1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu học tập học phần triết học mác – lênin (dành cho khối không chuyên ngành lý luận chính trị)

144 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Học Tập Học Phần Triết Học Mác – Lênin
Tác giả Tạ Thị Vân Hà, Phạm Thị Hương, Nguyễn Thị Liên, Đào Thu Hà, Nguyễn Quỳnh Hương, Nguyễn Thị Thu Hà, Đỗ Thị Phương Hoa, Hồ Công Đức, Đặng Minh Tiến
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Tài Liệu Học Tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 887,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC (6)
    • 1. Khái lược về triết học (6)
    • 2. Vấn đề cơ bản của triết học (10)
    • 3. Biện chứng và siêu hình (13)
  • II. TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI (15)
    • 1. Sự ra đời và phát triển của triết học Mác - Lênin (15)
    • 2. Đối tượng và chức năng của triết học Mác-Lênin (24)
  • Chương 2. CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG (6)
    • I. VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC (30)
      • 1. Vật chất và phương thức tồn tại của vật chất (30)
      • 2. Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức (39)
      • 3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức (46)
    • II. PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT (49)
      • 1. Hai loại hình biện chứng và phép biện chứng duy vật (49)
      • 2. Nội dung của phép biện chứng duy vật (50)
    • III. LÝ LUẬN NHẬN THỨC (72)
      • 1. Các quan niệm trước Mác về nhận thức trong lịch sử triết học (72)
      • 2. Lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng (74)
  • Chương 3. CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ (30)
    • I. HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI (85)
      • 1. Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội (85)
      • 2. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (87)
      • 3. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội (92)
      • 4. Sự phát triển các hình thái KT - XH là một quá trình lịch sử - tự nhiên (0)
    • II. GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC (99)
      • 1. Giai cấp và đấu tranh giai cấp (99)
      • 2. Dân tộc (110)
      • 3. Mối quan hệ giai cấp - dân tộc - nhân loại (113)
    • III. NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI (115)
      • 1. Nhà nước (115)
      • 2. Cách mạng xã hội (117)
    • IV. Ý THỨC XÃ HỘI (118)
      • 1. Khái niệm tồn tại xã hội và các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội (118)
      • 2. Khái niệm, kết cấu, tính giai cấp, các hình thái, mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, tính độc lập tương đối của của YTXH 114 3. Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội (119)
    • V. TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI (133)
      • 1. Con người và bản chất của con người (133)
      • 2. Hiện tượng tha hóa con người và vấn để giải phóng con người (136)
      • 3. Quan hệ giữa cá nhân và xã hội và vai trò của quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử (138)
      • 4. Vấn để con người trong sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam (141)

Nội dung

* Quan niệm của triết học Mác - Lênin - Triết học là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí con người trong thế giới đó, là khoa học về những quy luật vận động, phá

TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC

Khái lược về triết học

a Nguồn gốc của triết học

Triết học phương Đông (Trung Hoa, Ấn Độ) và phương Tây (Hi Lạp - La Mã) ra đời gần như cùng thời, vào khoảng thế kỷ VIII - VI trước Công nguyên, tại các trung tâm văn minh lớn thời cổ đại.

- Triết học là dạng tri thức lý luận xuất hiện sớm nhất, là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội

Triết học xuất hiện khi tư duy con người đạt đến khả năng trừu tượng hóa và khái quát hóa, từ đó nhận biết được bản chất chung của sự vật, hiện tượng.

- Triết học ra đời khi nền sản xuất xã hội đã có sự phân công lao động và loài người đã xuất hiện giai cấp

Sự tách biệt lao động trí óc và chân tay tạo ra tầng lớp trí thức, sở hữu vị thế xã hội và khả năng nghiên cứu Những trí thức xuất sắc hệ thống hóa kiến thức, quan điểm thành học thuyết và lý luận.

Triết học, ngay từ khi xuất hiện, đã mang tính giai cấp sâu sắc, phục vụ lợi ích của các giai cấp và lực lượng xã hội cụ thể.

* Quan niệm về triết học ở phương Đông và phương Tây thời cổ đại

+ Trung Quốc, người ta dùng chữ triết để chỉ hệ thống tư duy, là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ

Darsana, trong triết học Ấn Độ, không chỉ là hệ thống tư duy mà còn là sự hiểu biết sâu sắc đạt được qua chiêm ngưỡng và suy ngẫm, dẫn đến chân lý dựa trên lý trí.

Triết học, xuất phát từ tiếng Hy Lạp với nghĩa "yêu thích sự thông thái", là sự tìm kiếm chân lý, giải thích vũ trụ và định hướng nhận thức, hành vi của con người.

Triết học phương Đông và phương Tây đều ra đời với tư cách hoạt động tinh thần bậc cao, sở hữu khả năng trừu tượng hóa và khái quát hóa cực kỳ mạnh mẽ.

* Quan niệm của triết học Mác - Lênin

Triết học là khoa học nghiên cứu quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, đồng thời xác định vị trí của con người trong thế giới.

- Triết học khác với các khoa học khác ở tính đặc thù của hệ thống tri thức khoa học và phương pháp nghiên cứu

Triết học và khoa học tạo nên hệ thống tri thức khái quát, trừu tượng về thế giới và bản chất đời sống con người.

Triết học nghiên cứu thế giới như một chỉnh thể, xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành và xây dựng hệ thống quan niệm về chỉnh thể đó Đối tượng nghiên cứu của triết học luôn biến đổi qua lịch sử.

+ Đối tượng của triết học phương Đông thường hướng đến con người, xã hội, gắn liền với các học thuyết chính trị - xã hội, tôn giáo

Triết học phương Tây thường tập trung vào vũ trụ và liên hệ mật thiết với khoa học tự nhiên (toán, lý, thiên văn), dẫn đến quan niệm vừa tiến bộ vừa hạn chế cho rằng "triết học là khoa học của mọi khoa học".

+ Khi quyền lực Giáo Hội bao trùm lên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì triết học trở thành nô tì của thần học

Triết học kinh viện thay thế triết học tự nhiên, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Kitô giáo, tập trung vào các vấn đề tôn giáo như thiên đường và địa ngục.

