm

5730 năm 14,3 ngày 27,8 ngày

270 ngày 45,5 ngày

72 giờ

120 ngày

6 giờ

Nghiên cứu Nghiên cứu Trị liệu Chuẩn đoán in viro Chuẩn đoán in viro Chuẩn đoán in viro Chuẩn đoán hình ảnh Chuẩn đoán hình ảnh Chuẩn đoán hình ảnh

Trang 19

13 giờ

60 ngày

8 ngày 5,3 ngày

Chuẩn đoán hình ảnh Chuẩn đoán hình ảnh Trị liệu, nghiêm cứu Chuẩn đoán hình ảnh

(Nguồn: Tổ chức y tế thế giới, “ Quản lý chất thải rắn y tế” (WHO 1991).)

Chất thải hóa học phát sinh từ các nguồn khác nhau trong các hoạt động của các cơ sở y tế nhưng chủ yếu là từ các phòng xét nghiệm và các hoạt động liên quan như xét nghiệm, vệ sinh, khử khuẩn Chất thải hóa học bao gồm các chất thải rắn, lỏng và các hóa chất ở dạng khí

Các chất hóa học có thể gây ra hàng loạt các nguy hại trong quá trình tiêu hủy dưới dạng đơn chất hoặc kết hợp với các chất hóa học Vì vậy, phải phân loại chất thải hóa học thành hai loại, chất thải hóa học không nguy hại và chất thải hóa học nguy hại

Chất thải hóa học được coi là nguy hại nếu có ít nhất một trong các đặc tính sau:

- Gây độc

- Ăn mòn như axít có độ pH < 2 hoặc có độ kiềm >12

- Dễ cháy

- Hoạt hóa (gây nổ, hoạt hóa trong nước)

- Chất thải hóa học không nguy hại như đường, a xít béo, một số muối vô cơ và các hữu cơ

Chất thải hóa học nguy hại là Formaldehyde: đây là chất thường được dùng trong bệnh viện, nó được sử dụng để là vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ (như dụng cụ lọc màng bụng hoặc dụng cụ phẫu thuật), để bảo quản các bệnh phẩm hoặc khử khuẩn các chất thải lỏng nhiễm khuẩn nó được sử dụng tại các khoa giải phẩu bệnh lọc máu, ướp xác và dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa khác

Các hóa chất quang hóa học: các chất này có trong các dung dịch dùng cố định và tráng phim được dùng trong các khoa X-quang Các chất cố định thường

Trang 20

chứa 5 – 10% hydroquynone, 1 – 5% kalihydroxide, dưới 1% bạc Các chất tráng chứa khoảng 45%glutaraldehyde

Các dung môi: Các dung môi dung trong cơ sở y tế bao gồm: các hợp chất halogen như methylene chloride, chloroform, freons, trichloro ethylene, các thuốc

mê bốc hơi như halothane; các hợp chất không có halogen như xylen, acetone, isopropanol, toluen, ethyl acetate và acetonitrile

Oxit ethylene: Oxit ethylene được sử dụng để tiệt khuẩn các thiết bị y tế, phòng phẫu thuật nên được đóng thành bình và gắn với thiết bị tiệt khuẩn Loại khí này có thể gây ra nhiều độc tính và có thể gây ra ung thư ở người

Các chát hóa học hỗn hợp: Bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh…

Các bình chứa khí áp suất: các cơ sở y tế thường có các bình chứa khí có áp suất như bình đựng oxy, CO2, bình gas, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần Các bình này đễ gây cháy, nổ khi thiêu đốt vì vậy phải thu gom riêng Chất thải sinh hoạt: chất thải sinh hoạt không bị nhiễm các yêu tố nguy hại, phát sinh từ các buồng bệnh, phòng làm việc, hành lang, các bộ phận cung ứng, nhà kho, nhà giặt, nhà ăn… bao gồm: giấy bao, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng cát tông, túi nilon, túi đựng phim, vật liệu gói thực phẩm, thức ăn dư thừa của người bệnh và chất thải quét dọn từ các sàn nhà

Chất thải ngoại cảnh: lá cây và chất thải từ các khu vực ngoại cảnh

1.3 Lượng chất thải phát sinh tại các cơ sở y tế

1.3.1 Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới

Theo tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới, lượng chất thải phát sinh tại các nước như sau:

Trang 21

Bảng 1.3: Lượng chất thải phát sinh tại tại các nước theo tuyến bệnh viện

(Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới, năm 2002)

Bảng 1.4: Lượng chất thải y tế phát sinh tại các châu lục

(Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới, năm 2002)

1.3.2 Lƣợng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện ở Việt Nam

Theo kết quả khảo sát của bộ y tế tại các bệnh viện lượng chất thải phát sinh tại các bệnh viện như sau:

Bảng 1.5: Lượng chất thải phát sinh tại các bệnh viện

Tuyến bệnh viện Tổng lƣợng chất thải

Các nước có thu nhập cao

Các nước có thu nhập trung

bình

2,5 – 4 1,8 – 2 2

0,3 – 0,8 0,2 – 0,5

Trang 22

(Nguồn: Quy chế quản lý chất thải y tế, năm 2004)

Hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 1000 bệnh viện, hằng ngày các bệnh viện sẽ phát sinh ra trung bình mỗi ngày 30 tấn chất thải rắn y tế cần phải xử lý

để đảm bảo vệ sinh cũng như an toàn cho môi trường xung quanh

1.4 Phân tích nguy cơ và ảnh hưởng của chất thải y tế đến cộng đồng và môi

trường

1.4.1 Những nguy cơ của chất thải y tế

1.4.1.1 Bản chất mối nguy cơ của chất thải y tế

Việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương Bản chất mối nguy cơ của chất thải ytế có thể được tạo ra do một hoặc nhiều đặc trưng cơ bản sau:

- Chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm;

- Là chất độc hại có trong rác thải y tế;

- Các loại hoá chất và dược phẩm nguy hiểm;

- Các chất thải phóng xạ;

