Mối quan hệ giữa mức độ biểu hiện gắn bổ với cha, mẹ và bạn bè của học sinh THCS và các biểu hiện thành phần 23.1, Méi quan hệ giữa mức độ sắn bó với cha, mẹ và bạn bè của HS THCS Xôi qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUONG DAI HQC SU PHAM THANH PHO HO CHi MINH
Nguyễn Ngọc Khôi
SU GAN BO TRONG QUAN HE VOI CHA ME VA BAN BE CUA HQC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
'Thành phó Hồ Chi Minh - 2024
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUONG DAI HQC SU PHAM THANH PHO HO CHi MINH
Nguyễn Ngọc Khôi
SU GAN BO TRONG QUAN HE VOI CHA ME VA BAN BE CUA HQC SINH TRUNG HOC CO SO
Chuyén nganh: Tam ly hoc
Mã số: 8310401
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGUOI HUONG DAN KHOA HQC: PGS.TS NGUYÊN THỊ TỨ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2024
Trang 3
tân cứu khoa bị ˆ h
hiện với sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Tứ Các quan điểm, lập luận, các số
liệu thu thập được, cùng với những bình luận trong công trình nghiên cứu khoa học này đều có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, và chưa từng được công bố Nghiên cứu đã được thông qua bởi giảng viên hướng dẫn
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này
Học viên cao học
Nguyễn Ngọc Khôi
Trang 4"Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến người hưởng dẫn khoa học, PGS.TS Nguyễn Thị Tử, đã tận tình chỉ bảo, hưởng dẫn tôi
trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn các giảng viên đang công tác, giáng dạy tại khoa Tâm lý học ~ Đại học Sư Phạm thành phổ Hỏ Chí Minh đã giúp đỡ, giảng dạy và tôi cũng xin cảm ơn quý ban giảm hiệu, giáo viên, chuyên viên tham vẫn, các bạn học trình thu thập số liệu phục vụ cho việc thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn bè cùng khoá cao học 32 đã giúp đỡ
tôi chia sẻ những thông tin, thông báo quan trọng cũng như có những nhận xét, góp
ý và hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và thực hiện để tài
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự quan tâm của gia đình, bạn bè và người thân đã ủng hộ, khuyến khich và động viên tôi để bản Luận văn được hoàn thành Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2024
Học viên cao học
Nguyễn Ngọc Khôi
Trang 51.3.3 Mức độ biểu hiện sự gắn bó trong mỗi quan hệ với cha mẹ và bạn bè của
Trang 6
với cha mẹ và bạn bè của HS THCS
2.13 Tô chức nghiên cứu thụ 6l
214 Khảo si đánh giátính cần tiết và khả hí của các biện pháp hỖ trợ
3.2 Mức độ biểu hiện gắn bó trong quan hệ với cha mẹ và bạn bè của HS THCS
2.2.1, Mite độ biểu hiện sự gắn bó xét theo tổng thể trong quan hệ với cha mẹ và bạn bè của học sinh THCS
2.2.2 Mite độ biểu hiện sự gắn bó xét theo các biểu hiện trong quan hệ với cha,
mẹ và bạn bè của học sinh THCS
2.3 Mối quan hệ giữa mức độ biểu hiện gắn bó với cha, mẹ và bạn bè của
học sinh THCS và các biểu hiện thành phần
3.3.1 Mỗi quan hệ giữa mức độ gắn bó với cha, mẹ và bạn bè cúa HS THCS 92
2.3.2 Mỗi quan hệ giữa các biểu hiện trong mức độ gắn bó với cha, mẹ và bạn
243 Stak mt ar bw 09950160286 mg va ban bé theo hoc lye 107
Trang 7với cha, mẹ và bạn bè
251 "Tự đính gi in HS v clo yao dn huộng đổ sỹ gẵ bồ vớ cha mẹ
2.5.2 Tự đánh giá của HS về các yếu tố ánh hưởng đến sự gắn bó với bạn bè 123
3.6 Một số biện pháp hỗ trợ nâng cao mức độ gắn bồ với cha, mẹ và bạn bè của học sinh THCS
26.1 Co sca vige đ nỗ tiện híp hỗ rợhỗ nợ nông cao mức độ Mẫn hiện
KET LUAN VA KIÊN NEHles
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHY LYE
Trang 9
Bảng 1.1 Mức độ biểu hiện sự gắn bó trong mối quan hệ với cha, mẹ và bạn bè
của học sinh THCS
Bảng 2.1 Cách tính điểm gắn bó chung ở khảo sát thử nghiệm Bang 2.2 Cách tính điểm gắn bó theo các biểu hiện ở khảo sát thử nghiệm %4 Bảng 2.3 Phân bỗ thành phần và số lượng khách thể khảo sát thứ nghiệm 54
Bang 2.4 Hé sé tin cy Cronbach's Alpha cia cic thang đo khảo sát thử nghiệm
Bang 2.5 Phân bố nhận định các thang đo
Bang 2.6 Phân chia mức độ gắn bó của học sinh THCS
Bang 2.7 Phân bổ thành phẩn và số lượng mẫu nghiên cứu chính Bảng 2.8, Phân chia mức độ đánh giá các biện pháp hỗ trợ nâng cao mức đội
Bang 2.16 Su tin tưởng trong quan hệ với mẹ của HS THCS Bang 2.17 Sy tin tưởng trong quan hệ với mẹ của HS THCS (%)
Bảng 2.19 Chất lượng giao tiếp trong quan hệ với mẹ của HS THCS (%) Bang 2.20 Giận dữ và xa lánh trong quan hệ với mẹ của HS THCS Äl Bảng 2.21 Mức độ giận dữ và xa lánh trong quan hệ với mẹ của HS THCS (%)
Bảng 2.22 Sự tin tưởng trong quan hệ với bạn bè của HS THCS
Trang 10Bang 2.24 Chất lượng giao tiếp trong quan hệ với bạn bè của HS THCS Bảng 2.26 Giận dữ và xa lánh trong quan hệ với bạn bè của HS THC: Bảng 2.27 Mức độ giận dữ xa lánh trong quan hệ với bạn bè cúa H§ THCS (%)
Bảng 2.28 Mỗi quan hệ giữa sự gắn bó với cha mẹ và bạn bè của học sinh 2
Bảng 2.29 Mi quan hệ giữa các biểu hiện của sự gắn bó với cha của HS THCS
Bảng 2.30, Mối quan hệ giữa các biểu hiện của sự gắn bó với cha của HS THCS
Bang 2.31 Mỗi quan hệ giữa các biểu hiện của sự gắn bó với bạn của HS THCS
Bảng 2.32 So sánh mức độ gắn bó trong quan hệ với cha của HS theo giới tính Bảng 2.33 So sánh mức độ gắn bó trong quan hệ với mẹ của HS theo giới tính Bang 2.34 So sánh mức độ gắn bó trong quan hệ với bạn của HS theo giới tính
Bang 2.35 So sánh mức độ gắn bó trong quan hệ với cha của HS theo khôi lớp
Bảng 2.36 So sánh mức độ gắn bó trong quan hệ với mẹ của HS theo khối lớp 102 Bang 2.38 So sinh chi tiết mức độ các biêu hiện gắn bó trong quan hệ với mẹ của HS theo khối lớp
Bảng 2.39 So sánh mức độ gắn bó trong quan hệ với bạn của HS theo khỏi lớp
Bang 2.40 So sánh chỉ tiết mức độ các
bè của HS theo khỗi lớp
Bảng 2.41 So sánh mức độ gắn bó trong quan hệ với cha của HS theo học lực 108
tụ hiện gắn bó trong quan hệ với bạn
Trang 11Bảng 2.44 So sánh mức độ gắn bó trong quan hệ với mẹ của HS theo thứ tự
Bang 2.45 So sánh mức độ gắn bó trong quan hệ với mẹ theo trình độ học vấn
Bảng 2.46 So sánh mức độ gắn bó trong quan hệ với cha của HS theo mức độ
các hoạt động tương tác Bảng 2.47 So sánh mức độ gắn bó trong quan hệ với mẹ của HS theo mức độ
Trang 12Biểu đồ 2.1 Phân bố ĐTB mức độ biểu hiện sự gắn bó với cha trên toàn mẫu 65 Biểu đỗ 2.3 Phân bố DTB mức độ biểu hiện gắn bó với bạn bè trên toàn mẫu 67
Biểu đỗ 2.4 So sánh mức độ gắn bó trong quan hệ với cha theo thứ tự sinh 113
Trang 131 Lý đo chọn đề tài
Được xây dựng từ giữa những năm 90, lý thuyết gắn bó mở đầu với sự quan
tâm của John Bowlby về những vấn đề của trẻ khi tách khỏi người chăm sóc chính
Sau này, thuyết gắn bó ngày càng phát triển với nhiễu nghiên cứu khác nhau Tập
trung vào những mỗi quan hệ thân thiết, tình cảm sâu sắc giữa người với người và bắt
đầu mở rộng ra với đỗ vật, địa điểm: các nhà khoa học đưa ra nhiều kết luận xoay nhân Ở Việt Nam tử đầu những năm 2000 cũng có nhiều tác giả đưa lý thuyết gắn Nguyễn Ánh Tuyết (2005), Phạm Ngọc Thanh (2011)
Học sinh trung học cơ sở, độ tuổi thiểu niên tử 11 — I5 tuổi, là một giai đoạn
đầy biến động trong sự phát triển tâm lý của cuộc đời Bên cạnh những sự hồn nhiên, ngãy thơ, tuôi hồng thì cũng lả lứa tuổi khủng hoảng khó bảo, “bất trị” Với sự phát triển vượt bật của cơ thể, tâm lý thì các mối quan hệ của học sinh giai đoạn nảy cũng
có nhiều điểm nồi bật quan trọng Với người lớn đặc biệt là cha mẹ, trẻ có xu hướng
khẳng định mình đã lớn, tính độc lập cao và bắt đầu xuất hiện nhiều mâu thuẫn, hay
cường điệu trong tương tác Từ đây cũng nãy sinh nhiễu vấn đề trong mỗi quan hệ
giữa thiểu niên với cha mẹ và dẫn đến những khỏ khăn nhất định Về mặt mối quan
vi giao tiếp, nhu cầu kết nối bạn bè tăng cao Các sự gắn kết bạn bè có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của học sinh
Yêu tô gắn bó trong các môi quan hệ cúa học sinh là một phẩn của đời sống tâm lý trong sự phát triển Cảng đặc biệt hơn khi cha mẹ và bạn bè là những sự gắn
kết gần gũi nhất của học sinh THCS
Sự gắn bó giữa học sinh THCS với cha mẹ là một vấn đẻ được quan tâm và có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình học tập, phát triển của học sinh cũng như