- Thời Phục hưng đến thế kỷ XVIII

+ Triết học Tây Âu từng bước thoát khỏi ách thống trị của thần học, đề

Chủ nghĩa nhân đạo và thành tựu khoa học thực nghiệm đánh dấu bước ngoặt triết học thế kỷ XVII-XVIII, đặc biệt tại Anh, Pháp và Hà Lan, khi vấn đề đối tượng của triết học được đặt ra, thúc đẩy đỉnh cao mới của chủ nghĩa duy vật.

Triết học đặt nền móng cho các khoa học, nhưng sự phát triển của khoa học chuyên ngành dần làm lu mờ vai trò truyền thống của triết học tự nhiên, khiến tham vọng bao trùm của triết học trở nên lỗi thời.

“khoa học của các khoa học” Triết học Hêghen là triết học cuối cùng thể hiện tham vọng đó

- Từ thế kỷ XIX đến nay

Triết học Mác phủ định quan niệm "triết học là khoa học của các khoa học", thay vào đó, tập trung nghiên cứu mối quan hệ vật chất - ý thức trên lập trường duy vật biện chứng, khám phá quy luật chung của tự nhiên, xã hội và tư duy.

Vấn đề cơ bản của triết học

a Nội dung vấn đề cơ bản của triết học

Theo Ph Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là

6 của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại” 1

- Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, là bản thể luận và nhận thức luận trả lời cho hai câu hỏi lớn

Bài viết này khảo sát vấn đề bản thể luận: mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả.

+ Mặt thứ hai, hay còn gọi là mặt nhận thức luận: con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

Lập trường của các trường phái triết học, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật và duy tâm, quyết định cách trả lời về bản chất ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.

Về mặt bản thể luận:

Vấn đề cơ bản của triết học, về mặt bản thể luận, đã dẫn đến sự phân chia hai trường phái triết học lớn: duy vật và duy tâm.

Chủ nghĩa duy vật, cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau và vật chất quyết định ý thức, bao gồm ba hình thức cơ bản.

Chủ nghĩa duy vật cổ đại, dù hạn chế về nhận thức về vật chất và cấu trúc của nó, nhưng đã đúng đắn khi lấy tự nhiên làm cơ sở giải thích thế giới, thay vì thần linh Tuy nhiên, nó mắc lỗi thừa nhận tính nhất nguyên của vật chất nhưng lại đồng nhất vật chất với các hình thức cụ thể của nó.

Chủ nghĩa duy vật siêu hình xem thế giới như một cỗ máy khổng lồ với các bộ phận tĩnh tại, biệt lập, đồng nhất vật chất với một dạng hay thuộc tính cụ thể và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tư duy siêu hình, cơ giới.

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.21, tr.403

Tuy phản ánh không đúng hiện thực nhưng chủ nghĩa duy vật siêu hình có tác dụng trong việc đẩy lùi thế giới quan duy tâm tôn giáo

Chủ nghĩa duy vật biện chứng, do Marx và Engels xây dựng từ những năm 1840 và được Lenin kế thừa, phát triển, là hình thức thứ ba của chủ nghĩa duy vật.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng vượt qua hạn chế của duy vật cổ điển, phản ánh khách quan hiện thực và là công cụ hữu hiệu cho các lực lượng tiến bộ cải tạo xã hội.

Chủ nghĩa duy tâm, cho rằng ý thức quyết định vật chất, tồn tại hai loại chính: (tiếp tục phần còn thiếu của bài viết)

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi ý thức là nguyên lý tối cao, phủ nhận hiện thực khách quan và cho rằng mọi sự vật, hiện tượng đều chỉ là sự kết hợp của các cảm giác.

Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng ý thức là tinh thần khách quan, tồn tại độc lập và trước thế giới vật chất, tạo ra toàn bộ vũ trụ Thực thể này được gọi là ý niệm tuyệt đối hay tinh thần tuyệt đối.

Nhất nguyên luận là học thuyết chỉ thừa nhận vật chất hoặc tinh thần là bản nguyên, quyết định sự vận động của thế giới.

Triết học nhị nguyên luận thừa nhận cả vật chất và tinh thần là hai bản nguyên cùng quyết định thế giới, nhưng về bản chất, nó vẫn nghiêng về duy tâm.

Triết học, dù đa dạng và phong phú với nhiều quan điểm và học phái, vẫn hướng tới sự thống nhất về bản chất.

Triết học chia thành hai trường phái chính: duy vật và duy tâm, dựa trên hai lập trường cơ bản về bản chất của thế giới Hai thuyết đối lập nhau về khả năng nhận thức là thuyết khả tri và thuyết bất khả tri.

Biện chứng và siêu hình

a Khái niệm biện chứng và siêu hình trong lịch sử

* Khái niệm biện chứng, siêu hình

- Biện chứng theo Socrates là nghệ thuật tranh luận để tìm chân lý bằng cách phát hiện mâu thuẫn trong cách lập luận

- Siêu hình là phương pháp luận khảo sát, nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập không có mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác

Triết học Mác-xít phân biệt phương pháp biện chứng và siêu hình, hai phương pháp tư duy đối lập nhau.

+ Nhận thức đối tượng trong trạng thái tĩnh tại, cô lập, tách rời

+ Là phương pháp được đưa từ toán học và vật lý học cổ điển vào các khoa học thực nghiệm và triết học

Phương pháp này đóng vai trò quan trọng trong cơ học, nhưng hiệu quả hạn chế khi xử lý các vấn đề động học và tương tác phức tạp.

+ Nhận thức đối tượng trong các mối liên hệ phổ biến, trong quá trình vận động, phát triển

Phương pháp này giúp người ta nhận thức được chu trình sinh, diệt và phát triển của sự vật, vượt ra ngoài việc chỉ đơn thuần thấy sự tồn tại của chúng.

Phương pháp tư duy biện chứng là công cụ hữu hiệu để nhận thức và cải tạo thế giới, đặc biệt trong triết học và khoa học xã hội.

Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực khách quan, trở thành công cụ hữu hiệu để nhận thức và cải tạo thế giới, đóng vai trò phương pháp luận tối ưu trong mọi ngành khoa học Lịch sử ghi nhận nhiều hình thức vận dụng phép biện chứng.

