TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA HTTT KINH TẾ & THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ---?????---BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG NGƯỜI NỔI TIẾNGKOL/K
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA HTTT KINH TẾ & THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
-🙞🙞🙞🙞🙞 -BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG NGƯỜI NỔI TIẾNG(KOL/KOC) ĐẾN SỰ ĐỔI MỚI THIẾT KẾ SẢN PHẨM THỜI TRANG CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP DỆT MAY
Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Đắc Thành
Mã lớp học phần: 232_SCRE0111_06
Nhóm: 11
Hà Nội, 2024
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Tên đề tài nghiên cứu 4
2 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu 4
3 Câu hỏi nghiên cứu 4
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu 5
I Tổng quan nghiên cứu 5
II Thiết kế nghiên cứu 7
1 Mô hình nghiên cứu 7
2 Giả thuyết nghiên cứu 8
III Phương pháp nghiên cứu 8
1 Tiếp cận nghiên cứu 8
2 Nghiên cứu định tính 9
3 Nghiên cứu định lượng 10
BẢNG HỎI 11
Tài liệu tham khảo 12
Trang 3STT Họ Và Tên Mã sinh
Nội dung chương I và chương II
8 Trương Thị Thùy Trang 22D140214 Nội dung chương II
THÀNH VIÊN NHÓM
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tên đề tài nghiên cứu
Đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng người nổi tiếng (KOL/KOC) đến sự đổi mới thiết kế sản phẩm thời trang của các doanh nghiệp dệt may
2 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Xác định và đánh giá thực trạng, mức độ ảnh hưởng của người nổi tiếng (KOL/KOC) đến sự đổi mới thiết kế sản phẩm thời trang của các doanh nghiệp dệt may
và làm rõ hơn tác động của những người nổi tiếng đến xu hướng thời trang
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mô tả, đánh giá ảnh hưởng của người nổi tiếng (KOL/KOC) trong lĩnh vực thời trang
- Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến khả năng ảnh hưởng của người nổi tiếng (KOL/KOC)
- Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của người nổi tiếng (KOL/KOC) đến sự đổi mới thiết kế sản phẩm thời trang
- Nghiên cứu khả năng tận dụng sức ảnh hưởng của người nổi tiếng (KOL/KOC) để phục
vụ đổi mới thiết kế sản phẩm thời trang của các doanh nghiệp dệt may
3 Câu hỏi nghiên cứu
Cần trả lời được những câu hỏi sau đây:
Câu hỏi NC tổng quát
Câu hỏi 1: Các yếu tố ảnh hưởng của người nổi tiếng đến sự đổi mới thiết kế sản phẩm thời trang của các doanh nghiệp dệt may bao gồm những yếu tố nào?
Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến sự đổi mới thiết kế sản phẩm thời trang của các doanh nghiệp dệt may như thế nào?
Câu hỏi nghiên cứu cụ thể
Câu hỏi 1: Tính cách của KOL/KOC có ảnh hưởng đến sự đổi mới thiết kế sản phẩm thời trang không?
Câu hỏi 2: Sở thích và đam mê của KOL/KOC có ảnh hưởng đến sự đổi mới thiết kế sản phẩm thời trang không?
Câu hỏi 3: Trình độ/Kiến thức chuyên môn của KOL/KOC có ảnh hưởng đến sự đổi mới thiết kế sản phẩm thời trang không?
Câu hỏi 4: Tầm ảnh hưởng của KOL/KOC có ảnh hưởng đến sự đổi mới thiết kế sản phẩm thời trang không?
Trang 5Câu hỏi 5: Yêu cầu của KOC/KOL có ảnh hưởng đến sự đổi mới thiết kế sản phẩm thời trang không?
