1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luật hình sự (phần chung) bài tập thảo luận lần 6 cụm 3 các chế Định liên quan Đến tội phạm

14 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Chế Định Liên Quan Đến Tội Phạm
Tác giả Dương Đỗ Bình An, Lê Quang Anh, Phạm Nguyễn Mai Chi, Nguyễn Khắc Bảo Hân, Nguyễn Thị Thanh Hoàng, Trần Thục Quyên, Nguyễn Hằng Bảo Trân
Người hướng dẫn ThS. Mai Thị Thủy
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Bài Tập Thảo Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 207,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn phạm tội có tổ chức, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 17, là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm; do đó phạm tội có tổ chức phải

Trang 1

LUẬT HÌNH SỰ (PHẦN CHUNG) BÀI TẬP THẢO LUẬN LẦN 6 CỤM 3: CÁC CHẾ ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM

Giảng viên: ThS Mai Thị Thuỷ

Nhóm 1

3 Phạm Nguyễn Mai Chi 2253801015055

4 Nguyễn Khắc Bảo Hân 2253801012064

5 Nguyễn Thị Thanh Hoàng 2253801012080

7 Nguyễn Hằng Bảo Trân 2253801015334

PHẦN I: NHẬN ĐỊNH

Trang 2

17 Giúp sức để kết thúc tội phạm vào thời điểm sau khi tội phạm hoàn thành là đồng phạm.

Nhận định Đúng

Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 17 BLHS 2015

Căn cứ theo khoản 3 Điều 17 định nghĩa người giúp sức là “người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm” Hành vi giúp sức phải được tiến hành trước khi tội phạm kết thúc trên thực tế Điều kiện của hành vi giúp súc không đề cập đến thời điểm tội phạm hoàn thành mà chú trọng xét đến thời điểm tội phạm kết thúc trên thực tế Do đó, nếu một người giúp sức để kết thúc tội phạm vào thời điểm sau khi tội phạm hoàn thành sẽ là đồng phạm với vai trò người giúp sức

20 Đồng phạm phức tạp là phạm tội có tổ chức.

Nhận định Sai

Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 17 BLHS

Đồng phạm phức tạp và phạm tội có tổ chức đều là hình thức của đồng phạm Tuy nhiên, đồng phạm phức tạp là hình thức đồng phạm mà trong đó có một hoặc một số người tham gia giữ vai trò là người thực hành, còn những người đồng phạm khác giữ vai trò là người tổ chức, người xúi giục hay người giúp sức Còn phạm tội có tổ chức, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 17, là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm; do đó phạm tội có tổ chức phải thỏa mãn tất cả các

dấu hiệu bắt buộc của đồng phạm đồng thời phải “có sự câu kết chặt chẽ” giữa những

người đồng phạm

Như vậy, đồng phạm phức tạp không phải là phạm tội có tổ chức

21 Những người đồng phạm khác phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi tội phạm do người thực hành thực hiện trên thực tế.

Nhận định Sai

Cơ sở pháp lý: khoản 4 Điều 17 BLHS

Căn cứ quy định của pháp luật hình sự, có 03 nguyên tắc để xác định TNHS trong

đồng phạm, trong đó có nguyên tắc “Chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện tội phạm” được quy định tại khoản 4 Điều 17 BLHS 2015 Theo đó, những người đồng

phạm không phải chịu TNHS về hành vi vượt quá của người thực hành Hành vi vượt quá của người thực hành được xác định như sau:

Trang 3

Thứ nhất là vượt quá về tính chất của hành vi, nghĩa là người thực hiện hành vi vượt quá đã thực hiện một hành vi khác ngoài dự kiến ban đầu giữa họ với những người đồng phạm khác

Thứ hai là vượt quá về mức độ thực hiện hành vi, tức là người thực hiện hành vi vượt quá vẫn thực hiện hành vi phạm tội theo như thỏa thuận ban đầu giữa họ với những người đồng phạm khác, nhưng mức độ thực hiện hành vi phạm tội đó có tính chất nguy hiểm cao hơn

Như vậy, những người đồng phạm khác không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi tội phạm do người thực hành thực hiện trên thực tế

Ví dụ: A và B cùng nhau thoả thuận sẽ đột nhập vào nhà của C để lấy xe của C, A đứng ở cổng để cảnh giới và B sẽ thực hiện hành vi Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, A và B bị C phát hiện, A bỏ chạy, còn B rút dao ra và đâm chết C Theo