- Phép biện chứng tự phát thời cổ đại

Triết học cổ đại Đông - Tây nhận thấy sự vận động sinh thành, biến hóa vô tận của vũ trụ, nhưng vẫn thiếu cơ sở nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

Triết học cổ điển Đức là đỉnh cao của phép biện chứng duy tâm, hệ thống hóa phương pháp biện chứng với quan điểm thế giới hiện thực chỉ là sự phản ánh biện chứng của ý niệm.

- Phép biện chứng duy vật:

Triết học Mác - Lênin kế thừa tinh hoa biện chứng duy tâm, xây dựng phép biện chứng duy vật, thống nhất chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, làm cho phép biện chứng trở thành duy vật và chủ nghĩa duy vật trở thành biện chứng.

TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Sự ra đời và phát triển của triết học Mác - Lênin

a Những điều kiện lịch sử của sự ra đời triết học Mác

* Điều kiện kinh tế - xã hội

- Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp

+ Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX

Cách mạng công nghiệp thúc đẩy mạnh mẽ lực lượng sản xuất, củng cố quan hệ và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

+ Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội ngày càng thêm gay gắt và bộc lộ rõ rệt

Triết học Mác ra đời nhờ sự xuất hiện của giai cấp vô sản như một lực lượng chính trị - xã hội độc lập.

+ Mâu thuẫn giai cấp tư sản và vô sản

+ Sự đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản ngày càng mạnh mẽ nhưng kết quả cuối cùng thất bại

- Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu nhất cho sự ra đời triết học Mác

+ Thực tiễn cách mạng vô sản, phải được soi sáng bởi lý luận nói chung và triết học nói riêng

Chủ nghĩa tư bản phát triển đặt ra nhiều vấn đề thời đại, thúc đẩy sự ra đời của các học thuyết triết học, kinh tế và chính trị - xã hội đa dạng.

+ Sự lý giải về khuyết tật của xã hội tư bản, về sự cần thiết phải thay bằng xã hội tốt đẹp

+ Sự xuất hiện giai cấp vô sản tạo cơ sở xã hội cho sự hình thành lý luận tiến bộ và cách mạng mới

Triết học Mác - Ăngghen là cơ sở lý luận chung, vừa là thế giới quan, vừa là phương pháp luận cho lý luận đó.

* Nguồn gốc lý luận và tiền đề khoa học tự nhiên

Triết học Mác-Lênin kế thừa và phát triển phép biện chứng của Hegel cùng quan điểm duy vật của Feuerbach, tạo nên triết học duy vật biện chứng.

C Mác và Ph Ăngghen kế thừa và phát triển kinh tế học cổ điển Anh (A Smith, D Ricardo) để xây dựng học thuyết kinh tế Mác – nền tảng quan trọng của triết học duy vật lịch sử Nghiên cứu kinh tế đóng vai trò cốt yếu trong việc hoàn thiện quan điểm duy vật lịch sử của Mác.

Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp (Saint-Simon, Fourier, Owen) đã ảnh hưởng đến lý thuyết cộng sản của Marx và Engels, tạo nền tảng cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học Triết học Mác không thể tách rời sự phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa của ông.

- Tiền đề khoa học tự nhiên

Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng chứng minh năng lượng không tự sinh ra cũng không tự mất đi mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác Khám phá này là nền tảng cho nhiều lý thuyết khoa học, trong đó có những đóng góp quan trọng của C Mác.

Ph Ăngghen xây dựng quan niệm duy vật mới, khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới

+ Thuyết tiến hóa của Đácuyn: chứng minh tính thống nhất về nguồn gốc của các loài và sự phát sinh, phát triển của chúng từ thấp đến cao

+ Thuyết tế bào: chứng minh tính thống nhất của toàn bộ sự sống

* Nhân tố chủ quan trong sự hình thành triết học Mác

+ C Mác và Ph Ăngghen có tình cảm đặc biệt với nhân dân lao động, yêu thương nhân dân lao động nghèo khổ

+ C Mác và Ph Ăngghen đều xuất phát từ tầng lớp trên, nhưng hai ông đều sớm hiến dâng cuộc đời mình đấu tranh vì hạnh phúc của nhân loại

+ C Mác và Ph Ăngghen hiểu sâu sắc cuộc sống khốn khổ và những hạn chế của giai cấp công nhân trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

+ C Mác và Ph Ăngghen là những người lao động khoa học nghiêm túc, công phu và hoạt động thực tiễn tích cực không mệt mỏi

+ C Mác và Ph Ăngghen ngay từ nhỏ đã tỏ ra có năng khiếu đặc biệt và nghị lực nghiên cứu, học tập phi thường

Triết học Mác ra đời là kết quả tất yếu của sự hòa quyện giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, không thể sớm hơn hay muộn hơn thời điểm lịch sử đó Bài viết sẽ trình bày những giai đoạn chủ yếu trong sự hình thành và phát triển của triết học Mác.

Giai đoạn 1841-1844 đánh dấu bước ngoặt tư tưởng của Marx và Engels, chuyển đổi từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và cộng sản.

Karl Marx sinh ngày 5/5/1818 tại Trier, Vương quốc Phổ, sớm hình thành tinh thần nhân đạo và yêu tự do từ thuở nhỏ.

Năm 1841, sau khi nhận bằng tiến sĩ triết học, kế hoạch giảng dạy tại Đại học Bonn và xuất bản tạp chí của Marx thất bại do chính sách phản động của chính quyền Phổ.

Năm 1842, dưới chế độ phản động của Phổ, C Mác cùng các trí thức trẻ theo trường phái Hêghen tham gia đấu tranh chống chuyên chế, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự chuyển biến tư tưởng của ông.

Các bài viết của C Mác trên Nhật báo tỉnh Ranh (1842 - 1843)

Tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1843)

Lời nói đầu của Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen

Qua các tác phẩm, C Mác phê phán chủ nghĩa duy tâm Hegel, kế thừa duy vật của Feuerbach nhưng chỉ rõ hạn chế của nó Ông cũng phân tích ý nghĩa lịch sử to lớn và mặt hạn chế của cách mạng tư sản.

Chủ nghĩa cộng sản khoa học ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.

* Thời kỳ (1844 - 1848): đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

1 Vật chất và phương thức tồn tại của vật chất a Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trước C Mác về phạm trù vật chất

- Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm

Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận thực tại khách quan của giới tự nhiên, nhưng cho rằng nguồn gốc của nó bắt nguồn từ sự biến đổi của tinh thần tuyệt đối.