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng người nổi tiếng (KOL/KOC) đến sự đổi mới thiết kế sản phẩm thời trang
- Khách thể nghiên cứu: Các doanh nghiệp dệt may
5 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Tháng 3 năm 2024
- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam
I Tổng quan nghiên cứu
Ngành dệt may hiện là một ngành xuất khẩu chủ lực, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu cao của Việt Nam Gần đây, ngành dệt may đang có nhiều thay đổi và trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm của kinh tế Việt Nam Hiện tại, các doanh nghiệp trong ngành đang đối mặt nhiều rủi ro và sự không chắc chắn từ môi trường kinh doanh liên tục thay đổi, đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19 kéo dài Đồng thời, doanh nghiệp may đang đứng trước nhiều thách thức do tác động của tình hình kinh tế thế giới và trong nước, trong đó vấn đề lạm phát ở các thị trường chủ lực như Hoa
Kỳ, châu Âu khiến sức mua giảm, đơn hàng sụt giảm, lãi suất tăng cao và chênh lệch tỷ giá (Hiệp hội Dệt may Việt Nam, 2023) Về các giải pháp để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần nỗ lực tiết giảm chi phí, tăng năng suất, tìm ra phương thức sản xuất hợp lý nhất để có thể tiếp cận được thị trường, khách hàng, làm những đơn hàng khó và nhỏ mà các quốc gia xuất khẩu dệt may khác không làm được Nhận định về các giải pháp để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần nỗ lực tiết giảm chi phí, tăng năng suất, tìm ra phương thức sản xuất hợp lý nhất để có thể tiếp cận được thị trường, khách hàng, làm những đơn hàng khó và nhỏ mà các quốc gia xuất khẩu dệt may khác không làm được (Lê Tiến Trường, 2023)
Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh, các doanh nghiệp (DN) muốn tồn tại và phát triển cần phải tạo ra những khác biệt để nâng cao lợi thế cạnh tranh (Barney, 1991) Đổi mới là một trong những yếu tố quan trọng giúp DN gia tăng lợi nhuận, qua đó nâng cao được khả năng cạnh tranh trên thị trường (Schumpeter, 1934)
Bên cạnh đó, đổi mới không chỉ giúp DN tạo ra lợi nhuận trong dài hạn mà còn giúp các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản hay các quốc gia Tây Âu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế Điều này được thể hiện thông qua các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) trong các DN (Ahmed và Shepherd, 2010) Các DN của Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Hàn Quốc… sẵn sàng đầu tư một khoản chi phí khổng lồ để sáng tạo ra những sản phẩm mới, có tính năng vượt trội nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng cũng như gia tăng lợi thế trong cuộc đua giành thị phần so với các đối thủ cạnh tranh Đặc biệt, những DN đổi
Trang 6mới nhiều hơn sẽ có khả năng cạnh tranh tốt hơn so với các DN không đổi mới (Schumpeter, 1934) Do đó, có thể thấy, đổi mới đóng một vai trò then chốt trong các DN ngày nay, đặc biệt là trong kỷ nguyên của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0
Tuy nhiên, đổi mới hiện nay có rất nhiều định nghĩa cũng như cách đo lường (Lu
và cộng sự, 2015) Khái niệm của đổi mới có thể xuất phát từ việc ứng dụng và triển khai tri thức trong DN (Gloet và Terziovski, 2004) Một số học giả còn cho rằng, đổi mới xuất phát từ việc hình thành những ý tưởng mới cũng như sự vận dụng sáng tạo của người lao động trong công việc thực tế tại DN (Lu và cộng sự, 2015) Hay thậm chí, Afuah (2003) còn cho rằng đổi mới liên quan tới việc “phát minh” và “thương mại hóa” những sản phẩm, dịch vụ mới của DN Bên cạnh đó, một số học giả trên thế giới cho rằng, đổi mới
