1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài '''' vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học công nghệ 11 ''''

25 1,4K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án Trong Dạy Học Công Nghệ 11
Tác giả Lê Thị Thu Trang
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Công Nghệ
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 279,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những công trình nghiên cứu liên quan tới DHDA ở Việt Nam của các tác giả thời giangần đây như: bài viết “Dạy học theo dự án – một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên” c

Trang 1

công nghệ 11 "

Trang 2

VẬN DỤNG PPDH THEO DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC CÔNG NGHỆ 11

Trang 3

Luận văn thạc sĩ giáo dục học.

Tác giả: Lê Thị Thu Trang

MỤC LỤC

Phần mở đầu

I Lí do chọn đề tài

II Lịch sử nghiên cứu

III Mục đích nghiên cứu

IV Đối tượng nghiên cứu

V Phạm vi nghiên cứu

VI Giả thuyết khoa học

VII Nhiệm vụ nghiên cứu

VIII Những đóng góp mới của luận văn

IX Phương pháp nghiên cứu

X Cấu trúc luận văn

Chương I: Cơ sở lí luận của PPDHTDA

1.1 Một số vấn đề về PPDH tích cực

1.2 Quan niệm DHTDA

1.3 Đặc điểm của DHTDA

1.4 Phận loại DHTDA

1.5 Vai trò của GV và HS trong DHTDA

1.6 Tiêu chuẩn thành công của một dự án theo PPDHTDA

1.7 Ưu, nhược điểm của PPDHTDA

Kết luận chương I

Chương II: Thiết kế và áp dụng một số dự án cụ thể trong DH Công nghệ

2.1 Đặc điểm nội dung kiến thức chương trình SGK Công nghệ 11

2.2 Thực trạng dạy và học bộ môn Công nghệ 11 ở trường THPT

2.2.1 Thực trạng dạy và học ở trường THPT

2.2.2 Thực trạng dạy và học Công nghệ 11

2.3 Những khó khăn khi áp dụng DHDA vào dạy học môn Công nghệ ở trường phổ thông

2.4 Qui trình thiết kế một dự án theo PPDHDA ở trường THPT

2.5 Định hướng vận dụng dự án vào nội dung chương trình Công nghệ 11 THPT2.6 Thiết kế và áp dụng dự án cụ thể

Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Trang 4

Phần mở đầu

II Lịch sử nghiên cứu

Trên thế giới, khái niệm “dự án” trong dạy học đã được sử dụng từ thế kỉ XVI ở các trường dạy nghề kiến trúc tại Ý sau đó lan rộng sang các nước châu Âu khác và Mĩ từ thế kỉ XVIII Cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, DHTDA đã được sử dụng trong dạy học phổ thông tại Mĩ

Người đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành cơ sở lí thuyết cho PPDH dự án

là các nhà sư phạm Mĩ J.Dewey và Charles Peirce Họ đã đưa ra những cơ sở cho DHDA và khẳng định rằng, tất cả mọi người dù già hay trẻ đều học bằng hoạt động thông qua mối quan hệ với môi trường thực tế Tuy nhiện, thời điểm đó, DHDA vẫn cònnhiều hạn chế do thiếu tư liệu và ảnh hưởng của chiến tranh thế giới thứ II

Ngày nay, DHDA được ứng dụng trong mọi cấp từ giáo dục phổ thông, đào tạo nghề cho tới cấp đại học ở nhiều nước phát triển trên thế giới

Ở Việt Nam, PPDHTDA đã được bộ Giáo dục và đào tạo kết hợp với công ty Intel ViệtNam triển khai thí điểm tại nhiều trường học trên cả nước theo chương trình Dạy học cho tương lai của Intel (Intel Teach to the Future) Chương trình này hướng dẫn GV sử dụng Internet thiết kế trang web và triển khai các dự án cho HS

Những công trình nghiên cứu liên quan tới DHDA ở Việt Nam của các tác giả thời giangần đây như: bài viết “Dạy học theo dự án – một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên” của Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004), đề tài

