Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của sự thay đổi về khí hậu toàn cầu và sự phát triển kinh tế xã hội, thiên tai nói chung, các thiên tai liên quan đến dòng chảy lũ lụt, hạn hán nói
Trang 1VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Chủ trì nhiệm vụ: TS Vũ Thị Thu Lan
Tham gia : TS Nguyễn Lập Dân
ThS Hoàng Thanh Sơn
CN Nguyễn Minh Thành
CN Nguyễn Thanh Hoàng
Hà Nội - 2011
Trang 2DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Đặc trưng hình thái các lưu vực thuộc tỉnh Quảng Nam 6
Bảng 2: Nguồn nước các sông thuộc Quảng Nam 10
Bảng 3: Đặc trưng dòng chảy mùa lũ trên sông tỉnh Quảng Nam 11
Bảng 4: Lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất ứng với tần suất trên các sông tỉnh Quảng Nam 12
Bảng 5: Các đặc trưng lũ tiểu mãn trên lưu vực sông Thu Bồn 12
Bảng 6: Đặc trưng dòng chảy kiệt trên sông tỉnh Quảng Nam 13
Bảng 7: Dòng chảy nhỏ nhất ứng với tần suất trên các sông tỉnh Quảng Nam 13
Bảng 8: Dòng chảy kiệt nhỏ nhất trên các sông tỉnh Quảng Nam 14
Bảng 9: Mức độ ảnh hưởng của thiên tai 15
Bảng 10: Diện tích ngập theo các năm lũ lớn 17
Bảng 11: Thời gian không mưa liên tục dài nhất ở các trạm quan trắc 20
Bảng 12: Chỉ số khô hạn trung bình năm khu vực Quảng Nam 21
Bảng 13: Chỉ số khô hạn trung bình theo các tháng khu vực Quảng Nam 22
Bảng 14: Dòng chảy mùa kiệt trung bình tháng trên sông tỉnh Quảng Nam 23
Bảng 15: Một số đặc trưng hạn ở khu vực Quảng Nam 23
Bảng 16: Thiệt hại do lũ gây ra từ 1997 - 2009 24
Bảng 17: Mức độ hạn hán tác động đến vụ đông xuân và vụ hè thu 26
Bảng 18: Thiệt hại do hạn hán qua các năm 2001 – 2005 27
Bảng 19: Xu hướng thiên tai trong 5 năm gần đây ở Quảng Nam 29
Bảng 20: Mức thay đổi lượng mưa (%) từng thập kỷ so với thời kỳ 1990 – 2007 theo kịch bản biến đổi khí hậu 30
Bảng 21: Diện tích ngập lụt ở tỉnh Quảng Nam ứng với các kịch bản nước biển dâng 31
Bảng 22: Diện tích ngập lụt hạ du ứng với các kịch bản biến đổi khí hậu 33
Bảng 23: Một số đặc trưng về tốc độ xu thế của hạn 35
Bảng 24: Mức tăng nhiệt độ trung bình (oC) so với năm 1990 Quảng Nam ứng với các kịch bản phát thải 26
Bảng 25: Mức tăng độ dài mùa hạn do biến đổi khí hậu 36
Bảng 26: Đánh giá dung tích các hồ chứa thủy lợi lớn ở Quảng Nam 38
Bảng 27: Đánh giá dung tích phòng lũ của một số hồ chứa thủy điện 39
Bảng 28: Danh mục các công trình đã xây dựng (vùng thượng lưu sông Thu Bồn) 42
Bảng 29: Danh mục các công trình đã xây dựng (vùng hạ Vu Gia – Bắc Thu Bồn) 43
Bảng 30: Danh mục các công trình đã xây dựng vùng hạ lưu sông Thu Bồn và sông Ly ly 43 Bảng 31: Mức bảo đảm cấp nước cho các khu dùng nước hiện trạng 45
Trang 3Bảng 32a: Danh sách các trạm khí tượng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và lân cận 48
Bảng 32b: Các trạm thuỷ văn phục vụ cảnh báo thiên tai lũ lụt và hạn hán 50
Bảng 33: Các chỉ tiêu chống lũ cho lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 58
Bảng 34: Biến động diện tích ngập với tần suất 1% khi có liên hồ điều tiết 59
Bảng 35: Hiện trạng sử dụng đất của hạ lưu sông Vu Gia – Thu Bồn 59
Bảng 36: Tổng nhu cầu nước phân cho các ngành đến năm 2020 61
Bảng 37: Các công trình thuỷ lợi dự kiến xây dựng 62
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Bản đồ hình thể tự nhiên tỉnh Quảng Nam 5
Hình 2: Bản đồ ngập lụt tỉnh Quảng Nam (ứng với lũ 1% tháng 11/2007) 18
Hình 3: Bản đồ chỉ số hạn tỉnh Quảng Nam 21
Hình 4: Bản đồ dự báo ngập lụt năm 2020 31
Hình 5: Bản đồ dự báo ngập lụt năm 2050 32
Hình 6: Bản đồ dự báo ngập lụt năm 20100 32
Hình 7: Sơ đồ các công trình thủy lợi, thủy điện tỉnh Quảng Nam 38
Hình 8: Sơ đồ phân vùng sử dụng nước 41
Hình 9: Sơ đồ tổ chức của Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn 47
Hình 10: Vị trí các trạm khí tượng thủy văn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 49
Hình 11: Sơ đồ các giải pháp giảm thiểu và thích nghi với thiên tai lũ lụt, hạn hán 57
Hình 12: Cấu trúc hệ thống hỗ trợ ra quyết định quản lý rủi ro thiên tai 67
Hình 13: Sơ đồ Ban Quản lý rủi ro thiên tai tỉnh Quảng Nam 68
Trang 5MỞ ĐẦU
Tỉnh Quảng Nam có diện tích 10.406km2 nằm ở khu vực ven biển Trung Trung bộ Việt Nam thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, là nơi có 2 di sản văn hóa (khu Di tích Mỹ Sơn, phố cổ Hội An) và khu dự trữ sinh quyển Cù lao Chàm được thế giới công nhận Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, tuy nhiên đây cũng là nơi chịu tác động mạnh mẽ của các thiên tai, theo thống kê chỉ trừ động đất, sóng thần còn lại có đầy đủ các loại hình thiên tai, vì vậy tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn còn rất chậm so với những khu vực xung quanh Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của sự thay đổi về khí hậu toàn cầu và sự phát triển kinh tế xã hội, thiên tai nói chung, các thiên tai liên quan đến dòng chảy (lũ lụt, hạn hán) nói riêng trên địa bàn tỉnh ngày càng gia tăng một cách bất thường và gây thiệt hại ngày càng lớn hơn Trong các dạng thiên tai, thiên tai lũ lụt
và hạn hán được xếp hàng đầu về phạm vi ảnh hưởng, mức độ nghiêm trọng và số lần xuất hiện và cũng là loại thiên tai gây thiệt hại lớn nhất về kinh tế, môi trường và xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Theo thống kê 5 năm gần đây từ 2003 đến năm 2008 thiên tai đã gây thiệt hại trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ước tính trung bình gần bằng 6,26% tổng GDP và những năm mưa lũ lớn, thiệt hại có thể lên đến 18 - 20% GDP và thiệt hại về người là vô cùng to lớn Riêng năm 2009, tổng GDP của Quảng Nam trong 6 tháng đầu năm là là 4.140
tỷ đồng, thế nhưng cơn bão lũ cuối tháng 9 đã “nuốt” hết 3.500 tỷ đồng Điều này có thể lý giải là khi có thiên tai lớn xảy ra trong lúc nền kinh tế đang phát triển mạnh hơn thời gian trước mà chúng ta không có một giải pháp quản lý rủi ro thiên tai hiệu quả thì thiệt hại về kinh tế sẽ lớn hơn, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Thiệt hại do các thiên tai liên quan đến dòng chảy trên lưu vực sông lũ trên sông Vu Gia - Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam có đặc tính riêng Trong mùa lũ, vấn đề chống ngập lụt không cấp thiết bằng chống mất mát tài sản, chống hư hỏng công trình do nước chảy quá mạnh Số người chết do ở Quảng Nam chủ yếu do nước chảy cuốn trôi người và động vật,
vì vậy cần tổ chức các tuyến và cụm dân cư tránh ở các nơi tốc độ nước chảy lớn, tránh bị bất ngờ khi lũ tràn về Vào mùa kiệt, nguồn nước sông Vu Gia - Thu Bồn phong phú, tuy nhiên sự phân chia nguồn nước vào các phân lưu thay đổi đã tạo ra thiếu nguồn nước tại một số khu vực phát triển kinh tế mạnh, đặc biệt khu vực Nam Đà Nẵng, Bắc Quảng Nam
Vấn đề thiên tai, cụ thể là thiên tai lũ lụt và hạn hán ở Quảng Nam đã và đang hạn chế
sự phát triển nền kinh tế của tỉnh đồng thời tàn phá môi trường, môi sinh tác động mạnh đến đời sống xã hội của tỉnh Đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, khi lượng mưa được
dự báo tăng nhưng tập trung chủ yếu là mùa mưa lũ và giảm đi vào mùa kiệt là nguyên nhân gia tăng các thiên tai liên quan đến dòng chảy: lũ lụt, hạn hán
Nhận thức được vấn đề này, trong chiến lược phòng tránh thiên tai của tỉnh Quảng
Nam đến năm 2020 đã nêu rõ phương châm trong công tác phòng chống thiên tai là: “Chủ
động phòng, tránh, thích nghi để phát triển” Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất các giải