có thể xuất phát từ việc thay đổi toàn diện sản phẩm, dịch vụ hiện có Một số học giả khác lại cho rằng, đổi mới đôi khi chỉ là việc cải tiến mẫu mã hay thay đổi nguyên vật liệu của sản phẩm, dịch vụ hiện có của DN (Beugelsdijk, 2008)
Đổi mới có rất nhiều khái niệm (Gloet và Terziovski, 2004) Đổi mới hay đôi khi còn gọi là sáng tạo Sáng tạo là kết quả vật chất hoặc tinh thần của hoạt động nhận thức hoặc hành vi thông qua việc các cá nhân sử dụng tất cả các nguồn lực và điều kiện để tạo
ra các sản phẩm, dịch vụ, công nghệ mới, có ý nghĩa và giá trị theo một mục đích hoặc một nhiệm vụ nhất định Theo Lu và cộng sự, 2015, tính mới là tính năng chính và quan trọng nhất của sự đổi mới Tính mới lạ đảm bảo rằng không có sự tương đồng trong lịch
sử cho cả cá nhân và tổ chức Schumpeter (1934) định nghĩa các hoạt động này là một hình thức đổi mới Có thể thấy, các hình thức đổi mới của tổ chức, ý tưởng và phương pháp quản lý mới đều thuộc về sự đổi mới
Bên cạnh đó, đổi mới còn có thể được định nghĩa như một quy trình sáng tạo mà thông qua đó những sản phẩm, dịch vụ hay quy trình sản xuất được phát triển cho một đơn vị kinh doanh (Tushman và Nadler, 1986) Đổi mới thường liên quan đến những tiến
bộ triệt để trong sản phẩm hay trong các cấu trúc sản xuất Tuy nhiên, phần lớn những sự đổi mới thành công đều dựa trên hiệu ứng tích lũy hoặc kết hợp sáng tạo những kỹ thuật,
ý tưởng và phương pháp đang có (Arias – Aranda và cộng sự, 2001)
Có thể nói, đổi mới sản phẩm: Là việc giới thiệu sản phẩm hay dịch vụ được cải tiến quan trọng liên quan tới đặc điểm hoặc mục đích sử dụng Điều này bao gồm những cải tiến quan trọng về đặc trưng kỹ thuật, thành phần, vật liệu, phần mềm tích hợp, thân thiện với người dùng hay những đặc điểm khác (Atalay và cộng sự, 2013)
Với sự phổ biến của các phương tiện truyền thông xã hội thúc đẩy sự tương tác giữa mọi người, ngày càng nhiều công ty dựa vào Người dẫn dắt dư luận chủ chốt (KOL)/ người tiêu dùng chủ chốt (KOC) để tương tác với người tiêu dùng tiềm năng trên các phương tiện truyền thông xã hội khác nhau nhằm xây dựng hình ảnh thương hiệu và đổi mới thiết kế sản phẩm
KOL (viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Key opinion leader", tức "người dẫn dắt dư luận chủ chốt") hay còn gọi là "người có sức ảnh hưởng", là một cá nhân hay tổ chức có kiến thức sản phẩm chuyên môn và có tầm ảnh hưởng trong lĩnh vực hay ngành nghề của họ
Trang 7KOC (viết tắt của cụm từ Key Opinion Consumer, có nghĩa là người tiêu dùng chủ chốt) là những người có sức ảnh hưởng lớn trong thị trường Nhiệm vụ chính của họ là thử trực tiếp các sản phẩm/dịch vụ sau đó đưa ra đánh giá, nhận xét mang tính chuyên môn và khách quan nhất
Lý thuyết về sự thu hút được phát triển từ nghiên cứu tâm lý xã hội (McCracken, 1989) cho rằng hiệu quả của một thông điệp phụ thuộc vào tính quen thuộc, sự yêu thích,
độ tương đồng, và sự hấp dẫn về thể lý của nguồn truyền thông điệp đối với những người nhận thông điệp Tính thu hút đề cập đến nhận thức của người tiêu dùng về sự hấp dẫn của người đại diện thương hiệu (Ohanian, 1990)
Các tác giả trong nước cũng đã có các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của đại sứ thương hiệu là các người dẫn dắt dư luận trong các sản phẩm nói chung, đối với ngành du lịch (Hoàng Thị Thu Hương và cộng sự, 2021), ngành F&B (Nguyễn Hải Ninh và cộng
sự, 2019), ngành hàng tiêu dùng nhanh (Phạm Xuân Kiên và Quách Nữ Phúc Vương, 2020) Chủ đề này cũng nhận được nhiều sự chú ý của giới học thuật ở nước ngoài Điển hình các nghiên cứu tại nước ngoài có thể kể đến như nghiên cứu về hiệu quả của KOL đến hình ảnh thương hiệu ngành hàng chăm sóc da của Liping Xiong và cộng sự (2021), tìm hiểu mối quan hệ giữa hiệu quả chứng thực của người ảnh hưởng và hiệu quả quảng cáo (Amos, 2008) Các nghiên cứu hầu hết tập trung vào việc nghiên cứu nhận thức của người tiêu dùng và các nhân tố tác động đến thái độ của người tiêu dùng đối với đại sứ thương hiệu là người dẫn dắt dư luận