- Các vật sắc nhọn

1.4.1.2 Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ

Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy

cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai xót trong khâu quản

lý Dưới đây là những nhóm chính có nguy cơ cao:

- Bác sỹ, y tá, hộ lý, và các nhân viên hành chính của bệnh viện;

- Bệnh nhân điều trị ngoại trú hoặc nội trú;

- Khách tới thăm hoặc người nhà nuôi bệnh nhân;

Trang 23

- Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sở khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân…

- Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải, các lò đốt rác) và những người bới rác

Ngoài ra còn có các mối nguy cơ liên quan với các nguồn chất thải y tế quy

mô nhỏ, rải rác, dễ bị bỏ quên Chất thải từ những nguồn này có thể sản sinh ra từ những tủ thuốc gia đình hoặc do những kẻ tiêm chích ma tuý vứt ra

1.4.1.3 Nguy cơ các vi khuẩn gây bệnh

Với hầu hết mọi người trong chúng ta, thì các vi khuẩn gây bệnh là mối đe dọa lớn nhất từ môi trường đối với sức khỏe Chúng ta cần nhận biết và luôn cảnh giác với các nguy cơ sinh học do mối đe dọa của chúng ta đối với đa số dân số trên hành tinh Hiện nay có nhiều dịch bệnh do vi khuẩn gây ra bệnh hàng lọt, chúng ta phải khổ sở phòng và chữa bệnh

Bảng 1.6: Một số bệnh truyền nhiễm và ký sinh thường gặp Bệnh Số ca mới mỗi năm Số tử vong hàng năm

Hô hấp (bao gồm viêm phổi, lao,

(Nguồn: Theo trung tâm dữ liệu quốc tế)

Trên thế giới, các bệnh hô hấp (viêm phổi, lao, cúm và ho) là nhóm có thể gây

tử vong cao hơn các nhóm bệnh khác Các bệnh truyền nhiễm liên quan với hệ tiêu hóa (như tiêu chảy, lỵ và tả) gây bởi các vi khuẩn hoặc vi sinh vật đơn bào đứng thứ 2 về số ca mỗi năm và số tử vong

Trang 24

Các bệnh truyền nhiễm và thiếu dinh dưỡng tạo ra một vòng lẩn quẩn những người thiếu dinh dưỡng có nguy cơ bị lây nhiễm bệnh tật cao trong khi đó các bệnh lây nhiễm thường gây tiêu chảy và nôn, như vậy làm cho người đó khó khăn hơn trong việc thu nhận, hấp thụ và lưu giữ thức ăn Cải thiện điều kiện vệ sinh

và chất lượng thực phẩm có thể ngăn ngừa hầu hết các bệnh truyền nhiễm và tiêu hóa

Bệnh lao và các bệnh đường hô hấp khác là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở các nước cận nhiệt đới Căn bệnh khủng khiếp này đã bị đẩy lùi nhờ việc cải thiện điều kiện vệ sinh và tiêm chủng Tuy vậy, ngày nay các vi khuẩn lao đã trở nên kháng thuốc và đang xuất hiện trở lại tại rất nhiều quốc gia

Ở bệnh sốt rét, các tế bào hồng cầu bị nhiễm ký sinh trùng dạng đơn bào Đây

có thể là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại các nước nhiệt đới có độ ẩm cao, nơi muỗi Anpheles – trung gian gây bệnh phát triển mạnh mẽ Việc phun thuốc diệt muỗi đã làm giảm đáng kể số ca sốt rét Tuy nhiên, từ đó các loài muỗi cũng bắt đầu trở nên kháng với các hoá chất và bệnh sốt rét đã xuất hiện trở lại, trong một số trường hợp với mức độ cao hơn

1.4.1.4 Nguy cơ nghề nghiệp đối với các chất gây bệnh có nguồn gốc từ máu

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) và bệnh viêm gam siêu vi B đáng được sự quan tâm nghiêm túc của những người trong nghề nghiệp phải tiếp xúc với máu, các vật phẩm và chất liệu có nguy cơ lây nhiễm tiềm tàng khác, cũng như một số chất lỏng từ cơ thể người có chứa các chất gây bệnh có nguy cơ nguồn gốc từ máu như virus suy giảm miễn giảm ở người (HIV) và virus viêm gan B (HBV) Theo ước tính của tổ chức quản lí sức khoẻ và an toàn lao động (OSHA), có tới trên 5,6 triệu người làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ và

an toàn xã hội có nguy cơ tiềm tàng đối với các virus này

Theo thống kê thì những người này bao gồm (tuy nhiên không chỉ giới hạn ở các đối tượng nào) bác sỹ Y khoa, nha sĩ, những người làm công tác chăm sóc răng miệng, y tá chuyên tiêm truyền tĩnh mạch, điều dưỡng viên, nhân viên lễ tang, trợ giúp y tế, bác sĩ thăm khám, nhân viên kỹ thuật và công nghệ tại các

Trang 25

ngân hàng máu, nhân viên quản gia, công nhân giặt là, nhân viên trong các dịch

vụ chăm sóc sức khoẻ dài hạn cũng như chăm sóc sức khoẻ tại gia

Các đối tượng khác, tuỳ theo dạng thức và hợp đồng làm việc, cũng chịu những nguy cơ tiềm tàng đối với các chất gây bệnh có nguồn gốc từ máu và lây nhiễm khác chẳng hạn như cán bộ, nhân viên phòng thí nghiệm và những người làm việc trong lĩnh vực an toàn xã hội (nhân viên cứu hoả, cảnh sát …)

Nguy cơ nghề nghiệp qua sự tiếp xúc với chất gây bệnh từ máu có thể xảy qua rất nhiều cách Mặc dù các vết thương do bị bơm kim tiêm chích thường xảy ra nhiều nhất đối với các nhân viên chăm sóc sức khoẻ, thì các chất gây bệnh có nguồn gốc từ máu cung có thể được lan truyền qua sự tiếp xúc của màng nhầy hoặc phần da không nguyên vẹn của các nhân viên đó