Trang 6pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực tài nguyên nước, đặc biệt những giải
pháp thích ứng với dòng chảy cực đoan (lũ, kiệt) do phân mùa dòng chảy là hết sức cấp
thiết
Với mục tiêu Đề xuất các giải pháp giảm thiểu và thích nghi với các thiên tai lũ
lụt và hạn hán tỉnh Quảng Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu, trên cơ sở báo cáo
chuyên đề 5 “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các thiên tai liên quan đến
dòng chảy (lũ lụt, khô hạn) tỉnh Quảng Nam, Việt Nam”, báo cáo đánh giá hiện trạng
quản lý rủi ro thiên tai lũ lụt và hạn hán, xác định các năng lực thích ứng với biến đổi khí
hậu như năng lực quản lý, nghiên cứu, dự báo, các hệ thống vật chất nhằm phòng tránh và
giảm nhẹ thiệt hại do lũ lụt, hạn hán gây ra và năng lực tuyên truyền, giáo dục, vận động
cùng ý thức phòng tránh thiên tai của toàn xã hội Để thực hiện được mục tiêu nêu trên, báo
cáo đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
+ Phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp: Do điều kiện có hạn nên nhóm thực
hiện đề tài đã làm tham vấn ý kiến các cán bộ quản lý của Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão
tỉnh Quảng Nam, Ủy ban nhân dân huyện Đại Lộc, người dân của các huyện Đại Lộc, Duy
Xuyên, Điện Bàn và TP Hội An về năng lực phòng chống và giảm nhẹ thiên tai lũ lụt, hạn
hán
+ Phương pháp kế thừa, ứng dụng có chọn lọc tối đa các kết quả nghiên cứu khoa
học về các giải pháp giảm nhẹ thiệt hại của các dạng thiên tai (lũ lụt, hạn hán) của các nước
tiên tiến và các tổ chức quốc tế, kế thừa tối đa các kết quả nghiên cứu ở trong nước có liên
quan đến đề tài để đánh giá đồng bộ thiên tai lũ lụt và hạn hán trên lưu vực
+ Phương pháp mô hình toán: Sử dụng bộ mô hình MIKE nhằm (1) đánh giá lũ và
ngập lụt các các trận lũ với tần suất xác định; (2) xác định nhu cầu sử dụng nước cùng khả
năng đáp ứng của các nguồn nước trong mùa kiệt Trên cơ sở bộ thông số mô hình ổn định,
thay đổi các dữ liệu về lượng mưa, mực nước biển dâng theo các kịch bản phát thải trung
bình và cao xác định mức độ gia tăng của các thiên tai lũ lụt và hạn hán
+ Phương pháp chuyên gia
Báo cáo ngoài phần mở đầu và kết luận, báo cáo được trình bày trong 3 phần:
1 Đánh giá thiên tai liên quan đến dòng chảy (lũ lụt, hạn hán) trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam
2 Hiện trạng quản lý thiên tai lũ lụt và hạn hán ở tỉnh Quảng Nam
3 Đề xuất các biện pháp giảm nhẹ và thích nghi với các thiên tai lũ lụt và hạn hán trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trang 71 NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THIÊN TAI LIÊN QUAN ĐẾN DÒNG CHẢY (LŨ LỤT VÀ HẠN HÁN) TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
1.1 Đặc điểm phân phối tài nguyên nước tỉnh Quảng Nam
1.1.1 Đặc điểm mạng lưới sông suối trong tỉnh
Địa hình tỉnh Quảng Nam có đầy đủ các kiểu cảnh quan địa hình từ kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa, dải đồng bằng và cồn cát ven biển căn cứ vào đặc điểm chung, có thể phân ra 03 vùng địa hình như sau:
- Địa hình vùng núi: Địa hình vùng này có độ cao trung bình từ 700 - 800m, hướng thấp dần từ Tây sang Đông; bao gồm 06 huyện: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Nam Trà My, Bắc Trà My Với diện tích chiếm 72% đất tự nhiên với nhiều ngọn cao trên 2.000m như Lum Heo (2.045m), Tion (2.032m), Gole – Lang (1.855m) và cao nhất là đỉnh Ngọc Linh (2.598m) - đây cũng là đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn
- Địa hình vùng gò đồi, trung du là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi phía Tây và vùng đồng bằng ven biển, độ cao trung bình từ 100 - 200m, độ dốc trung bình từ 15 – 200, địa hình đặc trưng có dạng hình bát úp và lượn sóng; bao gồm chủ yếu của các huyện Tiên Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn và phần phía Tây huyện Quế Sơn
- Vùng đồng bằng ven biển có địa hình tương đối bằng phẳng, ít biến đổi, có độ cao dưới 30m gồm những dải đồng bằng nhỏ hẹp phía Đông và vùng cồn cát, bãi cát ven biển; bao gồm chủ yếu các huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, TP Hội An, vùng đông huyện Quế Sơn, Thăng Bình, TP Tam Kỳ, Núi Thành Vùng ven biển phía đông sông Trường Giang là dải cồn cát chạy dài từ Điện Nam, Điện Bàn đến Tam Quan, Núi Thành
Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá phát triển, tập trung trong 2
hệ thống sông chính là Vu Gia - Thu Bồn (10.350km2) và sông Tam Kỳ (1.040km2) và hai
hệ thống sông này được nối với nhau bởi sông Trường Giang (bảng 1)
Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn: Đây là lưu vực sông lớn thứ 2 so với các lưu
vực nằm phía sườn Đông dãy Trường Sơn Bắt nguồn vùng núi cao nhất dãy Trường Sơn - vùng núi Ngọc Lĩnh ở độ cao 1600m, dòng chính (Thu Bồn được coi là dòng chính) với chiều dài sông 205km đổ ra biển tại vịnh Đà Nẵng qua 3 phân lưu: sông Hàn (Đà Nẵng), cửa Đại (Hội An) và Trường Giang (cửa Lở)
Sự sắp xếp của các dãy núi đã tạo ra hướng dốc chính của địa hình lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn là hướng Tây Nam - Đông Bắc; Đặc điểm của lưu vực có dạng hình bàu, với chiều dài lưu vực gấp 2 lần chiều rộng bình quân lưu vực và các sông trong lưu vực có hệ
số uốn khúc cao, xấp xỉ 2 như dòng chính 1,86, sông Bung 2,02, sông Tĩnh Yên 2,67 Do
Trang 8địa hình núi đồi chiếm tỷ trọng diện tích khá lớn (trên 60%) nên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn có độ cao bình quân (552m) cũng như độ dốc bình quân lưu vực (25%) và mạng lưới sông suối trong lưu vực phát triển mạnh dạng tia toả - đặc trưng cho mạng lưới sông suối vùng núi cao, tuy nhiên do cấu trúc địa chất nên độ phân cắt ngang của lưu vực không cao vì vậy mạng lưới sông suối kém phát triển với mật độ lưới sông 0,47km/km2 Phần thượng du lưu vực độ dốc địa hình lớn trên 30%, cấu tạo địa chất vùng núi là các đá Granit sườn dốc, đỉnh núi nhọn nên mạng lưới sông suối trong vùng chỉ phát triển ở những vùng thấp còn ở phần sườn núi hầu như không xuất hiện dòng chảy thường xuyên, mật độ lưới sông 0,38km/km2 Phần hạ du sông chảy trong vùng đồng bằng ven biển thấp, trũng có lớp vỏ thổ nhưỡng chủ yếu là đất cát, đất đỏ nên sông chảy quanh co, mật độ sông suối 0,57km/km2 Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn có ba phân lưu đưa nước ra biển đó là sông Hàn, dòng chính
và sông Trường Giang Mạng lưới sông trên lưu vực phát triển tới các phụ lưu cấp IV và trong tổng số 78 phụ lưu có chiều dài sông chính lớn hơn 10km được phân chia theo các cấp : 19 phụ lưu cấp I, 36 phụ lưu cấp II, 22 phụ lưu cấp III và 2 phụ lưu cấp IV
Sông Tam Kỳ: bắt nguồn từ vùng núi Tiên Phước đổ ra biển tại Vụng An Hòa với
chiều dài 70km Nằm ở ven biển có địa hình chủ yếu là gò đồi và đồng bằng nên độ cao bình quân lưu vực chỉ đạt 84m và độ dốc bình quân đạt 9,4% Lưu vực sông có dạng dài với mật độ lưới sông trung bình đạt 0,5km/km2 Do nằm trong vùng thấp nên hệ số uốn khúc sông đạt tới 2,33 Năm 1980, hồ Phú Ninh (diện tích lưu vực 235km2) được xây dựng trên nhánh sông Tam Kỳ đã khống chế và điều tiết một phần dòng chảy của hệ thống sông này
Sông Trường Giang chạy dọc bờ biển theo hướng gần bắc nam với chiều dài 44km nối 02 sông Vu Gia - Thu Bồn và sông Tam Kỳ và là sông tiêu thoát lũ ở khu vực vùng đồng bằng Đoạn phía nam chạy cạnh bờ biển cách khoảng 2km trở lại, đoạn phía bắc khoảng cách rộng hơn, đoạn lớn nhất cách bờ biển khoảng 7km Đầu sông phía nam đổ ra biển tại cửa Hòa An (hay An Hoà), huyện Núi Thành, đầu sông phía bắc đổ ra biển tại cửa Đại, thị xã Hội An Ở giữa là huyện Thăng Bình và TP Tam Kỳ