Do đó mà những người dẫn dắt dư luận trên phương tiện truyền thông xã hội có tác động tích cực và đáng kể đến sản phẩm các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dệt may nói riêng Bên cạnh phong cách sống, phong cách thời trang của họ cũng tác động mạnh đến quan điểm người tiêu dùng trong lĩnh vực may mặc hay nói cách khác họ là những người tạo ra xu hướng - “mốt” Trong trong nghiên cứu “Mốt thời trang trong sản xuất kinh doanh hàng may mặc ở Việt Nam” của bà Trần Thủy Bình, Luận án Phó tiến sĩ Kinh tế, Hà Nội đã làm rõ tính tất yếu của hiện tượng “mốt” và đề cập một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn của phạm trù kinh tế mốt thời trang Xuất phát từ nhu cầu mặc để nghiên cứu đặc điểm sản phẩm may mặc và hiện tượng mốt thời trang, nhằm làm sáng tỏ bản chất của hiện tượng mốt thời trang, mối quan hệ của mốt thời trang với các sản phẩm may mặc Nghiên cứu những tác động của mốt thời trang đến sản xuất kinh doanh hàng may mặc, rút ra những kết luận có tính chiến lược cho việc sản xuất kinh doanh hàng may mặc, đề xuất cách tiếp thị, tìm kiếm sản phẩm mới, đổi mới thiết kế sản phẩm cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thời trang
II Thiết kế nghiên cứu
1 Mô hình nghiên cứu
Trang 8Mô hình nghiên cứu “Sự ảnh hưởng của người nổi tiếng (KOL/KOC) đến sự đổi mới thiết
kế sản phẩm thời trang của các doanh nghiệp dệt may
2 Giả thuyết nghiên cứu
- Tính cách của KOL/KOC có ảnh hưởng cùng chiều đến đổi mới thiết kế sản phẩm của doanh nghiệp
- Sở thích và đam mê của KOL/KOC có tác động cùng chiều đến việc đổi mới thiết
kế sản phẩm của doanh nghiệp
- Trình độ/Kiến thức chuyên môn của KOL/KOC có ảnh hưởng cùng chiều đối với đổi mới thiết kế của doanh nghiệp
- Tầm ảnh hưởng của KOL/KOC có ảnh hưởng cùng chiều đối với đổi mới thiết kế của doanh nghiệp
- Yêu cầu của KOL/KOC có ảnh hưởng cùng chiều đối với đổi mới thiết kế của doanh nghiệp
III Phương pháp nghiên cứu
1 Tiếp cận nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp Phương pháp này kết hợp cả hai phương pháp đó là phương pháp nghiên cứu định
Trang 9tính và phương pháp nghiên cứu định lượng Trong quá trình nghiên cứu, để hiểu rõ bản chất sự vật, nghiên cứu cơ sở lý thuyết, xây dựng mô hình,… Nhóm nghiên cứu cần dùng phương pháp nghiên cứu định tính với các công cụ tổng hợp, phân tích, so sánh đối chiếu,
… Đồng thời, để có kết quả tin cậy cần thiết nhóm cần dựa trên một quan sát với cỡ mẫu
đủ lớn Vì vậy phương pháp định lượng là cần thiết Khi so sánh nghiên cứu định lượng
và định tính, Wilson (1982) lập luận rằng, việc sử dụng cân bằng cả hai nên được sử dụng
trong nghiên cứu hiện đại Thực hiện sự kết hợp này là sử dụng thế mạnh của cả hai nghiên cứu định tính và định lượng, sử dụng nhiều hình thức thu thập dữ liệu và đưa ra báo các có kết quả mang tính khách quan và thực dụng, và từ sự kết hợp này cũng cung cấp sự hiểu biết tốt hơn mở rộng hơn về sự ảnh hưởng người nổi tiếng (KOL/KOC) đến
sự đổi mới thiết kế sản phẩm thời trang của các doanh nghiệp dệt may
Phương pháp nghiên cứu định tính: Theo Marshall và Rossman (1998): Mục đích
của nghiên cứu định tính nhằm tìm kiếm sự hiểu biết sâu sắc về hành vi của con người và