Tổ chức quản lý sức khoẻ và an toàn lao động (OSHA) nhận thấy sự cần thiết của một quy phạm bảo vệ các nhân viên thuộc diện nói trên trước các nguy cơ về sức khoẻ liên quan với các chất gây bệnh có nguồn gốc từ máu Bởi vậy, qua việc ban hành sâu rộng các tiêu chuẩn của mình, tổ chức này nhằm giảm bớt các rủi

ro nghề nghiệp đối với các bệnh có nguồn gốc từ máu

1.4.1.5 Những nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn

Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có thể chứa đựng một lượng rất lớn các tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:

- Qua da (qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da)

- Qua các niêm mạc (màng nhầy)

- Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)

- Qua đường tiêu hoá

Các ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với chất thải y tế được liệt kê trong bảng dưới đây qua đường truyền là các dịch thể như: máu, dịch não tuỷ, chất nôn, nước mắt, tuyến nhờn,…

Trang 26

Có một mối liên quan đặc biệt giữa sự nhiễm khuẩn do virus gây suy giảm miễn dịch người (HIV) và virus viêm gan B, C đó là những bằng chứng của việc lan truyền các bệnh truyền nhiễm qua đường rác thải y tế Những virus này thường lan truyên qua vết tiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh

Trong các cơ sở y tế, tính đề kháng của khuẩn đối với các loại thuốc kháng sinh và các hoá chất sát khuẩn cũng có thể góp phần tạo ra những mối nguy cơ do

sự quản lý yếu kém các chất thải y tế Điều này đã được chứng minh, chẳng hạn

từ các plasmit từ các động vật thí nghiệm có trong chất thải y tế đã được truyền cho vi khuẩn gốc qua hệ thống xử lý chất thải Hơn nữa, vi khuẩn E.Coli kháng thuốc đã cho thấy nó vẫn sống trong môi trường bùn hoạt tính mặc dù ở đó có vẻ như không phải là môi trường thuận lợi cho sinh vật này trong điều kiện thông thường của hệ thống thải bỏ và xử lý rác, nước

Độ tập trung của các tác nhân gây bệnh và các vật sắc nhọn bị nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (đặc biệt là những mũi kim tiêm qua da) hầu như là những mối nguy cơ tiềm ẩn sâu sắc đối với sức khoẻ trong các loại chất thải bệnh viện Các vật sắc nhọn có thể không chỉ là những nguyên nhân gây ra các vết, vết đâm thủng mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu nó bị nhiễm các tác nhân gây bệnh

Tóm lại, những vật sắc nhọn được coi là một rác thải rất nguy hiểm bởi nó gây những tổn thương kép: vừa gây tổn thương lại vừa lây truyền các bệnh truyền nhiễm Những vấn đề đáng lưu tâm là sự nhiễm trùng có thể được lây truyền bởi sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh, ví dụ như nhiễm khuẩn huyết

do virus Các loại kim tiêm đã tiêm qua da là một phần quan trọng của loại hình chất thải sắc nhọn và là mối nguy hiểm đặc biệt bởi chúng thường bị dính máu bệnh nhân

Bảng 1.7: Nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da

Trang 27

Nhiễm khuẩn hô hấp VK lao, vius sở, Streptococcus

pneumoniae Các loại dịch tiết, đờm Nhiểm khuẩn mắt Vius herpes Dịch tiết của mắt Nhiễm khuẩn sinh dục Neisseria gonorrhoeae, vius

herpes Dịch tiết sinh dục

Bệnh than Bacillus anthracis Chất tiết của da ( mồ hôi,

chất nhờn…) Viêm màng não Não mô cầu (Neisseria

meningitidis) Dịch não tủy

Sốt xuất huyết Các virus: Junin, Lassa, Ebola,

Marburg

Tất cả các sản phẩm máu

và dịch tiết Nhiễm khuẩn huyết do

Nhiễm khuẩn huyết

( do các loại vi khuẩn

khác nhau )

Nhóm tụ cầu khuẩn (Staphylococcus spp chống đông; Staphylococcus arueus);

Enterobacter; Enterococcus;

Klebssiflla; Streptococcus spp

Máu

Viêm gan B,C Virus viêm gan B, C Máu, dịch thể

1.4.1.6 Những mối nguy cơ từ loại chất thải hóa chất và dƣợc phẩm

Nhiều loại hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là những mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người (các độc dược, các chất gây độc gen, chất ăn mòn, chất đễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ, gây sốc phản vệ ) Các loại chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ

Trang 28

Chúng có thể gây nhiễm độc do tiếp xúc cấp tính và mạn tính, gây ra các tổn thương như bỏng Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hoá chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hoá Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, chất ăn mòn, các hoá chất gây phản ứng (formandehyd và các chất đễ bay hơi khác) có thể gây nên những tổn thương tới

da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương phổ biến hay gặp nhất là các vết bỏng

Các chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm này, chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ăn mòn Cũng cần phải lưu ý rằng những loại hoá chất gây phản ứng có thể hình thành nên các hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao

Các loại hoá chất diệt côn trùng quá hạn lưu trữ trong các thùng bị rò rỉ hoặc túi rách thủng có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ của bất cứ

ai tới gần và tiếp xúc với chúng Trong những trận mưa lớn, các hoá chất diệt côn trùng bị rò rỉ có thể thấm sâu vào đất và gây ô nhiễm nước ngầm Sự nhiễm độc

có thể xảy ra do tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm, do hít phải hơi độc hoặc do uống phải nước hoặc ăn phải thức ăn đã bị nhiễm độc Các mối nguy cơ khác có thể là khả năng dẫn đến các vụ hoả hoạn hoặc gây ô nhiễm do việc xử lý chất thải không đúng cách chẳng hạn như thiêu huỷ hoặc chôn lấp

Các sản phẩm hoá chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể gây nên các ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải sinh học hoặc gây ảnh hưởng độc hại tới hệ sinh thái tự nhiên nhận được sự tưới tiêu bằng nguồn nước này Những vấn đề tương tự như vậy cũng có thể bị gây ra do các sản phẩm của quá trình bào chế dược phẩm bao gồm các kháng sinh và các loại thuốc khác, do các kim loại nặng như thuỷ ngân, phenol và các dẫn xuất, các chất khử trùng và tẩy uế