+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng, đặc trưng cơ bản nhất của

26 mọi sự vật, hiện tượng là sự tồn tại lệ thuộc vào chủ quan, tức là một hình thức tồn tại khác của ý thức

+ Về mặt nhận thức luận, chủ nghĩa duy tâm cho rằng con người có thể hoặc không thể, hoặc chỉ nhận thức được cái bề ngoài của sự vật

+ Thế giới quan triết học duy tâm rất gần với thế giới quan tôn giáo và tất yếu dẫn họ đến với thần học

- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước C Mác về vật chất

+ Quan điểm về vật chất của chủ nghĩa duy vật thời Cổ đại

Các nhà duy vật cổ đại cho rằng vật chất là nguồn gốc của vũ trụ, với các quan niệm đa dạng: nước (Thales), lửa (Heraclitus), không khí (Anaximenes), tứ đại (Ấn Độ), ngũ hành (Trung Quốc) Một số trường phái khác lại quy về các khái niệm trừu tượng như Không (Phật giáo) và Đạo (Lão Trang).

Bước tiến quan trọng nhất của sự phát triển phạm trù vật chất là định nghĩa của hai nhà triết học Leucippus (Lơxíp) và Democritos (Đêmôcrít)

Theo Leucippus và Democritus, vật chất cấu thành từ các nguyên tử – hạt nhỏ nhất, bất khả phân, tồn tại vĩnh cửu và đa dạng về hình dạng, sắp xếp, tạo nên sự đa dạng của vạn vật Triết học cổ đại lấy vật chất làm nền tảng giải thích thế giới.

Nhược điểm: đồng nhất vật chất với các dạng cụ thể của vật chất

+ Quan niệm về chất của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XV - XVIII

Các nhà triết học tiếp tục nghiên cứu thuyết nguyên tử, được củng cố bởi bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại của nguyên tử Họ đồng nhất nguyên tử với khối lượng, áp dụng định luật cơ học để giải thích mọi hiện tượng, theo quan điểm cơ học thuần túy.

Chủ nghĩa duy vật sơ kỳ xem 27 chất, vận động, không gian và thời gian là các thực thể riêng biệt, thiếu liên hệ nội tại Tuy nhiên, ưu điểm nổi bật là việc dựa trên khoa học thực nghiệm để chứng minh sự tồn tại của nguyên tử.

Triết học duy vật thời kỳ này chưa thoát khỏi tư duy siêu hình, dẫn đến những khái quát về phạm trù vật chất chưa chính xác.

Triết học duy vật thế kỷ XIX-XX đồng nhất vật chất với khối lượng, tách rời nó khỏi không gian và thời gian, tạo nên quan niệm cơ học về thế giới; song, cuộc cách mạng khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã thách thức quan điểm này.

XX và sự phá sản của các quan điểm duy vật siêu hình về vật chất

- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong vật lý học đã có nhiều phát minh quan trọng

+ Năm 1895, Rontgen (Rơnghen) phát hiện ra tia X

Năm 1896, Becquerel phát hiện hiện tượng phóng xạ, mở đường cho Thomson phát hiện điện tử năm 1897, chứng minh nguyên tử không bất biến và có thể phân chia.

+ Năm 1901, Kaufman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là bất biến mà đổi theo tốc độ vận động của nguyên tử

Năm 1905, Einstein công bố thuyết tương đối hẹp, tiếp đó là thuyết tương đối tổng quát năm 1916, chứng minh không gian, thời gian và khối lượng thay đổi phụ thuộc vào chuyển động của vật chất.

Những thành tựu khoa học đã gây hoang mang cho các nhà duy vật tự phát và siêu hình, đặt nghi vấn về tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật khi nguyên tử, vốn được coi là phần tử nhỏ nhất, lại có thể phân chia, tan rã và "biến mất", dẫn đến hoài nghi về tính bất biến của vật chất.

Tình hình trên đã làm cho nhiều nhà khoa học trượt từ chủ nghĩa duy

28 vật máy móc, siêu hình sang chủ nghĩa tương đối, cuối cùng rơi vào chủ nghĩa duy tâm

Triết học Mác - Lênin đề xuất một quan niệm mới về vật chất nhằm giải quyết khủng hoảng trong khoa học tự nhiên và hạn chế của chủ nghĩa duy vật siêu hình, khắc phục sự bất lực của nó trong việc lý giải thực tế.

* Quan niệm của C Mác, Ph Ăngghen về vật chất

C Mác và Ph Ăngghen mặc dù chưa đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất, nhưng các ông đã đưa ra những tư tưởng quan trọng về vật chất:

Sự phân biệt giữa vật chất và tính cách là vấn đề triết học quan trọng, cần phân định rõ ràng phạm trù triết học với các hiện tượng vật chất cụ thể.

Vật chất là sản phẩm của quá trình tư duy trừu tượng hóa từ những sự vật, hiện tượng cảm nhận được qua giác quan.

Thế giới vật chất tồn tại độc lập, khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người, dù đa dạng và phong phú đến đâu.

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 Hai loại hình biện chứng và phép biện chứng duy vật a Hai loại hình biện chứng

- Biện chứng thường được hiểu theo hai nghĩa:

Biện chứng chỉ mối liên hệ, vận động, phát triển khách quan của sự vật, hiện tượng, quá trình tồn tại độc lập ngoài ý thức con người.

Biện chứng là phương pháp xem xét sự vật, hiện tượng và phản ánh tư tưởng trong mối liên hệ vận động, phát sinh, tiêu vong qua lại.

Biện chứng bao gồm hai khía cạnh: biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Biện chứng khách quan phản ánh quy luật vận động, phát triển khách quan của thế giới vật chất, độc lập với ý thức con người.

+ Biện chứng chủ quan là biện chứng của tư duy, phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc của con người

Biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan thống nhất nhưng có sự độc lập tương đối, với biện chứng khách quan quy định biện chứng chủ quan Đây là một khía cạnh quan trọng của phép biện chứng duy vật.