Có thể thấy rằng, trong suốt chiều dài gần 125km bờ biển, lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn chỉ có 3 cửa sông thoát ra biển là cửa Hàn (sông Vu Gia), cửa Đại (sông Thu Bồn)
và cửa Lở (Trường Giang, Tam Kỳ) Các cửa sông này hiện đang trong tình trạng biến động lớn, luôn dịch chuyển và bị bồi lấp, khả năng thoát lũ kém vì vậy tình trạng ngập lụt ở vùng đồng bằng tỉnh Quảng Nam rất nghiêm trọng
Ngoài mạng lưới sông suối ở trên, trong tỉnh Quảng Nam còn có nhiều hồ, đầm tự nhiên và hồ chứa Một số hồ tương đối lớn như hồ Thạch Bàn, hồ Vĩnh Trinh (thể hiện ở hình 1)
Trang 9Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý 5
Hình 1: Bản đồ hình thể tự nhiên tỉnh Quảng Nam
Trang 10Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý 6
Độ cao nguồn sông (m)
Chiều dài sông (km)
Chiều dài lưu vực (km)
Diện tích lưu vực (km2)
Đặc trưng trung bình lưu vực
Độ cao (m)
Độ dốc (%)
Độ rộng (km)
Mật độ lưới sông (km/km2)
Hệ số uốn khúc
Trang 11Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý 7
Độ cao nguồn sông (m)
Chiều dài sông (km)
Chiều dài lưu vực (km)
Diện tích lưu vực (km2)
Đặc trưng trung bình lưu vực
Độ cao (m)
Độ dốc (%)
Độ rộng (km)
Mật độ lưới sông (km/km2)
Hệ số uốn khúc
Trang 12Phòng Tài nguyên nước mặt, Viện Địa Lý 8
Độ cao nguồn sông (m)
Chiều dài sông (km)
Chiều dài lưu vực (km)
Diện tích lưu vực (km2)
Đặc trưng trung bình lưu vực
Độ cao (m)
Độ dốc (%)
Độ rộng (km)
Mật độ lưới sông (km/km2)
Hệ số uốn khúc
Phân lưu sông
Trang 131.1.2 Đặc điểm phân bố tài nguyên nước theo không gian
Nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa Việt Nam, chịu tác động của địa hình, các đỉnh núi cao liên tiếp kéo dài của dãy Trường Sơn chạy song song với đường bờ biển hướng bắc - nam có tác động ngăn chặn các hoàn lưu gió mùa cùng với sự đổi hướng của đường bờ biển nên nguồn ẩm gây mưa của vùng nghiên cứu chủ yếu do các hoàn lưu từ phía đông mang lại như không khí lạnh, các nhiễu động khí quyển như bão, áp thấp nhiệt đới xóa nhòa ảnh hưởng của các hoàn lưu gió mùa Xét lượng mưa trung bình trên lưu vực cho thấy xu thế giảm dần từ tây sang đông tỉnh, dao động từ 3.000 - 4.000mm ở vùng núi như Trà My, Tiên Phước, từ 2.500 - 3.000mm ở vùng gò đồi thấp Khâm Đức, Nông Sơn, Quế Sơn, và từ 2.000 - 2.500mm ở đồng bằng ven biển Ái Nghĩa, Giao Thuỷ, Hội An, Tam Kỳ Tính trung bình toàn tỉnh, hàng năm lượng mưa đạt tới 2978mm tương ứng với 30,2 tỷ m3 nước mưa, tuy nhiên tập trung chủ yếu từ tháng 9 đến tháng 12 chiếm 65 - 80% lượng mưa cả năm và mùa ít mưa từ tháng 1 đến tháng 8 Riêng tháng 5, 6 xuất hiện đỉnh mưa phụ, càng về phía Tây của vùng nghiên cứu đỉnh mưa phụ càng rõ nét hơn, hình thành thời kỳ tiểu mãn trên lưu vực sông Bung Lượng mưa lớn nhất vùng nghiên cứu thường tập trung vào 2 tháng (tháng 10, 11) với lượng mưa trong 2 tháng này chiếm 40 - 50% lượng mưa cả năm
Nguồn ẩm gây mưa của tỉnh Quảng Nam rất đa dạng nhưng lượng mưa do các nhiễu động thời tiết như bão, áp thấp nhiệt đới, không khí lạnh hoạt động đơn lẻ hoặc kết hợp chiếm tỷ trọng rất lớn so với lượng mưa cả năm, cá biệt có những trận mưa chiếm tới (20 - 30)% lượng mưa cả năm Trong những thập kỷ gần đây, các nhiễu động thời tiết (bão, áp thấp nhiệt đới), không khí lạnh ảnh hưởng tới dải ven biển Trung Bộ nói chung
và tỉnh Quảng Nam nói riêng lớn vượt hơn hẳn so với những thập kỷ trước đó Theo thống kê, lượng bão, áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến địa bàn tỉnh Quảng Nam thường chiếm tới 30,7% số cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào bờ biển Việt Nam Cùng với
sự gia tăng của số cơn bão là sự gia tăng của lượng mưa bình quân năm và mức độ tập trung mưa càng cao, lượng mưa mùa kiệt càng giảm Chế độ mưa thất thường đã quy định cho sự phân bố tài nguyên nước sông suối trong vùng và cũng là nguyên nhân gây ra các hiện tượng lũ, ngập lụt và hạn hán ở khu vực
Hàng năm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam tiếp nhận 30,2 tỷ m3 nước mưa và đã sinh
ra 21,5 tỷ m3 chảy vào mạng lưới sông suối, nếu tính trung bình cho toàn diện tích vùng nghiên cứu sẽ được một lớp dòng chảy 2060mm tương ứng với moduyn dòng chảy 65,6l/s.km2 có hệ số dòng chảy () đạt khá cao tới 0,70 – so với toàn lãnh thổ Việt Nam
đây là khu vực có tiềm năng nguồn nước mặt vào loại phong phú Dưới tác động của điều
kiện địa hình, tương tự như biến đổi lượng mưa theo không gian trong tỉnh, đặc biệt là sự dịch chuyển dần mùa mưa bão từ bắc vào nam dọc theo bờ biển đã kéo theo sự biến động
Trang 14của lượng dòng chảy sông suối trong tỉnh Quảng Nam Dựa trên các số liệu quan trắc, xác định tài nguyên nước cho các khu vực ở Quảng Nam trong bảng 2
Bảng 2: Nguồn nước các sông thuộc Quảng Nam
(km2)
X0 (mm)
Y0 (mm)
Q0 (m3/s)
1.1.3 Phân bố tài nguyên nước mặt theo thời gian
Chịu tác động của các nhiễu động thời gây mưa nên biến động dòng chảy qua các năm rất lớn Theo số liệu quan trắc nhiều năm (1977 – 2007), hệ số dòng chảy (Cv) tại các trạm quan trắc thủy văn trên sông tỉnh Quảng Nam vượt trên 0,3 như CvNông Sơn = 0,35, CvThạnh Mỹ = 0,32
Bên cạnh đó trong từng năm, dòng chảy có sự phân mùa rất rõ rệt:
- Mùa lũ bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 12 với lượng nước mùa lũ đạt 62,5 - 69,2% lượng nước cả năm, Tháng có lượng nước lớn nhất là tháng 11 đạt 26,5 - 30,9% lượng nước cả năm
- Mùa kiệt có lượng nước đạt 21,8 - 38,5% lượng nước cả năm và tháng có lượng nước nhỏ nhất là tháng 4 và chỉ đạt 2,1 - 2,6% lượng nước cả năm
a) Dòng chảy lũ
Tỉnh Quảng Nam có mùa lũ hàng năm từ tháng 10 – 12 nhưng mùa lũ ở đây cũng không ổn định, nhiều năm lũ xảy ra từ tháng 9 và cũng nhiều năm sang tháng 1 của năm sau vẫn có lũ, điều này chứng tỏ lũ lụt ở Quảng Nam có sự biến động khá mạnh mẽ Với những trận lũ xuất hiện vào tháng 9 đến nửa đầu tháng 10 hàng năm (chiếm khoảng 25 - 32% những con lũ lớn đã được thống kê), thường có biên độ không lớn và là lũ một đỉnh
Do trong thời gian này chỉ xuất hiện một hình thái thời tiết như bão hoặc áp thấp nhiệt đới gây nên những trận mưa có cường độ không lớn lắm, diện mưa cũng chưa đủ rộng, thời gian mưa không dài, trong khi đó mặt đất lại mới trải qua thời kỳ khô hạn, khả năng thấm
Trang 15trữ nước trong đất lớn, lượng nước trong các sông suối còn thấp Cũng tương tự như vậy đối với những trận lũ xuất hiện vào tháng 12 và nửa đầu tháng 1 Tuy nhiên nguyên nhân gây lũ ở đây chủ yếu là những trận mưa không lớn nhưng xuất hiện trong khi lượng trữ nước trong sông cũng như độ ẩm trong đất đã bão hòa
Bảng 3: Đặc trưng dòng chảy mùa lũ trên sông tỉnh Quảng Nam
Cái (1850 km2)
Nông Sơn (3155km2)
5 trận lũ, năm nhiều nhất có tới 7 - 8 trận lũ Lũ lớn nhất trong năm thường xuất hiện trong tháng 10 và 11, do nhiều hình thái thời tiết như: bão, áp thấp nhiệt đới, không khí lạnh, gió mùa Đông Bắc gây ra những đợt mưa lớn kéo dài ngày, trong khi đó mặt đất đã đạt đến mức bão hòa do mưa lũ sớm tạo nên, mực nước các sông suối đã được nâng lên ở mức cao Lũ lớn xảy ra với tần suất cao trên lưu vực sông Vu Gia -Thu Bồn, có tới 50%
số năm quan trắc xuất hiện những trận lũ vượt báo động III (tại Câu Lâu) và moduyn đỉnh