đó, A và B là đồng phạm về hành vi trộm cắp tài sản của C, A không phải đồng phạm về tội Giết người

22 Tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự

Nhận định Đúng

Các dấu hiệu bắt buộc phải có để cấu thành tội phạm bao gồm bốn dấu hiệu: quan

hệ xã hội bị tội phạm xâm hại, hành vi nguy hiểm cho xã hội, lỗi, năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự của chủ thể thực hiện tội phạm Điều đó nghĩa là nếu không có một trong bốn dấu hiệu này thì không được cấu thành tội phạm và đây cũng

là cơ sở để phân biệt tội phạm và các hành vi không phải là tội phạm Trách nhiệm hình

sự được hiểu là hậu quả mà người phạm tội phải chịu sau khi thực hiện hành vi phạm tội

và được cấu thành tội phạm theo quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 Theo đó, các tình tiết loại trừ đi tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi tức là hành vi đó được coi là không nguy hiểm cho xã hội, và hành vi nguy hiểm cho xã hội lại là một trong bốn dấu hiệu bắt buộc để cấu thành nên tội phạm Vậy nên, nếu hành vi đó có tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội thì hành vi đó không bị cấu thành tội phạm, mà không bị cấu thành tội phạm thì sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự Như vậy, tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự

27 Phạm tội do phòng vệ quá muộn là phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Trang 4

Nhận định Sai.

Để phát sinh quyền phòng vệ phải đảm bảo đầy đủ 3 điều kiện: sự tấn công nguy hiểm đáng kể và trái pháp luật, sự tấn công xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, và sự tấn công phải đang hiện hữu Tuy nhiên, phạm tội do phòng vệ quá muộn là khi sự tấn công đã thực sự chấm dứt thì mới có hành vi phòng vệ Tức sự tấn công không còn hiện hữu nên không thỏa mãn điều kiện về sự tấn công còn hiện hữu và đang diễn ra để làm phát sinh quyền phòng vệ, trong trường hợp này quyền phòng vệ không khởi phát Một khi quyền phòng

vệ không khởi phát thì không thể xem xét hành vi đó là phòng vệ chính đáng hay là vượt quá giới hạn cho phép

PHẦN II: BÀI TẬP

Bài tập 10

1 Có đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản không? Nếu có thì mỗi người thực hiện tội phạm với vai trò nào, mức độ trách nhiệm ra sao?

Trong vụ án này, tội trộm cắp tài sản có đồng phạm Căn cứ khoản 1 Điều 17 BLHS 2015 và dựa vào dấu hiệu khách quan, dấu hiệu chủ quan của đồng phạm, ta xác định trong tội phạm trên có đồng phạm bởi vì đã thỏa mãn các dấu hiệu bắt buộc trong việc xác định đồng phạm, cụ thể:

- Dấu hiệu khách quan của đồng phạm bao gồm hai dấu hiệu bắt buộc:

+ Dấu hiệu “Số lượng người tham gia”: phải có từ hai người trở lên đáp ứng được

2 điều kiện của chủ thể tội phạm, đó là các chủ thể này phải đạt độ tuổi luật định và có năng lực trách nhiệm hình sự Theo vụ án trên, đề bài không đề cập đến vấn đề độ tuổi và năng lực trách nhiệm sự của các chủ thể phạm tội nên sẽ mặc nhiên hiểu các chủ thể này

đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS

+ Dấu hiệu hành vi “cùng thực hiện một tội phạm” (dấu hiệu hoạt động chung của các đồng phạm): mỗi người phạm tội với tư cách được xác định là đồng phạm đều phải có hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm Hành vi của người này phải hỗ trợ, bổ sung cho hành vi của người kia, tức là phải có sự liên kết giữa các hành vi với nhau Bên cạnh

đó, hành vi của các người này đều nhắm đến mục đích chung là đạt được kết quả thực hiện tội phạm Theo vụ án trên, cả 3 chủ thể A, B, C đã thống nhất với nhau lên kế hoạch

và cùng tham gia vào việc thực hiện tội trộm cắp tài sản Hành vi của A là đứng ngoài cảnh giới đã hỗ trợ cho việc B và C cùng thực hiện hành vi lấy trộm chiếc xe máy để nhằm đạt được kết quả là lấy trộm được tài sản - chiếc xe máy

Trang 5

- Dấu hiệu chủ quan của đồng phạm bao gồm một dấu hiệu bắt buộc là dấu hiệu về lỗi, cụ thể bắt buộc phải là lỗi cố ý:

+ Về lý trí:

Đối với hành vi: mỗi đồng phạm nhận thức được hành vi của mình là gây nguy hiểm cho xã hội, biết mình đang hoạt động chung với người khác và nhận thức được hành

vi của họ cũng gây nguy hiểm cho xã hội Đối với vụ án trên, cả A, B và C mặc định hiểu

là đều đạt độ tuổi luật định và có năng lực trách nhiệm hình sự, nghĩa là họ đều có khả năng nhận thức được hành vi của mình là gây nguy hiểm cho xã hội Đồng thời, các người này cũng biết mình đang hoạt động với các người khác cũng như nhận thức được hành vi của họ cũng gây nguy hiểm cho xã hội thông qua việc đã có sự bàn trước và cùng thực hiện hành vi phạm tội

Đối với hậu quả: mỗi đồng phạm thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội từ hành vi của mình cũng như thấy trước hậu quả do hoạt động phạm tội chung gây ra Đối với vụ án trên, mỗi đồng phạm là A, B và C đều có khả năng thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội từ hành vi của mình cũng như thấy trước được hậu quả do hoạt động phạm tội chung (hoạt động cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản) gây ra

+ Về ý chí: những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra với dấu hiệu lỗi ở đây bắt buộc phải là lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp) Cụ thể, A, B và C đều cùng mong muốn có hoạt động chung thông qua việc họ đã thống nhất kế hoạch hành động với nhau

và cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản Từ đó, rõ ràng có thể hiểu rằng trong trường hợp này họ cũng cùng mong muốn cho hậu quả xảy ra

Từ những dấu hiệu đã phân tích ở trên, có thể kết luận vụ án này có đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản

* Xác định vai trò của mỗi đồng phạm:

Vai trò của A được xác định là người giúp sức trong vụ án này căn cứ theo quy

định tại khoản 3 Điều 17 BLHS 2015: “Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm” Cụ thể trong vụ án, A là người giúp sức

về vật chất, tức là đã có hành vi nhằm khắc phục những trở ngại để người thực hành thực hiện tội phạm được thuận lợi, dễ dàng hơn thông qua việc A đứng ngoài cảnh giới để cho

B và C lấy trộm chiếc xe máy một cách thuận lợi, dễ dàng hơn

Vai trò của B và C trong vụ án này được xác định là người thực hành dựa vào quy

định tại khoản 3 Điều 17 BLHS 2015: “Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội

Trang 6

phạm” Cụ thể, do B và C là hai người đã trực tiếp thực hiện tội phạm thông qua việc lẻn

vào nhà để trộm chiếc xe máy nên B và C có vai trò là người thực hành trong vụ án trên

* Xác định mức độ chịu trách nhiệm hình sự của các đồng phạm:

Đối với tội trộm cắp tài sản:

Dựa theo nguyên tắc trong vấn đề xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm, người thực hành thực hiện tội phạm đến giai đoạn nào, những người đồng phạm đều phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn đó Do đó trong vụ án này, những người đồng phạm gồm có A là người giúp sức và B, C là người thực hành sẽ chịu trách nhiệm hình sự ở mức độ như nhau Cụ thể, do giá trị của chiếc xe máy mà những đồng phạm này trộm là 50 triệu đồng, do đó căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS 2015,

A, B và C sẽ chịu trách nhiệm hình sự với hình thức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

Đối với tội giết người:

Tuy nhiên đối với tội giết người thì do A là người duy nhất trực tiếp thực hiện hành vi giết con trai của chủ nhà và làm cho thanh niên đó chết Do đó, căn cứ theo khoản

2 Điều 173 BLHS 2015 quy định về Tội giết người, riêng A sẽ chịu thêm một trách nhiệm hình sự nữa đối với tội phạm này với hình thức là hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

2 Hành vi trộm cắp tài sản trong tình huống trên được thực hiện ở giai đoạn nào?

Căn cứ theo quy định tại Điều 15 BLHS 2015, hành vi trộm cắp tài sản trong tình huống trên được thực hiện ở giai đoạn phạm tội chưa đạt vì đã thỏa mãn ba đặc điểm của giai đoạn phạm tội này

- Thứ nhất, người phạm tội đã trực tiếp thực hiện tội phạm, có nghĩa là người phạm tội đã trực tiếp thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP hoặc hành vi đi liền trước hành vi khách quan B và C đã trực tiếp thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP của tội Trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015), đó là hành vi trộm cắp tài sản cụ thể trong vụ án này là hành vi lấy trộm chiếc xe máy