Những nguy cơ từ chất thải gây độc gen ( genotoxic )

Đối với các nhân viên y tế chịu trách nhiệm tiếp xúc và xử lý và loại chất thải gây độc gen, mức độ ảnh hưởng của những mối nguy cơ bị chi phối bởi sự kết

Trang 29

hợp giữa bản chất của chất độc và phạm vi, khoảng thời gian tiếp xúc với chất độc đó Quá trình tiếp xúc với các chất độc trong công tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng hoá trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải dạng bụi hoặc dạng phun sương qua đường hô hấp ; hấp thụ qua da; qua đường tiêu hoá do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc, hoá chất hoặc chất bẩn có tính độc Việc nhiễm độc qua đường tiêu hoá là kết quả của những thói quen xấu chẳng hạn như dùng miệng để hút ống pipet trong khi định lượng dung dịch Mối nguy hiểm cũng có thể xảy ra khi tiếp xúc với các loại dịch thể và các chất tiết của những bệnh nhân đang được điều trị bằng hoá trị liệu

Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động đến các chu kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình đặc biệt trong nội bào như quá trình tổng hợp ADN hoặc phân bào nguyên phân Các thuốc chống ung thư khác, chẳng hạn như nhóm ankyl hoá, không phải là pha đặc biệt, chỉ biểu hiện độc tính tại một vài điểm trong chu kỳ tế bào Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy nhiều loại thuốc chống ung thư lại gây nên ung thư và gây đột biến Khối u thứ phát, xảy ra sau khi ung thư nguyên phát đã bị tiêu diệt, được biết hình thành do sự kết hợp của các công thức hoá trị liệu

Nhiều loại thuốc có độc tính gây kích thích cao độ và gây nên những hậu quả huỷ hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặc mắt Chúng cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da

Cần phải đặc biệt cẩn thận trong việc sử dụng và vận chuyển chất thải genotoxic, việc đào thải những chất thải như vậy vào môi trường có thể gây nên những hậu quả sinh thái thảm khốc

Trang 30

Bảng 1.9 : Các thuốc độc hại tế bào gây nguy hiểm cho mắt da

Nhóm thuốc xen kẽ

Các thuốc gây rộp da: Asacrine, dactinomycin, daumorybicin, doxorubicin, epirubicin, pirarubicin, zorubicin

Các thuốc gây kích ứng da: Mitoxantrone Các alkaloid thuộc nhóm

Vinca và các dẫn xuất

Các thuốc gây rộp da: Vinblastine, vin cristine, vindesine, vinorelbine

Epipodophyllotoxins Các thuốc gây kích ứng da: Teniposide

1.4.1.7 Những nguy cơ từ các chất thải phóng xạ

Loại bệnh gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải và phạm vi tiếp xúc Nó có thể là đau đầu, hoa mắt chóng mặt và nôn nhiều bất thường Bởi chất thải phóng xạ, cũng như loại chất thải dược phẩm, là một loại độc hại gen, nó cũng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như các nguồn phóng xạ của các phương tiện chuẩn đoán (máy X quang, máy chụp cắt lớp ), có thể gây ra một loạt các tổn thương (chẳng hạn như phá huỷ các mô, từ đó đòi hỏi phải dẫn đến việc xử lý loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể)

Các nguy cơ từ những loại chất thải có hoạt tính thấp có thể phát sinh do việc nhiễm xạ trên phạm vi bề mặt của các vật chứa, do phương thức hoặc khoảng thời gian lưu giữ loại chất chất thải này Các nhân viên y tế hoặc những người làm nhiệm vụ thu gom và vận chuyển rác thải thải phải tiếp xúc với loại chất thải phóng xạ này là những người thuộc nhóm nguy cơ cao

1.4.2 Ảnh hưởng của các loại chất thải y tế

1.4.2.1 Ảnh hưởng của loại chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn

Trang 31

Đối với những bệnh do virút gây ra như HIV/AIDS, viêm gan B hoặc C, những nhân viên y tế, đặc biệt là các y tế là những người có nguy cơ nhiễm cao nhất qua những vết thương do các vật sắc nhọn bị nhiễm máu bệnh nhân gây nên Các nhân viên bệnh viện khác và những người vận hành quản lý chất thải xung quanh bệnh viện cũng có nguy cơ đáng kể, chẳng hạn như những nhân viên quét dọn, những người bới rác tại bãi đổ rác Nguy cơ của loại bệnh truyền nhiễm này trong số các bệnh nhân và cộng đồng thấp hơn nhiều Đôi khi một số bệnh truyền nhiễm lại lây truyền qua các phương tiện khác hoặc gây ra do các tác nhân cơ tính bền vững hơn, đã tạo ra một nguy cơ đáng kể cho cộng đồng và cho các bệnh nhân trong bệnh viện

Các trường hợp tai nạn riêng lẻ hoặc nhiễm trùng thứ phát do chất thải y tế gây ra đều được chứng minh bởi những tài liệu đáng tin cậy Tuy vậy, nhìn chung vẫn khó đánh giá trực tiếp ảnh hưởng của chất thải rắn y tế, đặc biệt là ở các nước đang phát triển vẫn còn nghi ngờ đối với trường hợp nhiễm khuẩn với số lượng lớn mà tác nhân gây bệnh do tiếp xúc với chất thải y tế

Tỷ lệ các tổn thương hàng năm do các vật sắc nhọn trong chất thải y tế và dịch

vụ vệ sinh môi trường cả trong và ngoài các bệnh viện gây ra đã được cơ quan Đăng ký các độc chất và bệnh tật Hoa Kỳ (ATSDN) Nhiều tổn thương gây ra do kim tiêm trước khi vứt bỏ vào thùng chứa, do những thùng chứa đó không kín hoặc làm bằng những vật liệu dễ bị rách, thủng