lũ trung bình tại trạm quan trắc đạt từ 1,6 - 1,7m3/s.km2 Lũ đặc biệt lớn đã xảy ra trên sông Vu Gia - Thu Bồn vào tháng 11/1964 có lưu lượng đỉnh lũ tại trạm Nông Sơn là 18.250m3/s ứng với moduyn đỉnh lũ 5,79m3/s.km2 Trong 34 năm (1976 – 2009), lưu lượng đỉnh lũ đo được lớn nhất tại trạm thuỷ văn Thạnh Mỹ (trên sông Vu Gia) là 7.000m3/s (ngày 20/11/1998), tại trạm Nông Sơn (trên sông Thu Bồn) là 10.815m3/s (ngày 12/11/2007)
Trang 16Bảng 4: Lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất ứng với tần suất trên các sông tỉnh Quảng Nam
(Thu Bồn) 3.150 6036 0,38 0,76
10815 12/11/2007 15.707 13.579 12.620 10.233
Ngoài lũ chính vụ, do tác động của gió mùa Đông Nam nên trên các sông suối ở địa bàn tỉnh Quảng Nam thường xuất hiện lũ tiểu mãn vào tháng 5 hoặc tháng 6, có năm vào tháng 7 Lũ tiểu mãn thường không lớn lắm, nguyên nhân gây lũ là những trận mưa rào với cường độ lớn, thời gian lũ ngắn, thường là lũ đơn một đỉnh (bảng 5)
Bảng 5: Các đặc trưng lũ tiểu mãn trên lưu vực sông Thu Bồn
có tới 5 đỉnh trong đó có 4 đỉnh trên báo động cấp III)
b) Dòng chảy kiệt
Ở lưu vực Vu Gia – Thu Bồn, mùa kiệt kéo dài từ tháng 1 đến tháng 9 hàng năm Dòng chảy nhỏ nhất trên lưu vực phần lớn rơi vào tháng 4, những năm ít hoặc không có mưa tiểu mãn vào tháng 5, 6 thì dòng chảy nhỏ nhất vào tháng 7 và tháng 8 (bảng 6) Với các sông có diện tích lưu vực trên 300km2, tháng có dòng chảy nhỏ nhất thường là tháng
4, với lưu vực có diện tích dưới 300km2 thì tháng có dòng chảy nhỏ nhất vào tháng 6
Dòng chảy mùa kiệt phụ thuộc vào trữ lượng nước trong sông và lượng mưa trong mùa khô Có thể chia mùa kiệt thành 2 thời kỳ:
+ Thời kỳ dòng chảy ổn định: dòng chảy thời gian này chủ yếu là do lượng nước trữ trong lưu vực sông cung cấp nên xu hướng giảm dần theo thời gian và sau đó ổn định (thường từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm)
Trang 17+ Thời kỳ dòng chảy không ổn định: từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm dòng chảy thường không ổn định do nguồn cung cấp nước cho dòng chảy thời kỳ này ngoài nước ngầm còn có lượng mưa trong mùa cạn (chủ yếu là mưa tiểu mãn tháng 5 và tháng 6) do
đó các sông suối trong năm xảy ra 2 lần có dòng chảy kiệt nhất, lần thứ nhất vào tháng 3,
4 và lần 2 vào tháng 7, 8
Bảng 6: Đặc trưng dòng chảy kiệt trên sông tỉnh Quảng Nam
Đặc trưng
Thạnh Mỹ - Vu Gia (1850 km2)
Nông Sơn - Thu Bồn (3155km2) Mùa Các đặc trưng thể hiện
Bảng 7: Dòng chảy nhỏ nhất ứng với tần suất trên các sông tỉnh Quảng Nam
Trang 18Do tác động của các cơ chế gây mưa khác nhau nên trong mùa kiệt thường xuất hiện lũ tiểu mãn vào tháng 5, 6 nhưng không thường xuyên, do vậy thời kỳ xuất hiện ba tháng có dòng chảy nhỏ nhất cũng như tháng có dòng chảy nhỏ nhất trong năm không ổn định Nếu có lũ tiểu mãn, lượng dòng chảy ba tháng nhỏ nhất xuất hiện vào tháng 2 - 4 và tháng 4 có dòng chảy nhỏ nhất Khi không có lũ tiểu mãn dòng chảy ba tháng nhỏ nhất rơi vào tháng 6 - 8 và tháng nhỏ nhất sẽ là tháng 7 hoặc tháng 8 Lượng dòng chảy ba tháng nhỏ nhất chiếm từ 5 – 10% lượng dòng chảy năm với moduyn trung bình từ 10 – 40l/s.km2 Dòng chảy nhỏ nhất đã quan trắc được thường đạt dưới 10l/s.km2 (bảng 8)
Bảng 8: Dòng chảy kiệt nhỏ nhất trên các sông tỉnh Quảng Nam
Tóm lại: Tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam phong phú nhưng sự phân
bố không đều theo không gian và thời gian thường gây nên các thiên tai về nước: hạn hán trong mùa khô, lũ lớn kèm theo ngập lũ trong mùa mưa gây nên những tổn thất to lớn cả
về người và của cải đồng thời gây ô nhiễm môi trường và bất ổn định đời sống của người dân
1.2 Các thiên tai liên quan đến tài nguyên nước (lũ lụt và hạn hán) tỉnh Quảng Nam
1.2.1 Tổng quan về các dạng thiên tai ở tỉnh Quảng Nam
Tỉnh Quảng Nam là địa bàn thường xuyên chịu ảnh hưởng của các loại thiên tai địa động lực ngoại sinh như: bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, gió lốc, sét, gió Tây Nam khô nóng, gió mùa Đông Bắc, sạt lở núi, sạt lở bờ sông, bờ biển, sương mù và mưa đá Thiên tai bão, lũ chủ yếu xảy ra từ tháng 9 đến tháng 12 Hạn hán, xâm nhập mặn thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 7 Các loại thiên tai khác xảy ra quanh năm Các tai biến tự nhiên gây ra các tổn thất về người và của cải vật chất và làm xáo trộn các hoạt động của con người trên phạm vi rộng Căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng, mức độ thiệt hại và tần suất xuất hiện các loại thiên tai ở tỉnh Quảng Nam có thể xếp theo thứ tự ở bảng 9
Qua bảng 9 cho thấy, đối với Quảng Nam, các thiên tai liên quan đến dòng chảy (lũ lụt, hạn hán) có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng nhất và có sức tàn phá lớn nhất về môi trường, gây ra thiệt hại về nhiều mặt trên địa bàn tỉnh Theo thống kê những năm gần đây, thiên tai đã gây thiệt hại trên địa bàn tỉnh ước tính trung bình gần bằng 6,26% tổng GDP và những năm mưa lũ lớn, thiệt hại có thể lên đến 18 - 20% GDP Những trận lũ lớn trong các năm 1990, 1996, 1998, 1999, 2004, 2007 và 2009 thiệt hại đến hàng nghìn tỷ
Trang 19đồng và sinh mạng hàng trăm người Đặc biệt đợt lũ năm 2007 và tiếp đến trận lũ năm
2009 là thiên tai gây hậu quả nặng nề nhất kể từ 100 năm nay ở Quảng Nam với tổng thiệt hại của 2 năm lũ lớn lên tới 5700 tỷ đồng
Bảng 9: Mức độ ảnh hưởng của thiên tai
TT Loại thiên tai Khu vực
ảnh hưởng
Thời gian ảnh hưởng
Mức độ ảnh hưởng
miền núi
Thường xuyên Nghiêm trọng
2 Bão và Áp thấp nhiệt đới Trên biển và trên
đất liền
Thường xuyên Nghiêm trọng
4 Hạn hán và xâm nhập
mặn
Vùng trung du và vùng Đồng bằng
Chu kỳ 2 đến
3 năm/1 lần
Nghiêm trọng
1.2.2 Đặc điểm thiên tai lũ và ngập lụt ở Quảng Nam
Như trên đã nêu, chế độ dòng chảy trên sông thuộc tỉnh Quảng Nam phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ dòng chảy trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn Theo đánh giá của các cán bộ Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão tỉnh Quảng Nam, dòng chảy tại trạm Câu Lâu có mối tương quan tỷ lệ thuận với tình hình lũ và ngập lụt của toàn tỉnh Với thời gian mùa lũ ngắn, các đợt lũ thường liên tiếp xẩy ra trong thời gian ngắn tạo nên đường quá trình lũ có dạng nhấp nhô nhiều đỉnh, thể hiện qua các năm lũ lớn điển hình như sau:
Năm 1964 (4 – 10/11/1964): Do mưa kéo dài nhiều ngày nên lũ xảy ra trên diện rộng với mực nước rất cao Theo số liệu điều tra vết lũ cho thấy mực nước tại trạm Nông Sơn đạt 22,16m; Giao Thuỷ là 10,06m; Ái Nghĩa đạt 10,56m; Câu Lâu là 5,48m và Hội
Trang 20Năm 1998, do ảnh hưởng của El-Ninô, đầu năm nắng nóng và hạn hán, mùa lũ xuất hiện muộn hơn bình thường Mãi cho đến 12/11/1998 mới có mưa do bão số 4 gây
ra Sau đó, xuất hiện dồn dập nhiều đợt mưa lớn do ảnh hưởng của các cơn bão số 5, 6, 7,
8 kết hợp với hoạt động mạnh của không khí lạnh đã gây ra 5 đợt mưa lớn, hình thành 3 trận lũ có mực nước đỉnh lũ từ báo động cấp I trở lên, trong đó đợt lũ trong các ngày 19 - 24/11 do bão số 5 kết hợp với không khí lạnh đã gây ra mưa lớn trên diện rộng Đây là trận lũ lớn, dạng lũ kép (2 đỉnh), mực nước đỉnh lũ vượt báo động cấp III từ 0,81 - 1,57m Sau trận lũ năm 1964, đây là trận lũ lớn nhất đã từng quan trắc trong thời kỳ 1977 – 1998
Năm 1999, liên tiếp trong vòng 1 tháng, từ đầu tháng 11 đến đầu tháng 12 đã xẩy