“Những định luật cơ bản của dòng điện không đổi” cho HS lớp 11 theo quan điểm DHDA của Nguyễn Văn Nghĩa (2006), đề tài “Tổ chức DHTDA một số nội dung kết thúc chương “Sự bảo toàn và chuyển hóa năng lượng ”theo Sách giáo khoa Vật lí lớp 9 nhằm phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của HS trong học tập” của Trần Thúy Hằng (2006), đề tài “DHTDA và vận dụng trong đào tạo giáo viên môn Công nghệ phần kinh tế gia đình” của Nguyễn Thị Diệu Thảo (2007),…

Trang 5

So sánh đặc trưng của DH truyền thống và DH mới

lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm

Học là quá trình kiến tạo, HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin,

…, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất

và chứng minh chân lí của GV

Tổ chức hoạt động nhận thức cho

HS Dạy HS cách tìm ra chân lí

năng, kĩ xảo Học để đối phó với thi cử Sau khi học xong những điều đã học thường bị

bỏ quên hoặc ít khi dùng đến

Chú trọng hình thành các năng lực(sáng tạo, hợp tác, ), dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiệntại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân

HS và sự phát triển xã hội

SGK, SGV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, thực tế gắn với:

- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS

- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương

- Những vấn đề HS quan tâm

truyền thụ kiến thức một chiều

Trang 6

2 Quan niệm DHTDA

a Cơ sở của khái niệm tiếp cận dự án trong DH

Từ đầu thế kỉ trước, Dewey và S.Charles Peirce đã đưa ra những cơ sở cho DHDA và khẳng định rằng, tất cả mọi người dù già hay trẻ đều học bằng hoạt động thông qua những mối quan hệ với môi trường Tuy nhiên, ở thời điểm đó, việc học tập còn thiếu tính tự chủ, thiếu nguồn tư liệu trong lớp học,… Điều đó làm hạn chế những thành quả trong DH mà xã hội đòi hỏi ở nhà trường

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ điện tử, DHTDA có nhiều đặc điểm phù hợp hơn với sự phát triển của chính trị, kinh tế, văn hóa và những mối quan hệ đa chiều mang tính toàn cầu, XH trở thành XH tri thức, trong đó con người không chỉ có họcthức hơn, trí tuệ hơn, có khả năng sáng tạo hơn mà còn năng động hơn trong công việc

Do vậy, DH phải chuẩn bị tốt nhất cho người học thích ứng với sụ phát triển của XH, đặcbiệt là trong hợp tác với người khác DHTDA do Dewey đề xướng đã cho thấy tính thích hợp, tính hiệu quả trong việc cho phép HS phát triển những tiềm năng sẵn có và đảm bảo một cách thích đáng vai trò của họ trong XH

Động cơ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong học tập Nhiều nhà sư phạm đã chỉ ra rằng:Việc đặt HS trong tình huống tự khám phá thế giới và chia sẻ những kết quả của quá trìnhkhai thác kiến thức, tiến trình giải quyết vấn đề như trong DHDA bằng một trong những cách tốt nhất để kích thích và duy trì động cơ học tập Chính qua tiến trình này mà những phát hiện về thế giới dần dần có ý nghĩa, nó phù hợp với nguyên tắc sư phạm: sự học tập nảy sinh trong hành động Các nhà nghiên cứu khoa học về nhận thức (Lave, 1998; Brown, Colin, 1989) cũng chỉ ra rằng: Trong DH, GV phải phát huy vai trò tích cực của

HS, đề ra cho họ các tình huống học tập và đòi hỏi ở họ sự chịu trách nhiệm trong hoạt động hợp tác DHDA bằng cách tiếp cận nhằm làm cho HS kiên trì theo đuổi một tiến trình mục đích trong những tương tác XH mà họ đã hiểu rõ mục đích cần đạt được

b Khái niệm dự án

Thuật ngữ dự án (project) được hiểu là một đề án, dự thảo hay kế hoạch cần thực hiện đểđạt mục đích đặt ra Khái niệm dự án được sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học cũng như trong quản lí XH và được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo như một PP hay hình thức DH

Theo Phạm Đức Quang – Phạm Trịnh Mai, khái niệm dự án được hiểu là tập hợp của những hoạt động khác có nhau liên quan với nhau theo một lôgic, một trật tự xác định nhằm vào những mục tiêu xác định, được thực hiện bằng những nguồn lực nhất định trong những khoảng thời gian xác định