Một báo cáo của Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) tại hội nghị chất thải y tế

đã đánh giá số trường hợp nhiễm virus viêm gan B và C hàng năm do tổn thương gây ra bởi các vật sắc nhọn trong số các nhân viên y tế và các nhân viên quản lý chất thải

Ở các nước đang phát triển, việc tư vấn và huấn luyện cho những nhân viên đã tiếp xúc với chất thải có thể không chặt chẽ lắm do vậy ngày càng có nhiều người tiếp xúc với các loại chất thải bệnh viện cả bên trong lẫn bên ngoài cơ sở y tế Trong bất kỳ một cơ sở y tế nào, y tá và những nhân viên quản lý bệnh viện là những nhóm nguy cơ chính bị tổn thương, tỷ lệ tổn thương hàng năm của những

Trang 32

đối tượng này vào khoảng 10-20 phần nghìn Mặc dù các tổn thương có liên quan đến công việc trong số các nhân viên y tế và những người thu gom rác hầu hết là các tổn thương bong gân và căng thẳng do làm việc quá sức, vẫn có một tỷ lệ đáng kể các tổn thương là các vết cắt, thủng do các vật sắc nhọn bị loại bỏ gây ra

1.4.2.2 Ảnh hưởng của chất thải hoá chất và dược phẩm

Trong khi không có tài liệu khoa học nào cho thấy mức độ phổ biến của bệnh tật gây ra do chất thải hoá chất hoặc dược phẩm từ các bệnh viện đối với cộng đồng, thì nhiều trường hợp nhiễm độc quy mô lớn do chất thải hoá chất công nghiệp đã xảy ra Ngoài ra đã có nhiều vụ tổn thương hoặc nhiễm độc do việc vận chuyển hoá chất và dược phẩm trong bệnh viên không bảo đảm Các dược sĩ, bác

sĩ gây mê, y tá, kỹ thuật viên, cán bộ hành chính có thể có nguy cơ mắc các bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da do tiếp xúc với các loại chất dạng lỏng, bay hơi, dạng phun sương và các dung dịch khác

Để hạn chế đến mức thấp nhất loại nguy cơ nghề nghiệp này nên thay thế hoặc giảm lượng hoá chất độc hại xuống bất cứ lúc nào có thể và cung cấp các phương tiện bảo hộ cho tất cả những người tiếp xúc trực tiếp với hoá chất Những nơi sử dụng và bảo quản loại hoá chất nguy hiểm cung nên được thiết kế hệ thống thông gió phù hợp, huấn luyện các biện pháp phòng hộ và các trường hợp cấp cứu cho những người có liên quan

1.4.2.3 Những ảnh hưởng của chất thải gây độc gen trong y tế

Cần phải có thời gian để thu thập những dữ liệu về ảnh hưởng lâu dài đối với sức khoẻ con người của các chất thải gây độc gen trong y tế, bởi vì rất khó đánh giá ảnh hưởng của loại độc chất phức tạp này lên mối nguy cơ đối với con người

Có rất nhiều nghiên cứu đã điều tra khả năng kết hợp giữa nguy cơ đối với sức khoẻ và việc tiếp xúc với thuốc chống ung thư, biểu hiện bằng sự tăng đột biến các thành phần trong nước tiểu ở những người đã tiếp xúc và tăng nguy cơ xảy thai Mức độ tập trung các thuốc gây độc gen trong bầu không khí bên trong bệnh viện cũng đã được xem xét và đánh giá các ảnh hưởng về sức khoẻ liên quan tới việc tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ

Trang 33

1.4.2.4 Những ảnh hưởng của chất thải phóng xạ

Nhiều tai nạn đã được ghi nhận và thanh toán xử lý các nguyên liệu trong trị liệu hạt nhân cùng với số lượng lớn những người bị tổn thương do tiếp xúc với mối nguy cơ Ở Brazil, đã phân tích và có đầy đủ tài liệu chứng minh một trường hợp ảnh hưởng của ung thư lên cộng đồng có liên quan tới việc rò rỉ chất thải phóng xạ trong bệnh viện

Một bệnh viện thiên về trị liệu bằng phóng xạ trong khi chuyển địa điểm đã làm thất thoát tại địa điểm cũ một nguồn xạ trị đã được niêm phong, một người dân chuyển đến địa điểm này đã nhặt được nó và mang về nhà Hậu quả đã có

249 người tiếp xúc với nguồn phóng xạ này, nhiều người trong số đó đã chết hoặc gặp hàng loạt các vấn đề về sức khoẻ Các vụ tai nạn có liên quan đến việc tiếp xúc với các chất phóng xạ ion hoá trong các cơ sở điều trị do hậu quả từ các thiết

bị X-quang hoạt động không an toàn, do việc chuyên chở vận chuyển các dung dịch xạ trị không đảm bảo hoặc thiếu các biện pháp giám sát trong xạ trị liệu

Trang 34

CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN & KINH TẾ XÃ

HỘI CỦA THÀNH PHỐ QUY NHƠN

2.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội

2.1.1 Vị trí địa lý và hành chính

Quy Nhơn là thành phố tỉnh lị tỉnh Bình Định, Trung Bộ, Việt Nam và là một trong 6 đô thị loại I trực thuộc tỉnh của Việt Nam Là một thành phố ven biển miền Trung, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học kĩ thuật và du lịch của tỉnh Bình Định Trước khi thuộc về Việt Nam, Quy Nhơn là đất của người Chăm-

pa Các di tích của người Chăm vẫn còn ở thành phố biển trẻ trung này

Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía đông nam của tỉnh Bình Định, phía đông là biển Đông, phía tây giáp huyện Tuy Phước, phía bắc giáp huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát, phía nam giáp thị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên

Quy Nhơn nằm trong phạm vi tọa độ từ 13036' đến 13054' vĩ Bắc, từ 109006' đến 109022' kinh Đông, cách Hà Nội 1.065 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 400 dặm về phía Nam,cách thành phố Pleiku (Tây Nguyên) 105 dặm Cách Đà Nẵng 195 dặm,cách Huế 247 dặm, cách Nha Trang 130 dặm ,cách Tuy Hòa 62 dặm và cách Quảng Ngãi 109 dặm