ra 2 đợt lũ đặc biệt lớn Trận lũ đầu tháng 11 là trận lũ kép với 5 đỉnh lũ, trong đó có 4 đỉnh lũ vượt báo động cấp III từ 0,8 - 2,58m (Cẩm Lệ), mực nước đỉnh lũ ở hạ lưu cao hơn mực nước đỉnh lũ năm 1998 Tiếp theo, đầu tháng 12/1999 lại xẩy ra 1 đợt lũ rất lớn với 2 đỉnh lũ, mực nước đỉnh lũ cao nhất vượt báo động cấp III từ 0,8 - 1m
Năm 2007, Do ảnh hưởng của hoàn lưu áp thấp nhiệt đới suy yếu từ bão số 6 kết hợp với không khí lạnh và trường gió Đông trên cao mạnh, nên từ ngày 10 - 13/11, khu vực Quảng Nam có mưa to gây ra lũ lụt lớn Lũ trên sông vượt báo động III từ 0,5 – 2,5
m, cao hơn lũ năm 1999 và xấp xỉ lũ lịch sử năm 1964 Trên sông Vu Gia tại Ái Nghĩa mực nước đỉnh lũ đạt 10,36m vượt lũ 1999 là 9cm; Trên sông Thu Bồn tại Giao Thủy mực nước đỉnh lũ đạt 9,6m vượt lũ 1999 là 20cm, tại Câu lâu đạt 5,39m vượt lũ 1999 là 16cm và tại Hội An đạt 3,28m vượt lũ 1999 là 16cm
Năm 2009, chịu tác động của cơn bão số 9 đi qua địa phận tỉnh Quảng Nam và suy yếu thành áp thấp nhiệt đới vào ngày 29/9/2009, đã gây mưa to và rất to trên địa bàn toàn tỉnh Lượng mưa ngày (từ 19h ngày 28 đến 19h ngày 29/9) trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đạt mức 400 - 500mm, một số nơi trên 600mm như Đông Giang 602mm, Trà My là 599mm, Quảng Ngãi là 672mm Kết hợp với mực nước sông đang ở mức cao đã gây ra trận lũ lớn trên lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn với đỉnh lũ sấp xỉ năm 1999 và năm 2007 (cao nhất vượt lũ 2007 là 76cm tại trạm Hội Khách, 41cm tại trạm Ái Nghĩa, 15cm tại trạm Giao Thủy)
Một trong những đặc điểm lũ trong hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn là lũ lên nhanh, xuống nhanh với biên độ (5 - 14m) và cường suất lũ lớn (trung bình khoảng 20 - 50cm/h, lớn nhất tới 100 - 140cm/h) ở thượng và trung lưu, lũ lên tương đối nhanh nhưng rút chậm ở hạ lưu do độ dốc lòng sông nhỏ (20/00 trong đoạn sông từ Thạnh Mỹ đến Ái Nghĩa, 0,080/00 từ Ái Nghĩa đến Câu Lâu, 0,040/00 từ Câu Lâu đến biển) và có nhiều phân lưu đổ ra biển cũng như tác động của thuỷ triều, địa hình, địa vật nên lũ lên chậm hơn, nhưng rút rất chậm nhất là khi gặp triều cường Tại trạm thuỷ văn Thạnh Mỹ trên sông Vu Gia, vận tốc dòng chảy lũ lớn nhất đạt 3,77m/s, biên độ lũ lớn nhất là 15,2m, thời gian truyền lũ từ Thạnh Mỹ đến Ái Nghĩa (40,5km) dài nhất 11giờ, ngắn nhất chỉ có 5giờ Tại
Trang 21trạm thuỷ văn Nông Sơn trên sông Thu Bồn, vận tốc dòng chảy lũ lớn nhất là 3,74m/s, biên
độ lũ lớn nhất 12m, thời gian truyền lũ từ Nông Sơn đến Giao thuỷ (26km) dài nhất 7giờ, ngắn nhất chỉ có 3giờ Từ Giao Thuỷ đến Câu Lâu (23km), thời gian truyền lũ trung bình 7,4giờ, dài nhất 11giờ và ngắn nhất là 6giờ Lũ tập trung nhanh đổ xuống vùng đồng bằng, vùng đồng bằng sông có độ dốc bé, lòng sông nông, các cửa sông khả năng thoát lũ kém, sông lại không có đê nên đại bộ phận dòng chảy lũ khi đến Ái Nghĩa và Giao Thuỷ đã chảy tràn bờ vào đồng gây ngập lụt cho toàn bộ hạ lưu bao gồm các huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên và Thành phố Hội An
Nằm trong vùng sụt võng trung sinh đại, dốc theo hướng tây nam - đông bắc, lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn có dạng hình nan quạt mở rộng, phát triển phụ lưu đến cấp 4
và các phân lưu có chiều dài lớn hơn 10km vì vậy khả năng thoát nước kém Lòng sông phần hạ du mở rộng, độ dốc đáy sông giảm dần, độ uốn khúc tăng lên, xuất hiện nhiều bãi bồi ở giữa sông vì vậy liên tục xảy ra hiện tượng bồi lấp, xói lở bờ và cửa sông Khi có mưa lớn thì lũ sông Vu Gia - Thu Bồn tập trung nhanh cùng với mưa lớn ở hạ du gây ngập lớn các huyện Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn và TP Hội An Kết quả của mô hình Mike 11 – GIS (đã được trình bày trong chuyên đề 5) đã xác định diện ngập lụt ở hạ du tỉnh Quảng Nam trong những năm lũ lớn (bảng 10)
Bảng 10: Diện tích ngập theo các năm lũ lớn
Hmax tại Câu Lâu
Diện tích ngập lụt (km2) Giá trị Hmax (cm) Tần suất (%)
Nguyên nhân ngập lụt ở đồng bằng sông Vu Gia - Thu Bồn chủ yếu do lũ thượng nguồn đổ về và lan truyền qua rất nhiều phân lưu chảy ngang, dọc Từ báo động III trở lên, diện ngập không mở rộng thêm nhiều, chủ yếu là tăng độ sâu ngập lụt Huyện Điện Bàn, tả ngạn sông Thu Bồn, huyện Hòa Vang, hạ lưu sông Vu Gia, phía Nam Đà Nẵng,
Trang 22ngập sâu trung bình trên ruộng là 1,4m, lớn nhất là 3,2m Huyện Duy Xuyên, hữu ngạn sông Thu Bồn, nằm giữa sông Thu Bồn và sông Bà Rén, ngập sâu trung bình trên ruộng
là 1,3m, lớn nhất 3,0m Huyện Đại Lộc trên sông Vu Gia, ngập sâu trung bình trên ruộng
là 1,1m, lớn nhất là 2,8m Thị xã Hội An, ngập sâu trung bình 0,8m, lớn nhất là 2,5m Huyện Quế Sơn, hữu ngạn sông Bà Rén, ngập trung bình trên ruộng là 0,5m, lớn nhất là 1,5m Huyện Thăng Bình, ven phân lưu Trường Giang đổ ra cửa Tam Kỳ, ngập trung bình trên ruộng là 0,4m, lớn nhất là 1,2m Nhà cửa, trường học, trạm xá phần lớn xây trên nền cao nên chỉ ngập khoảng 30 - 130cm Thời gian ngập ở các vùng dân cư thường từ 6h - 48h, ở đồng ruộng có thể kéo dài 2 - 3 ngày, còn ở vùng ven biển 0,5 - 1 ngày
Hình 2: Bản đồ ngập lụt tỉnh Quảng Nam (ứng với lũ 1% tháng 11/2007)
Quốc lộ 1A và tuyến đường sắt chạy song song nhau và cắt ngang đồng bằng sông
Vu Gia - Thu Bồn Khi lũ lớn, sông Vu Gia - Thu Bồn gây ngập lụt, 2 tuyến đường trên
đã cản trở dòng chảy, làm cho mức độ ngập lụt vùng thượng du cao hơn vùng hạ du và thời gian ngập kéo dài hơn Ngoài ra, còn ngập nhiều hệ thống đường sá liên huyện, xã, thôn
Trang 231.2.3 Đặc điểm khô hạn và tình trạng hạn hán
Hạn hán đã trở thành dạng thiên tai phổ biến trên thế giới trong những thập niên gần đây Theo thống kê trung bình mỗi năm có khoảng 21 triệu ha đất hạn hán biến thành đất không có năng suất kinh tế Trong gần 1/4 thế kỷ vừa qua, số dân gặp rủi ro vì hạn hán trên những vùng đất khô cằn đã tăng hơn 80% Nguy cơ đói và khát do hạn hán, hoang mạc hoá uy hiếp 250 triệu con người trên trái đất, kèm theo đó còn ảnh hưởng tới môi trường khí hậu chung toàn cầu (Yang Youlin - 2007)
Hạn hán là sự thiếu mưa trong một thời gian dài, thường là một mùa hoặc có thể kéo dài hơn, dẫn đến sự khan hiếm nước cho các ngành hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường (UN/ISDR, 5/2007)
Các nhà nghiên cứu của Trung tâm Giảm nhẹ hạn hán Quốc gia thuộc trường ĐH Lebrasca-Licoln Mỹ đã phân hạn hán thành 4 loại: (1) hạn khí tượng; (2) hạn thuỷ văn; (3) hạn nông nghiệp và (4) hạn kinh tế - xã hội (Wilhite và Glantz,1985).Trong các loại hạn này, hạn khí tượng là hiện tượng tự nhiên có nguyên nhân trực tiếp từ khí hậu và biến đổi theo vùng; riêng đối với hạn KT – XH tập trung nhiều hơn vào các khía cạnh xã hội
và nhân văn Chúng thể hiện mối tương tác giữa các tính chất tự nhiên của hạn khí tượng
và các hoạt động của con người Hạn KT – XH được xác đinh bởi sự tác động liên kết giữa các yếu tố tự nhiên và hoạt động xã hội Đây là hiện tượng hết sức phức tạp mà sự hình thành là do cả hai nguyên nhân: Tự nhiên và con người Các yếu tố tự nhiên gây hạn như sự dao động của các dạng hoàn lưu khí quyển ở phạm vi rộng và các vùng xoáy nghịch, hoặc các hệ thống áp thấp cao, sự biến đổi khí hậu, sự thay đổi nhiệt độ mặt nước biển như El Nino) và các nguyên nhân do con người như nhu cầu nước ngày càng gia tăng, phá rừng, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới nguồn nước, quản lý đất và nước kém bền vững, gây hiệu ứng nhà kính Còn đối với các nguyên nhân do con người chủ yếu là
do sự mâu thuẫn của các ngành sử dụng nước
a) Khả năng không mưa trong mùa kiệt
