Tăng trưởng nóng và không bền vững có thể dẫn tới nhiều hệ lụy như vấn đề ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, chảy máu chất xám…
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KINH TẾ
Ở NHỮNG TỈNH NGHÈO
Giảng viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Thu Trang
Sinh viên thực hiện: Tạ Vũ Ngọc Hân K094010035
Nguyễn Thị Thu Hiền K094010036 Hoàng Thị Nhã Phương K094010086 Nguyễn Thị Hồng Thọ K094010096
1.1 Khái niệm nghèo ở Việt Nam
1.1.1 Nghèo tương đối 4
1.1.2 Nghèo tuyệt đối 4
1.2 Khái niệm công bằng
1.2.1 Công bằng ngang 5
1.2.2 Công bằng dọc 5
1.3 Các thước đo về mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Trang 21.3.1 Đường cong Lorenz 5
1.3.2.Hệ số Gini 7
1.4 Lý thuyết về tăng trưởng triển bền vững 1.4.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế 8
1.4.2 Khái niệm về phát triển bền vững 8
1.5 Lý thuyết về phân phối thu nhập 1.5.1 Một số khái niệm 8
1.5.2 Thuyết vị lợi 10
1.5.2.1 Nội dung và hàm phúc lợi xã hội 10
1.5.2.2 Mô tả 11
1.5.2.3 Phân phối thu nhập theo thuyết vị lợi 11
1.5.2.4 Đánh giá 12
1.5.2.5 Kết luận 12
1.5.3 Quan điểm bình quân đồng đều 13
1.5.4 Thuyết cực đại thấp nhất ( Thuyết Rawls ) 13
1.5.4.1 Nội dung và hàm phúc lợi xã hội 13
1.5.4.2 Mô tả 14
1.5.4.3 Phân tích 14
1.5.4.4 Đánh giá 14
1.5.4.5 Kết luận 15
1.5.5 Các quan điểm không dựa trên độ thỏa dụng cá nhân 15
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC TĂNG TRƯỞNG, TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở CÁC TỈNH NGHÈO 2.1 Thực trạng tăng trưởng của các tỉnh nghèo Việt Nam 2.1.1 Thành tựu tăng trưởng của các tỉnh nghèo giai đoạn 2000-2010 16
2.1.2 Mặt trái của sự tăng trưởng 18
2.2 Quan hệ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay 2.2.1 Thực trạng về mối quan hệ, tác động 19
2.2.2 Những thành tựu đạt được 21
2.2.3 Hạn chế 23
Chương 3: VAI TRÒ VÀ CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC 3.1Vai trò của nhà nước trong thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội 26
3.2 Các chính sách, giải pháp nhà nước áp dụng 27
2
Trang 3Chương 4 : KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP VÀ KẾT LUẬN
4.1 Quan điểm và định hướng giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội 32
4.1 1 Một số quan điểm về tăng trưởng và công bằng xã hội 32
4.1.2 Kiến nghị giải pháp 33
4.2 Kết luận 38
Nguồn tài liệu tham khảo
LỜI MỞ ĐẦU
Khi nhắc đến tăng trưởng người ta thường nghĩ tới những thành tựu, kết quả khả quan Tuy nhiên không thể phủ nhận sự tồn tại của một bức tranh màu tối Đó là mặt trái của sự tăng trưởng đang được quan tâm hiện nay Vào những năm cuối của thế kỷ XX, đặc biệt dưới tác động của công cuộc đổi mới, hơn một thập niên trở lại đây, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển đáng mừng với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm tương đối cao (6-7%, đứng thứ hai sau Trung Quốc), đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể Nhưng do xuất phát điểm quá thấp, vốn là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, cộng với điều kiện tự nhiên ít thuận lợi, thiên tai thường xuyên xảy ra, nên mặc dù tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng không bền vững, có thể dẫn đến nhiều hệ quả khác như vấn đề môi trường, chênh lệch giàu nghèo, bản sắc văn hóa…
Tính đến năm 2009, nước ta có khoảng 20 tỉnh nghèo trên tổng số 63 tỉnh thành, chiếm gấn 1/3 Tuy nhiên theo thống kê, các tỉnh này có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, GDP bình quân và chỉ số cạnh tranh liên tục được cải thiện Nhưng liệu tốc độ tăng trưởng đó có là đáng mừng khi mà nó không dựa trên nền tảng bền vững Trong tương lai,
có thể những tỉnh này sẽ phải trả một cái giá khá cao cho sự tăng trưởng ấy
Tăng trưởng nóng và không bền vững có thể dẫn tới nhiều hệ lụy như vấn đề ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, chảy máu chất xám… Tuy nhiên, trong đề tài này, nhóm nghiên cứu chỉ tập trung
vào giải quyết vấn đề Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở các tỉnh nghèo.