- Thứ hai, người phạm tội chưa thực hiện tội phạm được đến cùng (về mặt pháp lý), nghĩa là hành vi của họ chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu (thuộc mặt khách quan) của CTTP Tuy nhiên, do tội Trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015) là tội phạm có CTTP vật chất, cho nên trong trường hợp này, hành vi phạm tội được coi là chưa đạt khi chưa có hậu quả luật định xảy ra Do B và C đang thực hiện hành vi lấy trộm chiếc xe máy thì bị gia đình chủ nhà phát giác nên chưa xảy ra hậu luật định trong trường hợp này Vì vậy, B

và C chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu của CTTP của tội Trộm cắp tài sản

Trang 7

- Thứ ba, người phạm tội không thực hiện tội phạm được đến cùng là do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của họ Vì trong lúc thực hiện việc trộm chiếc xe máy, B và C bị gia đình chủ nhà phát giác mà sự kiện này có thể được xác định là nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của họ nên B và C đã không thực hiện hành vi trộm chiếc

xe máy được đến cùng

Vì những lý do trên, hành vi trộm cắp tài trong tình huống trên được xác định là thực hiện ở giai đoạn phạm tội chưa đạt

3 Có đồng phạm trong tội giết người không? Vì sao?

Trong tội giết người này không có đồng phạm Để xác định có đồng phạm trong tội phạm trên thì cần phải thỏa mãn các điều kiện bắt buộc được thể hiện theo dấu hiệu khách quan và dấu hiệu chủ quan Trong tội giết người trên, có thể thấy rõ A, B và C cùng tham gia tội trộm cắp tài sản, trong đó A được giao nhiệm vụ canh gác còn B và C là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp Tuy nhiên, B và C đều bị phát giác và khi cả hai chạy ra tới cửa thì bị con trai của chủ nhà giữ lại và C đã tiện việc thủ sẵn con dao trong người nên đã đâm chết nạn nhân Phân tích từ hai dấu hiệu khách quan và chủ quan:

- Đối với dấu hiệu khách quan bao gồm hai dấu hiệu bắt buộc là “Số lượng người tham gia” và “Hành vi cùng thực hiện một tội phạm” Hành vi cầm dao đâm chết người

do C là người trực tiếp thực hiện hành vi nhưng lại xảy ra trong lúc B và C đang cùng chạy trốn Tuy cả hai cùng có mặt tại cùng một thời điểm nhưng người thực hiện tội giết người trong hành vi trên là do một mình C trực tiếp thực hiện với tâm thế trước đó C đã thủ sẵn dao trong người Để thỏa mãn dấu hiệu khách quan trong đồng phạm thì phải có

từ 2 người tham gia trở lên và hành vi của mỗi người đồng phạm phải hỗ trợ nhau để thực hiện tội phạm đó B chỉ là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và khi bị phát giác thì

bỏ chạy cùng C và B cũng không giúp sức cũng như không có ý định trong việc giết người do người thủ sẵn dao là C

- Đối với dấu hiệu chủ quan bao gồm các dấu hiệu bắt buộc đối với hành vi, hậu quả và ý chí, trong đó bắt buộc đối với lỗi cùng cố ý Hành vi cầm dao giết người của C là hoàn toàn có chủ đích, chuẩn bị sẵn từ trước và bản thân C cũng phải nhận thức được hậu quả của hành vi cầm dao đâm chết người gây nguy hiểm như thế nào cho xã hội Tuy kế hoạch của cả 3 chỉ là trộm cắp tài sản nhưng C đã thủ sẵn dao trong người từ trước, có thể thấy C đã lường trước và chuẩn bị dự phòng trong trường hợp việc trộm cắp thất bại và có thể bị bắt trong lúc chạy trốn

4 Hành vi giết người trong tình huống trên được thực hiện ở giai đoạn nào?

Trang 8

Hành vi giết người trong tình huống trên được thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành Hành vi cầm dao đâm con trai chủ nhà của C được xem là hành vi giết người và hậu quả là con trai chủ nhà chết Để xác định những người trên thực hiện phạm tội ở giai đoạn nào thì cần xét đến hành vi của những người này phải thỏa mãn những đặc điểm của giai đoạn phạm tội tương ứng Tội giết người quy định tại Điều 123 BLHS 2015 được xác định là tội phạm có cấu thành vật chất Tại khoản 1 Điều 123 BLHS 2015 quy định hậu quả do luật định đối với tội giết người là cá nhân chết và trong tình huống trên thì hành vi cầm dao đâm con trai chủ nhà của C trong khi đang trốn chạy đã khiến cho nạn nhân chết, việc thực hiện hành vi trên xuất phát từ ý chí của C mong muốn được tẩu thoát dù C biết được là việc thủ sẵn dao để đâm người khác sẽ gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội Hành

vi của C thỏa mãn các điều kiện trong cấu thành tội phạm nên được xem là thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành

Bài tập 12

1 Hành vi phạm tội giết người trong tình huống trên được thực hiện ở giai đoạn nào? Tại sao?

Căn cứ theo Điều 15 BLHS 2015, hành vi phạm tội giết người trong tình huống trên ở giai đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành

Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp phạm tội chưa đạt, trong đó người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi mà người đó cho là cần thiết để gây ra hậu quả, nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn nên hậu quả vẫn không xảy ra

Trong tình huống trên, đã có hành vi thể hiện việc người phạm tội được chuẩn bị trước qua các hành động như Nguyễn Thanh H rủ Huỳnh Hiểu V đến phòng trọ Đ để giải quyết mâu thuẫn; H chuẩn bị 01 con dao dài khoảng 39cm, 01 con dao dài 60cm sinh hoạt trong gia đình H; V chuẩn bị một cây rựa dài khoảng 50cm bỏ lên xe mô tô của H; H và V

rủ thêm Nguyễn Thanh T tiếp tục lại rủ thêm Đ1 Khi đến nhà Đ lần thứ ba H đã dùng rựa phá khoá, V cầm thêm cây gậy gỗ và 01 cục đá trước phòng trọ; T cầm con dao dài khoảng 39cm và Đ1 cầm con dao dài 60cm Cả nhóm đã xông vào phòng trọ dùng hung khí của mình và tác động vật lý với Đ, đến lúc Đ không còn sức phản kháng cả nhóm mới

bỏ về Các hành vi được liệt kê trên là việc những người phạm tội đã thực hiện hết tất cả các hành vi của họ, tất cả các hành vi cần thiết để xử lý Đ

Xem xét Điều 123 BLHS 2015 về Tội giết người có cấu thành tội phạm vật chất, sau đã thực hiện hết các hành vi tác động đến thân thể Đ, thấy Đ nằm gục không còn sức phản kháng nên cả nhóm đã rời đi Điều này đã cho thấy cả nhóm đã cho rằng Đ đã tử

Trang 9

vong nhưng vì một lý do nhất định Đ không chết có nghĩa cả nhóm đã không thể thực hiện được mong muốn của mình và hành vi phạm tội được xem là chưa đạt vì chưa có hậu quả luật định xảy ra

Từ những đặc điểm trên, có thể kết luận hành vi của Đ, V, T, Đ1 được thực hiện đầy đủ theo đúng quy trình mà họ cho là cần thiết để thực hiện hành vi phạm tội, nhưng

do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn khiến hậu quả chưa xảy ra nên hành vi phạm tội được thực hiện ở giai đoạn chưa đạt đã hoàn thành

2 Hãy xác định vai trò đồng phạm của mỗi người?

- Nguyễn Thanh H có vai trò là người thực hành và người tổ chức

Căn cứ theo khoản 3 Điều 17 BLHS 2015, người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm là người trực tiếp thực hiện toàn bộ hoặc một phần hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm Trong vụ án này, Nguyễn Thanh H đã lần lượt rủ các đồng phạm là Huỳnh Hiểu V, Nguyễn Thanh T và Nguyễn Văn Đ1; H và đã chuẩn bị các vũ khí như 01 con dao dài 39cm có lưỡi và cán bằng kim loại màu đen, 01 con dao dài 60cm

có cán gỗ và lưỡi bằng kim loại, 01 cây rựa dài khoảng 50cm có cán gỗ và lưỡi bằng kim loại Khi đến nhà Đinh Trung Đ lần đầu, H đã trực tiếp vào nhà cãi nhau và thách thức đánh nhau với Đ, hành vi này chỉ có duy nhất một mình H thực hiện và V là người đứng ngoài, nên có thể thấy trong vụ án này Nguyễn Thanh H là người trực tiếp có mâu thuẫn

và tổ chức giải quyết mâu thuẫn này là H Đến 20 giờ 45 phút cùng ngày, H tiếp tục rủ cả nhóm quay lại nhà Đ, H dùng rựa phá khoá, H chém hai nhát vào người Đ Các hành vi của H được thực hiện trong tình trạng H đầy đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình, H đủ năng lực trách nhiệm hình sự để biết rằng hành vi của mình sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng và mong muốn cho hậu quả xảy ra trong tình huống này Từ những căn

cứ đã nêu trên có thể kết luận rằng H là người thực hành và là người tổ chức trong vụ án này