Dân số của thành phố Quy Nhơn hiện nay khoảng 284.000 người

2.1.2 Các đơn vị hành chính

Thành phố có 16 phường: Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Lê Hồng Phong, Trần Phú,

Lý Thường Kiệt, Nguyễn Văn Cừ, Đống Đa, Thị Nại, Hải Cảng, Ngô Mây, Ghềnh Ráng, Quang Trung, Nhơn Bình, Nhơn Phú, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu và 5 xã: Nhơn Lý, Nhơn Hội, Nhơn Châu, Nhơn Hải và Phước Mỹ (trong

đó xã Phước Mỹ được tách từ huyện Tuy Phước và sáp nhập vào Quy Nhơn năm 2006) với tổng diện tích là 284,28 km², dân số khoảng 284.000 người

Trang 35

Phường Bùi Thị Xuân và phường Trần Quang Diệu được thành lập ngày 12/3/1987 từ xã Phước Long (thuộc huyện Tuy Phước) trong quá trình mở rộng thành phố Quy Nhơn về phía Tây - Nam

2.1.3 Địa lí tự nhiên

Quy Nhơn có nhiều thế đất khác nhau, đa dạng về cảnh quan địa lí như núi rừng, gò đồi, đồng ruộng, ruộng muối, bãi, đầm, hồ, sông ngòi, biển, bán đảo và đảo Bờ biển Quy Nhơn dài 42 km, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinh vật biển phong phú, có nhiều loại đặc sản quý, có giá trị kinh tế cao Các ngành kinh tế chính của thành phố gồm công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, dịch

vụ cảng biển, nuôi và khai thác thuỷ hải sản, du lịch Vừa mở thêm khu kinh tế Nhơn Hội

Ngày 3/7/1986 Hội đồng Bộ trưởng quyết định thành lập thành phố Quy Nhơn

từ thị xã Quy Nhơn Khi đó thành phố Quy Nhơn có 8 phường, 7 xã, với diện tích

212 km² và dân số 174.076 người

Năm 1989, tỉnh Bình Định được tái lập, lấy thành phố Quy Nhơn làm tỉnh lị Đến tháng 1 năm 2010, theo nghị quyết 159 của Thủ tướng Chính phủ, thành phố Quy Nhơn được nâng cấp lên đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Bình Định

Ngày nay Quy Nhơn được công nhận là đô thị loại I, với ưu thế về vị trí địa lí,

có cảng biển và cơ sở hạ tầng đô thị phát triển Quy Nhơn được Thủ tướng Chính phủ xác định là một trong ba trung tâm thương mại và du lịch của vùng duyên hải Nam Trung Bộ (cùng với Đà Nẵng và Nha Trang) Quy Nhơn đang từng bước chỉnh trang đô thị, xây dựng và nâng cấp để trở thành một trong những trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội và du lịch, là đô thị lớn nằm trong chuỗi đô thị của các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

2.1.4 Đặc điểm khí hậu

Thành phố Quy Nhơn nằm cực nam tỉnh Bình Định, tại tọa độ 13 độ 36 -> 13

độ 54 vĩ Bắc, 109 độ 06 -> 109 độ 22 kinh Đông, cách Hà Nội 1.065 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 690 km về phía Nam và cách thành phố Pleiku (Tây Nguyên) 176 km Về khí hậu

Trang 36

Quy Nhơn có 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 - 9, mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24,5 độ C Có diện tích tự nhiên 216km², với dân số 26 vạn

Quy Nhơn có đặc điểm địa hình khá đa dạng và phong phú (đồi núi, rừng, biển, sông, đầm, hồ…) hệ sinh thái bao gồm: rừng nguyên sinh (đèo Cù Mông),

hệ động vật đa loài đầm Thị Nại; có bán đảo Phương Mai và 1 xã đảo (Cù Lao Xanh)

2.2 Tình hình Kinh tế - thương mại

Hiện nay cơ cấu các ngành kinh tế của Quy Nhơn có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, giảm tỉ lệ ngành nông lâm ngư nghiệp trong GDP Tỉ trọng nông, lâm, thủy sản - công nghiệp và xây dựng - dịch

vụ trong GDP năm 2006 đạt: 36,7% - 28% - 35,3% (kế hoạch: 35% - 30% - 35%; năm 2005: 38,4% - 26,7% - 34,9%)

Tổng sản phẩm địa phương (GDP) cả năm 2006 12% (ước tăng cao hơn tốc

độ tăng năm 2005 là 0,9%), trong đó, giá trị tăng thêm của các ngành:

Nông, lâm, thuỷ sản tăng 8,21% Riêng nông nghiệp tăng 10,54%

Công nghiệp, xây dựng tăng 17,94% Riêng công nghiệp tăng 17,53%

Dịch vụ tăng 12,32%

Thu nhập bình quân dầu người 2009 là 1255 USD/người

Mục tiêu phát triển của thành phố là phấn đấu đến năm 2020 trở thành đô thị trực thuộc Trung ương trên hành lang Bắc-Nam và Đông-Tây; một trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao dịch quốc tế có vai trò tích cực thúc đẩỳ phát triển kinh tế-xã hội của khu vực

2.2.1 Nông - Lâm nghiệp

Trang 37

- Đất trồng cây hằng năm: 84.095 ha

- Đất trồng cây lâu năm: 15.387 ha

- Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: 2.723 ha

- Đất loại khác: 15.188 ha

Thuỷ lợi: Toàn tỉnh có 145 hồ chứa nước, 108 đập dâng nước, 171 trạm bơm điện, 52% diện tích gieo trồng được tưới bằng các công trình thuỷ lợi kiên cố

