Tuy nhiên, gạt ra một bên các kèn cựa vì quyền và lợi ấy ra, thì phân vân chính của tất cả chúng ta vẫn là: Được coi là hiện đại phải chăng là bởi sử dụng tốt các kỹ thuật hiện đại trong
Trang 1khiến cho mọi vấn đề trở nên khó nắm bắt hay không và sẽ khó đến mức độ nào khi biết rằng, không thể có cái gì đó phát sinh và phát triển nằm ngoài những tác động của môi trường Sự thể hiện này còn gay go hơn nếu những tình cảm hướng nội hoặc hướng ngoại quá mạnh luôn chi phối chúng ta, hoặc giả tất cả chúng ta đều bị hàng loạt các định chế nào đấy bó buộc Tuy thế, có lẽ khổ ải hơn hết vẫn là tình cảnh mà
trong khi bàn luận như vậy, với tư cách là các nghệ sĩ, các họa sĩ, chúng
ta phải tranh cãi và định giá về cái nguồn cội mà từ đó chúng ta đã sinh thành
Trang 2
Sự thực, suy nghĩ về mỹ thuật cổ truyền Việt Nam (MTCTVN) là một việc khó Phải hỏi rằng: cái đó là cái gì? và ta là ai và kẻ khác là ai? và chính đó là câu hỏi, theo Tahar Benn Jelloun (1), người Ả Rập, trong 3/4 thế kỷ XX, chỉ đặt ra duy nhất, rồi sau 25 năm nữa vẫn còn tìm câu trả lời Câu hỏi dường như không thể giải được bởi vì chúng ta, những người đang hỏi, không hề muốn từ bỏ bản thân mình đã đành mà cũng không hề muốn từ bỏ cả kẻ khác ấy nữa Trong cái thế lưỡng lập được hình dung ra này, bên nào đối với chúng ta cũng là quyền lợi sống còn
MTCTVN là giấy phẩm, là gỗ sơn chăng, là đơn tuyến bình đồ chăng
và dàn tãi ra chăng, là thuyết âm dương ngũ hành hay biểu tượng hóa những mặc cảm ân và uy, là những nghi thức được hiện hình hoặc đơn giản chỉ là những ẩn dụ về sinh hoạt hồn nhiên chăng? Là những gì thì chưa khẳng định vì ngay cả cái nguồn dòng ấy có còn chảy nữa hay không cũng chưa rõ Không chảy nữa thì khơi ra có ích gì?
Tuy nhiên, sự lầm lẫn có thể có nhưng đã có sự cố tình lầm lẫn ở đây
Ở các ngành khác như âm nhạc và sân khấu chẳng hạn, người ta vẫn tổ chức biểu diễn ngang hàng cho cả nghệ thuật cổ truyền và nghệ thuật hiện đại Họ cũng có cả việc đào tạo chính quy cho nghệ thuật cổ
truyền Bên mỹ thuật thì không, chưa bao giờ có triển lãm rộng lớn và chính thức cho mỹ thuật cổ truyền, cũng chưa bao giờ có một giải thưởng quốc gia dành cho tác phẩm sáng tác theo lối cổ truyền Không
Trang 3tổ chức triển lãm các tác phẩm theo lối cổ truyền nên tất nhiên, không thể biết ngày nay, có còn ai sáng tác như vậy không, nhưng tai hại nhất
là việc đào tạo mỹ thuật cổ truyền cũng không
Chính sự đối xử bất công này khiến cho trong sinh hoạt mỹ thuật của chúng ta, nảy sinh một cuộc đấu tranh ngấm ngầm Nói đấu tranh vì có
dè bỉu, có châm chọc, và có bác bỏ lẫn nhau; nói ngấm ngầm vì không
sử dụng diễn đàn và không hình thành các trận tuyến Đương nhiên, bên phía cổ truyền lép vế hơn như đã nói Có điều, có tín hiệu ấm ức đó tức là có tồn tại nỗi ám ảnh của cổ truyền vậy Lẽ ra không nên có cuộc đấu tranh đó nếu không muốn nói thẳng ra rằng cuộc đấu tranh đó thật
là lố bịch Đáng lý cần phải sung sướng vì có được một di sản cổ truyền
để phát huy và hiện đại hóa, tức là đem những giá trị dị biệt nâng lên tầm phổ quát chứ không phải từ những ý niệm phổ quát chiếu cố đến các trường hợp dị biệt
Tuy nhiên, gạt ra một bên các kèn cựa vì quyền và lợi ấy ra, thì phân vân chính của tất cả chúng ta vẫn là: Được coi là hiện đại phải chăng là bởi sử dụng tốt các kỹ thuật hiện đại trong bất kỳ miêu tả nội dung nào,
kể cả những nội dung truyền thống hay là bởi chỉ chứa đựng những gì không phải là cổ truyền?; Nếu không có gì dính líu tới cổ truyền thì có được coi là giai đoạn phát triển mới chăng trong khi mà bất kỳ sự phát triển nào cũng chỉ là sự lớn mạnh của chính cái cũ đã có?; Nếu không
Trang 4phân định những khía cạnh nội dung và kỹ thuật thì những gì là cổ truyền phải được duy trì ở chỗ nào?