Dự án có tính mục tiêu, tạm thời, hệ thống và duy nhất

c Khái niệm DHTDA

Từ đầu thế kỉ 20, các nhà sư phạm Mĩ đã xây dựng cơ sở lí luận cho PP dự án (Project method) và coi đây là PPDH quan trọng để thực hiện DH hướng vào người học nhằm khắc phục nhược điểm của DH truyền thống

Ban đầu nó chỉ được áp dụng khi dạy môn kĩ thuật ở các trường ĐH và cao đẳng Dần dần nó được sử dụng rộng rãi trong các môn học khác ở trường phổ thông và trở nên phổ biến, nhất là các nước phát triển

DHTDA là một mô hình DH lấy HS làm trung tâm Nó giúp phát triển kiến thức và các

kĩ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích HS tìm tòi, thực hiện hóa những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩmcủa chính mình

Trang 7

Tóm lại, DHTDA gọi tắt là DHDA được hiểu là một PP hay một hình thức DH, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực tiễn, thực hành Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộquá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểmtra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.

Chương trình DHTDA được xây dựng dựa trên những câu hỏi định hướng quan trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư duy bậc cao trong những bối cảnh thực tế

Bài học thiết kế theo dự án chứa đựng nhiều kĩ thuật DH khác nhau, có thể lôi cuốn đượcmọi đối tượng HS, không phụ thuộc vào cách học của họ Thông thường HS sẽ được làm việc với các chuyên gia và những thành viên trong cộng đồng để giải quyết vấn đề, hiểu sâu nội dung hơn Các phương tiện kĩ thuật cũng được sử dụng để hỗ trợ việc học Trong quá trình thực hiện dự án có thể vận dụng nhiều cách đánh giá khác nhau để giúp HS tạo

ra những sản phẩm có chất lượng

Quá trình DHTDA được các nhà nghiên cứu miêu tả như sau:

1 Xác định một vấn đề phù hợp với HS

2 Liên kết vấn đề với thế giới của các em

3 Tổ chức chủ đề xung quanh vấn đề, dự án chứ không phải môn học

4 Tạo cho HS cơ hội để xác định phương pháp và kế hoạch học tập để giải quyết vấn đề

5 Khuyến khích sự công bằng bằng cách tạo ra các nhóm học tập

6 Yêu cấu tất cả HS trình bày kết quả học tập dưới hình thức một dự án hoặc chương trình

d DHTDA có liên hệ thế nào đối với việc khám phá tìm hiểu

“Quá trình khám phá tìm hiểu bao gồm một loạt các hoạt động để thỏa mãn óc tò mò bẩm sinh của con người về thế giới Trong bối cảnh giáo dục, việc khám phá tìm hiểu nàymang một ý nghĩa cụ thể hơn GV sẽ áp dụng việc khám phá tìm hiểu như một chiến lược

DH nhằm khuyến khích HS đặt câu hỏi, lập kế hoạch, tiến hành tìm hiểu, quan sát và suy nghĩ về những gì mình đã khám phá Tuy nhiên, đây không phải là một định nghĩa khô cứng Ngay cả trong một lớp học riêng lẻ, các hoạt động tìm hiểu cũng có thể diễn ra mộtcác liên tục, từ những hoạt động theo định hướng của GV đến những hoạt động mở rộng theo sở thích của HS” (Intel)

Sẽ dễ dàng hơn nếu coi DHTDA là một tập con trong DH khám phá Một nghiên cứu về DHTDA đã kết luận rằng những dự án như vậy thường tập trung vào những câu hỏi hoặc vấn đề thôi thúc HS phải đối mặt và chiến đấu với những khái niệm và nguyên tắc trọng tâm của môn học Hơn nữa, những hoạt động chính trong dự án đã bao hàm quá trình khám phá tìm hiểu và kết cấu kiến thức của HS HS thường vẫn có sự lựa chọn khi thiết

kế dự án cho phép các em theo đuổi ý thức và trí tò mò của mình Trong quá trình trả lời những câu hỏi do chính bản thân đặt ra, HS có thể khám phá tìm hiểu thêm về các chủ đề vốn chưa được GV đặt ra như mục tiêu DH

* Mô hình DHTDA làm thay đổi lớp học truyền thống

Theo báo cáo về chuyên môn của chương trình Dạy học cho tương lai Intel đã mô tả lớp học trong đó GV áp dụng hiệu quả mô hình DHTDA như sau:

Trang 8

- HS có cơ hội thực hành

f GV sẽ phải đương đầu với những thách thức nào?