3
Trang 4Chương 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG - PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, PHÂN PHỐI THU NHẬP VÀ KHÁI NIỆM NGHÈO Ở VIỆT NAM 1.1 Khái niệm nghèo ở Việt Nam
1.1.1 Nghèo tuyệt đối
Theo Robert McNamara, cựu giám đốc Ngân Hàng Thế Giới, nghèo tuyệt đối là
"Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta."
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương củađịa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát chonạn nghèo tuyệt đối (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc 1997)
Ở Việt Nam, chuẩn nghèo được thay đổi nhiều lần từ 1993 đến nay
Chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015
+ Khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 350.000đồng/người/tháng (4.200.000 đồng/người/năm)trở xuống là hộ nghèo
+Khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 450.000đồng/người/tháng (dưới 5.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
1.1.2 Nghèo tương đối
Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với
sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vàocảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khinhững người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan.Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vậtchất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hóa-xã hội, thiếu tham giavào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như làmột thách thức xã hội nghiêm trọng
1.2 Khái niệm công bằng
4
Trang 5Khái niệm công bằng xã hội mang tính chuẩn tắc Khái niệm công bằng khôngđồng nhất Và khoa học kinh tế không thể khái niệm nào là đúng nhất và duy nhất.
Có 2 cách hiểu khác nhau về công bằng xã hội
1.2.1 Công bằng ngang
Công bằng ngang (Horizontal equality): là đối xử như nhau đối với những người
có tình trạng kinh tế như nhau
Tình trạng kinh tế như nhau được xét theo một số tiêu chí nào đó như thu nhập,hoàn cảnh gia đình, tôn giáo, dân tộc…
1.2.2 Công bằng dọc
Công bằng dọc (Vertical equality) là đối xử khác nhau với những người có khác
biệt bẩm sinh hoặc tình trạng kinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắc phục những khác biệtsẵn có
Việc chính phủ có những chính sách ưu tiên cho các đối tượng là nạn nhân chiếntranh, bệnh tật bẩm sinh, người yếu thế nên gặp khó khăn trong việc hòa nhập cộngđồng…là những biểu hiện của cân bằng dọc
1.3 Các thước đo về mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
1.3.1 Đường cong Lorenz
Khái niệm
Đường cong Lorenz là cách thể hiện bằng hình học mức độ bất bình đẳng trongphân phối thu nhập thông qua việc phản ánh mối quan hệ giữa phần trăm cộng dồn củacác nhóm dân số với phần trăm thu nhập cộng dồn tương ứng của nhóm đó
5
Trang 6Cách xây dựng
Bước 1: sắp xếp thu nhập dân cư theo thứ tự tăng dần
Bước 2: chia tổng dân cư thành 5 nhóm có số dân bằng nhau
Bước 3: cạnh đáy hình vuông Lorenz thể hiện % dân số cộng dồn, cạnh bên thể hiện %thu nhập cộng dồn
Bước 4: biểu diễn các giá trị % thu nhập cộng dồn tương ứng với % dân số cộng dồn bằngcác điểm trên đồ thị
Ngược lại nếu nhận toàn bộ thu nhập và những người khác thì không có chút thunhập nào đường Lorenz sẽ chạy từ cạnh đáy và cạnh bên phải của hình vuông, đó làdường bất bình đẳng tuyệt đối
Nhìn chung đường Lorenz thường năm ở giữa đường chéo và đường bất bình đẳngtuyệt đối Càng gần đường chéo thì độ công bằng càng cao, càng xa thì càng bất bìnhđẳng càng cao
1.3.2 Hệ số Gini
Khái niệm
6
Trang 7Được công bố lần đầu năm 1912, là thước đo được sử dụng phổ biến nhất Về mặthình học, hệ số Gini được xác định bằng cách lấy diện tích hình B được xác định bởiđường Lorenz và đường chéo 0A, chia cho diện tích nửa hình vuông có chứa đườngLorenz đó (B + C)
1.4 Lý thuyết về tăng trưởng triển bền vững
1.4.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thờigian nhất định( thường là một năm) Sự gia tăng có thể là quy mô và tốc độ Quy mô tăngtrưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ýnghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các tời kỳ
Bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Ngàynay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay biệc đảm bảo chấtlượng tăng trưởng ngày càng cao
1.4.2 Khái niệm về phát triển bền vững
7
Trang 8Vấn đề về phát triển bền vững được Ngân Hàng Thế giới đề cập lần đầu tiên vàonăm 1987, theo đó phát triển bền vững là “ sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tạ màkhông làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai ”
Hội nghị Thượng Đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở Johannesbug( Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 xác định: phát triển bền vững là quá trình phát triển có sựkết hợp chặc chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm : tăng trưởng kinh tế,cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường
1.5 Lý thuyết về phân phối thu nhập
1.5.1 Một số khái niệm cơ bản
Nửa cuối thế kỷ XX, nghiên cứu về phân phối được tập trung chủ yếu vào vấn đềphân phối lại, đặc biệt là vấn đề tăng trưởng và công bằng trong phân phối, và xem đây làđặc trưng của sự phát triển hiện đại, vấn đề về vai trò của Nhà nước đối với phân phốinguồn lực nhằm tăng trưởng, ổn định, hiệu quả và công bằng Vì vậy, các chính sách phânphối lại thu nhập đều nhằm mục đích tối đa hóa phúc lợi xã hội
• Hàm phúc lợi xã hội là một dạng hàm toán học biểu thị mối quan hệ giữa mức phúclợi xã hội và độ thỏa dụng của từng cá nhân trong xã hội
• Điểm tối ưu hóa phúc lợi xã hội là tiếp điểm giữa đường bàng quan xã hội và đườngkhả năng thỏa dụng của xã hội
• Đường bàng quan xã hội là quỹ tích của tất cả các điểm kết hợp giữa độ thỏa dụng củamọi thành viên trong xã hội mà những điểm đó mang lại mức phúc lợi xã hội bằngnhau
• Đường khả năng thỏa dụng là đường biểu thị mức thỏa dụng tối đa mà một cá nhânhay nhóm người có thể đạt được trong xã hội khi cho trước mức thỏa dụng của những
cá nhân hay nhóm người khác
8
Trang 9
Điểm tối đa hóa phúc lợi xã hội là điểm E và tại đây đường khả năng thỏa dụngcủa xã hội tiếp xúc với đường bàng quan cao nhất có thể đạt tới và đây cũng là một điểmđạt hiệu quả Pareto
Tuy nhiên trong thực tế, chính phủ không đi tìm những đường khả năng thỏa dụng,
và cũng không mô tả các hàm phúc lợi của xã hội.Nhưng họ cố gắng xác định ảnh hưởngcủa những chương trình được đưa ra đối với các nhóm dân cư khác nhau, và những ảnhhưởng như vậy thường được quy lại là những ảnh hưởng đối với hiệu quả và công bằng
Như vậy, chúng ta có thể dựa vào các công cụ trên để phân tích một số lý thuyết vềphân phối lại thu nhập và tối đa hóa phúc lợi xã hội
9
Trang 101.5.2 Thuyết vị lợi
1.5.2.1 Nội dung và hàm phúc lợi xã hội
Phúc lợi xã hội suy cho cùng chỉ phụ thuộc vào độ thỏa dụng cá nhân.PLXH làtổng đại số độ thỏa dụng của tất cả các thành viên trong xã hội và mục tiêu của xã hội làphải tối đa hóa tổng số đó
1.5.2.3 Phân phối thu nhập theo thuyết vị lợi
Độ
thỏadụn
Trang 11- Nếu các giả định của thuyết vị lợi được thõa mãn thì phân phối lại thu nhập cuối cùng
sẽ đảm bảo sự bình đẳng tuyệt đối giữa các thành viên
Nhược điểm :
- Ba giả định được đánh giá là quá chặt chẽ, không có tính khả thi trên thực tế
- Nếu các cá nhân được phép có các hàm thỏa dụng biên khác nhau thì không có gì đảmbảo điểm phân phối thu nhập tối ưu lại chính là điểm giữa đoạn OO’
- Mặc dù quy luật thỏa dụng biên giảm dần đúng với đa số các hàng hóa nhưng chưachắc đã đúng với thu nhập
- Nếu hàm thỏa dụng biên không bằng nhau thì phân phối lại tại điểm m chưa chắc đãxóa bỏ được sự phân cách giàu nghèo
- Khi tiến hành phân phối lại có thể bị thất thoát nguồn lực
1.5.2.5 Kết luận
Phân phối thu nhập tối ưu theo thuyết vị lợi sẽ là phân phối thu nhập có :
MUA = MUB
Khi đó, phân phối thu nhập tuyệt đối bình đẳng
1.5.3 Quan điểm bình quân đồng đều
11
Trang 12- Nếu hàm thỏa dụng biên của mọi cá nhân là khác nhau thì hình thái chênh lệch thunhập giữa hai quan điểm này sẽ khác nhau.