Phân vân như vậy bởi vì rút cục, chúng ta vẫn là hiện đại, không bao giờ trở lui về thời cổ truyền được nữa Nói ra thì dài nhưng trong nỗi day dứt này, thực ra, chỉ có một câu hỏi mà thôi, đó là: truyền thống mỹ thuật Việt Nam thật sự là như thế nào và cần phải hiện đại hóa nó ra sao, bởi lẽ điều cốt tử mà ai cũng phải đặt ra, càng nhân danh văn hóa càng phải đặt ra, là ta là ai và ta sẽ tham gia vào thế giới này như thế nào?
Trang 5và rất xưa cũ hơn nữa Tôi cũng giới hạn vấn đề mỹ thuật đem ra bàn trong phạm vi hội họa và điêu khắc
vì xã hội cổ truyền Việt Nam tương đối thuần nhất và khép kín Trong những luồng giao lưu chủng tộc văn hóa, chính trị và kinh tế công khai
và trực tiếp từ trước cho đến thế kỷ XIX, Việt Nam chưa có quan hệ gì với châu Âu cả Những tiếp xúc với một số thương nhân và giáo sĩ Cơ đốc giáo là chưa đáng kể Thế thì người Việt Nam có thuần khiết không
và có ảnh hưởng của ai? Xét riêng về mặt văn hóa, Việt Nam cổ xưa chỉ có ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa bởi người Hán và văn hóa Ấn
Độ bởi người Chăm và Khơme
Di sản của chúng ta gồm rất nhiều tượng và phù điêu, một số ít hơn là tranh lụa và giấy hầu hết thể hiện tín ngưỡng và tôn giáo, còn lại ít hơn hết là tranh chơi, những thể loại khác chưa có Di sản ấy chứng tỏ
Trang 6MTCTVN chậm phát triển Tuy nhiên, dù chậm phát triển, MTCTVN
đã có nền tảng lý thuyết của nó, đó chính là vai trò của hai nền văn hóa lớn trên thế giới là Trung - Ấn Mỹ thuật chậm phát triển là do sinh hoạt xã hội tiểu nông nghèo nàn tự cung tự cấp kìm hãm mà thôi Tất
cả các tác phẩm nói trên đều nhỏ bé, thậm chí rất nhỏ nữa, càng chứng
tỏ khả năng kinh tế nghèo nàn của Việt Nam Cái gì nhỏ bé cá lẻ là không gây nổi cảm xúc chung cho xã hội, do đó khó mà khiến xã hội quan tâm Và chậm phát triển đến mức buồn tẻ nhất là những nghệ sĩ tạo hình Việt Nam xưa chưa bao giờ trở thành một tầng lớp xã hội nào
đó Trước thế kỷ XX, từ vựng Việt Nam chưa có danh xưng họa sĩ
thực tiễn, vẫn quen gọi là một Đạo) và Phật giáo của Trung Hoa, còn
Ấn Độ giáo ở mức cục bộ; về sau, có thêm Cơ Đốc giáo nhưng cũng giống như Ấn Độ giáo đang còn ở mức cục bộ, các thứ đạo giáo như Cao Đài, Hòa Hảo chỉ ở mức địa phương
Trang 7
Đạo giáo và Nho giáo là văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ giáo là văn hóa Ấn
Độ, còn Phật giáo vừa thuộc văn hóa Trung Hoa vừa thuộc văn hóa Ấn
Độ Thành tựu của văn hóa Trung Hoa về mặt triết học là "con người - tiểu vũ trụ", và cùng với nó có thêm thuyết "luân hồi" của Ấn Độ; về mặt xã hội là "cương thường"(2) Có thể nhận thấy thành tựu ấy trong văn học nghệ thuật Trung Hoa là cảm nhận về "bản thể thiên nhiên và bổn phận của con người ta" Riêng trong nghệ thuật tạo hình thì "bản thể thiên nhiên" này được nhận biết thông qua cái "văn" của nó (3) Cái
"văn" đó là dấu hiệu đặc trưng bên ngoài mà các phẩm chất riêng biệt
có nội lực ở bên trong phát lộ ra Cái "văn" dấu hiệu hoàn toàn không phải là hình thức của cấu tạo hoặc tổ chức của sự vật Chẳng hạn,