những vấn để tâm lý có liên quan Trong một nghiên cứu mới đây tại trường THCS
sự, 2022) đã chỉ ra rằng m liên hệ giữa trẻ với cha mẹ có liên quan đến tỉ lệ mắc
Trang 14lệ mắc trầm cảm cao hơn 2 lẫn so vở đi 23,1%) Tương tự, các trẻ có mỗi quan hệ mâu thuẫn với cha mẹ có nguy cơ lo âu cao hơn 1,7
lần, nguy cơ bị stress cao hơn 1,9 lần so với các trẻ có mỗi quan hệ hoà hợp với cha
mẹ Điều này cho thấy gia đình lả môi trưởng có nhiều ảnh hưởng tới sự phát triển về
mặt tâm lý của trẻ và trong đó, sự gắn bó, liên kết đóng vai trỏ quan trọng Ngoài ra,
nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra việc thiểu hụt gắn bó, tỉnh yêu thương của cha mẹ cũng
lệ lo âu và stress tăng lên khi có ít tỉnh yêu thương của cha mẹ: Zgambo (2012): tỉ lệ
trằm cảm ở trẻ vị thành niên giảm đi nếu có sự quan tâm đúng mức của bố mẹ và
ngược lại tỉ lệ này gia tăng tương ửng với mức độ thờ ơ của bố mẹ: Zhang Y và cộng cảm ở trẻ vị thành niên vả đây là yếu tổ có thể dự đoán vẻ ý tưởng hoặc nguy cơ tự sất của trẻ
Bên cạnh đó, chất lượng gắn bó trong mối quan hệ gia đình có tác động lớn
đến cả nhận thức và hành vi của cá nhân, nhất là học sinh ở độ tuổi 11 đến 15 tuổi
với rất nhiễu biển động, thay đổi Điền hình có thê kế đến các hành vi tự hủy hoại bản
thân xuất hiện ở trẻ vị thành niên hay theo luận án tiễn sĩ năm 2019 cúa Trẳn Hằng
Ly về hành vi gần hẳn của học sinh THCS học sinh có mức độ gây hắn ở mức trung nghiên cứu trên thể giới, các hành vi nêu trên có một phần đến từ sự gắn bó của cá
sự (2010) chỉ ra sự xa lánh của cha mẹ cảng lảm tăng tính dễ bị tôn thương của trẻ và
dễ dẫn đến hành vi phá hủy mô cơ thể lặp đi lặp lại
Như được nhắc đến trước đỏ, bạn bẻ đối với học sinh THCS có vị trí tắt quan
trọng và là một nét đặt trưng của đội lỗi này với hoạt động giao lưu bẻ bạn Chất lượng tình bạn được Trần Văn Công (2018) nhận định bao gồm nhiều yếu tổ, trong
đỏ có sự gần gũi, thân thiết và gắn bó Tác giả cũng khăng định chắt lượng tình bạn
có ảnh hướng đến suy nghĩ và hành vỉ của học sinh Khi sự gắn bó thân thiết với bạn
Trang 15201 1 tại Mỹ cũng chỉ ra bắt nạt trực tuyển thường xảy ra với những người không có
sự kết nối thân thiết và chặt chẽ với bạn thân
Nhiều tác giả trên thế giới cùng đã có nhiều nghiên cứu về gắn bó và chất
lượng gắn bó với bạn bè vả có được nhiều kết quả quan trọng Trong đó, sự gắn bó
bè bạn được xem là mot phan cơ bản trong cuộc sống cá nhân, đóng vai trò quan
trọng đến đời sống xã hội Có thể kế đến Berndt & Ladd (1989) khi cho rằng bạn bè cũng chỉ ra các cá nhân ở tuôi vị thành niên dành nhiều thời gian cho bạn bè của họ người bạn thân thiết trở thành một nguồn hỗ trợ xã hội và tình cảm (Furman & định sự gắn bó với bạn bè của học sinh THCS là một chủ để cần được quan tâm và nghiên cứu
Việc nghiên cứu mức độ gắn bó của thiếu niên với các méi quan hé gan gai như cha mẹ và bạn bè nhằm hiểu rõ hơn về lứa tuổi nảy cũng như có những đánh giá, nhà nghiên cứu, nhà giáo dục và các bậc cha mẹ, người chăm sóc hay chính bản thân
đề cho những cách thức tháo gờ khỏ khăn, hướng đến sự phát triển cân bằng và khỏe
bó với cha mẹ và bạn bẻ đành cho đổi tượng học sinh THCS, nhất là ở địa bàn TP.HCM Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn
cứu của để tài được xác lập tác giả lựa chọn nghiên cửu đẻ tài “Sự gắn bó trong
trên, nội dung, nhiệm vụ nghiên
quan hệ với cha mẹ và bạn bè của học sinh trung học cơ sở”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài xác định mức độ biểu hiện sự gắn bó trong quan hệ với cha mẹ và bạn
bè cúa học sinh THCS Trên cơ sở đó, tác giả để xuất một sổ biện pháp tăng cường
sự gắn kết tích cực giữa học sinh 'THCS với cha mẹ và bạn bè.
Trang 163.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Để tài tìm hiểu lịch sử các công trình nghiên cứu trong và ngoải nước vẻ lý
thuyết gắn bó và sự gắn bó trong quan hệ với cha mẹ, bạn bè
Đề tài xây dựng cơ sở lý luận nghiên cửu về sự gắn bó trong các môi quan hệ
với cha mẹ và bạn bè Hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến đề tài
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
Để tài khảo sát thực trạng mức độ biêu hiện sự gắn bó trong quan hệ với cha
mẹ và bạn bè của học sinh THCS, phân tích một số yếu tổ ảnh hưởng
Để tài để xuất một số biện pháp tăng cường sự gắn kết tích cực giữa học sinh THCS véi cha mẹ và bạn bè
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Sự gắn bó trong quan hệ với cha mẹ và bạn bè của học sinh THCS 4.1 Khách thể nghiền cứu
Hoe sinh THCS 6 độ tuổi tử I1 đến 15 tuổi
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
S.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
hệ gần gũi của học sinh THCS bao gồm cha, mẹ và bạn bè thông qua mức độ biểu hiện ở ba mật: sự tin tướng chất lượng giao tiếp và sự giận dữ - xa lánh
$.1 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên học sinh tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Hỗ Chí Minh
6 Giá thuyết khoa học
Mức độ biểu hiện sự gắn bó cúa học sinh THCS với cha và mẹ ở mức trung bình và với quan hệ bạn bè ở mức cao
C6 sự khác biệt về mức độ biểu hiện gắn bó trong các mỗi quan hệ với cha,
mẹ và bạn bè xét theo giới tính, cắp lớp và học lực,
Trang 17T,1 Nguyên tắc tiếp cận
7.1.1 Nguyên tắc hệ thống - cấu trúc
Sự gắn bó trong các mỗi quan hệ với cha, mẹ và bạn bè là một cấu trúc phức
tạp, nhiều thành phẩn và ảnh hưởng nhiễu mặt đến đời sống tâm lý cá nhân Tử đỏ,
đề tài cần được nghiên cứu, đo lường một cách cụ thể và toàn diện Việc định lượng
các chỉ báo gắn bó cẩn được thực hiện một các hệ thống, chỉ tiết từng thành tổ bao gém sự tin tưởng, chất lượng giao tiếp và sự xa lánh - giận dữ 7.1.2 Nguyên tắc lịch sử
Để tài xây dựng hệ thống lý luận dựa trên tiền để lịch sử nghiên cứu về gắn bó với các đối tượng khác nhau, các ảnh hưởng của gắn bó và sự phát triển của học sinh cứu trước đó, được điểu chỉnh và xây dựng lại để phù hợp hơn với bối cảnh Việt Nam 7.1.3 Nguyên tắc thực tiễn
Đề tài tìm hiểu mức độ gắn bó của học sinh THCS với các mối quan hệ quan
trọng: cha, mẹ và bạn bẻ trong giai đoạn thực tế tại Việt Nam, nghiên cứu các mỗi
tương quan trong các yếu tổ thành phân và giữa các gắn hó khác nhau 7.2 Phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
~ Mục đích: Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, gồm các nội dung: + Lịch sử nghiên cứu các công trình trong vả ngoài nước cỏ liên quan đến sự gắn
bó trong các mỗi quan hệ cha mẹ và bạn bè
+ Khái niệm và các vẫn để lý luận liên quan đến sự gắn bó học sinh THCS;
~ Cách tiễn hành: Thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu văn bản, tải liệu
đã có về đề tài Sau đó loại đi các dữ liệu không phù hợp hoặc không đảng tin cậy Cuối cùng sử dụng các thao tác tư duy logic rút ra các kết luận khoa học cần thiết +
a Phuong pháp điêu tra bằng bảng hỏi
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
~ Mục đích: Kháo sát thực trạng mức độ biểu hiện sự gắn bó trong quan hệ với cha,
mẹ và bạn bè của học sinh THCS
Trang 18Đề lài xây dựng bảng hỏi dựa trên bảng hỏi “Sự gắn bó trong mỗi quan hệ với cha mẹ và bạn bẻ" của Gay Armsden, Mark T Greenberg, phiên bản năm 2009
“Tiến hành khảo sát mẫu thứ, từ đỏ điều chỉnh dịch thuật, ngữ nghĩa thành bảng
hỏi chính thức khảo sát học sinh về một số thông tin cá nhân của khách thể cùng với
các câu hỏi về sự gắn bớ
b Phương pháp phỏng vấn
~ Mục đích: Tìm hiểu thực trạng gắn bó trong quan hệ với cha mẹ và bạn bè thông qua tự đánh giả của học sinh THCS ứng với các chỉ báo nghiên cửu Củng cố, bổ sung những phát hiện hay nhận định từ kết quả nghiên cứu
~ Cách tiến hành: Xây dựng phiểu phỏng vấn và liên hệ khách thể Thu thập và xứ lý
dữ liệu với dạng định tính phục vụ cho nghiên cứu
7.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
~ Mục đich: Định lượng các kết quả nghiên cứu liên quan đến gắn bó trong quan hệ cha mẹ và bạn bè của học sinh THCS
~ Cách tiễn hành: Sử dụng phần mềm SPSS để xứ lý và phân tích các số liệu thu thập
lường mức độ gắn bó với các mỗi quan hệ gẵn gũi của học sinh.