2.2.2 Công nghiệp

Thành phố đã mời gọi đầu tư cho 9 dự án, nhóm dự án mới

Đã hình thành và phát triển các ngành sản xuất công nghiệp như chế biến nông lâm thủy sản, hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản, may mặc, giày dép xuất khẩu Các ngành này đã được củng cố

và gắn kết lại để tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu

Nhiều sản phẩm chất lượng cao như: đồ gỗ, đá granite, titan, hải sản, yến sào, đường, bia, hàng song mây, mỹ nghệ, may mặc, giày dép, dược phẩm

Bảng 2.1: Các ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh Ngành Sản lƣợng hàng năm Sản lƣợng nă m 2009

Chế biến thuỷ hải sản 4.000 - 5.000 tấn 8.000 - 8.500 tấn Công nghiệp mía đường 25.000 - 27.000 tấn 50.000 tấn

Sản phẩm gỗ tinh chế 35.000m3 60.000 - 65.000 m3 Sản xuất bia 20 triệu lít 45 - 50 triệu lít

(Nguồn: UBND tỉnh Bình Định, năm 2008)

2.2.2.1 Các khu công nghiệp trong địa bàn thành phố Quy Nhơn

 Khu công nghiệp Phú Tài

Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1127/QĐ-TTg ngày 08/12/1998 về việc thành lập KCN Phú Tài và phê duyệt dự án đầu tư và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Phú Tài (giai đoạn I)

Trang 38

Dự án đầu tư giai đoạn II, III được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 710/QĐ-TTg ngày 07/8/2000

UBND tỉnh đã có Quyết định số 7335/2003/QĐ-UB ngày 05/9/2003 phê duyệt dự án đầu tư và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Phú Tài giai đoạn mở rộng về phía Nam và Quyết định số 543/2004/QD-UB ngày 09/3/2004 phê duyệt

dự án đầu tư và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Phú Tài giai đoạn mở rộng về phía Bắc

Nằm ở giao điểm quốc lộ 1A và Quốc lộ 19 thuộc địa bàn phường Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân thành phố Quy Nhơn Cách cảng biển Quy Nhơn 12km về phía tây; cách ga đường sắt Diêu Trì 2 km và cách sân bay Phù Cát 20

km về phía nam

Hình 2.1 : Bản đồ quy hoạch khu công nghiệp Phú Tài

Diện tích hiện nay là 188 ha và đang mở rộng thêm 140 ha, trong đó :

- Đất xây dựng các nhà máy: 129,35 ha

- Đất cây xanh và công trình công cộng: 20,5 ha

- Đất giao thông: 29,7 ha

- Đất khu điều hành dịch vụ : 4,65 ha

- Đất đầu mối hạ tầng kỹ thuật: 3,8 ha

Giai đoạn 1: 80 ha (đã cấp đất cho các doanh nghiệp 70% diện tích)

Giai đoạn 2: 108 ha và có thể mở rộng khu công nghiệp về phía Tây Nam (vùng Long Mỹ)

Trang 39

Các lĩnh vực được khuyến khích đần tư trong khu công nghiệp:

- Xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp

- Công nghiệp vật liệu xây dựng

- Công nghiệp chế biến nông lâm sản thực phẩm

- Sản xuất hàng tiêu dùng

- Cơ khí và điện tử

Đến nay đã có 108 dự án đăng ký vào KCN Phú Tài với nhiều ngành nghề: Sản xuất chế biến đồ gỗ và lâm sản, giấy và bao bì carton, đá granite, vật liệu xây dựng, thuỷ sản, thực phẩm, đồ uống và các lĩnh vực khác Trong đó đã có 69 dự

án đi vào hoạt động, thu hút trên 14.000 lao động Các doanh nghiệp đã đóng góp khoảng 1/3 giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh (Nguồn: UBND tỉnh Bình Định)

 Khu đô thị mới và Khu công nghiệp Nhơn Hội

Thuộc Khu Kinh tế Nhơn Hội (khoảng 1.395 ha, gồm cả khu phong điện và công nghiệp tàu thuỷ) đang hình thành

Nằm trên bán đảo Phương Mai, thuộc 2 xã Nhơn Hội, Nhơn Lý của thành phố Quy Nhơn và một phần của xã Phước Hòa huyện Tuy Phước Phương Mai là bán đảo nằm phía Đông Bắc thành phố Quy Nhơn có diện tích khoảng 10.000 ha, trong đó diện tích mặt bằng có thể xây dựng là 4.200 ha, phía Đông và Nam giáp biển Ðông, có dãy núi Phương Mai ngăn gió bão, phía Tây là đầm Thị Nại rộng 5.060 ha, phía Bắc và Tây Bắc là vùng đất duy nhất nối liền bán đảo với nội địa Ðịa hình bán đảo Phương Mai hiện trạng chủ yếu là đất cát và đồi núi, không bị ngập lụt, địa chất khu vực ổn định, không có di sản văn hóa hay quần thể kiến trúc kiên cố, dân cư thưa thớt thuận lợi cho việc xây dựng công trình Mới đây, ngày 03/11/2002 tỉnh vừa khởi công xây dựng công trình cầu đường Quy Nhơn - Nhơn Hội nối nội thị Quy Nhơn hiện hữu với Bán đảo Phương Mai

Các ưu điểm về vị trí của Nhơn Hội:

Trang 40

Nhơn Hội nằm gần cụm cảng Quy Nhơn là cụm cảng nước sâu có khả năng phát triển theo hướng Đông Bắc ra Nhơn Hội Kết cấu hạ tầng sẵn có của cảng Quy Nhơn là cơ sở thuận lợi phục vụ cho việc xây dựng khu kinh tế mở, cách sân bay Phù Cát 37 km, cách ga Diêu Trì 12 km, gần Quốc lộ lA, Quốc lộ 19, đường sắt xuyên Việt, giao lưu thuận lợi với các vùng khác trong nước và quốc tế Nhơn Hội nằm cạnh trung tâm thành phố Quy Nhơn, một thành phố có kết cấu hạ tầng kỹ thuật như điện, nước, giao thông, bưu chính viễn thông khá phát triển; đội ngũ công nhân được đào tạo tốt