chúng ta thấy phong cảnh trong hội họa Trung Hoa là cái "văn" của không thời gian chứ không phải là diện mạo của hoàn cảnh, và không gian trong kỹ thuật hội họa Trung Hoa là khoảng chứa đựng cái "văn"
ấy chứ không phải là một trường nhìn thấy được của thị giác, do đó không có luật thấu thị trong đó Ý nghĩ về bổn phận khiến cho người ta yên vui, nếu như người ta buồn phiền thì chính là do các bổn phận nhất định không được thực hiện thuận lợi, và cần phải cầu chúc một điều gì thì cũng lại là cầu chúc cho các bổn phận được bảo đảm tốt hơn Trong văn học nghệ thuật Trung Hoa, không có sự xung đột nội tâm của bổn phận, nếu có cái gì đó vượt phận thì nó sẽ bị trả giá tàn khốc Hội họa
và điêu khắc càng đậm đà cái vẻ an nhiên của bổn phận, có sự đau
Trang 8thương của bổn phận không gặp thời nhưng nó tao nhã vì tinh thần chịu đựng nỗi bất hạnh không tránh khỏi
Tuy nhiên, những điều nói trên không phải là bản năng tự nhiên của con người mà là cần phải được giáo dục mới có, là kết quả của một quá trình rèn luyện nhận thức Những người bình dân cũng phải được giáo dục và rèn luyện như thế nhưng khác với các kẻ sĩ, bình dân chỉ có khả
năng thu nhận ít hơn Người Trung Hoa gọi quá trình này là giáo hóa, chữ hóa đó mới là bản nghĩa của khái niệm văn hóa (4) của họ chứ không phải là gieo trồng - culture Do đó, nghệ thuật là kết quả của
giáo hóa, tấm gương thông qua nghệ thuật là một công cụ tốt của giáo
hóa này đã làm nên phương thức tượng trưng độc đáo ý tại ngôn ngoại
của nghệ thuật; tượng trưng nhưng không dùng biểu tượng hoặc cách biểu hiện chung chung mà bằng các hình tượng cụ thể đầy đặc trưng nhưng phiếm chỉ và phổ biến
Nhưng không thể giáo hóa được gì nếu trước tiên không giáo hóa ngay
chính mình Giáo hóa bản thân như vậy gọi là tu và tề (trong đạo tu tề trị bình), tu là sửa sang bản thân theo đạo Trời, từ bỏ những gì là tư là đen tối, tề là khiến cho những người thân và người gần mình cũng đạt phẩm chất như mình đã tu Hành pháp của tu tề trị bình đó về thao tác
tư duy là cầm kỳ thi họa Về sau, cầm kỳ thi họa là bốn phẩm cách của
tao nhân mặc khách, nhưng xét cho cùng thì người ta cũng phải hành
Trang 9tạo tu tề mới có được Do đó suy ra, họa nói riêng và mỹ thuật nói
chung không chỉ là hoạt động sản xuất tạo hình mà còn luôn luôn là một hành pháp của sự tu dưỡng trí tuệ và nhân cách của con người có văn hóa cao Nói cách khác, nó là một trong những phương thức tự biểu hiện phương diện nhân văn của con người
MTCTVN không thể khác mỹ thuật Trung Hoa bởi vì có chung một nền tảng tư tưởng và bởi vì đã có một quá trình hòa huyết khá dài lâu, thực tế ngôn ngữ (tức các thao tác tư duy) và chữ viết Hán Việt (tức các
hồ sơ lưu trữ) minh chứng như vậy Và ta thấy, điêu khắc tôn giáo đã lặp lại hình mẫu của Trung Hoa hoàn toàn, thậm chí tranh Tết dân gian Hàng Trống và Đông Hồ cũng lặp lại tranh vẽ Trung Hoa (5) Chỗ khác biệt rất ít ỏi, có chăng chỉ ở khía cạnh kỹ thuật vật liệu và hoàn cảnh sống của riêng Việt Nam mà thôi Và hoàn cảnh sống đó còn giới hạn