Trang 19QUAN HE VOI CHA ME VA BAN BE CUA HQC SINH THCS 1.1 Lich sir nghién etru vé sy gắn bó trong mối quan hệ với cha mẹ và bạn bè 1.1.1 Trên thế giới
a Gắn bó với cha mẹ
Từ đầu thế kỷ XX, học thuyết gắn bỏ được nghiên cứu, đặc biệt là mỗi quan
hệ đầu đời mà một đứa trẻ có được, quan hệ với cha mẹ Các nhà khoa học đã có
nhiều quan tâm đến những môi quan hệ đối tượng của một cá nhân và ảnh hưởng có
liên quan đến đời sống tâm lý cá nhân, khởi đầu là mỗi quan hệ giữa trẻ vả người mẹ
Ereud (1933) cho rằng cảm xúc gắn bó của trẻ đổi với mẹ sẽ là tiễn để cho tắt cả mọi
củng cổ thêm lý thuyết của Freud Các chuyên để tiêu biểu về quan hệ đổi tượng
1946, Margaret Mahler, 1960), về người mẹ đủ tốt (Winnicott, 1975) đã lý giải rất nhiều vẫn đề trong các mỗi quan hệ gắn bó và trong tiến trình phát triển của trẻ Các lý thuyết về sự gắn bồ trong tâm lý học bắt nguồn tử công việc tư vẫn tâm
lý của John Bowlby (1958) Vào những năm 1930, John Bowlby làm bác sĩ tâm thin
bị rỗi loạn cảm xúc Trải nghiệm này đã khiển Bowlby lưu ÿ hơn đến tẩm quan trọng chúng Cụ thể, nó đã định hình niềm tin của ông về mối liên hệ giữa sự tách biệt trẻ nhà phân tâm học, Bowlby quan tâm và bị ảnh hưởng nhiễu bởi thuyết tiền hóa của dựng lý thuyết của mình về sự gắn bó John Bowlby, làm việc cùng với James khỏi mẹ chúng Dù những đứa trẻ này được nuôi dường chăm chút bởi những người khác, sự quan tâm, chăm sóc của họ cũng không làm giảm đi sự lo lắng của trẻ
Trang 20việc hình thành các sự gắn bó: Lý thuyết gắn bó học tập/hành vi (ví dụ, Dollard &
học tập các sự gắn bó là việc cung cấp thực phẩm Ban đầu, một đứa trẻ sơ sinh sẽ
hình thành sự gắn bó với bắt cử ai cho bẻ ăn Bẻ học cách gắn bó với người cho ăn
(thường là mẹ) với sự vui vẻ khi được cho ăn và tạo nên phản xạ có điều kiện, để liên
lạc với người mẹ Các nhà nghiên cửu cùng thấy rằng một số hành vi nhất định của chú ý, thoải mái) và thông qua quá trình lặp đi lặp lại các hành vi của người chăm sóc Harlow, Lorenz) gợi ý rằng trẻ em đến thể giới được lập trình sẵn về mặt sinh học để sinh tạo ra các hành vi "tự vệ bản thân” bắm sinh như khóc và mỉm cười , kích thích phải là thực phẩm, mà là sự quan tâm vả đáp img
Lý thuyết Gắn bó (Bowlby, 1988) cho rằng khi cha mẹ không thẻ dành cho con cái sự quan tâm hay tình yêu thương một cách nhất quán (khi tỉnh yêu thương của cha mẹ hay không) con cái có thể cảm thấy bản thân không xửng đáng được chấp Nghiên cứu của Moller, Roth, Niemiec, Kanat-Maymon, và Deci (2019) đã cho tÌ
sự gắn bó thiểu an toàn giữa cha mẹ và con cái xuất phát từ sự quan tâm có điều kiện thành Trong những mối quan hệ này, các cá nhân nhận được sự quan tâm có điều
kiện đi kèm và đo đó thường cảm thấy không được thỏa mãn các nhu cẩu tâm lý cơ
bàn từ đó dẫn tới tình trạng gắn bó thiểu an toàn
Bowlby định nghĩa sự gắn bó là một "sự kết nổi tâm lý lâu dài giữa con người
với nhau.” Và ông cho rằng sự gắn bó có thể được hiêu người chăm sóc cung cấp sự thích nghỉ vỉ nó tăng cường cơ hội sống sót của trẻ sơ sinh Theo ông, nhu cầu gắn
Trang 21quyền luyến, muốn gắn bó với mẹ mới hình thành Sự gắn bó ở trẻ là những hành vi
mang tinh bản năng, chỉ có đối tượng của sự gắn hó mới mang tính điều kiện Có
nghĩa là, trẻ luôn có khuynh hưởng tìm kiểm sự an toàn tử người lớn như một biểu
ế nhưng đối tượng mà trẻ hướng đến không chỉ giới
hiện của bản năng sinh tồn
hạn trong quan hệ mẹ-con mà là bắt cứ ai có sự gắn gũi thường xuyên, chăm sóc, nuôi tương tự cũng được chỉ ra trong nghiên cứu của Lorenz (1935) và Harlow (1958) khi trẻ bị căng thẳng hoặc đe doa (Prior & Glaser, 2006)
Theo lý thuyết gắn bé (Bowlby, 1969/1982), hệ thẳng gắn bó và khám phá có
ên hệ chặt chè với nhau - trẻ em khám phá môi trường của chúng khi chúng
môi
cảm thấy được người chăm sóc, bảo vệ và an ủi (hiện tượng được gọi là “cơ sở an gùi với đối tượng gắn bó của chúng (được gọi là hiện tượng “trú an an toàn”), Những
chúng là hữu ích, sẵn sàng, trở nên gắn bó một cách an toản Tuy nhiên, khi người
chăm sóc không thể thực hiện đầy đủ các chức năng của cơ sử an toản vả nơi tri an với sự bắt an về sự gắn bó đã được xác dinh (Finnegan RA, Hodges EVE, 1969) Loại sóc trong các tình huồng căng thăng, mới lạ và khó có được sự thoải mái tử người
chăm sóc, dẫn đến hạn chế hành vi khám phá của trẻ Mặt khác, tránh sự rằng buộc
đặc trưng bởi sự gắn bó tình cảm hạn chế với người chăm sóc, né tránh người chăm (Ainsworth MDS, Bell SM, Stayton DF, 1974: Finnegan RA, Hodges EVE, 1969)
Theo Ainsworth (1989) va Bowlby (1970), sự gắn bó là một môi quan hệ tình cảm sâu sắc và lâu dài, kết nổi người này với người khác xuyên thời gian và không
gian Trong đó, sự gắn bó không nhất thiết phải lặp đi lặp lại như một hảnh vi đơn lẻ
Trang 22
Một cá nhân có thể gắn bó với một cá nhân nảo đó mà không nhất thiết phải có sự
chia sé, tương đông giữa hai cá nhân Sự gắn bó được đặc trưng bởi các hành vĩ cụ
bã hoặc khi bị đe dọa (Saul MeLeod, 2019) Sự gắn bó của người lớn đối với trẻ em
bao gồm những hành động tỉnh tế và phù hợp với nhu cẩu của trẻ Và tại hầu hết các
nên văn hóa thì các hành động trên vẫn được ghỉ nhận và có những ý nghĩa tương tự
thích được mối quan hệ cha mẹ và con cái xuất
Các quan điểm vẻ sự gắn bó gi
khi nào và ánh hướng đến sự phát triển tiếp theo của trẻ ra sao Kinh nghiệm đầu đởi với người chăm sóc có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phát triển của sự gắn bó trong những năm sau đỏ (Sullivan R vả cộng sự, 2011) Sự gắn
hoặc bị đe dọa Nếu người chăm sóc đáp ứng và liên tục điều chỉnh các trạng thái cảm
xúc của trẻ sơ sinh, thì người chăm sóc sẽ phát triển một mô hình gắn bó an toàn Một các hình thức gắn bó rối loan (Bowlby, 1970)
"Trong những năm gần đây, một số luỗng nghiên cứu đã xuất hiện từ lý thuyết gắn bó của Bowlby (1988) và Ainsworth (1989) Ban đầu lý thuyết này nhằm mục
đích giái thích tâm lý trẻ em vả người lớn về các mỗi quan hệ không tôi ưu giữa trẻ
em vả người chăm sóc chủng Theo lý thuyết gắn bó tác động lâu dài của những trai lược đỗ nhận thức/tình cảm, hoặc đại diện của bản thân trong mỗi quan hệ với các này ảnh hưởng đến kỳ vọng, cảm xúc, sự phòng thủ và hành vĩ quan hệ của một người rằng các mô hình hoạt động nội bộ tồn tại mả không thay đổi trong suốt cuộc đời, cả
ác mỗi quan hệ gắn bó thời thơ ấu kéo dải
thành, nơi (chúng có thể được nhìn thấy trong lĩnh vực nuôi day con cái và các mỗi
Trang 23một đóng góp to lớn vào lý thuyết gắn bó nói riêng và tâm lí học phát triển nói chung
trẻ Tình huồng lạ được xây dựng nhằm làm sáng tỏ những sự khác biệt cá nhân trong
đối phó với stress chia tach; tir d6, Ainsworth đưa ra 4 dạng phản ứng xuất hiện ở trẻ:
~ Gắn bó an toàn: Trẻ thường có rối loạn stress khi bị chia tách; vui mừng,
nhanh chóng an tâm và tiếp tục vui chơi khi tái hợp với mẹ
~ Bất an — né tránh: Trẻ chỉ thể hiện một vài dấu hiệu của rối loạn stress chia tách, thường dỗi, không đề ÿ đến mẹ trong lần thứ 2 tái hợp: khi tác nhân stress mạnh hơn, trẻ chỉ nhìn mẹ, hoạt động chơi bị ức chế
~ Bắt an ~ nước đôi (bat an - chống đối): Trẻ bị rối loạn stress mạnh khi chia tách và vẫn tiếp tục phản ứng khi tái hợp, đòi mẹ nhưng lại hờn dỗi khi mẹ trở lại
~ Dạng còn lại, trẻ thường bị đông cứng, không có những động tác định hình
Kể tử công trình tiên phong của Klaus và Kennell (1976), nhiều nhà nghiên cửu từ nhiễu lĩnh vực khác nhau đã tập trung vào sự phát triển ban đầu của mối quan
hệ mẹ-con Mặc dù có sự khác biệt đảng kể, vi dụ, thuật ngữ (“gắn bó” so với n kết") và hoạt động của hiện tượng (quan sát hành vi so với tự báo cáo cảm xúc), vẫn
tổn tại sự đồng thuận về thực tế là sự phát triển cúa liên kết tình cảm giữa mẹ và con
bắt đầu tir dau thai ky (Shich và cộng sự 2001) Tuy số lượng ít, hẩu hết các nghiên cảm giác gắn bó vào cuối thai kỳ Tuy nhiên, một số nghiên cứu cũng xác định những
phụ nữ có mức độ ổn định hoặc giảm dẫn của tình cảm gắn bó mẫu tử (Condon 1985;
Mikulincer vả Florian 1999), Trong ba tháng đầu của thai kỷ, phụ nữ bị hạn chế vẻ 1984) Một số tác giá đã gợi ý rắng phụ nữ lắp đây khoảng trống này bằng những biểu hiện gắn bó của cha mẹ tử thời thơ ấu của chính họ (Ihcah và Fisek 2004) Sau đó,
khi quá trình mang thai diễn ra, một sự thay đổi diễn ra từ các đại diện dựa trên quá
khứ sang đại diện dựa trên kinh nghiệm thực tế, chẳng hạn như sự phát triển nhanh 2005; Rustico và cộng sự 2005)
Trang 24Nhiễu nghiên cứu đã tìm hiểu vẻ các yếu tố góp phần và ức chế của sự gắn bó
trước sinh của mẹ Kết quả là, một loạt các yếu tổ nhân khẩu học (tuồi, giáo dục tình
trạng kinh tế xã hội), lâm sảng liên quan đến thai nghén (tình trạng nguy cơ của thai
kỳ hiện tại, kết quả của lần mang thai trước), tâm lý xã hội (lòng tự trọng, hỗ trợ xã
hội, phong cách đối phó) và tâm thần kinh (các biến số tram cim va lo au) đã được 2005; Van den Bergh va Simons 2009)
Hiện tai, người ta cho rằng mỗi quan hệ gắn bó là kha cy thé (Howes C, Spieker
S, 2008) Do đỏ, sự gắn bó với mẹ có thể khác với sự gắn bó với cha hoặc người chăm
cha mẹ là sự nhạy cảm của người mẹ, được định nghĩa là khả năng của người chăm
sóc trong việc nhận thức và suy luận chính xác ÿ nghĩa của các tín hiệu của đứa trẻ, Stayton DE, 1974)
Mỗi liên hệ giữa sự gắn bó giữa cha mẹ và con cái bị rối loạn chức năng và
hành vi tự làm hại bản thân đã được hỗ trợ bởi các bằng chứng lý thuyết và thực
nghiệm rộng rãi Ví dụ, công trinh cita Calkins and Hill (2007) và Linehan (1993)
cho thấy rằng sự tương tác giữa người chăm sóc và trẻ em thông báo cách thức trẻ sơ
sinh trải qua sự hiểu động và rồi loạn trong trạng thái kích thích Nếu người chăm sóc hành vi không lành mạnh về các kỳ vọng liên quan đến hoàn hảo mà cuỗi củng được nhân bị rồi loạn cảm giác gắn bó có thê dựa vào các chiến lược tự hủy hoại bản thân
như NSSI để cỏ các quy định hoàn hao như một cách đề bủ đắp cho sự thiếu hỗ trợ
giữa các cá nhân với nhau (Crowell SE và cộng sự, 2009) Một nghiên cửu được Johan C H van Bussel, Bernard Spitz & Koen
Demyttenaere, 2009, thực hiện tại Hà Lan về Thang điểm gắn kết mẹ trước sinh
(MAAS) Trong nghiên cứu thuần tập, 403 bà mẹ tương lai đã hoàn thành một tập tài
liệu với bảng câu hỏi trong 3 tháng đầu thai kỳ Trong nghiên cứu này, giá trị trung
Trang 25thấy đối với thang đo Tổng MAAS, thang con Chất lượng và thang con Mối quan định hướng của người mẹ, sự chăm sóc của cha mẹ và sự gắn bó của người lớn Tâm
trạng của người mẹ liên quan yếu đến phẩm chất nhưng không liên quan đến cường
độ của tình cảm mẫu tử Nhìn chung, những phát hiện của nhóm nghiên cửu cho thấy
rằng phiên bản Hà Lan của Thang đo gắn kết trước khi sinh của bà mẹ là một thước
đo đáng tin cậy và hợp lệ cho mỗi quan hệ tình cảm ban đầu giữa một phụ nữ mang thai và đứa con chưa chào đời
Người ở tuổi vị thành niên, điểm số gắn bó của cha mẹ có tương quan vừa phải
với Bản thân về Gia đỉnh vả Xã hội từ Thang điểm Bản thân Tennessee và đối với
hầu hết các thang điểm phụ trên Thang điểm Môi trường Gia đỉnh (Armsden & quan vừa phải với điểm trên FACES, và với mức độ đổi phó tích cực của gia đình
Woods, & Ellison, 1987) Trong một mẫu bệnh nhân tâm thần từ 10 đến 16 tuổi, sự
gan bó kém an toàn của cha mẹ có liên quan đến chẩn đoán lâm sảng về bệnh trằm cảm, đánh giá của cha mẹ về các triệu chứng trằm cảm của thanh thiểu niên và mức Mitchell, 1991) Sự gắn bó với cha mẹ đã được phát hiện để phân biệt giữa những
& Lopez, 1986) Những trẻ vị thành niên trải qua sự gắn bó với chả và mẹ an toàn hơn cho biết ít xung đột giữa cha mẹ và ít cảm thấy cô đơn hơn (Armsden, 1986)
‘Theo DSM IV (S6 tay chan đoán vả thông kê các rồi loạn tâm thân xuất bản lần thử 4 - bản sửa đổi, rối loạn gắn bó phản ứng (RAD) mô tả tình trạng lâm sàng với người chăm sóc tru tiên và bị không thẻ tạo mối quan hệ gắn bó DSM IV phân
biệt hai đạng RAD, kiểu phụ bị ức chế và không bị cắm Các phiên bán DSM trước
đây thửa nhận một trong hai loại RAD là một phần của cùng một rồi loạn DSM 5 chế vẫn được coi là các triệu chứng của Rối loạn gắn bó phản ứng, nhưng các hảnh
Trang 26nhất của trẻ em Romania được thẻ chế hóa (Dự án Can thiệp Sớm Bucharest)
Nghiên cửu của Caroline S.Ionkman và công sự năm 2014 với 126 trẻ em được nhận nuôi các triệu chứng được đảnh giả bằng bảng phỏng vẫn rồi loạn gắn bó Các
hình thức chăm sóc gây bệnh đã được xác định dựa trên các phân tích hỗ sơ Múi liên
hệ giữa các triệu chứng của rối loạn gắn bó với các vẫn đẻ vẻ bên trong và bên ngoài
đã được kiểm tra Các kiểm nghiệm Omnibus cho thấy không có mỗi liên quan đáng
kể giữa triệu chứng thiếu gắn bó và kiểu chăm sóc gảy bệnh Các phân tích thăm đỏ
đã tiết lộ mối liên quan đơn lẻ giữa các tiền sử bị cắm đoán và tiền sử lạm dụng thể
chất Các triệu chứng bị ức chế có liên quan đến nhiều vấn đề về bên trong và bên ngoài hơn (d's <0,50)
Anna Kamza (2019) xác nhận thời ấu thơ là giai đoạn thay đổi đáng kẻ cả về
nhận thức và hoạt động xã hội của một đứa trẻ Tác giả xét đến chủ đẻ phát triển cơ
bản của sự gắn bó ở trẻ em như là sự cân bằng giữa tính tự chủ ngảy cảng tăng của
sự gắn bó có thể được coi là một chức năng của chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập
thé Với mẫu 132 trẻ ở độ tuổi 8 đến 12 tại Ba Lan (nam chiếm 51%), một số kết quả