Phép biện chứng là học thuyết khoa học nghiên cứu và hệ thống hóa các nguyên lý, quy luật vận động, phát triển khách quan của thế giới, cung cấp phương pháp luận cho nhận thức và thực tiễn.

Phép biện chứng duy vật thống nhất thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, kết hợp lý luận nhận thức với logic biện chứng, được minh chứng qua sự phát triển của khoa học tự nhiên.

Phép biện chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất, định hướng hoạt động nhận thức và thực tiễn, đồng thời là hình thức tư duy hiệu quả nhất cho khoa học.

Phép biện chứng duy vật nghiên cứu trạng thái tồn tại quy luật phổ biến nhất của sự vật và hiện tượng trong thế giới.

2 Nội dung của phép biện chứng duy vật a Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật

Nguyên lý là những luận điểm cơ bản, khái quát nhất của một học thuyết, chi phối hoạt động của mọi đối tượng thuộc phạm vi nghiên cứu đó.

Nguyên lý triết học là những luận điểm tổng quát, hình thành từ quan sát và kinh nghiệm của nhân loại về tự nhiên, xã hội và tư duy Chúng là tiền đề cho suy lý, dẫn đến các nguyên tắc, quy luật và phương pháp phục vụ nhận thức và thực tiễn.

* Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Quan điểm siêu hình cho rằng mọi sự vật hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời, không có sự quy định hay ràng buộc lẫn nhau; các mối liên hệ, nếu có, chỉ là bề ngoài và ngẫu nhiên.

Quan điểm biện chứng cho rằng: các sự vật hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định và chuyển hóa lẫn nhau

+ Liên hệ là quan hệ giữa hai đối tượng nếu sự thay đổi của một trong số chúng nhất định làm đối tượng kia thay đổi

Mối liên hệ là phạm trù triết học chỉ sự ràng buộc, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng.

Cô lập là trạng thái một đối tượng không bị ảnh hưởng bởi, cũng không ảnh hưởng đến, các đối tượng khác.

Mối quan hệ giữa các đối tượng không phải lúc nào cũng tuyệt đối; sự liên hệ và cô lập có thể tồn tại đồng thời.

+ Mối liên hệ phổ biến: là mối liên hệ tồn tại trong tất cả mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội, tư duy

- Tính chất của mối liên hệ phổ biến

Tính khách quan của mối liên hệ phổ biến nằm ở sự tồn tại độc lập với con người; ta chỉ nhận thức chúng thông qua các mối liên hệ sẵn có.

CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI

1 Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội Để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành sản xuất Đó là hoạt động đặc trưng riêng có của con người và xã hội loài người

Sản xuất là hoạt động sáng tạo giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con người Quá trình này, trong xã hội loài người, được gọi là sản xuất xã hội, tái tạo đời sống hiện thực.

- Sự sản xuất xã hội: tức là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực, bao gồm ba phương diện không tách rời nhau:

Sản xuất vật chất là quá trình con người dùng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, biến đổi vật chất tự nhiên thành của cải xã hội, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển.

+ Sản xuất tinh thần: là hoạt động tạo ra các giá trị tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội

Sản xuất ra con người bao gồm sinh đẻ, nuôi dạy con cái (cá nhân, gia đình) và tăng trưởng dân số, phát triển con người toàn diện (xã hội).

Sản xuất vật chất là nền tảng tồn tại và phát triển của xã hội loài người.

Sản xuất vật chất là nền tảng tạo ra tư liệu sinh hoạt, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người.

+ Sản xuất vật chất là cơ sở hình thành nên tất cả các hình thức quan hệ xã hội khác

Sản xuất vật chất là điều kiện quyết định sự hình thành và phát triển phẩm chất xã hội của con người, tạo nên ngôn ngữ, nhận thức, tư duy, đạo đức và tình cảm.

Sản xuất vật chất là nền tảng tồn tại và phát triển của xã hội loài người, quyết định toàn bộ sự vận động và phát triển của đời sống xã hội.

Phương pháp luận duy vật lịch sử nhấn mạnh vai trò quyết định của sản xuất vật chất trong nhận thức và cải tạo xã hội Phát triển kinh tế - vật chất là nền tảng cho sự phát triển xã hội, không thể dùng yếu tố tinh thần để giải thích đời sống tinh thần.

2 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất a Phương thức sản xuất

Phương thức sản xuất là cách thức con người sản xuất vật chất trong từng giai đoạn lịch sử, bao gồm sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tương ứng.

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra năng lực biến đổi tự nhiên phục vụ nhu cầu xã hội.

Lực lượng sản xuất bao gồm hai yếu tố cấu thành: tư liệu sản xuất (kinh tế - kỹ thuật) và người lao động (kinh tế - xã hội) Sự kết hợp của hai yếu tố này tạo nên lực lượng sản xuất.

Lực lượng sản xuất bao gồm lao động sống và lao động vật hóa, tạo nên sức sản xuất – tổng năng lực thực tiễn sản xuất của xã hội Hệ thống này gồm người lao động, tư liệu sản xuất và phương thức kết hợp chúng, nhằm cải biến tự nhiên và tạo ra của cải vật chất.

Người lao động là chủ thể sáng tạo và tiêu dùng, sở hữu tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, và năng lực sáng tạo đóng góp vào sản xuất xã hội.

Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất thiết yếu cho hoạt động sản xuất, bao gồm đối tượng lao động – những yếu tố vật chất được con người tác động bằng tư liệu lao động để biến đổi.

83 hợp với mục đích sử dụng của con người

GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC

1 Giai cấp và đấu tranh giai cấp a Giai cấp

* Quan niệm trong lịch sử về giai cấp

- Trong lịch sử, phần lớn các nhà triết học, các nhà xã hội hội học trước

C Mác đều thừa nhận sự tồn tại thực tế các giai cấp Song, do hạn chế về nhiều mặt nên họ đã không lý giải được một cách khoa học về hiện tượng phức tạp này trong lịch sử

Các lý thuyết giai cấp thường dựa trên những tiêu chí chủ quan như chức năng xã hội, lối sống, mức sống, địa vị và uy tín, thay vì những đặc trưng khách quan.

Các học thuyết này né tránh vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất, cố tình che giấu mâu thuẫn giai cấp và biện minh cho sự tồn tại của giai cấp thống trị, bóc lột.