GV cần sẵn sàng chấp nhận những rủi ro để có thể vượt qua những thử thách ban đầu

3 Đặc điểm của DHTDA

Các nhà sư phạm Mĩ đầu thế kỉ XX khi xác lập cơ sở lí thuyết cho PPDH này đã đưa ra 3 đặc điểm cốt lõi của DHDA Đó là: Định hướng HS, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm

Có thể cụ thể hóa đặc điểm của PPDH TDA như sau:

huống thực tiễn của xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ của dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học

trường với thực tiễn đời sống, XH Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực hiện

dự án có thể mang lại những tác động XH tích cực

phù hợp khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục trong quá trình thực hiện dự án

nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề phức hợp

nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lí thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học

tự lực vào các giai đoạn của quá trình DH Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của

HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ

sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng XH khác tham gia trong dự án Đặc điểm này được gọi là học tập mang tính XH

phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, mà trong đa số trường hợp, các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố và giới thiệu

Trang 9

1.4 Phân loại DHTDA

PHTDA có thể phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Dưới đây là một số cách phân loại:

a Phân loại theo chuyên môn

b Phân loại theo sự tham gia của người học

Dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân Dự án dành cho nhóm HS là hình thức DH chủ yếu Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự

án cho một lớp học

c Phân loại theo sự tham gia của GV

Dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV

d Phân loại theo quĩ thời gian

một tuần hoặc 40 giờ học

kéo dài nhiều tuần (tuần dự án)

e Phân loại theo nhiệm vụ

trình

hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác

Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Dự án có tính tổng hợp là dự án kết hợp nhiều hoạt động khác nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng

1.5 Vai trò của GV và HS trong DHTDA

- GV

+ Hướng dẫn cộng đồng người học, tạo thuận lợi, kích thích hứng thú của HS và làm cho

họ hiểu rõ tiến trình học tập Khác với lớp học truyền thống, GV đóng vai trò chủ đạo, nắm giữ tất cả kiến thức và truyền tải đến HS Với DHTDA, GV chỉ đóng vai trò như một nhà tư vấn, một học viên cộng tác

+ Những thông tin mà GV đưa ra, theo Vygoski phải mang tính nhận thức và siêu nhận thức Thông tin mang tính nhận thức nhằm hướng dẫn HS dần dần có thể tự lực hoàn toàn, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ học tập của bản thân (lập kế hoạch, định hướng điều chỉnh, kiểm tra và đánh giá) Thông tin siêu nhận thức nhấn mạnh đến việc làm chủ những kiến thức “công bố” được và “thực hiện” được Để

HS phát triển thói quen lập luận và khả năng áp dụng một cách mềm dẻo những khái niệm đã học, những kiến thức đó phải có sự liên kết với nhau

+ GV cần tạo ra sự hỗ trợ cần thiết trước những lần HS “rẽ sai” trên con đường hoàn thành dự án, có thể bằng các chỉ dẫn hoặc bằng các sản phẩm mẫu, các tài liệu, các nguồn thông tin, các chuyển giao công việc, các phiếu đánh giá…

Trang 10

+ GV phải tập trung hơn vào việc tạo cơ hội học tập, tiếp cận với thông tin, làm mẫu và hướng dẫn HS đồng thời cũng phải tạo ra môi trường học tập thúc đẩy phương pháp học tập theo kiểu cộng tác giữa các thành viên trong nhóm HS.

- HS:

+ HS đóng vai trò là những “chuyên gia” thuộc các ngành nghề khác nhau trong xã hội

để có thể tham gia ngày càng tích cực vào việc thực hiện mục đích học tập Trong một

dự án học tập, HS không chỉ tham gia vào quá trình quản lí một phần mà còn quản lí tổng thể dự án Tức là, trong quá trình học tập, HS được tham gia quyết định và tự quyết định các giai đoạn của quá trình DH, đặc biệt là trong việc xây dựng kế hoạch và thực hiện dự án Trong chừng mực có thể, HS có thể tham gia xác định và đánh giá dự án.+ HS được giao những nhiệm vụ cụ thể, gắn với đời sống thực tế, HS hợp tác làm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá nhân khi đảm nhận những vai trò khác nhau