đã lặp lại các nghiên cửu trước đây được thực hiện ở các nền văn hỏa phương Tây biết ít bận tâm hơn và có nhiều chiến lược đối phó với cha mẹ hơn so với trẻ nhỏ hơn này cho thấy một số thay đổi đáng kế trong mỗi quan hệ gắn bó liên quan đến giới tính của đứa trẻ Tuy nhiên, trải ngược với các nền văn hỏa phương Tây, không cỏ
em Ba Lan cũng cho biết tỷ lệ đối phó với mỗi bận tâm cao hơn so với trẻ tránh né với cả cha và mẹ cao hơn những đứa trẻ có cảm xúc tương đối cao hơn
Amarendra Gandhi và cộng sự (2019) tiến hành nghiên cứu về sự liên hệ giữa
sự gắn bó và hành vi tự gây thương tích cho bản thân không tự sắt (NSSD (Hanh vi
Trang 27phá hũy mô cơ thể của một người lặp đi lặp lại trực tiếp và có chủ ý mà không có ý
thu thập về sự gắn bó với mẹ, bạn bè và NSSI từ học sinh của một trường trung học
ở Bi (tại Thời điểm 1: Tuổi trung bình = 15.0 tuổi, SD = I,85 phạm vi = 11-19 tudi,
30,6% nữ) Kết quả của các phân tích chỉ ra mối liên quan một chiều giữa các biến
nghiên cứu Các phân tích cho thấy mối liên hệ giữa độ dốc của sự gắn bó với mẹ và
độ đốc của NSSI Các mô hình gắn bó ngang hàng không phù hợp với dữ liệu 'Trong các tài liệu hiện có, sự gắn bó được đo lường ở hai dang khác nhau, đỏ
là, từ góc độ phân loại (tức là các kiểu gắn kết rời rạc) và góc nhìn theo hành vi (tức
là, sự gắn bỏ được thẻ hiện bằng nhiều biểu hiện cụ thẻ) Bản kiểm kê về sự gắn bó
của cha mẹ và bạn bè (IPPA) là một trong những bảng câu hói được sử dụng thường của sự gắn bó Nghiên cửu hiện tại đã chỉ ra rằng sự tin tưởng và giao tiếp của cha
tính để bị tổn thương của một người đỗi với NSSI (Bureau JE và cộng sự, 2010)
nay được hỗ trợ bởi các mỗi quan hệ của Yurkowski và các đồng nghiệp (2015),
những người đã quan sát thấy rằng trong một mẫu lớn thanh thiểu niên, sự xa lánh
của cha mẹ cao hơn có liên quan đến tỷ lệ tham gia vào NSSI cao hơn Ngoài ra, các NSSI bằng cách tăng rồi loạn điều hòa cảm xúc
b Gắn bó với bạn bè
Sự gắn bồ với bạn bè có liên quan tích cực đến khái niệm bản thân xã hội được đánh giá bởi Thang đo khái nigm ban than Tennessee va sự thể hiện của gia đinh trên với bạn bẻ tương quan thấp với sự gắn bó của cha mẹ theo đánh giá của IPPA cũng viên trong gia dinh (Armsden & Greenberg, 1987; Armsden, 1986)
“Theo Wilkinson, R B mỗi quan hệ bạn bè, nhất là bạn bẻ đồng trang lứa phát
triển từ thời ấu thơ và phát triển ngày càng ồn định, quan trọng đối với cá nhân khi
Trang 28họ trưởng thành Trong khi bạn bè đối với trẻ mẫu giáo chủ yếu là một nguồn vui
em cho rằng bạn bè của chúng cung cấp sự hỗ trợ tỉnh thần và gần gũi (Bemdt &
Ladd, 1989), C6 thé thay sự gắn bó bè bạn của các giai đoạn lứa tuổi có những sự
thay đổi nhất định Mặc dù tình bạn thời thơ ấu rất quan trọng đối với sự phát triển
và điều chỉnh hành vi của trẻ, chúng lại thường có tẩm quan trọng không giống nhau
mà chủ yếu có thể tập trung ở tuổi thiếu niên và tuôi trưởng thành (Erwin, 1998) Các bạn bè của he ồn chính thân mật và bộc lộ, nhữ ân
thiết trở thành một nguồn hỗ trợ xã hội và tình cảm (Furman & Bierman, 1984; Hazan
& Zeifman, 1994; Wilkinson, 2004) Sự hình thành mồi quan hệ bạn thân ở tuổi vị
thành niên có thể được coi là một phân của sự mở rộng và phát triển của hệ thông gắn
bó mà đỉnh điểm là gắn bỏ đối với bạn bè đồng trang lứa và sự phát triển của các mỗi Doherty & Feeney, 2004)
Các nghiên cửu vẻ thực trạng mối quan hệ bạn bè có những kết luận đảng chủ
ý Nghiên cứu của Parker vả Seal (1996) đã chỉ ra rằng khoảng 159 đến 20% trẻ em
và thanh thiểu niên không có bạn hoặc không có bắt kỷ người bạn tương giao nảo,
Bowker và cộng sự (2006) cũng phát hiện tỷ lệ phẩn trăm tương tự số thanh thiếu Parker và Seal (1996), những đứa trẻ không có bạn thường có cảm giác cô đơn hơn quan trọng đến đời sống tâm lý cá nhân Tình trạng thiểu bạn bè kéo dài dự báo sẽ
lam gia tang khỏ khăn nội tâm và trở thành nạn nhân bị bắt nạt trong thời thơ ấu và
đầu tuổi vị thành niên (Ladd và Troop-Gordon, 2003; Bowker và cộng sự, 2006)
Bắt đầu từ giai đoạn sơ sinh, trẻ hình thành nhiều mối quan hệ khác nhau với một loạt các nhân vật trong môi trường xã hội của tré Từ quan điểm lý thuyết gắn
cho là được sắp xếp thứ bậc theo cách thức đáp ứng nhu cầu gắn bó (Bowlby, 1988)
Trang 29các mỗi quan hệ này không chỉ chịu ảnh hưởng của hệ thống gắn bó, mà còn bằng hệ
thống liên kết vả chăm sóc, tuổi đậy thì, hệ thống hài lòng (Furman & Wehner, 1997)
Tình bạn với một người bạn “tốt nhất" là một mỗi quan hệ rắt bẻn chặt và thân
thiết, thường phát triển trong thời kỷ thiểu niên, bao gồm một số bước quan trọng
trong cuộc sống của một cá nhân Nó thường được đặc trưng bởi mức độ quan tâm những lý do này, nó có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến hạnh phúc tâm lý của cá nhân và
đặc biệt là sự phát triển của sự đồng cảm (Lemerise & Arsenio, 2000) Mối quan hệ
bên chặt được phát triển với một người bạn tốt - một trong những nguồn hỗ trợ xã hội Galvina, 2007) và thanh thiếu niên (Baiocco, Di Pomponio, Nigito, & Laghi, 2011; quan hệ gia đỉnh (Baiocco, Laghi, Cacioppo, & Tafi, 2013; Cacioppo, Pace, &
cá nhân (Dunn, 2004)
Hơn nữa, mỗi quan hệ với bạn thân được đặc trưng bởi một loạt các tương tác thân mặt vả an toản, đông một vai trò quan trọng trong sự phát triển của các mối quan thiết với một người bạn “tốt nhất" có thể mang những đặc điểm của mối quan hệ gắn chuyển giao cho bạn bè của họ cơ sở an loàn và cơ sở của các chức năng an toản, việc nội bộ Ngoài ra, nếu cha mẹ mắt sự liên kết của họ trong cuộc sống tình cảm
thể hướng về những người bạn tốt nhất của họ, những người đại diện cho hình ảnh
sắn bó của họ và ngược lại (Furman, 1996; Miller & Hoicowitz, 2004) Ngoài ra, tình bạn tốt nhất dự đoán bản thả án vả thái độ son, 2010)
Trang 30Có một đặc điểm chung rằng một mỗi quan hệ thân thiết với một người bạn
“tốt nhất” ở tuổi vị thành niên có thẻ mang những đặc điểm của mỗi quan hệ gắn bó (Furman, 1996; Miller & Hoicowitz, 2004) Phần lớn thanh thiểu niên có ít nhất một
người bạn thân có thể được mô tả là bạn thân nhất của họ, mặc dù những người được
để cử là bạn thân có thể thay đổi trong những khoảng thời gian ngắn (Brown, 2004)
“Thông thường, những tình bạn này sẽ là cùng giới tính và các cô gái sẽ dễ thể hiện sự
thân thiết hơn con trai (Brown & Kiute, 2003) Hầu hết thanh thiểu nién cũng thuộc
è phái” Các bè phải này có quy mô khác nhau, số lượng tử ba đến mười với trung bình năm thảnh viên
(Ennett, Bauman, & Koch, 1994) Phần lớn các thành viên của một nhóm có độ tuổi
và giới tính tương tự nhau và trong các môi trường có nền văn hóa quan trọng đa
mạng lưới mở rộng các mồi quan hệ ngang hảng được gọi là "
đến hành vì của vị thành niên và chất lượng của cả hai loại quan hệ nảy cũng có tác
động điều chính hành vi đến vị thành niên (Wilkinson & Kraljevic, 2004)