Hạn chế :
- Quan điểm bình quân đồng đều chỉ chấp nhận sự khác biệt về mức thỏa dụng donhững nhân tố khách quan tạo ra như qui mô gia đình, tình trạng sức khỏe… chứkhông chấp nhận những khác biệt do sở hữu tài sản hay các nhân tố chủ quan khác
- Quan điểm này tuy có thể giảm bớt khoảng cách thu nhập giữa hai người nhưng đồngthời cũng làm giảm thu nhập của cả hai
- Bên cạnh đó, quan điểm cũng có thể dẫn đến một thái cực phải hi sinh tính hiệu quảrất nhiều và rất khó chấp nhận trừ khi xã hội sẵn sàng dánh đổi tính hiệu quả lấy sựcông bằng với cái giá rất cao
1.5.4 Thuyết cực đại thấp nhất ( Thuyết Rawls )
1.5.4.1 Nội dung và hàm phúc lợi xã hội Nội dung
PLXH chỉ phụ thuộc vào lợi ích của người nghèo nhất.Vì vậy, muốn PLXH đạt tối
đa thì phải cực đại hóa độ thỏa dụng của người nghèo nhất
Trang 13Đường bàng quan xã hội theo thuyết Rawls có dạng chữ L, có độ dốc bằng 0 hoặcbằng 1 và đỉnh của chữ L nằm trên đường phân giác góc O Theo đó, đường bàng quan xãhội cao nhất tiếp xúc với đường khả năng thỏa dụng tại đỉnh chữ L cũng là điểm tối ưuhóa PLXH (điểm E trong hình vẽ).
1.5.4.3 Phân tích
Bắt đầu từ việc phân phối lại bằng cách tăng độ thỏa dụng cho người nghèo nhấtđến khi địa vị của họ được cải thiện sẽ chuyển sang đối tượng khác mà lúc này có mứcđịa vị thấp nhất trong xã hội Vì vậy, phân phối lại thu nhập chỉ dừng lại khi độ thỏa dụngcủa mọi cá nhân bằng nhau hoặc độ thỏa dụng của người nghèo nhất đạt tối đa
Điều đó có nghĩa là, điều kiện tối đa hóa PLXH theo thuyết cực đại thấp nhất là :
W = U1 = U2 = … = Un
Nếu như tổng thu nhập quốc dân không đổi thì thuyết Rawls sẽ giống như quanđiểm bình quân đồng đều, tức là phân phối thu nhập tuyệt đối bình đẳng nhưng khác ởchỗ phải bắt đầu từ việc nâng cao phúc lợi cho người thấp nhất
Trang 14Hạn chế :
- Thuyết này dễ dẫn đến chủ nghĩa bình quân làm giảm động lực phấn đấu ở nhómngười nghèo và giảm động cơ làm việc ở nhóm người có năng lực, do đó làm giảmnăng suất lao động xã hội
- Thuyết này vẫn chấp nhận cách phân phối làm cho lợi ích của người giàu tăng nhiềuhơn lợi ích của người nghèo
1.5.4.5 Kết luận
Kết quả cuối cùng phân phối tối ưu xã hội sẽ đạt được khi : UA = UB.