+ HS phải thể hiện thành quả của mình thông qua các bài thuyết trình, sản phẩm, trang web,… Những sản phẩm cuối cùng giúp HS thể hiện khả năng diễn đạt và làm chủ quá trình học tập

1.6 Tiêu chuẩn của một dự án theo PPDHTDA

Có rất nhiều kiểu dự án được tiến hành trong lớp học Một dự án được coi là thành công khi nó đạt được sự cân bằng giữa khả năng thực hiện của HS với ý đồ thiết kế của GV, chỉ rõ những công việc HS cần làm Dưới đây là một số tiêu chuẩn giúp nhận diện rõ thế nào là bài học theo dự án hiệu quả:

+ HS là trung tâm của quá trình DH: Bài học theo dự án được thiết kế cẩn thận, lôi

cuốn HS vào những nhiệm vụ mở và có tính thực tiễn cao Các nhiệm vụ của dự án kích thích khả năng quyết định, niềm cảm hứng, say mê của HS trong quá trình thực hiện và tạo ra sản phẩm cuối cùng HS lĩnh hội kiến thức bài học thông qua việc tìm hiểu và tự quyết định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ của dự án GV giữ vai trò hỗ trợ hay hướng dẫn HS hợp tác, làm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá nhân khiđảm nhận những vai trò khác nhau

+ Dự án được chuẩn bị và lên kế hoạch chu đáo: Để dạy tốt và đảm bảo HS tham gia

tích cực vào quá trình học, GV cần lên kế hoạch và chuẩn bị bài hiệu quả Nếu như mục tiêu là nhằm giúp HS đạt được trình độ cao, cho dù GV dạy theo PP nào đi chăng nữa cũng cần phải có kế hoạch và sự chuẩn bị thích hợp DHTDA cũng không nằm ngoại lệ

Để thành công, GV phải phác họa các dự án cụ thể trong đầu Nếu không bám sát vào các mục tiêu DH, mục đích của dự án sẽ mơ hồ và kết quả học tập mong đợi từ phía HS

có thể bị hiểu sai lệch Khi thiết kế dự án, điều quan trọng là phải chắc chắn rằng việc lập

kế hoạch hành động sẽ giúp HS nhận diện được mục tiêu học tập dự kiến Bằng việc điểm lại mục đích, mục tiêu và chuẩn của chương trình, GV sẽ lựa chọn các bài học ưu tiên trong chương trình

Về cơ bản, khâu lập kế hoạch dự án bao gồm các bước:

những kĩ năng bậc cao mong muốn

+ Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn: Những dự

án tốt được phát triển dựa trên những nội dung cốt lõi của chương trình đáp ứng các

Trang 11

chuẩn quốc gia và địa phương Dự án có các mục tiêu rõ ràng gắn với các chuẩn và tập trung vào những hiểu biết của HS sau quá trình học Từ việc định hướng vào mục tiêu,

GV sẽ lựa chọn hình thức DH phù hợp, lập kế hoạch đánh giá và tổ chức các hoạt động dạy và học Kết quả của dự án được thể hiện kết tinh trong sản phẩm và quá trình thực hiện nhiệm vụ, ví dụ phần thuyết trình đầy thuyết phục hay ấn phẩm thông tin thể hiện sựlĩnh hội các chuẩn nội dung và mục tiêu DH

+ Dự án được định hướng theo Bộ câu hỏi khung chương trình: Câu hỏi khung chương trình sẽ giúp các dự án tập trung vào những hoạt động DH trọng tâm HS được giới thiệu

về dự án thông qua các câu hỏi gợi mở những ý tưởng lớn, xuyên suốt và có tính liên môn HS sẽ buộc phải tư duy sâu hơn về các vấn đề về nội dung của môn học theo các chuẩn và mục tiêu

Có ba dạng câu hỏi khung chương trình: Câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung Câu hỏi khái quát là các câu hỏi rộng, có tính mở, đề cập đến những ý tưởng lớn và các khái niệm xuyên suốt Câu hỏi loại này thường mang tính liên môn, giúp HS hiểu được mối quan hệ giữa các môn học Các câu hỏi bài học được gắn trực tiếp với dự

án, hỗ trợ việc tìm kiếm lời giải cho câu hỏi khái quát Các câu hỏi bài học thể hiện mức