Brown và Klute (2003) chỉ ra rằng phần lớn nghiên cứu về mỗi quan hệ ở tuôi
vị thành niên đã thất bại trong việc phân biệt giữa tình bạn thuần túy và tình bạn bè
phải Đây là một vẫn để quan trọng vì điểu nảy cũng thể hiện sự phân biệt giữa những
người bạn 'tốt nhấU và 'đồng nghiệp' ớ cấp độ thực nghiệm và sự phân biệt giữa mỗi
quan hệ gắn bó và môi quan hệ liên kết ở cắp độ lý thuyết Trong khi tình bạn tốt nhất
hệ đồng đẳng như các mối quan hệ gắn bó có thể bị đặt sai vị trí vì theo định nghĩa, 1988; Ainsworth, 1989) Diéu này không có nghĩa là các mỗi quan hệ đông ding không có ảnh hướng mà là chúng có ảnh hưởng thông qua các quá trình nhóm liên kết hơn lả thông qua khả năng giải quyết các chức năng gắn bó cho cá nhân Một vấn đề liên quan liên quan đến đánh giá thực nghiệm về sự gắn bó của
người bạn tốt nhất là làm thể nào đề phân biệt tình bạn với người bạn tốt nhất với các
mỗi quan hệ đồng đăng khác Mỗi quan hệ gắn bó nên được đặc trưng bởi một số như một cơ sở an toản, không liên quan đến các mối quan hệ ngang hàng khác Trên
Trang 31thực tế, chí có ba thước đo có thể được sử dụng đề đánh giá sự gắn bó với các đồng
đăng: Bản kiểm kê về sự gắn bó của cha mẹ và bạn bè (IPPA; Armsden & Greenberg,
1987), Kinh nghiệm trong mỗi quan hệ chặt chẽ - Đã sửa đổi (ECR-RS; Eraley,
Heffernan, Vicary, & Brumbaugh, 2011), và Thang đo Gắn kết Tình bạn Vị thành
niên (AEAS; Wilkinson, 2008)
Công cụ được sử dụng rộng rãi nhất để đo lường cụ thể các khía cạnh liên quan
đến sự gắn bó của các mỗi quan hệ đồng đăng ở tuổi vị thành niên là Bảng kiểm kế sắn bó bạn bè của IPPA có 25 mục đảnh giá ba thang đo phụ: sự tin tưởng, chất lượng mục trên thang điểm Likert 5 điểm từ "hầu như luôn luôn hoặc luôn đúng” đến "hẳu điểm gắn bó được sử dụng thay vì điểm số theo thang điểm riêng lẻ Phiên bản 25
mục gốc đã được sử dụng trong một số nghiên cửu kiểm tra các môi quan hệ bạn bè
và sức khỏe tâm lý (Có thẻ kế đến: Armsden & Greenberg, 1987; Paterson Field, & như phiên bản 12 mục đã được sử dụng trong một loạt các nghiên cửu (Meeus, mười lãm mục (Wilkinson & Kraljevic, 2004; Wilkinson & Parry, Năm 2004) Cả chứng minh là các yếu tố dự báo độc lập về kết quả gắn bó ở tudi vị thành niên Điểm trên IPPA cũng được phát hiện có liên quan đến một số biển tính cách
Ở những người ở tuổi vị thành niên, sự gắn bó của cha mẹ và bạn bẻ có tương quan tình cảm (trằm cám, lo lắng, oán giận / xa lánh, tức giận bí mật vả cô đơn) (Armsden cám được duy trì ngay cả khi mức độ thay đổi cuộc sống tiêu cực được kiểm soát
là bạn bẻ đồng trang lứa, có liên quan đến xu hướng tự báo cáo về việc sử dụng nhiều.
Trang 32chiến lược đối phó giải quyết vẫn đề hơn so với nỗ lực quản lý cảm xúc trong các tình huồng căng thẳng (Armsden 1986)
Điểm số trên IPPA không có liên quan đáng kẻ đến tình trạng kinh tế xã hội
trong nghiên cửu cỏ 400 người từ 18 đến 20 tuổi Trong cùng một nghiên cứu, các
mỗi tương quan tích cực không đáng kể nhưng có ÿ nghĩa thu được giữa sự gắn bó
và trình độ học vấn của cha mẹ (Armsden, 1986)
Một khỏ khăn đối với IPPA là nó được phát triên trước khi có nhiễu nghiên cứu làm rõ các khía cạnh chính của gắn bó Cùng thời gian với Armsden va Greenberg trình nghiên cứu quan trọng của họ về các mỗi quan hệ gắn bó lãng mạn ở những hình khác biệt cá nhân tương tự như các mô hình khác biệt được xác định ở trẻ sor sinh bởi Ainsworth và các déng nghigp (Ainsworth, Waters, & Wall, 1978) Bartholomew vi Horowitz (1991) đã mở rộng công trình này và nhất quán với nguyên
tác của Bowlby (1969/1997), lập luận rằng 'các loại' gắn bó được tạo ra từ hai chiều
nhiều bằng chứng để ủng hộ luận điểm rằng có ít nhất ba kiểu gắn bó (An toàn, Lo
lắng, Tránh né) hoặc bỗn kiểu (An toàn, mâu thuẫn, tránh né, hỗn loạn) với cấu trúc
chiéu cơ ban (Brennan, Clark & Shaver, 1998; Crowell, Fraley, & Shaver, 1999) Các tác giả xem xét lý thuyết về sự gắn bó thân mật, hay liên kết cặp, được C Hazan và P R Shaver xây dựng ban đầu vào năm 1987 và mô tả nỏ đã phát triển như thuyết cần được làm rõ thêm: (a) bản chất của các mỗi quan hệ gắn bó, (b) sự tiền hóa
và chức năng của sự gắn bó khi trưởng thành, (c) các mô hình về sự khác biệt giữa tích hợp của sự gắn bó, tình dục và sự chăm sóc Khi tháo luận về những vấn đề này,
họ đưa ra những hướng dẫn cho các nghiên cứu trong tương lai và phác thảo một lý thuyết đây đủ hơn về sự gắn bó (Fraley, R C & Shaver, P R 2000) Một mẫu cắt ngang gồm 490 HS tình nguyện từ các trường 'THCS và THPT ở
Úc với độ tuổi dao động từ 13 đến 19 tuổi bằng thang đo gắn kết tình bạn vị thành
Trang 33niên (AFAS) và đánh giá với IPPA Nghiên cứu đánh giá chất lượng của mỗi quan
hệ bạn bè của vị thành niên như một mỗi quan hệ gắn bó và khai thác các khía cạnh
cơ bản của quá trình gắn bó Nghiên cứu cũng ủng hộ quan điểm rằng có mỗi quan
hệ tích cực giữa gắn bó và chất lượng của các mối quan hệ cụ thể trên mạng xã hội
(Hazan & Shaver, 1987; Simpson 1990) và kết quả của nghiên cứu hiện tại phù hợp loại và chiểu của phong cách gắn bó chung, được đo bằng Bảng câu hỏi về các mỗi gid (vi dy Feeney & Hohaus, 2001) phân biệt giữa tính bảo mật của gắn bó và sức
mạnh của sự gắn bó và cho rằng các thước đo chất lượng mối quan hệ là chỉ số của
cải sau hơn là cái trước Tuy nhiên, có thể lập luận rằng AFAS đánh giá cá độ an toàn
của mỗi quan hệ gắn bó và độ bên của mỗi quan hệ vì nó được thiết kể để phản ánh
các khía cạnh gắn kết cơ bản trong điều kiện một mối quan hệ cụ thế Nếu lý thuyết
hệ, thì sự khác biệt cá nhân trong các mô hình làm việc, như được phản ánh trong phong cách gắn bó phải được phản ánh trong các mỗi quan hệ cụ thể của chúng ta Cùng công cụ IPPA được thích nghỉ với dân số ở Tây Ban Nha (Delgado và cộng sự, 2016), nhóm nghiên cứu của Isabel Laporta-Herrero (2020) đã đưa ra các trung bình là 15 với chứng rối loạn án uống Mục tiêu đầu tiên của nghiên cứu này là thiếu niên có và không có BD (Eating Disorders ~ chimg ri loạn ăn uống) hay không
hơn với cha mẹ và bạn bẻ đồng trang lửa, đồng thời xa lánh cha mẹ và bạn bè nhiều
hơn Kết quả phù hợp với nghiên cửu được thực hiện bởi Vega và cộng sự (2011) và
trình bày một số khác biệt liên quan đến nghiên cứu của Orzolek-Kronner (2002)
'Thanh thiểu niền bị ED không có sự xa lánh lớn hơn với các bà mẹ, so với các bạn
cùng trang lứa không bị ED Có thẻ việc thiểu các khía cạnh tích cực của mỗi quan
liên kết giữa cha mẹ và thanh thiếu niên mắc chứng ED
Trang 34Gắn bỏ cũng được nghiên cứu ở khía cạnh nhóm và các thành viên tham gia
nhóm Do sự khác biệt giữa sự gắn bó giữa nhóm và thành viên, các vấn đẻ mới đã
nảy sinh liên quan đến mối tương quan của mỗi nhóm Dựa trên nghiên cứu trước