Trung bình nhiều năm, lượng mưa mùa kiệt (từ tháng 1 đến tháng 9) nhưng chỉ chiếm 25 - 30% lượng mưa năm và thời gian không mưa liên tục kéo dài là nguyên nhân gây ra tình trạng hạn hán trên diện rộng Mức độ khô hạn diễn ra nghiêm trọng khi thời gian không mưa kéo dài liên tiếp trong thời gian dài Trên lãnh thổ Quảng Nam, vùng đồng bằng ven biển hàng năm trung bình có 9 đến 10 đợt không mưa kéo dài, nhiều nhất
14 đợt, ít nhất 3 đợt Trung bình mỗi đợt không mưa kéo dài 14 đến 17 ngày, dài nhất là
100 ngày, nghĩa là trên 3 tháng nắng nóng liên tục không mưa Ở trung du và vùng núi, trung bình hàng năm có 5 đến 6 đợt không mưa kéo dài, nhiều nhất là 9 đợt Trung bình mỗi đợt không mưa kéo dài 9 đến 10 ngày, dài nhất là 55 ngày Cụ thể thời gian không mưa liên tục kéo dài nhất ở một số vùng được trình bày trong bảng 11
Trang 24Bảng 11: Thời gian không mưa liên tục dài nhất ở các trạm quan trắc
TT Địa điểm Thời gian không mưa liên tục Số ngày kéo dài
b) Mức độ khô hạn ở Quảng Nam
Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy không có một chỉ số nào có ưu điểm vượt trội
so với các chỉ số khác trong mọi điều kiện Tuy nhiên không ít chỉ số đã thể hiện sự phù hợp cao với tình hình hạn hán ở từng vùng cụ thể Đối với vùng Nam Trung Bộ nói chung
và lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn tỉnh Quảng Nam nói riêng, các chỉ tiêu/chỉ số tính toán chỉ số khô hạn như PDSI, CMI, GMI, SI, Chỉ số khô Penman… hiện không thể áp dụng được do không đủ tài liệu quan trắc Trong khuôn khô của chuyên đề này, công thức tính toán chỉ số khô hạn K (xét theo tiêu chuẩn cán cân nước)
Chỉ số khô hạn:
t
t t
Trang 25Hình 3: Bản đồ chỉ số hạn tỉnh Quảng Nam Bảng 12: Chỉ số khô hạn trung bình năm khu vực Quảng Nam
Trang 26Với số liệu trung bình năm, khu vực Quảng Nam luôn đạt ngưỡng ẩm, tuy nhiên do tính chất phân mùa sâu sắc nên trong từng thời kỳ thể hiện các mức độ khô hạn khác nhau
Qua nghiên cứu chỉ số khô hạn, có thể thấy ở Quảng Nam có 2 thời kỳ khô hạn là tháng 3, tháng 4 với chỉ số khô hạn K đều vượt quá 2 và tháng 7, tháng 8, tuy nhiên chỉ ở mức độ hơi khô Tại trạm khí tượng Tam Kỳ, đại diện cho vùng đồng bằng, tháng 3 và tháng 7 chỉ số khô hạn trung bình đạt trên 2,5 Hạn hán thường xẩy ra vào tháng 3 và tháng 7, đây cũng là thời kỳ lúa Đông Xuân và Hè Thu làm đòng trổ bông, vì vậy công tác phòng chống hạn phải đặt ra thường xuyên Còn đối với vùng núi (trạm Trà Mi), tháng xảy ra hạn hán chỉ rơi vào tháng 2 - 3 và ở mức độ từ hơi khô đến khô (bảng 13)
Bảng 13: Chỉ số khô hạn trung bình theo các tháng khu vực Quảng Nam
Tháng
K Mức độ K Mức độ K Mức độ K Mức độ
c) Tình trạng khô kiệt của dòng chảy mùa kiệt trên các sông tỉnh Quảng Nam
Dòng chảy mùa kiệt trên sông phụ thuộc vào trữ lượng nước ngầm và lượng mưa trong mùa khô Căn cứ vào sự biến đổi dòng chảy từ (tháng 1 – 9) hàng năm, có thể chia mùa kiệt trên các sông suối tỉnh Quảng Nam thành 2 thời kỳ:
- Thời kỳ dòng chảy ổn định, thường từ (tháng 1 – 4), dòng chảy thời gian này chủ yếu là do lượng nước trữ trong lưu vực sông cung cấp nên xu hướng giảm dần theo thời gian và sau đó ổn định
- Thời kỳ dòng chảy không ổn định, thời gian từ (tháng 5 – 7) do nguồn cung cấp nước cho dòng chảy ngoài nước ngầm còn có lượng mưa trong mùa kiệt chủ yếu là mưa tiểu mãn
Trang 27Bảng 14: Dòng chảy mùa kiệt trung bình tháng trên sông tỉnh Quảng Nam
d) Tình trạng hạn hán tỉnh Quảng Nam
Như vậy, mỗi năm trung bình ở Quảng Nam có khoảng 3 tháng hạn, những năm nhẹ hạn chỉ tập trung từ (tháng 2 – 4) và kết thúc vào thời kỳ mưa tiểu mãn Những năm nặng, hạn bắt đầu từ tháng 1 và kéo dài cho đến tháng 6, tháng 7 thậm chí tháng 8 Năm
1976, hạn kéo dài suốt 7 tháng từ (tháng 2 – 8) và ở vùng núi ít hạn hơn ở đồng bằng ven biển
Bảng 15: Một số đặc trưng hạn ở khu vực Quảng Nam
1993, 1998, 2001, 2009 và 2010; hạn vụ đông xuân thì có các năm 1970, 1984, 2010
Theo số liệu trung bình nhiều năm, ở Quảng Nam mỗi năm có 3 tháng hạn, những năm hạn nhẹ tập trung vào tháng 2 đến tháng 4 và kết thúc khi xuất hiện mưa tiểu mãn Những năm hạn nặng, bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 7, thậm chí có năm đến tháng 8 NHư vậy có thể thấy rằng mưa tiểu mãn có tác động rất lớn đến tình trạng hạn hán Vùng núi ít hạn hơn so với vùng đồng bằng ven biển, đặc biệt ở khu vực sát biển, hạn do khí hậu và xâm nhập mặn
Trang 281.3 Tình hình thiệt hại do thiên tai lũ lụt và hạn hán gây ra trong những năm gần đây
1.3.1 Thiệt hại do thiên tai lũ và ngập lụt tỉnh Quảng Nam
Lũ và ngập lụt là loại thiên tai gây thiệt hại nặng nề nhất đối với con người, tài sản
và cơ sở hạ tầng trên khắp địa bàn toàn tỉnh Từ năm 1997 đến 2007, lũ đã gây ra 589 người chết; 33 người mất tích; 1550 người bị thương Thiệt hại về tài sản, cơ sở hạ tầng lên tới 9436,5 tỷ đồng (bảng 16)
Bảng 16: Thiệt hại do lũ gây ra từ 1997 - 2009
(Nguồn: Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão tỉnh Quảng Nam)
Qua thống kê về thiệt hại do lũ gây ra, chúng ta có thể thấy rằng thiệt hại về mặt con người và kinh tế từ các trận lũ lớn xảy ra với tỷ lệ khá tương đồng với mức độ lớn của
lũ Hai năm gần đây, 2006 và 2007 có nhiều người chết và bị thương do lũ đồng thời thiệt hại về kinh tế cũng lớn lần lượt là 1900 tỷ và 2000 tỷ Năm 2007, mặc dù thiệt hại về người ít hơn năm 2006, nhưng thiệt hại về kinh tế là cao hơn Đến năm 2009, thiệt hại về kinh tế ước 3.500 tỷ đồng Điều này có thể lý giải là khi có thiên tai lớn xảy ra trong lúc nền kinh tế đang phát triển mạnh hơn thời gian trước mà chúng ta không có một giải pháp quản lý rủi ro thiên tai hiệu quả thì thiệt hại về kinh tế sẽ lớn hơn
Trang 29Lũ lớn năm 1999 Tác động của đợt ngập lụt bị tăng cường bởi trận lũ ngày 1 -
6/12/1999 Hầu hết các huyện đồng bằng và thành phố Đà Nẵng bị ngập lại, nhiều nơi ngập sâu hơn trận ngập lịch sử năm 1964 Các huyện bị ngập sâu 1 - 2m trong nhiều ngày như: Núi Thành, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, thị xã Hội An, Tam Kỳ, Hầu hết các tuyến đường giao thông bị ách tắc do sạt lở núi Quốc lộ 1A, đường sắt qua Quảng Nam bị ngập sâu 1,5 - 2,0m và hư hại nhiều đoạn gây ách tắc giao thông Các hồ chứa nước trong tỉnh đều vượt công trình tràn từ 3 - 3,5m Đặc biệt, hồ Phú Ninh là công trình trọng điểm trong phòng chống lũ đợt này cũng bị đe dọa nghiêm trọng Mực nước hồ cao nhất đạt 34,44m, lớn nhất trong vòng 19 năm qua Việc điều hành cắt lũ, đảm bảo an toàn công trình đã được đặc biệt lưu ý: mở hết khẩu độ các cửa tràn, lưu lượng xả tối đa 1.000m3/s; hơn 1.500 bộ đội cùng nhiều phương tiện, thiết bị đã được chuẩn bị tại tràn sự cố Long Sơn 1 để sẵn sàng ứng cứu Thiệt hại trong cả 2 đợt lũ năm 1999 về người là 118 người chết và ước tính thiệt hại 758 tỷ đồng
Trận lũ lớn 2007 đã có 125/233 xã trong toàn tỉnh bị ngập lụt, với gần 200.000 hộ
dân Thông tin liên lạc và điện lưới nhiều nơi bị gián đoạn Hầu hết các tuyến đường giao thông trong tỉnh bị ách tắc, tuyến đường quốc lộ IA bị gián đoạn giao thông liên tục 40 giờ liền Thiệt hại do đợt lũ này gây ra là vô cùng lớn Toàn tỉnh có 47 người chết (trong
đó Đại Lộc 12; Điện Bàn 13; Duy Xuyên 9; Bắc Trà My 2; Đông Giang 3; Tây Giang 1; Nam Giang 1; Phước Sơn 2; Hiệp Đức 1; Phú Ninh 1; Quế Sơn 2); 1.518 căn nhà bị sập
đổ cuốn trôi và nhiều cơ sở hạ tầng tài sản khác bị thiệt hại Đã có khoảng 200.000 người phải cứu trợ do thiếu lương thực và nhu yếu phẩm cần thiết trong lũ Tổng thiệt hại về vật chất do đợt mưa lũ gây ra ước khoảng 2.000 tỷ đồng