1.5.5 Các quan điểm không dựa trên độ thỏa dụng cá nhân
Cần quan tâm đến một mức sống tối thiểu mà tất cả mọi cá nhân trong xã hội cóquyền được hưởng, được xác định trực tiếp bằng thu nhập mà bằng những hàng hoá tiêudùng được coi là thiết yếu như thực phẩm, quần áo, học hành, chữa bệnh, nhà ở Chi phícho những khoản tiêu dùng tối thiểu này sẽ được tập hợp lại để tính ra mức thu nhập tốithiểu mà những ai có thu nhập dưới mức tối thiểu sẽ được chính phủ giúp đỡ qua cácchương trình trợ cấp và an sinh xã hội
Các lý thuyết phân phối thu nhập có sự đa dạng, thậm chí mâu thuẫn trong nhậnthức, lý giải về các vấn đề phân phối thu nhập Điều này cho thấy phân phối thu nhập làmột vấn đề phức tạp, liên đới cả kinh tế - chính trị và xã hội, mặt khác, nó còn phản ánh
sự khó khăn trong việc vận dụng lý thuyết phân phối thu nhập để có được các chính sáchphân phối thu nhập hợp lý
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG VIỆC TĂNG TRƯỞNG, TIẾN BỘ VÀ
CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở CÁC TỈNH NGHÈO 2.1 Thực trạng tăng trưởng của các tỉnh nghèo Việt Nam
2.1.1 Thành tựu tăng trưởng của các tỉnh nghèo giai đoạn 2000-2010
Tính từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta từ năm 1991 đến nay, có thể thấy các nghị quyết của Đảng đều quán xuyến quanđiểm: Gắn các vấn đề kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội Trong các kế hoạch 5 nămphát triển kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ, đặc biệt trong Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2001 - 2010 và Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo (được
14
Trang 15Thủ tướng Chính phủ ban hành tháng 5-2002), đều thể hiện rất rõ quan điểm gắn mục tiêutăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong bài toán phát triển Do
đó, Việt Nam luôn chú trọng định hướng phát triển kinh tế hướng vào con người, nhất lànhững người nghèo Để thực thi chiến lược phát triển toàn diện, bên cạnh việc đạt đượcchỉ tiêu tăng trưởng GDP cao, thì tất cả các chỉ tiêu về xã hội, môi trường có liên quantrực tiếp đến tăng trưởng phải được sử dụng một cách có hiệu quả
Việc định hướng và triển khai thực thi những chiến lược một cách cụ thể mà chúng
ta đã đạt được một số thành tựu nổi bật :
Về kinh tế, kết quả thực hiện chiến lược 10 năm (2001 - 2010) ước tính GDP tăngbình quân 7,2%/năm; GDP bình quân đầu người tăng 3,17 lần và đã vượt ngưỡng 1.000USD Hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất gia tăng đáng kể: Đóng góp của yếu tố vốnvào tăng trưởng GDP đã giảm từ 70% (giai đoạn kế hoạch 1991 - 1995) xuống cònkhoảng 52% (giai đoạn 2006 - 2010); đóng góp của yếu tố lao động vào tăng trưởng GDP
đã tăng từ 16% (giai đoạn kế hoạch 1991 1995) lên khoảng 20% (giai đoạn 2006 2010); đóng góp của yếu tố tăng trưởng tổng hợp (TFP) đã tăng từ 14% (giai đoạn kếhoạch 1991 - 1995) lên khoảng 28% (giai đoạn 2006 - 2010) Các số liệu trên cho thấy,hiệu quả quản lý nền kinh tế đất nước được nâng cao trong vòng 20 năm qua, nền kinh tếđất nước tăng trưởng liên tục và thuộc nhóm "thị trường mới nổi" có nhiều tiềm năng; vịtrí kinh tế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao đáng kể
-Bên cạnh đó, tiến bộ và công bằng xã hội càng thể hiện rõ nét hơn những thànhquả của tăng trưởng kinh tế.Nhờ đường lối sáng suốt của Đảng ta trong việc kết hợp hàihòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong hơn 20 năm thực hiệnđường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu về tiến bộ xã hội, chúng ta đã rấtthành công trong các chương trình xóa đói, giảm nghèo; nhất là các Chương trình 135,
132 của Chính phủ đã giải quyết được tình trạng nghèo tuyệt đối ở các địa bàn nông thôn.Theo đó, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm rất ấn tượng trong 15 năm qua: từ 58,1% (năm 1993)xuống còn khoảng 11% (năm 2009)
Bên cạnh đó, chỉ số HDI đạt 0,733, xếp hạng 105/177 quốc gia, thuộc nhóm trungbình cao (nhóm trung bình từ 0,503 đến 0,798) Bảo hiểm y tế được mở rộng đến 52%
15
Trang 16dân số, 100% số xã có trạm y tế và 78% số xã có bác sĩ phụ trách Tuổi thọ trung bình đạt