đây, người ta đưa ra giá thuyết rằng sự gắn bó có thẻ liên quan đến phúc lợi của nhóm
(Utz & Sassenberg, 2002), đánh giá nhóm (Karasawa, 1991; Utz, 2003) vả thởi gian tham gia của thành vién (Utz, 2003)
Nhìn chung, các tác
gắn bó trong các mối quan hệ với cha mẹ và bạn bẻ (đồng đẳng) ở nhiều giai đoạn
cứu trên nhóm đối tượng là học sinh, nhất là độ tuổi học sinh THCS còn hạn chế Các
ia trên thé giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến sự
nghiên cứu chỉ ra những góc nhìn khác nhau vẻ lý thuyết gắn bó như khái niệm, quá anh bi , lắc láy những yếu tổ ah hướng đâu 3 gh i Gn Cd a Cùng với đó là những ảnh hưởng của gắn bó đến sự phát triển vả đời sống của mỗi các mỗi quan hệ, những rối loạn hay nguy cơ có thể có khi các mối quan hệ bị gián
có liên quan đến yếu tổ gắn bó cũng như vận dụng kết quả nghiên cứu trong những
tình huồng cụ thể Những để tài trên góp phần chứng minh bê dày lịch sự nghiên cứu
về sự gắn bó và có một nên tảng lý luận cho sự phát triển của các nghiên cửu vẻ sau 1.1.2 Tai Việt Nam
"Từ đầu những nam 2000, các tác giả tại Việt Nam cũng bắt đầu quan tâm hơn đến sự gắn kết trong các mối quan hệ
+ Gắn bó với cha mẹ
Nguyễn Khắc Viện đã để cập đến mối quan hệ gắn bó mẹ con và vải trò của người mẹ trong mỗi quan hệ này Theo ông, từ lúc mới sinh, trẻ em đã cỏ những phản cười, tìm theo, nhìn theo Tuy theo mite độ đỏi hỏi của em bé và cách người mẹ đáp
ứng, một mỗi gắn bó tốt hoặc xấu, đậm hay nhạt khác nhau sẽ được tạo ra Và từ
con, chỉ phối sự phát triển của trẻ mạnh mẽ về nhiều mặt, Dây không đơn thuần là sự
Trang 35đến cả tâm lý hai bên (Nguyễn Khắc Viện, 2002)
'Văn Thị Kim Cúc phân tích: *Khi nói tới chia ly tâm lý không thể không nói
tới sự giin bó Bởi vì nếu không có gắn bó thì chia ly tâm lý không có ÿ nghĩa” (Văn
Thi Kim Cúc, 2003) Theo nghiên cứu của tắc giả này, đối với những trẻ xa cách mẹ
từ 8-18 tháng, trải qua khoảng thời gian như bị bỏ rơi, mắt mát đối tượng yêu thương (người mẹ) là nguồn gốc cho cám giác lo hãi và buồn bã Nghiên cứu đã chỉ ra sự
chia ly hay cách biệt có khả năng gây ra tốn thương tâm lý nếu nó xảy ra vào các thời
điểm: 6 tháng tuổi và thởi điểm Ocdipe (3-5 tuổi) Bố mẹ ly hôn khi đứa con còn nhỏ
xã hội loài người "Chính tử trong cái nôi gia đình, ngay tử lúc lọt lòng mẹ, đứa trẻ
yêu thương, trìu mến hay độc ác, tàn nhẫn của những người trực tiếp chăm sóc, đặc
biệt là người mẹ" (Nguyễn Ánh Tuyết 2005)
Phạm Ngọc Thanh có những nghiên cứu về rối loạn gắn bó ớ trẻ Tác giả đã nêu ngắn gọn một ca điển hình của rỗi loạn gắn bó với những biểu hiện: nằm viện tiếp, khó ăn, chỉ ăn qua ông thông dạ đày, chỉ thích ở bệnh viện chử không muốn vẻ hay sự thiểu thôn tình cảm yêu thương tử trong mỗi quan hệ xã hội đẫu tiên của trẻ,
thẳng trong lúc mang thai, không quan tâm đến sự hiện diện của bào thai Hoặc, trẻ
sống trong sự bắt ổn (cha mẹ đi vắng, cha mẹ bận việc không có thì giờ chăm sóc
Trang 36con; đổ vỡ gia đình do cha mẹ không hợp; trẻ phải đi nhà tré sớm mà không có sự dạng phản ứng khi trẻ vắng cha mẹ không được đáp ứng tình cảm của cha mẹ: Một
là, trẻ thất vọng, tự thu mình lại trong thể giới riêng, không tiếp xúc với ai bỏ bú,
khóc đêm ăn kém, không giao tiếp bằng lời hay không lời Hai li, ngược lại, trẻ tỏ
hành vi, tình cảm với người lạ, có thể hôn bắt kì ai và thích được bồng bẻ Các hệ quả
trong quá trình phát triển sau này có thể gặp phải ở trẻ là rồi loạn hành vi và tính khí, Ngọc Thanh, 201 1)
Phan Thị Ngọc nghiên cứu về sự gắn bó mẹ con sớm và ảnh hưởng của có đến
quá trình phát triển tâm lý của trẻ 2-3 tuổi Đề tài thực hiện trên hai trường hợp điển mỗi quan hệ vô cùng cân thiết đối với sự phát triển tâm lý cũng như xây dựng hình giả cũng nhận thấy trẻ có các biểu hiện về chậm trong các giai đoạn phát triển tâm vận động, rồi loạn ứng xử, khỏ khăn trong hảo nhập xã hội ngôn ngữ kém, thoái lui khi có những đứt gãy trong sự gắn bó với người chăm sóc Phạm Hoài Tháo Ngân đưa ra những lưu ý trong việc chăm sóc trẻ dựa trên học thuyết gắn bó của John Bowlby Trong đó, tác giả hướng đến các đối tượng dang của học thuyết gắn bỏ để tìm cách cải thiện chất lượng mối quan hệ tương tác giữa giúp các bậc cha mẹ và các nhà giáo dục tự xây dựng, định hướng cho riêng mình
trong việc cải thiện và nâng cao chất lượng mỗi quan hệ với trẻ, tạo điều kiện cho sự
phát triển tốt nhất của trẻ (Phạm Hoài Thảo Ngân, 2014)
Nguyễn Ngọc Quang cũng đặt sự quan tâm đến gắn bó giữa mẹ và trẻ Cụ thể
tác giả xem xét môi liên hệ giữa sự quan tâm có điều kiện của mẹ với mức độ lo âu
và trằm cảm của con cái Với mẫu nghiên cứu 416 sinh viên tại Hà Nội và chưa từng
sống xa mẹ hơn một năm, để tài chỉ ra những quan tâm tiêu cực có điều kiện có thể
gây ra những hệ quả tiêu cực ngay làm tức đối với đời sống tâm lý và xã hội của con
Trang 37cái trong khi sự quan tâm tích cực có điều kiện lại đặt con cái vào tình trạng dễ bị tổn thương trong dài hạn (Nguyễn Ngọc Quang, 2019)
b Gắn bó với bạn bè
Về phía trực trạng các mỗi quan hệ bạn bè, nghiên cứu của Nguyễn Thị
Phương Hoa đã đẻ cập đến mức độ chấp nhận của bạn bẻ đối với mình của học sinh
'THCS Kết quả cho thấy có 4.4% học sinh cảm nhận không có bắt kỳ ai trong lớp yêu
quy minh, 5,7% nghĩ sẽ không có ai sẵn sảng giúp đỡ khi mình gặp khó khăn 1,9% sinh từng bị cả lớp bắt nạt, nói xấu, gây gỗ trêu chọc và phớt lờ (Nguyễn Thị Phương
Hoa, 2014) Có thể thấy trong lớp có 1 ~ 2 học sinh có vẫn để về mối quan hệ bạn bè
và chịu những hành vi tiêu cực ở nhiều hình thức khác nhau từ bạn bè chung lớp Tác giải Trần Văn Công nghiên cứu về môi quan hệ tình bạn ở HS THPT và
sự liên hệ với bắt nạt trực tuyén, Dé tai đã chỉ ra tam quan trọng của mỗi quan hệ bạn
bè ở độ tuổi thiểu niên Chất lượng tình bạn, bạn thân có ảnh hưởng đến suy nghĩ vả
hành vi của học sinh Khi các em có xung đột, tranh cãi với bạn thân hay bị chính bạn bắt nạt trực tuyển (Trần Văn Công, 2018) Một nghiên cứu khác của tác giả đã chỉ ra
51,6% học sinh THCS và THPT tại Hà Nội đã bị bắt nạt trực tuyến, bị bắt nạt truyền
thống hoặc bị cả hai hình thức và một trong những nguyên nhản đến từ khỏ khăn trong tình bạn của học sinh và một khía cạnh mà việc đứt gãy gắn bó có thể dẫn đến Nghiên cứu của Đỗ Thị Lệ Hẳng và Đỉnh Thị Hồng Vân thể hiện mỗi quan hệ bạn bè là yếu tế đứng thứ hai trong số các yếu tổ trường học gây ra trạng thái buồn quan hệ bạn bè khiến học sinh buổn bã gồm: “bị bạn bẻ trêu quá đảng, bị bạn hiểu
'Đỗ Thị Lệ Hằng và
Đinh Thị Hồng Vân, 2020) Việc khó khăn trong mối quan hệ bạn bè và những hệ
xích mích với bạn, bị bạn cà khia, nói xấu sau lưng, bắt nạt
lụy liên quan đã đẻ lại những ấn tượng tiêu cực và ở lại lâu trong tâm trí trẻ.