tư duy Việt Nam trong phạm vi thực dụng, không quan tâm đến
phương diện siêu hình của lý luận nữa Tình trạng hạn hẹp này cũng không đáng buồn lắm bởi vì trên thế giới, những trung tâm phát ra tư tưởng của nhân loại chỉ có một vài nơi Có điều, đã thực dụng thì mọi cái đều làm tắt, đều triệt để khai thác những gì đã có sẵn và yên trí rằng mất công sáng tạo hay cải thiện là những cố gắng thiếu khôn ngoan Người Việt Nam ta chẳng dại gì xông vào những khoảng trống mịt mù của trí tuệ Vì thế, MTCTVN không quen miêu tả, không quen đặt vấn
đề, không quen ám tượng, mà chỉ cần làm hiện hình những ý niệm về
Trang 10ước vọng của người mình là đủ, những ước vọng ấy là những món hàng
rất dễ bán
1.3 Những tiêu chí về mặt phương pháp của MTCTVN
Phương pháp tả thực: Cách tạo hình đơn tuyến bình đồ và bố cục tẩu
mã khiến tưởng là bút pháp tượng trưng hay biểu ý nhưng đọc trong
Giới Tử viên thì té ra đó là tả thực Sách này viết: "Cổ nhân họa pháp
đa trọng tả sinh, Cố Khải Chi, Ngô Đạo Tử giai dĩ thị trứ danh" (Phép
vẽ của người xưa phần nhiều nặng về miêu tả vật sống, Cố Khải Chi và Ngô Đạo Tử đều vì vậy mà rất có danh tiếng)(6) Cách vẽ tả sinh động
đó đại khái có thể hình dung qua cách Lý Công Lân vẽ ngựa, họa sĩ suốt ngày đến chuồng ngựa quan sát về nhà vẽ đi vẽ lại cho kỳ giống, thậm chí khi ốm, ông ta cứ vạch vạch lên chăn đắp những con ngựa ấy
(7) Sách Giới Tử Viên lại viết: "Truyền nhi bất chân vô quý truyền kỹ"
(vẽ lại mà chẳng đúng thì cái vẽ ấy đáng rẻ rúng) Tuy nhiên sau khi quan sát kỹ lưỡng như thế, họa sĩ phải rút ra được đặc trưng phổ biến của đối tượng vẽ, chẳng hạn khớp chân ngựa nào cũng giống khớp chân ngựa nào, chỉ có loại dữ tợn khác loại hiền lành, nhưng trong loại hiền lành thì các khớp chân hiền lành lại giống nhau Những quan sát này
đã tạo nên phép xem tướng ngựa hoặc tướng người rất huyền diệu Cho đến mãi thời Dân Quốc đầu thế kỷ XX, người Trung Hoa vẫn vẽ như vậy (8), và các biện pháp tướng học vẫn được duy trì Cách vẽ phong
Trang 11cảnh cũng thế, chẳng hạn âu sầu buồn bã thì phải cho ra sầu buồn, cây cối và chim hoa phải có những tư thế gày guộc, bơ thờ và cô quạnh như thể tinh thần của chúng cũng đang ủ dột
Phương pháp tượng trưng: Không như ở châu Âu, phương pháp tượng
trưng của chúng ta chính là phương pháp tả thực được nâng lên tầm phổ quát Như đã nói, con ngựa phải rất thực mới đại diện cho những con ngựa khác được, nhưng đó không phải là phép điển hình hóa bởi vì mặc dù vẽ ngựa mà không phải nói về ngựa, con ngựa mà họa sĩ vẽ đó
là chân mã với tư cách là một vật thể hoàn hảo của thiên nhiên Nhà thơ
Đỗ Phủ viết rằng, một khi họa sĩ Tào Bá vẽ xong con ngựa thì "chân long xuất, nhất tiển vạn cổ phàm mã không" (như thể rồng thật hiển hiện, muôn thuở chẳng còn con gì đáng gọi là ngựa nữa)(9) Các tượng Phật với mi mắt và các nếp áo buông xuống, đó không phải là hình ảnh một vị Phật bất kỳ, đó là sự thu vào bên trong của phép chiêm nghiệm thế giới theo cách hiền minh Hình ảnh của tư duy điển hình phương