* Quan niệm của C Mác về giai cấp

- C Mác đã nghiên cứu về giai cấp từ việc phân tích kết cấu phương thức sản xuất với cách tiếp cận khoa học:

Xã hội học dựa trên lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C Mác, trong đó kinh tế được xác định là nền tảng của cơ cấu xã hội và giai cấp.

Theo C Mác, sự phân chia giai cấp là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển xã hội, thể hiện qua quan hệ sản xuất, nơi một giai cấp bóc lột giai cấp khác.

Vì vậy, chỉ có thể hiểu đúng vấn đề giai cấp khi nó gắn với đời sống kinh tế, với nền sản xuất vật chất xã hội

* Quan niệm của Lênin về giai cấp

- Định nghĩa về giai cấp của Lênin

Trong tác phẩm "Sáng kiến vĩ đại", V.I Lênin kế thừa và phát triển tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen, đưa ra định nghĩa khoa học về giai cấp.

Giai cấp là những tập đoàn người lớn, khác biệt về địa vị trong hệ thống sản xuất, quan hệ với tư liệu sản xuất (thường được pháp luật thừa nhận), vai trò trong lao động xã hội, dẫn đến sự chênh lệch trong hưởng thụ của cải Một giai cấp có thể chiếm đoạt lao động của giai cấp khác do vị thế kinh tế - xã hội khác nhau.

- Định nghĩa của V.I Lênin đã chỉ ra các đặc trưng cơ bản của giai cấp sau đây:

+ Giai cấp là những tập đoàn người có địa vị kinh tế - xã hội khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử

Địa vị kinh tế - xã hội của các giai cấp được xác định chủ yếu bởi các mối quan hệ kinh tế - vật chất giữa các nhóm người trong phương thức sản xuất.

Quan hệ giai cấp bản chất là quan hệ bóc lột, giữa nhóm người chiếm đoạt lao động của nhóm người khác do chênh lệch địa vị kinh tế - xã hội.

Giai cấp là phạm trù kinh tế - xã hội mang tính lịch sử, tự nhiên tiêu vong khi điều kiện kinh tế - xã hội tạo nên nó không còn tồn tại.

* Nguồn gốc của giai cấp

Sự phát triển lực lượng sản xuất, dẫn đến năng suất lao động tăng và xuất hiện "của dư", là nguyên nhân sâu xa hình thành giai cấp "Của dư" không chỉ tạo điều kiện cho sự chiếm đoạt lao động, mà còn thúc đẩy phân công lao động xã hội.

2 V I Lênin: Toàn tập, tập 39, xuất bản lần thứ 5, Mátxcơva, 1970

Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp; chừng nào còn chế độ tư hữu, chừng đó còn tồn tại giai cấp.

* Kết cấu xã hội - giai cấp

Kết cấu xã hội - giai cấp là hệ thống các giai cấp và mối quan hệ giữa chúng, đặc trưng cho một giai đoạn lịch sử cụ thể.

- Kết cấu xã hội - giai cấp bao gồm: giai cấp cơ bản, giai cấp không cơ bản và các tầng lớp xã hội trung gian

Hai giai cấp cơ bản là sản phẩm của phương thức sản xuất thống trị và gắn liền với nó.

+ Những giai cấp không cơ bản: là những giai cấp gắn với phương thức sản xuất tàn dư, hoặc mầm mống trong xã hội

Một số tầng lớp và nhóm xã hội, dù thiếu địa vị kinh tế độc lập, vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội, phục vụ các giai cấp khác tùy thuộc điều kiện lịch sử.

- Kết cấu xã hội - giai cấp luôn có sự vận động và biến đổi không ngừng

NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI

1 Nhà nước a Nguồn gốc của nhà nước

Sự phát triển lực lượng sản xuất tạo ra sự dư thừa của cải và chế độ tư hữu, dẫn đến mâu thuẫn giai cấp gay gắt, không thể điều hòa, từ đó hình thành nhà nước Bản chất nhà nước… (tiếp tục phần bản chất nhà nước)

Nhà nước bản chất là tổ chức chính trị của giai cấp thống trị kinh tế, bảo vệ trật tự hiện hành và đàn áp sự phản kháng Đây là đặc trưng cơ bản của nhà nước.

Ph Ăngghen cho rằng, nhà nước thường có ba đặc trưng cơ bản:

Thứ nhất, nhà nước là một tổ chức thực hiện sự quản lý dân cư theo lãnh thổ để cai trị dân cư trong lãnh thổ đó

Thứ hai, tổ chức nhà nước là bộ máy quyền lực có tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội

Thứ ba, duy trì hệ thống thuế khóa để tăng cường và duy trì bộ máy cai trị của mình d Chức năng cơ bản của nhà nước

Nhà nước thực hiện hai chức năng cơ bản: chức năng thống trị chính trị, phản ánh bản chất giai cấp, và chức năng xã hội.

Chức năng chính trị của giai cấp thống trị phụ thuộc vào bản chất giai cấp của nhà nước Nhà nước, với tư cách công cụ của giai cấp thống trị, vận dụng bộ máy quyền lực để duy trì sự thống trị thông qua hệ thống chính trị.

111 sách và pháp luật là công cụ của bộ máy nhà nước, từ trung ương đến địa phương, để duy trì trật tự, đàn áp phản kháng và bảo vệ quyền lợi giai cấp thống trị.

Nhà nước thực hiện chức năng xã hội bằng cách quản lý và điều hành các công việc chung như thủy lợi, giao thông, y tế, giáo dục, môi trường, nhằm duy trì trật tự xã hội theo quan điểm giai cấp thống trị.

- Theo phạm vi tác động của quyền lực nhà nước, được chia thành chức năng đối nội và đối ngoại:

Chức năng đối nội duy trì trật tự xã hội bằng chính sách xã hội, luật pháp, truyền thông, văn hóa, giáo dục, tác động đến mọi lĩnh vực (chính trị, kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục) để đáp ứng nhu cầu xã hội.

Chức năng đối ngoại nhà nước thực hiện chính sách đối ngoại giai cấp thống trị, giải quyết quan hệ quốc tế, bảo vệ lãnh thổ và đáp ứng nhu cầu trao đổi kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, y tế, giáo dục.