độ hiểu những khái niệm cốt lõi về dự án của HS Các câu hỏi nội dung thường mang tínhthực tiễn cao, bám sát các chuẩn và mục tiêu đề ra

+ Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên: Ngay từ khi triển khai

dự án, các kết quả dự kiến cần phải được làm rõ và phải luôn được rà soát nhiều lần để kiểm chứng mức độ lĩnh hội bằng các phương pháp đánh giá khác nhau HS sẽ được xem mẫu và hướng dẫn trước để thực hiện công việc có chất lượng nhất, phải biết rõ điều gì đang chờ đợi ngay từ khi bắt đầu dự án Cần phải tạo cơ hội để rà soát, phản hồi hay điều chỉnh trong suốt quá trình thực hiện dự án

+ Dự án có liên hệ với thực tế: Dự án phải gắn với đời sống thực tế của HS, có thể mời

các chuyên gia bên ngoài cùng tham gia để tạo ra những tình huống DH HS có thể thể hiện việc học của mình trước những đối tượng thực tế, liên hệ với các nguồn lực cộng đồng, tham khảo các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu, hoặc trao đổi thông qua công nghệ hiện đại

+ Dự án được hoàn thành đúng thời hạn, không vượt quá kinh phí dự trù

+ Dự án không gây ra những tác động xấu cho môi trường, cho XH, đảm bảo sự phát triển bền vững cho tương lai.

+ Dự án không gây ra ảnh hưởng tới sức khỏe, tới kết quả học tập và tu dưỡng đạo đức của HS.

1.7 Ưu, nhược điểm của PPDHTDA

DHTDA mang lại rất nhiều lợi ích cho cả GV và HS Ngày càng nhiều các nghiên cứu líluận ủng hộ cho việc áp dụng PPDHTDA trong trường học để khuyến khích HS, giảm thiểu hiện tượng bỏ học, thúc đẩy các kĩ năng học tập hợp tác và nâng cao hiệu quả học tập

* Đối với HS, những lợi ích từ DHTDA bao gồm:

- Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của HS, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

- Kiến thức thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những mô hình DH khác do khi được tham gia vào dự án, HS sẽ chịu trách nhiệm hơn trong học tập so với các hoạt động truyền thống khác trong lớp học Vì vậy, DHTDA sẽ kích thích động cơ và hứng

Trang 12

thú học tập của người học, điều đó giúp cho họ có thể vượt qua được những khó khăn trong khi giải quyết các vấn đề, đặc biệt là những vấn đề mang tính phức hợp.

- Có cơ hội phát triển những kĩ năng phức hợp, như tư duy bậc cao, giải quyết vấn đề, hợp tác và giao tiếp

- Dự án mang tính thực tiễn, vì vậy HS được tham gia vào những hoạt động đời thường

có ý nghĩa vượt ra khỏi phạm vi lớp học

- HS có thể sử dụng thông tin của những môn học khác nhau để giải quyết vấn đề

- Phát triển năng lực tự đánh giá

* Đối với GV, những lợi ích mang lại là nâng cao tính chuyên nghiệp và sự hợp tác với đồng nghiệp, cơ hội xây dựng các mối quan hệ với HS Bên cạnh đó, nhiều GV cảm thấyhài lòng với việc tìm ra được một mô hình triển khai, cho phép hỗ trợ các đối tượng HS

đa dạng bằng việc tạo ra nhiều cơ hội học tập hơn trong lớp học GV cũng nhận thấy rằng người được hưởng lợi nhiều nhất từ DHTDA là những HS không học tốt được theo cách DH truyền thống

b Nhược điểm

- DHTDA không những đòi hỏi chuẩn bị công phu, mà còn đòi hỏi người dạy và người học có thói quen phù hợp mới có hiệu quả

Thời gian DHTDA thường kéo dài vì vậy rất khó áp dụng cho một tiết học bình thường

vấn đề phải sử dụng đến kiến thức liên ngành Vì vậy, không phải môn nào, nội dung

gì cũng có thể áp dụng được DHDA

nhiều GV sẽ cảm thấy phải chịu áp lực trong việc thực hiện chươg trình giảng dạy mới

Ngày đăng: 29/06/2014, 05:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức trình bày (hệ số 50%) - đề tài '''' vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học công nghệ 11 ''''
Hình th ức trình bày (hệ số 50%) (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w