lý do chi phối hành vi như vậy Nghiên cứu định tính điều tra lý do tại sao và làm như thế nào của việc ra quyết định, không chỉ là những gì, mà còn ở đâu, khi nào Nghiên cứu định tính được áp dụng giai đoạn thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu Ở giai đoạn thu thập dữ liệu, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu định tính gồm nghiên cứu lý thuyết nền, phỏng vấn nhóm, nghiên cứu tình huống, quan sát,… Từ đó, nhóm thiết lập bảng câu hỏi sơ bộ, sau đó thảo luận để điều chỉnh nội dung, sửa đổi và bổ sung những câu hỏi chưa đầy đủ Sau khi đã hiệu chỉnh lại thang đo bằng thảo luận nhóm, bảng câu hỏi sẽ được dùng để phỏng vấn thử rồi tiếp tục điều chỉnh để hoàn chỉnh bảng câu hỏi khảo sát
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Theo Daniel Muijs, (2004): Nghiên cứu định
lượng là phương pháp giải thích hiện tượng thông qua phân tích thống kê với dữ liệu định lượng thu thập được Các yếu tố đã được tổng hợp được nhóm nghiên cứu rộng hơn trong khảo sát định lượng này Nhóm sẽ đưa ra thống kê nhằm phản ánh số lượng, đo lường và diễn giải mối quan hệ giữa các nhân tố thông qua các quy trình: Xác định câu hỏi nghiên cứu, tạo bảng hỏi, thu thập và xử lý dữ liệu Nhóm nghiên cứu sẽ không tham gia vào khảo sát nên dữ liệu sẽ không bị lệch theo hướng chủ quan
2 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu tài liệu, thu thập tài liệu, thông tin tại các website có độ tin cậy cao, sách báo và các dữ liệu nghiên cứu của các đề tài nghiên cứu trước đây có liên quan đến
đề tài đang thực hiện để khám phá vấn đề, đạt được những thông tin có chất lượng
Xác định câu hỏi nghiên cứu, tiến hành quan sát, phỏng vấn đối tượng khảo sát Nhóm nghiên cứu chọn đối tượng khảo sát là nhân viên của các doanh nghiệp Tiến hành gửi bảng khảo sát đến công nhân viên các doanh nghiệp và thông qua họ gửi bảng khảo sát đến các đối tượng tiếp theo
Phương pháp xử lý: Sử dụng phương pháp xử lý tại bàn với dữ liệu thu được từ các cuộc phỏng vấn, thực hiện tổng hợp và mã hoá dữ liệu theo các nhóm thông tin
Mã hoá dữ liệu
Trang 10Mục đích: Nhận dạng các dữ liệu, mô tả dữ liệu và tập hợp các dữ liệu nhằm phục vụ xác định mối quan hệ giữa các dữ liệu sau này
Tạo nhóm thông tin
Mục đích: Nhằm phân tích mối quan hệ giữa các nhóm thông tin
Kết nối dữ liệu
Mục đích: Nhằm so sánh được kết quả quan sát với kết quả được mong đợi cũng như giải thích được khoảng cách nếu có giữa hai loại kết quả này
3 Nghiên cứu định lượng
Sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi tự quản lý được xây dựng bằng phần mềm Google Form và gửi qua Email, Facebook, Zalo của các mẫu khảo sát là 15000 công nhân viên các doanh nghiệp trong lĩnh vực may mặc Dữ liệu sau khi thu thập được làm sạch và đánh giá phân phối chuẩn sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS để đánh giá chất lượng thang đo, sự phù hợp của mô hình và kiểm định giả thiết mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu
* Quy trình nghiên cứu định lượng
- Tổng quan mẫu
Tổng thể nghiên cứu: khoảng 15000 nhân viên doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh
- Phương pháp chọn mẫu và kích thước mẫu
Phương pháp chọn mẫu:
Do không thể điều tra tổng thể với quy mô lớn nên nhóm quyết định điều tra chọn mẫu Nhóm lựa chọn phương pháp chọn mẫu phi xác suất, thuận tiện
Kích thước mẫu:
T D Nguyen (2011) cho rằng để thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA, kích thước mẫu sẽ được tính bởi công thức: n = k*số biến quan sát (trong đó, k là tỷ lệ quan sát/biến quan sát, k thường là 5/1)
Cũng theo T D Nguyen (2011), để thực hiện phân tích hồi quy bội, kích thước mẫu thường được tính theo công thức: n >= 50 + 8k (trong đó, k là số biến độc lập của mô hình)
- Thu thập dữ liệu
Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát theo hình thức google form
- Xử lý dữ liệu:
Sử dụng phần mềm SPSS với công cụ phân tích thống kê mô tả
Phân tích độ tin cậy Cronbach’s alpha
Phân tích nhân tố khám phá EFA