Trang 38Nghiên cứu về mỗi quan hệ bạn bè của Phan Thị Mai Hương và Nguyễn Minh Trang (2021) trên 288 học sinh THPT tại Hà Nội đã có những kết luận đáng chú ý
‘Theo dé, phần lớn học sinh đã trải qua vấn đề về bạn bè và chỉ 14% học xinh không
sắn bó bạn bẻ có tương quan thuận với cảm xúc âm tính, tương quan nghịch với cảm xúc dương tính và cảm nhận hạnh phúc ở trường học
Như vậy tại Việt Nam cũng có các nghiên cứu liên quan đến sự gắn bó, đa
phẩn tập trung vào gắn bó trong mỗi quan hệ với người mẹ Kết quả tương tự các
nghiên cứu trên thế giới về những cảm xúc khó chịu, hành vi tiêu cực hoặc các rồi cứu trong nước Một số tác giá có quan tâm đến nhóm đổi tượng học sinh (THCS và đến sự gắn bó với cha mẹ và bạn bè Tuy nhiên, chưa có các nghiên cứu mang tính học sinh THCS nói chung vả địa bàn TP.HCM nói riêng
1⁄2 Lý luận về sự gắn bó
Tir thé ky XII, thuật ngữ gắn bó xuất hiện đầu tiên với động từ "attcher” (thay
cho cổ estachier trong tiếng Pháp) có nghĩa là gắn bó liên kết J J Rousscau với trước đó (thế kỷ XVIII không được nhắc đến hoặc rất mơ hồ Theo ông người mẹ và tạo nên sự gần gũi này (Knibieler & Fouquet, 1980) Sau đó, sự gắn bó mẹ - con được quan tâm nhiều hơn từ các nhà khoa học trong những năm 50 của thế kỷ XX và dẫn được về gắn bỏ hơn củng những phản ứng liên quan đến sự chia tách (Bowlby, 1959; Ainsworth, 1962; Karen, 1994)
Mặc dù các tác giả đểu hướng gắn bó giữa các cá nhân là có những ảnh hưởng đến quá trình phát triển chung Nhưng chưa có sự thống nhất nào vẻ khái niệm "gắn
bỏ” Hiện nay, các định nghĩa đưa ra hướng tiếp cận rằng gắn bó là một quá trình
Trang 39tuyển tính, đưa vào những đặc trưng của cha mẹ hay đối tượng gắn bó và mang tính một số khái niệm khác như tỉnh yêu thương, mối quan hệ qua lại, mỗi quan hệ ràng bude (Bell, L., Goulet, C., St-Cyr Tribble, D., Paul, D & Polomeno V 1996) Bowlby (1969) với lý thuyết gắn bó đã khẳng địi
kết quyền năng hợp nhất hai người với nhau” Đồng quan điểm với ông, Ainswworth
'gắn bó như một mỗi liên
cho rằng quan hệ đầu tiên và chủ yếu của trẻ lúc mới sinh là với người chăm sóc trực trẻ Những thảng đầu tiên sau sinh trẻ không đợi mẹ chăm sỏc một cách thụ động mà chủ động trong mối quan hệ với mẹ các ứng xử thường thấy như khóc, la, cười, bám hiệu, cách diễn đạt của trẻ Tử đây, trẻ có thể sử dụng gắn bó như một trong mỗi quan hệ, Do đó, khi mẹ vắng mặt, trẻ có biểu hiện quyến luyến nhắt là khi phân biệt các kiểu gắn bó: người mẹ đáp ứng bình thường thoải mái hay người mẹ Khắc Viện, 1994)
Tác giá Boutges định nghĩa về gắn bó: "Gắn bỏ được xem là môi quan hệ ưu
tiền nỗi kết giữa người này với người khác mà sự lựa chọn nảy được dựa trên một sự các giai đoạn nhạy cảm” (Văn Thị Kim Cúc, 2003)
Với việc định nghĩa gắn bó là sự ràng buộc cám xúc sâu sắc và lầu dài, kết nỗi người này với người khác thông qua thời gian và không gian, Bowlby xác nhận rằng Tuyết, 2012) Theo ông, gắn bó có thể được đặt vào một hoàn cảnh tiến hóa, khi
cơ hội sống của trẻ Kết luận này cũng được chứng minh trong các công trình nghiên
cứu cla Lorenz (1935) va Harlow (1958) Nhu cau tim kiểm sự gần gũi, thân thiết
với người chăm nhất là vào các tình huồng căng thẳng, bị đe dọa được xem là
một nhu cầu phô biến ở tré (Prior & Glaser, 2006),
Trang 40hành vi trẻ sử dụng để giành sự chú ý với người chăm sóc như cười gọi khóc, la
hét 2009) Từ điển tâm lý h‹ MS Bhatia cũng nhận định gắn bó là mối quan hệ gần, sấu sắc về mặt cảm xúc giữa hai
người cùng sự tìm kiếm gần gũi và an toàn (M,S, Bhatia, 2009)
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “gắn bó” để mô tả một phương thức ứng xử
trong quan hệ mẹ - con, nhất là trong những năm đầu đời kế cả gắn kết thé chất va
tinh thắn Tác giả cũng để cập không nhất thiết là mẹ đẻ mà có thể là người chăm sóc
hằng ngày Gắn bó là có quan hệ hoặc làm cho có quan hệ tính thân, tình cảm và khó tách rời nhau (Hoàng Phê, 2010)
‘Theo Truong Thị Khánh Hà, từ năm đầu sau sinh, trẻ đã có xu hướng gắn bó với người đáp ứng nhu cẩu về mặt sinh lý cho trẻ một cách thường quyên Thông qua nhận thấy nhiều cách phản ứng trẻ chỉ dành riêng cho cha hoặc mẹ Cụ thẻ, tác giả đề
ta có được cảm giác thích thú và vui vẻ khi chúng ta giao tiếp với họ và cảm giác thoái mái khi ớ cạnh họ những khi mệt mỏ” (Trương Thị Khánh Hà, 2013) 'Vũ Dũng trình bày khải niệm về gắn bó: *'Gần bó là mỏi liên kết chặt chẽ giữa người này với người khác Gắn bó mô tả mỗi quan hệ về mặt thân thể, cũng như tâm dưỡng Trẻ sơ sinh tìm kiếm sự chăm sóc, gắn bó như một bước để thiết lập cảm giác người quan trọng đổi với chúng (như: bố, mẹ, những người trong gia đình vả những theo người đó Khi họ quay lại trẻ cảm thấy mừng hoặc hải lòng" (Vũ Dũng, 2008)
Bên cạnh những nghiên cứu về gắn bó trong mối quan hệ mẹ - con hay giữa
con và cha mẹ, các nhà nghiên cứu ngày càng mở trọng phạm vi nghiên cứu, nhất là
cắn bó giữa trẻ với bạn bè Theo Wilkinson, sự hình thành mối quan hệ bạn thân ở