Kiểu nhà nước phản ánh bộ máy thống trị thuộc giai cấp nào, dựa trên chế độ kinh tế nào và hình thái kinh tế - xã hội nào Lịch sử ghi nhận bốn kiểu nhà nước.

+ Kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ

+ Kiểu nhà nước phong kiến

+ Kiểu nhà nước tư sản

+ Kiểu nhà nước vô sản

Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước của giai cấp thống trị, bản chất là hình thức cầm quyền của giai cấp đó Một kiểu nhà nước có thể tồn tại nhiều hình thức nhà nước khác nhau.

+ Kiểu nhà nước chủ nô có các hình thức: nhà nước chủ nô quý tộc, nhà nước chủ nô dân chủ

+ Kiểu nhà nước phong kiến có các hình thức: nhà nước phong kiến tập quyền, nhà nước phong kiến phân quyền

Nhà nước tư sản tồn tại dưới nhiều hình thức, bao gồm: cộng hòa tổng thống, cộng hòa nghị viện, cộng hòa hỗn hợp và quân chủ lập hiến.

+ Kiểu nhà nước vô sản có các hình thức: nhà nước Xôviết, nhà nước dân chủ nhân dân

2 Cách mạng xã hội a Nguồn gốc của cách mạng xã hội

Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất dẫn đến xung đột giai cấp: giai cấp bị trị (đại diện cho lực lượng sản xuất mới) đấu tranh với giai cấp thống trị (đại diện cho quan hệ sản xuất lạc hậu) Sự gay gắt của mâu thuẫn này là động lực dẫn đến cách mạng xã hội.

- Khái niệm cách mạng là để chỉ sự thay đổi căn bản về chất của một sự vật hiện tượng nào đó trong thế giới

Mạng xã hội, theo nghĩa rộng, là sự chuyển đổi căn bản về chất của một hình thái kinh tế - xã hội, đánh dấu quá trình chuyển đổi từ một hình thái này sang hình thái khác, tiến bộ hơn, như lý thuyết của C Mác đã đề cập.

- Cách mạng xã hội hiểu theo nghĩa hẹp: là cuộc đấu tranh lật đổ chính quyền, thiết lập một chính quyền mới tiến bộ hơn

- Cách mạng xã hội khác với tiến hoá xã hội

- Cách mạng xã hội khác với cải cách xã hội

Bản chất mỗi cuộc cách mạng xã hội phụ thuộc vào mâu thuẫn cơ bản và nhiệm vụ chính trị mà nó giải quyết.

Lực lượng cách mạng xã hội gồm các giai cấp và tầng lớp có lợi ích gắn bó với sự nghiệp cách mạng, tích cực tham gia các phong trào đấu tranh vì mục tiêu cách mạng.

Ý THỨC XÃ HỘI

Xã hội vận hành dựa trên hai lĩnh vực cốt lõi: vật chất và tinh thần, tương ứng với sự tồn tại và ý thức xã hội.

1 Khái niệm tồn tại xã hội và các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội a Khái niệm tồn tại xã hội

Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt

114 yếu tố vật chất, tức điều kiện vật chất khách quan quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, cấu thành các yếu tố cơ bản cho sự tồn tại xã hội.

Tồn tại xã hội bao gồm các yếu tố cơ bản là:

Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh địa lý là yếu tố vật chất khách quan quyết định sự tồn tại và phát triển của cộng đồng người trong lịch sử.

Dân số và mật độ dân số, với các yếu tố về số lượng, chất lượng, cơ cấu, phân bố và cấu trúc, tạo điều kiện vật chất cho sự tồn tại và phát triển xã hội.

Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên và dân cư là những yếu tố tiền đề cho việc xác lập một phương thức sản xuất nhất định

Phương thức sản xuất vật chất quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội, đồng thời chi phối hoạt động vật chất của mỗi xã hội.

Phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và trực tiếp nhất quyết định trình độ phát triển của xã hội; các yếu tố cấu thành xã hội có mối quan hệ quy định và chi phối lẫn nhau.

2 Khái niệm, kết cấu, tính giai cấp, các hình thái, mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, tính độc lập tương đối của của ý thức xã hội a Khái niệm ý thức xã hội Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống…, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định

- Ý thức xã hội thường được biểu hiện thông qua các hình thức cơ bản như:

+ Các sinh hoạt tư tưởng mang tính học thuật như: sinh hoạt chính trị,

115 pháp luật, khoa học… của cộng đồng xã hội;

+ Các sinh hoạt văn hoá của cộng đồng xã hội như: lễ hội truyền thống, tôn giáo, nghệ thuật ;

+ Các tập tục và nếp sống mang đặc trưng văn hoá của mỗi cộng đồng người

- Cần phân biệt ý thức xã hội và ý thức cá nhân

Ý thức cá nhân là thế giới tinh thần riêng biệt của mỗi người, phản ánh tồn tại xã hội ở các mức độ khác nhau.

Ý thức cá nhân và ý thức xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, làm giàu thêm cho nhau Kết cấu của ý thức xã hội là một khía cạnh quan trọng cần nghiên cứu.

* Theo trình độ phản ánh có thể phân biệt ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận

Ý thức xã hội thông thường là những tri thức và quan niệm hình thành trực tiếp từ hoạt động hàng ngày, chưa được hệ thống hóa hay khái quát.

Ý thức lý luận/khoa học là hệ thống tư tưởng, quan điểm được tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát thành các học thuyết xã hội, thể hiện qua các khái niệm, phạm trù và quy luật.

Ý thức thông thường và ý thức lý luận có mối quan hệ mật thiết: ý thức thông thường phản ánh đời sống hàng ngày, cung cấp tri thức kinh nghiệm làm nền tảng quan trọng cho sự hình thành ý thức lý luận, dù ở mức độ thấp hơn.

Ý thức lý luận, hay ý thức khoa học, phản ánh hiện thực một cách sâu sắc, chính xác và toàn diện, đồng thời làm sáng tỏ các mối liên hệ khách quan.

116 quan, bản chất, tất yếu mang tính quy luật của sự vật và các quá trình xã hội

Ý thức xã hội tiên tiến phản ánh sự phát triển vượt bậc của xã hội hiện đại, đặc biệt vai trò sáng tạo của ý thức lý luận ngày càng quan trọng.