Trận lũ lớn 2009: Lũ đã gây ngập lụt nghiêm trọng ở vùng hạ du, trên tuyến quốc
lộ 1A, nhiều đoạn đã bị ngập sâu như Mộc Bài (Quế Sơn), Nam Phước (Duy Xuyên), Vĩnh Điện (Điện Bàn) Nhiều tuyến tỉnh lộ nối với quốc lộ 1A cũng bị ngập sâu trong lũ, khiến giao thông bị ách tắc Tại Hội An, mực nước trên các tuyến đường trong khu vực phố cổ đã dâng cao từ 1,5 - 2m Theo thống kê sơ bộ toàn huyện Đại lộc đã có hơn 20.000 nhà dân bị chìm sâu trong biển nước đỏ ngầu từ 3 - 4m nước và tới 0,5m bùn, tại Duy Xuyên, trên 2/3 nhà dân ở các xã ven sông đã bị ngập lụt Gia súc gia cầm, tài sản bị thiệt hại nghiêm trọng Thống kê ban đầu của Ban PCLB tỉnh cho biết, thiệt hại ước tính trong đợt lũ này là hơn 3.500 tỷ đồng, 52 người chết, hơn 5.200 nhà dân bị sập, hơn 150.000 nhà dân bị tốc mái, hơn 50.000 nhà bị ngập sâu trong nước
1.3.2 Thiệt hại do hạn hán của tỉnh Quảng Nam
Hạn hán là loại thiên tai không xuất hiện thường xuyên hàng năm, nhưng có chu kỳ lặp lại với thời gian tương đối ngắn, từ 3 đến 4 năm xảy ra một lần và có tác động chậmchạp nhưng thiệt hại của thiên tai hạn hán không chỉ tới sự phát triển nền kinh tế mà còn gây ra tình trạng bất ổn về xã hội và đặc biệt môi trường bị ô nhiễm trầm trọng
Trang 30Về thời gian, hạn hán thường xảy ra vào thời kỳ lúa Đông Xuân và Hè Thu đang làm đòng trổ bông, cây công nghiệp ngắn ngày đang ra hoa kết trái nên đã gây ra thiệt hại lớn trên nhiều mặt nhất là trên lĩnh vực nông nghiệp và nước sinh hoạt Về không gian, hạn hán xảy ra trên diện rộng, đặc biệt là các khu vực chưa có công trình thuỷ lợi chủ động nước tưới và khu vực đồng bằng ven sông do thiếu công trình ngăn mặn, giữ ngọt
Quảng Nam là khu vực thường xuyên xảy ra tình trạng hạn hán và theo tài liệu thống kê hạn hán từ năm 1990 trở lại đây hầu như năm nào cũng có hạn với các mức độ khác nhau và xu thế hạn hán ngày càng tăng Diện tích có khả năng bị hạn rất lớn, vụ đông xuân trung bình khoảng 5.566ha, vụ hè thu đạt 1.700ha và đối với vụ mùa, diện tích lên tới 32.994ha (chiếm 65,8% diện tích gieo trồng) Hạn nặng và hạn vừa vào các vụ mùa ngày càng gay gắt hơn, chu kỳ hạn từ (7 – 10) năm Chu kỳ hạn vụ đông xuân không
ổn định, từ (5 - 7) năm Việc cạn kiệt nhanh nguồn nước trên sông làm tăng xâm nhập mặn vào sông, gây thiếu nước sử dụng rất nghiêm trọng cả vùng thượng du sông lẫn đồng bằng ven biển và ô nhiễm môi trường do thiếu nước, các bệnh dịch phát sinh
Bảng 17: Mức độ hạn hán tác động đến vụ đông xuân và vụ hè thu
Trang 31Trong 5 năm từ 2001 đến 2005, năm nào cũng có hạn hán gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp và thiếu nước sinh hoạt Liên tiếp trong các năm từ 2002 trở lại đây diện tích các cây trồng cạn bị hạn chiếm từ 8,76 đến 13,3% tổng số gieo trồng Đặc biệt
vụ mùa 2004 và đông xuân 2005, các diện tích mất trắng do hạn hán tăng cao Bên cạnh
đó là thiếu nước sinh hoạt cho khoảng 38,3% số người dân trong tỉnh
Bảng 18: Thiệt hại do hạn hán qua các năm 2001 - 2005
- Thiếu nước tưới lúa (ha ) 5.000 15.000 6.830 3.700 7.150
- Thiếu nước tưới rau, màu (ha) 5.000 6.900 10.000 5.000 8.000
- Thiếu nước sinh hoạt (người) 40.000 5.6000 50000 - 100.000
(Nguồn: Chi cục Thủy lợi, Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam)
Tác động của hạn ở Quảng Nam thường được biểu thị qua các đặc trưng sau đây:
- Diện tích gieo trồng lúa và một số hoa màu bị thu hẹp
- Chi phí tưới và có thể cả chi phí sản xuất tăng lên
- Năng suất lúa và một số hoa màu suy giảm đến mức rất thấp
- Sản lượng lúa và cả sản lượng hoa màu quy thóc giảm sút
- Hạn thường xuyên đi kèm với cháy rừng, cháy thảm cỏ
- Hạn hán với nắng nóng kéo dài, gió thổi mạnh, làm cho nhiều đồi cát ven biển hoặc sa mạc nội địa, cát bay, phủ khắp ruộng vườn, làng mạc
- Hạn hán làm cho nguồn nước trong đất cạn kiệt, đất dễ bị suy thoái, dẫn đến nguy
cơ hoang mạc hóa
- Hạn hán dẫn đến thiếu nước sinh hoạt, nước phục vụ sản xuất
- Hạn hán dẫn đến đói kém, kết quả là một số nông dân bỏ đồng ruộng đi phá rừng hoặc tìm kiếm việc làm ở thành thị, …
- Hạn hán dẫn đến mất an ninh lương thực thiếu hụt thức ăn và giảm khẩu phần cho gia súc, …
Tình hình khô hạn phụ thuộc vào chế độ mưa và dòng chảy mùa kiệt từ tháng 1 đến tháng 8 hàng năm Hạn hán ở Quảng nam gây tổn thất nghiêm trọng thứ tư sau lũ lụt, bão và sạt lở bờ sông Tuy ít gây thiệt hại trực tiếp về người nhưng thiệt hại về kinh tế, xã hội, là hết sức phức tạp, gây hậu quả lâu dài, khó khắc phục Ngoài sự gia tăng nhu cầu nước phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, tình trạng khô hạn có thể xảy ra do biến đổi khí hậu Có thể thống kê những trận hán hán lớn gây thiệt hại về kinh tế, mất ổn định xã hội lâu dài đã xảy ra ở tỉnh như sau:
Trang 32- Năm 1993: Khô hạn kéo dài từ 10/7 đến 20/8/1993 với tổng diện tích đất lúa bị ảnh hưởng là 14.322ha
- Năm 1998: Khô hạn kéo dài từ tháng 5 đến 9/1998 ảnh hưởng đến 32.767ha gieo trồng trong đó mất trắng 2.819ha và làm giảm năng suất của 15.000ha Thiếu nước sinh hoạt cho khoảng 200.000 người
- Năm 2001: Khô hạn kéo dài từ tháng 7 đến tháng 8 làm 8.000 ha lúa bị hạn nặng, giảm năng suất đến 60%, thiếu nước dùng cho các ngành khác, đặc biệt là đối với công nghiệp do nước mặn xâm nhập vào sâu
- Năm 2008: Từ tháng 5 đến tháng 7, tình trạng không mưa kéo dài 6.000 ha lúa bị hạn nặng Mặn xâm nhập vào sâu trong sông, vấn đề thiếu nước sinh hoạt rất trầm trọng, đặc biệt đối với các đô thị như TP Đà Nẵng và các huyện ven biển Quảng Nam
- Năm 2009: Lượng mưa tháng 7 trên toàn tỉnh thấp (đạt dưới 50mm) cùng với sự hoạt động của các hồ chứa, mực nước các sông trên địa bàn tỉnh thấp dưới mức trung bình nhiều năm, thậm trí ở một số trạm quan trắc, đã xuất hiện mực nước thấp nhất từ trước đến nay (An trạch – sông Yên: 1,5m) gây ảnh hưởng cho sản xuất nông nghiệp (5000ha lúa hè thu bị hạn) và sinh hoạt của các huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Hội An
- Năm 2010: Đây là năm hạn hán đặc biệt nghiêm trọng đối với tỉnh Quảng Nam Báo cáo của Sở NN&PTNT Quảng Nam cho thấy, từ khi bắt đầu vụ sản xuất hè - thu năm 2010 đến nay, tình hình thời tiết nắng nóng kéo dài, nhiệt độ cao, ít mưa, lượng nước bốc hơi lớn, lượng mưa đo được chỉ bằng 30% so với cùng kỳ năm
2009, vì vậy các hồ chứa nước sớm bị khô kiệt, hơn 10.000 ha đất nông nghiệp đang trong tình trạng nguy kịch vì không có nước tưới Các huyện Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên và Thăng Bình có diện tích khô hạn lớn nhất với gần 7.000ha Theo UBND tỉnh Quảng Nam do hạn hán kéo dài, 4.841/44.500ha lúa hè thu trên địa bàn tỉnh bị hư hại Khác với tình cảnh lúa chết cháy, nhiều nông dân tại Quảng Nam lại bị trắng tay bởi tình trạng nước mặt xâm thực Huyện Duy Xuyên mất 460ha lúa do sông Thu Bồn bị nhiễm mặn, huyện Điện Bàn: gần 200ha đã gieo sạ nhưng bị khô hạn do nguồn nước sông Vĩnh Điện bị nhiễm mặn Ngoài ra, báo cáo của Sở NN&PTNT cho biết các huyện trung du và miền núi Quảng Nam có trên 3.000ha lúa không thể gieo sạ vì khô cằn cùng với 5.000 ha cây trồng thiếu nước tưới và gần 5.000 người dân bị thiếu nước sinh hoạt
Trang 331.4 Cảnh báo mức độ gia tăng của thiên tai lũ lụt và hạn hán theo kịch bản biến đổi
khí hậu
Theo kết quả nghiên cứu của Tổ chức Đông Tây hội ngộ (EMWF), các loại thiên