72 tuổi.Trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 20% Ngân sách nhà nước đã bảođảm được 78% chi phí cho giáo dục đào tạo toàn xã hội (đạt 20% ngân sách nhà nước)v.v
Những thành tựu nêu trên phần nào phản ánh được sự đúng đắn trong đường lốiđổi mới của Đảng nói chung và trong Chiến lược xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 2001 -
2010 nói riêng Tuy vậy, trong quá trình thực thi chính sách, vẫn bộc lộ không ít nhữnghạn chế cùng nhiều vấn đề xã hội khác đang đặt ra
2.1.2 Mặt trái của sự tăng trưởng
Với quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng cao liên tục của Chính phủ, cùng với chỉtiêu tín dụng hàng năm hơn 30% trong những năm trở gần đây lại gây tác động tiêu cựckhiến thị trường Việt Nam tràn ngập dòng vốn và gây ra nhiều vấn đề đối với đồng nội tệ,đẩy lạm phát lên mức cao, như mức lạm phát ở các thị trường mới nổi khác, làm giảmniềm tin vào tiền đồng do người dân nghi ngờ việc Chính phủ có thể kiểm soát giá cả tăngtrong những tháng tới
Bên cạnh đó, Việt Nam lại thâm hụt thương mại lớn.Điều này cũng gây áp lựcgiảm giá lên tiền đồng.Tiền đồng đã mất khoảng 1/5 giá trị so với USD kể từ giữa năm
16
Trang 172008.Khi tiền đồng yếu đi thì giá hàng hóa nhập khẩu tăng, điều này lại tiếp tục gây longại lạm phát cao.
Mặc dù Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế ngoạn mục nhưng nếu tiến bộ vàcông bằng xã hội lại không được quan tâm, cải thiện thì sự tăng trưởng đó cũng không có
ý nghĩa
Hệ số GINI chia theo thành thị, nông thôn và vùng :
(Nguồn : TCTK)Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, sự bất bình đẳng ở nước ta vẫn tiếp tục tăng,điều này cũng được thể hiện thông qua hệ số GINI của khu vực thành thị với nông thôn
và giữa các vùng Sự bất bình đẳng này là tương đối cao và có thể sẽ còn tiếp tục gia tăngnữa nếu như không có một chính sách hay phương hướng hiệu quả nào để giải quyết tìnhtrạng bất bình đẳng này
2.2 Quan hệ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Thực trạng về mối quan hệ
Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng vớinhau, vừa là tiền đề, vừa là điều kiện của nhau Tăng trưởng kinh tế là điều kiện để thựchiện tiến bộ, công bằng xã hội; tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là thước đo của tiến
17
Trang 18bộ và công bằng xã hội; tiến bộ, công bằng xã hội là nhân tố động lực để có tăng trưởngkinh tế cao và bền vững; tiến bộ, công bằng xã hội là biểu hiện của tăng trưởng kinh tế.Như vậy, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội không phải là những yếu tố đốilập mà có quan hệ nhân quả với nhau.Vì vậy, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởngkinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội đang là tâm điểm trong chính sách phát triển kinh tế -
xã hội của nhiều quốc gia Đặc biệt Việt Nam là nước đang phát triển, đang chịu tác độngcủa quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế
Trong đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã một lần nữa khẳng định:
"… phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường" và đến Đại hội lần thứ X, vấn đề
trên được Đảng ta bổ sung và phát triển một bước quan trọng, cụ thể là: "Kết hợp các mụctiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương;thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển,thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa
vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế
- xã hội Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc" Tư tưởng chỉ đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong 5 năm 2006 - 2010là: "Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người,thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống,khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo Từng bước thu hẹpkhoảng cách phát triển giữa các vùng"
Tựu trung lại, có thể khái quát quan điểm chỉ đạo của Đảng về vấn đề này trên một số điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của sự phát triển xã hội Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việcthực hiện công bằng xã hội phải tạo ra động lực để tăng trưởng kinh tế chứ không phải lànguyên nhân kìm hãm tăng trưởng kinh tế
18