Mặt bằng bán đảo Nhơn Hội rộng, có thể mở rộng lên phía Tây Bắc, hiện trạng chủ yếu là đất cát, không bị ngập lụt, không có di sản văn hóa hay quần thể kiến trúc kiên cố, dân cư thưa thớt thuận lợi cho việc giải tỏa xây dựng các công trình Địa chất khu vực ổn định

Theo định hướng phát triển chung, trong tương lai gần khu vực này sẽ được đầu tư phát triển thành các khu: Khu đô thị mới Nhơn Hội, với không gian kiến trúc hiện đại; Khu công nghiệp lớn Nhơn Hội với các tổ hợp sản xuất đa dạng, kỹ nghệ cao và không gây ô nhiễm môi trường; gắn liền với Khu công nghiệp Nhơn Hội là Khu cảng biển nước sâu Nhơn Hội (nơi mở rộng cảng Quy Nhơn hiện hữu

về phía Nhơn Hội theo sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ) và khu vui chơi giải trí gắn với du lịch sinh thái trên đầm Thị Nại và tuyến du lịch Phương Mai - Núi

Bà cùng với các điềm du lịch khác trên địa bàn tỉnh để trong tương lai Bình Định trở thành một trong những điểm du lịch lớn của khu vực Cùng với sự hình thành các khu trên sẽ là sự phát triển các kết cấu hạ tầng thiết yếu và các loại hình dịch

vụ thương mại, tài chính phục vụ cho sự phát triển của toàn tỉnh Sự hình thành khu vực này sẽ là điểm nhấn quan trọng nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh và là bước đột phá đưa Bình Định trở thành vùng kinh tế trọng điểm của khu vực trong thế kỷ 21

Quy mô xây dựng: Dự kiến khu kinh tế Nhơn Hội sử dụng diện tích khoảng

1000 ha (2012, sau năm 2012 khoảng 4000 ha Nội dung hoạt động của khu kinh

tế bao gồm cả sản xuất, chế biến, tái chế, gia công hàng xuất khẩu, thương mại,

Ngày đăng: 29/06/2014, 06:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Sở y tế Bình Đình, Tài liệu tập huấn “ Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế ”, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế
[7] Phạm Ngọc Đăng, Quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp, NXB Xây Dựng, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp
Nhà XB: NXB Xây Dựng
[9] Bộ KHCNMT, Một số vấn đề quản lý chất thải rắn Việt Nam, Hà Nội, 9/2002. Lê Huy Bá, Môi Trường, Nxb ĐHQG TPHCM, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi Trường
Nhà XB: Nxb ĐHQG TPHCM
[2] Sở khoa học công nghệ Bình Định, Niên giám thống kế tỉnh Bình Định năm 2005, Bình Định, 2005 Khác
[3] Bộ Y tế, Quy chế quản lý chất thải y tế , bộ trưởng Bộ Y tế ban hành ngày 27/08/1999 Khác
[4] Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định, Tài liệu điều tra tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định Khác
[5] Bộ Y tế, Tài liệu về một số kết quả điều tra của Dự án hợp tác giữa Bộ Y tế và WHO Khác
[6] Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái, Quản lý chất thải rắn- Tập 1, Chất thải rắn đô thị, NXB Xây dựng, Hà Nội, 2001 Khác
[8] Báo cáo. Quy hoạch tổng thể quản lý chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại (giai đoạn 2006-2010 và tầm nhìn đến 2020) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Thành phần trong chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam được thống kê - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 1.1 Thành phần trong chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam được thống kê (Trang 16)
Bảng 1.2: Các hạt nhân phóng xạ sử dụng trong các cở sở y tế  Hạt nhân - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 1.2 Các hạt nhân phóng xạ sử dụng trong các cở sở y tế Hạt nhân (Trang 18)
Bảng 1.4: Lượng chất thải y tế phát sinh tại các châu lục - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 1.4 Lượng chất thải y tế phát sinh tại các châu lục (Trang 21)
Bảng 1.3: Lượng chất thải phát sinh tại tại các nước theo tuyến bệnh viện - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 1.3 Lượng chất thải phát sinh tại tại các nước theo tuyến bệnh viện (Trang 21)
Bảng 1.6: Một số bệnh truyền nhiễm và ký sinh thường gặp - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 1.6 Một số bệnh truyền nhiễm và ký sinh thường gặp (Trang 23)
Bảng 1.8: Các loại vi sinh vật và phương tiện lây truyền - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 1.8 Các loại vi sinh vật và phương tiện lây truyền (Trang 27)
Bảng 1.9 : Các thuốc độc hại tế bào gây nguy hiểm cho mắt da - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 1.9 Các thuốc độc hại tế bào gây nguy hiểm cho mắt da (Trang 30)
Bảng 2.1: Các ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 2.1 Các ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh (Trang 37)
Hình 2.2:  Một số hình ảnh về cầu vượt vượt biển Thị Nại - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Hình 2.2 Một số hình ảnh về cầu vượt vượt biển Thị Nại (Trang 42)
Bảng 3.1: Vị trí địa lý của các cơ sở y tế của Thành phố Quy Nhơn - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 3.1 Vị trí địa lý của các cơ sở y tế của Thành phố Quy Nhơn (Trang 50)
Bảng 3.2: Vị trí địa lý của các cơ sở y tế của Tỉnh Bình Định - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 3.2 Vị trí địa lý của các cơ sở y tế của Tỉnh Bình Định (Trang 52)
Bảng 3.4: Thông tin dự đoán đến năm 2020 - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 3.4 Thông tin dự đoán đến năm 2020 (Trang 53)
Bảng 3.3: Tình hình khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế năm 2008 - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 3.3 Tình hình khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế năm 2008 (Trang 53)
Bảng 3.6: Thông tin điều tra năm 2009 - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 3.6 Thông tin điều tra năm 2009 (Trang 54)
Bảng 3.5: Thành phần chất thải bệnh viện - Quản lý chất rắn trong y tế tài Quy Nhơn- Bình Định docx
Bảng 3.5 Thành phần chất thải bệnh viện (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w