Sự phát triển của khoa học công nghệ, truyền thông đại chúng và internet đã thúc đẩy ý thức lý luận (ý thức khoa học) thâm nhập sâu rộng và phát triển nhanh chóng trong xã hội hiện đại.

* Theo phương thức phản ánh, ý thức xã hội gồm tâm lý xã hội và hệ tư tưởng

TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI

1 Con người và bản chất của con người a Con người là một thực thể sinh học – xã hội

Con người, theo quan điểm của Karl Marx, là sinh vật xã hội bậc cao nhất, chủ thể lịch sử, và là nguồn sáng tạo nên mọi thành tựu văn minh, văn hoá.

+ Về phương diện sinh học: con người là một thực thể sinh vật, là sản phẩm của giới tự nhiên, là một động vật xã hội

+ Với tư cách là một bộ phận của giới tự nhiên:

Con người tuân theo quy luật sinh học tự nhiên như di truyền và tiến hoá, nhưng khác biệt căn bản là khả năng biến đổi cả tự nhiên và chính mình dựa trên các quy luật khách quan Đây là điểm phân biệt con người với các sinh vật khác.

Con người sống dựa vào tự nhiên, sử dụng các sản phẩm tự nhiên cho mọi nhu cầu thiết yếu Hoạt động thực tiễn gắn kết con người với tự nhiên, xem tự nhiên là "thân thể vô cơ" của con người Vì vậy, sự tồn tại và phát triển của con người phụ thuộc vào sự hòa hợp với tự nhiên.

+ Với tư cách con người là một thực thể xã hội:

Hoạt động quan trọng nhất của con người là lao động sản xuất, khác biệt hoàn toàn với động vật dựa vào bản năng và sản phẩm tự nhiên Con người cải tạo tự nhiên và sáng tạo vật phẩm đáp ứng nhu cầu sống thông qua lao động.

Lao động là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của con người, cả về mặt sinh học và xã hội, góp phần cải tạo bản năng sinh học và làm nên con người đúng nghĩa.

Hoạt động của con người, khác biệt hoàn toàn với hoạt động bản năng của động vật, tạo ra các quan hệ xã hội đa dạng, thúc đẩy sự phát triển ý thức và tư duy Lao động và giao tiếp xã hội là nền tảng hình thành ngôn ngữ, thể hiện tính xã hội đặc trưng của con người, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của loài người trong môi trường xã hội Sự khác biệt căn bản giữa người và động vật bắt nguồn từ khả năng sản xuất tư liệu sinh hoạt.

Con người khác biệt với động vật khi bắt đầu sản xuất tư liệu sinh hoạt, một bước tiến do cấu tạo cơ thể người quyết định.

Con người khác biệt căn bản với loài vật ở khả năng sản xuất, trái ngược với việc chỉ biết hái lượm như các loài vượn.

Triết học Mác - Lênin khẳng định sự khác biệt giữa người và vật dựa trên lao động sản xuất tư liệu sinh hoạt, tạo nên con người và xã hội Con người là sản phẩm của lịch sử và tự thân quá trình phát triển Quan điểm này đối lập với các quan niệm khác từng bị phê phán bởi các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác.

Feuerbach đã xem xét con người một cách trừu tượng, phi lịch sử, phi giai cấp, tách rời khỏi đời sống thực tiễn và điều kiện lịch sử cụ thể.

C Mác cho rằng lịch sử loài người do con người hiện thực, thông qua hoạt động lao động sản xuất, tự tạo ra.

Con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của lịch sử; ta không chỉ bị lịch sử chi phối mà còn tích cực định hình tương lai của chính mình.

Hoạt động sản xuất công cụ, biểu hiện của lao động và sáng tạo, đánh dấu bước ngoặt lịch sử loài người, giúp ta tách khỏi tự nhiên và loài vật, làm chủ thực tiễn và kiến tạo lịch sử.

Lịch sử loài người khác biệt với lịch sử động vật bởi con người chủ động tạo ra lịch sử của mình, bắt đầu từ việc chế tạo công cụ lao động và hoạt động sản xuất Đây là hoạt động lịch sử đầu tiên phân định ranh giới giữa người và động vật.

Con người vừa là chủ thể sáng tạo lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử, kế thừa và cải biến điều kiện lịch sử do thế hệ trước để lại Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, và việc sáng tạo lịch sử phản ánh quá trình này.

Ngày đăng: 27/10/2024, 15:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình triết học Mác - Lênin, (Dùng trong các trường đại học, cao đẳng), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Giáo trình triết học Mác - Lênin (dành cho bậc đại học không chuyên lý luận chính trị, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2021
3. Câu hỏi và bài tập triết học, tập 1, (1984), Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi và bài tập triết học
Tác giả: Câu hỏi và bài tập triết học, tập 1
Nhà XB: Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin
Năm: 1984
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2016), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2021), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2021
7. Giáo trình triết học Mác - Lênin, (2006), Chủ nghĩa duy vật lịch sử, (hệ cao cấp lý luận), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Tác giả: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
8. C. Mác và Ph.Ăngghen (2002): Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
9. C. Mác và Ph.Ăngghen (2002): Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
10. C. Mác và Ph.Ăngghen (2002): Toàn tập, tập 13, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
11. C. Mác và Ph.Ăngghen (2002): Toàn tập, tập 19, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
12. C. Mác và Ph.Ăngghen (2002): Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
13. C. Mác và Ph.Ăngghen (2002): Toàn tập, tập 27, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
14. C. Mác và Ph.Ăngghen (2002): Toàn tập, tập 32, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
15. C. Mác và Ph.Ăngghen (2002): Toàn tập, tập 37, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
16. C. Mác và Ph.Ăngghen (2002): Toàn tập, tập 42, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
17. Triết học Mác - Lênin, (1993), (chương trình cao cấp), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mác - Lênin
Tác giả: Triết học Mác - Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
18. V. I. Lênin (1970): Toàn tập, tập 39, xuất bản lần thứ 5, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V. I. Lênin
Năm: 1970
19. V.I. Lênin (2005): Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ khái quát về cấu trúc của lực lượng sản xuất - Tài liệu học tập học phần triết học mác – lênin (dành cho khối không chuyên ngành lý luận chính trị)
Sơ đồ kh ái quát về cấu trúc của lực lượng sản xuất (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w