tai tác động chủ yếu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có xu hướng ngày càng nhiều hơn về số
lượng và mạnh hơn về mức độ tác động Đồng thời có xu hướng diễn biến phức tạp, khó
lường hơn về hướng đi, mùa ảnh hưởng và khu vực ảnh hưởng Các dạng thiên tai liên
quan với sự biến động bất thường của thời tiết ngày càng có xu thể gia tăng
Bảng 19: Xu hướng thiên tai trong 5 năm gần đây ở Quảng Nam
TT Loại thiên tai và hiện tượng thời
Mức độ ảnh hưởng của mỗi loại thiên tai đối với từng khu vực là khác nhau tuỳ
thuộc vào những đặc điểm riêng của từng khu vực như vị trí địa lý, địa hình, nguồn thu
nhập chính của cộng đồng, mức độ phát triển cơ sở hạ tầng Từ đó, dưới tác động của
thiên tai, cộng đồng ở những khu vực khác nhau se gạp những vấn đề khác nhau và cần có
những giải pháp khác nhau trong hoạt động phòng chống và giảm nhẹ hậu quả biến đổi
khí hậu
1.4.1 Mức độ gia tăng của lũ và ngập lụt
Lũ và ngập lụt cũng có xu hướng ngày càng gia tăng do lượng mưa lớn và tập
trung, rừng đầu nguồn bị thu hẹp, dòng chảy thoát nước ra biển ngày càng hạn chế do có
nhiều công trình xây dựng dọc theo bờ sông Do lũ lớn ngày càng gia tăng nên mức độ sạt
Trang 34lở cũng có xu hướng ngày càng tăng, tiềm ẩn nguy cơ mất đất sản xất nông nghiệp, nhà cửa, tài sản và phá huỷ các công trình phúc lợi công cộng ven sông, làm mất ổn định lòng dẫn cũng là nguyên nhân tăng cường mức độ ngập lụt ở hạ du
Theo báo cáo chuyên đề 1, 2, 3, trên cơ sở dự báo các yếu tố khí hậu, mực nước biển dâng theo kịch bản biến đổi khí hậu đã được áp dụng tính toán cho tỉnh Quảng Nam, chúng tôi chọn: kịch bản phát thải cao và kịch bản phát thải trung bình
Bảng 20: Mức thay đổi lượng mưa (%) từng thập kỷ so với thời kỳ 1990 - 2007
theo kịch bản biến đổi khí hậu
Trang 35Bảng 21: Diện tích ngập lụt ở tỉnh Quảng Nam ứng với các kịch bản nước biển dâng Kịch bản
biến đổi khí hậu Các đặc trưng Năm 2020 Năm 2050
Với bộ thông số mô hình Mike 11 – GIS đã được thiết lập (trong báo cáo chuyên
đề 5), xác định diện ngập lụt ở vùng hạ du tỉnh Quảng Nam ứng với các kịch bản biến đổi lượng mưa, mực nước biển dâng Năm 2007 là năm có lũ và ngập lụt lớn nhất trong thời
kỳ quan trắc, ứng với tần suất xuất hiện 1% được lựa chọn tính toán Ứng với trận lũ này, mức ngập theo các kịch bản biến đổi khí hậu như sau (bảng 22 và hình 4, 5 và 6)
Hình 4: Bản đồ dự báo ngập lụt năm 2020
Trang 36Hình 5: Bản đồ dự báo ngập lụt năm 2050
Hình 6: Bản đồ dự báo ngập lụt năm 20100
Trang 37Bảng 22: Diện tích ngập lụt hạ du ứng với các kịch bản biến đổi khí hậu
(km2)
So với
2007 (%)
Diện tích
(km2)
So với
2007 (%)
Diện tích
(km2)
So với
2007 (%)
1.4.2 Mức độ gia tăng của hạn hán
Để có một chỉ số hạn hán phản ảnh được tác động của biến đổi khí hậu, cần xác định một số yêu cầu chung về chỉ số hạn hán như sau:
(1) Chịu sự tác động rõ rệt của biến đổi khí hậu và có liên quan mật thiết với các yếu tố chính trong kịch bản biến đổi khí hậu là nhiệt độ và lượng mưa;
(2) Phản ánh được bản chất hạn hán là thiếu hụt mưa so với yêu cầu của thực tế sản xuất nông nghiệp;
(3) Phản ánh được dao động ẩm của lượng mưa tại thời điểm hiện tại;
(4) Phản ánh được cả mức độ thiếu hụt mưa tại thời gian hiện tại và cả ảnh hưởng
kế thừa của tình trạng thiếu hụt mưa thời gian trước đó;
(5) Phản ánh được mức độ hạn hán thực tế nhất là những năm hạn nặng;
(6) Các số liệu để tính chỉ số hạn có thể thu thập được
Dựa trên kết quả phân tích khả năng đáp ứng 6 yêu cầu trên, đã xác định chỉ số hạn hán với các thành tố sau đây:
Trang 38 Tên chỉ số: Độ dài mùa hạn
Đơn vị trắc lượng: Thời gian kéo dài, tính bằng tháng hoặc bằng ngày
Điều kiện xuất hiện và tồn tại hạn: Hạn xuất hiện và tồn tại trong cả mùa vụ được xác định thông qua các tiêu chí sau đây: (1) Trong thời gian từ tháng 11 đến tháng 4 tổng lượng mưa 3 tháng liên tiếp không quá 60mm; (2) Trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 5 tổng lượng mưa không quá 70mm và (3) Trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 tổng lượng mưa 2 tháng liên tiếp không quá 100mm
Để xác định mối quan hệ giữa hạn với nhiệt độ và lượng mưa, chúng tôi khảo sát chuẩn sai của hạn, nhiệt độ trung bình mùa hè và lượng mưa mùa hè trên các địa điểm tiêu biểu vào 10 năm hạn nặng nhất: 1963, 1969, 1977, 1979, 1983, 1987, 1993, 1998,
2002, 2005, 2010 và 10 năm hạn ít nhất hoặc không hạn: 1961, 1971, 1976, 1978, 1982,
1985, 1989, 2000, 2001, 2007 Các đặc trưng về hạn được xác định thông qua trạm khí tượng Đà Nẵng và Quảng Ngãi (bảng 23)
Xu thế hạn ở Quảng Nam được đánh giá bằng phương trình Ht = b0+b1t
t t H Ht b
2 1
)(
))(
(
- được gọi là tốc độ xu thế
Trong đó:
t t
H n
t
t n
b0 Hb1t - được gọi là gốc của đường biểu diễn xu thế
Trong đó: H - Độ dài mùa hạn (đơn vị: tháng)
b1 - Tốc độ xu thế của H tính theo thời gian t (tháng/năm)
t - Nhiệt độ trung bình trong mùa hạn (0C)
Trên cơ sở phương trình, có thể thấy ở Quảng Nam trong 50 năm gần đây xu thế hạn gia tăng, tính cho mỗi thập kỷ, tốc độ tăng là 0,219 tháng nghĩa là 6 – 7 ngày qua mỗi thập kỷ Như vậy, độ dài mùa hạn tăng lên khi nhiệt độ tăng cùng với lượng mưa giảm và ngược lại, giảm đi khi nhiệt độ giảm và lượng mưa tăng Với số liệu quan trắc cho thấy,
độ dài mùa hạn tăng lên theo nhiệt độ với tốc độ từ 0,80 – 0,88tháng/0C và giảm đi theo lượng mưa với tốc độ 0,016 – 0,155tháng/10mm Đây là cơ sở khoa học chủ yếu để tính mức tăng của độ dài mùa hạn khi lượng mưa thay đổi theo kịch bản biến đổi khí hậu ở Quảng Nam trong thế kỷ 21
Trang 39Tốc độ xu thế của H tính theo thời gian t b1(Ht) tháng/năm 0,0069 -,00126
Hệ số tương quan giữa H và R r(HR) tháng/10mm -0,3037 -0,1843
Tốc độ xu thế của R theo thời gian t b1(Rt) mm/năm 2,1185 0,0969
Theo kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam, ở Quảng Nam nhiệt độ trung bình năm có thể tăng 0,3 - 0,40C vào năm 2020, đến giữa thế kỷ 21 tăng khoảng 0,7 - 0,80C Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ năm có thể tăng 1,5 và 1,90C theo các kịch bản từ trung bình đến cao Nhiệt độ trung bình các thời kỳ đều có thể tăng, nhiệt độ mùa đông có thể tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè, nhiệt độ thời kỳ mùa thu (tháng 9 – 11) có thể tăng nhiều nhất so với các thời kỳ khác trong năm (bảng 24)
- Vào năm 2020, nhiệt độ thời kỳ mùa hè (tháng 6 – 8) có thể tăng khoảng 0,2 - 0,30C, các thời kỳ khác có thể tăng khoảng 0,3 - 0,40C; đến giữa thế kỷ nhiệt độ thời kỳ mùa hè (tháng 6 – 8) có thể tăng khoảng 0,60C, các thời kỳ khác có thể tăng khoảng 0,7 - 0,90C
Trang 40Bảng 24: Mức tăng nhiệt độ trung bình ( o C) so với năm 1990
Quảng Nam ứng với các kịch bản phát thải
- 2,10C theo các kịch bản từ trung bình đến cao, so với thời kỳ chuẩn
Về lượng mưa, tại Quảng Nam có xu hướng tăng khoảng 1,5 – 2,0% cho cả năm, tuy nhiên, lượng mưa không tăng trong tất cả các mùa mà giảm đi trong mùa đông và mùa xuân, tăng vào mùa thu
Như vậy, có thể xác định, vào năm 2020, độ dài mùa hạn tăng lên 12 ngày theo kịch bản cao và 7 ngày theo kịch bản trung bình; vào năm 2050, tăng lên 25 ngày theo kịch bản cao và 16 ngày theo kịch bản trung bình Đến năm 2100, mức tăng sẽ là 65 ngày
theo kịch bản cao và 32 ngày theo kịch bản trung bình (bảng 25)
Bảng 25: Mức tăng độ dài mùa hạn do biến đổi khí hậu
Theo mức độ phân cấp hạn, tỉnh Quảng Nam sẽ chịu tác động của hạn hán đến năm
2020 ở cấp độ vừa (theo 2 kịch bản); đến năm 2050 ở cấp độ vừa đến nặng và đến năm