Tây như tượng La pensée của Rodin là bóp cằm nhăn trán nhíu mày
thật khác xa với vẻ tĩnh lặng của tượng Phật, ở đây sự thanh thản lồng
trong trầm tư vì trầm tư đã đi đến giác ngộ Trong bức Ngâm thơ trên
lưng lừa, họa sĩ Mễ Phất đã tả vó lừa nhún nhảy theo nhịp thơ ngâm và dây mây theo gió đòng đưa chính là gợi ra cụ thể cái "màu Thu" đã nói
mùa của kim phong thu liễm và giai đoạn lão giả tri thiên mệnh của
con người (10) Như vậy, ta thấy rõ rằng tượng trưng ở đây không phải phương pháp xây dựng và sử dụng biểu tượng tức là không phải cậy
Trang 12nhờ một cách lạm dụng phép ước lệ Phương pháp tượng trưng tạo ra hiệu quả ý tại ngôn ngoại rất đặc sắc Tranh tượng vẽ đạo thích thần tiên được quý nhất (11) không phải vì nội dung tôn giáo mà chính là nhân sự được miêu tả theo cách tao nhã vậy
Phương pháp phiếm chỉ: Sự phiếm chỉ gần như phép hư cấu nhưng là
một phương diện của phép tượng trưng Trong tranh phong cảnh, đó là một tổ hợp của các dấu hiệu đặc trưng của một khung cảnh nào đó mà nội dung bức tranh cần phải có nhưng không nhằm miêu tả một khung cảnh thuộc một địa bàn nhất định, thí dụ người ta có thể đặt vào cùng một bức họa một vách núi bất kỳ, một thân cây bất kỳ, thậm chí một con người bất kỳ miễn là các hình tượng có cùng một tính hay cùng một trạng thái nhằm làm nổi bật chủ đề Trong việc vẽ người, đó cũng
là những đặc trưng của một hình tượng đại diện, chẳng hạn các tiểu thư đều giống nhau chỉ có buồn vui khác nhau, tất cả các nàng hầu đều giống nhau chỉ có cấp hạng khác nhau, kiểu như trong sân khấu tuồng chẳng hạn, tất cả các viên quan võ trung thành thì đều nóng tính giống nhau và trung thành một cách đặc sắc tuyệt đỉnh nhưng nhất thiết
không giống các viên quan võ dịu tính hoặc các viên khác nịnh bợ, cũng có khác cả nguồn gốc xuất thân.v.v Và đây cũng chính là
nguyên tắc của phép vẽ mặt nạ
Trang 13
Tóm lại, thì cả ba phương pháp tả thực, tượng trưng và phiếm chỉ rất có lợi cho hội họa và điêu khắc nhằm miêu tả trong giới hạn vô danh tính các đối tượng cụ thể và gắn chặt với nhau, hỗ trợ nhau Hiểu như vậy ta mới biết rằng tại sao các vị La Hán chùa Tay Phương làm theo sách của Trung Hoa và các tượng vua Lê Thần Tông cùng các bà hậu làm sau khi chính vị vua và các bà hậu này đã chết (đã 9 năm hoặc 69 năm) mà sống động và có tư chất như làm theo mẫu thật vậy
Thời nhà Trần, Việt Nam từng có phái Thiền đạo Trúc Lâm rất cao cách, nhưng quả thực bi minh kệ của nó, thuyết về sắc không, để lại cực kỳ mông lung và xa vời, rút cục đã mai một từ lâu Trong Phật tử chỉ còn lại đạo A Di Đà giản đơn hơn cả cho những ai cúng dường chỉ
vì muốn cầu cạnh, cúng một ít để xin một ít và lời một ít Xem thế, đủ biết người Việt Nam ta ưa thực dụng và chấp nhận đời thường Mỹ thuật đã đáp ứng tâm tính đó rất đắc lực Thậm chí, những tiên đồng