- Huỳnh Hiểu V, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Đ1 là người thực hành

Cả ba người V, T và Đ1 đều trực tiếp thực hiện hành vi có thể khiến Đ tử vong Đối với Huỳnh Hiểu V, trong lần đầu tiên khi đến nhà Đ, V đã đứng ngoài để canh chừng cho H, lần thứ hai khi đến nhà Đ, V đã nhặt một khúc cây gỗ dài 50cm đi cùng H vào nhà

Đ cùng H đánh nhau với Đ, đến lần thứ 3 V ném đá vào Đ khi thấy Đ bỏ chạy, ôm Đ xô xát để H có cơ hội chém trúng Đ Đối với Nguyễn Thanh T và Nguyễn Văn Đ1 mặc dù không xuất hiện trong lần đầu tiên H đến nhà Đ nhưng ở lần thứ hai, hai người này đã đứng ngoài canh chừng cho H và V đánh nhau với Đ, đến lần thứ ba lúc 20 giờ 45 phút, T cầm 01 con dao dài khoảng 39cm do H chuẩn bị, Đ1 cầm con dao dài khoảng 60cm cũng

Trang 10

do H chuẩn bị và cùng xông vào nhà Đ với H và T Sau khi H đã chém Đ, T và Đ1 đã dùng chân đá vào người Đ, khi thấy Đ không còn sức phản kháng thì cả nhóm mới rời khỏi hiện trường Trong tình huống này, V, T và Đ1 đều có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, có đủ năng lực nhận thức và làm chủ hành vi của mình, họ có thể không nghe lời

H rủ nhưng họ vẫn nghe và đi theo H cũng như tham gia thực hiện tội phạm giết người,

họ có cùng động cơ phạm tội, đều có thể nhận biết rõ ràng được hậu quả trong hành vi của mình và mong muốn cho hậu quả này xảy ra

Bài tập 13

1 Trong tình huống trên A có quyền phòng vệ không? Tại sao?

Trong tình huống trên A có quyền phòng vệ Bởi vì, để được xem là có quyền phòng vệ trong trường hợp như trên hay không cần phải có đủ các điều kiện như sau:

* Về nhóm các điều kiện làm cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng:

Điều kiện thứ nhất, có sự tấn công nguy hiểm đáng kể và trái pháp luật Đối với tình huống trên, B đã có hành vi tấn công A khi đã rút dao giắt ở thắt lưng ra đâm A sượt qua bờ vai và lúc sau, khi A bỏ chạy thì B vẫn rượt đuổi cùng với con dao găm trên tay

Sự tấn công như vậy của B đối với A được xem là đã có sự tấn công mang tính nguy hiểm đáng kể, bởi vì, hành vi của B là đang có sự tấn công và đe dọa đến tính mạng của A Việc B có hành vi như trên là đang nhằm uy hiếp đến tính mạng của A và đó là sự tấn công trái pháp luật

Điều kiện thứ hai, sự tấn công xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức Đó là những quyền và lợi ích hợp pháp được Nhà nước và pháp luật bảo vệ Đối với tình huống trên, B đã có hành vi tấn công A khi đã rút dao giắt ở thắt lưng ra đâm A sượt qua bờ vai và lúc sau, khi

A bỏ chạy thì B vẫn rượt đuổi cùng với con dao găm trên tay, như vậy, hành vi của B đã xâm phạm đến quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể (theo khoản

1 Điều 32 BLDS 2015) Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật (theo Điều 19 Hiến pháp 2013) hay ngay cả trong BLHS 2015 cũng đã dành riêng Chương XIV (từ Điều 123 đến Điều 156) để quy định hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Điều ấy, chứng tỏ việc B thực hiện các hành vi như trên là đã xâm phạm đến các quyền và lợi ích chính đáng được Nhà nước và pháp luật bảo vệ của A

Điều kiện thứ ba, sự tấn công phải đang hiện hữu, tức nghĩa là sự tấn công phải đang xảy ra - đã bắt đầu, đang xảy ra và chưa kết thúc Đối với tình huống trên, B đã bắt

Ngày đăng: 04/11/2024, 12:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w