Nhóm chúng em được phân công đề tài “Vai trò, mối quan hệ của nguồn vốn trong nước và nước ngoài với tăng trưởng và phát triển kinh tế” làm đề tài nghiên cứu không ngoài mục tiêu tổng kế
Trang 1BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Báo cáo
“Vai trò, mối quan hệ của nguồn vốn trong nước và nước ngoài với tăng trưởng
và phát triển kinh tế”
Trang 2MỤC LỤC:
Giới thiệu.
Chương 1 : Những vấn đề lí luận chung về vai trò và mối quan
hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
I Khái niệm phân loại và bản chất nguồn vốn đầu tư.
II Vai trò và mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong
nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Chương II.Thực trạng về vai trò và mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
I Thực trạng về việc huy động và sử dụng nguồn vốn
trong nước trong việc thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế.
II Thực trạng về việc huy động và sử dụng nguồn vốn
nước ngoài trong việc thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế III Thực trạng mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và
nguồn vốn nước ngoài đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Chương III Giải pháp tăng cường vai trò và mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Trang 3Mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn
2001 - 2010 là: Đưa nước ta ra thoát khỏi khủng hoảng và tình trạng kém pháttriển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nềntảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướnghiện đại Để thực hiện được mục tiêu đã đề ra, đòi hỏi nền kinh tế của Việt Namphải có được một sự phát triển toàn diện theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu Lúc này,nguồn vốn đầu tư trở thành một vấn đề được quan tâm và đề cập đền thường xuyênnhất
Trong cơ cấu vốn đầu tư, nguồn vốn trong nước là nội lực đóng một vai tròquyết định, nguồn vốn đầu tư nước ngoài là ngoại lực đóng một vai trò quan trọngđối với tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia Hai nguồn vốn này khôngchỉ có vai trò đặc thù mà còn có những mối liên hệ, ảnh hưởng qua lại lẫn nhaucùng tác động lên sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Việt Nam
Nhóm chúng em được phân công đề tài “Vai trò, mối quan hệ của nguồn vốn trong nước và nước ngoài với tăng trưởng và phát triển kinh tế” làm đề tài
nghiên cứu không ngoài mục tiêu tổng kết lại những kiến thức về chuyên ngànhKinh tế Đầu tư, trên cơ sở đánh giá thực trạng về vai trò, mối quan hệ của 2 nguồnvốn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam những năm gần đây và đềxuất một số giải pháp cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả vai trò, mối quan hệ giữa
2 nguồn vốn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Trong quá trình nghiên cứu,tập thể nhóm xin chân thành cảm ơn thầy Từ Quang Phương và thầy Phạm VănHùng đã giúp đỡ hoàn thành đề tài Trong bài viết không tránh khỏi những thiếusót, kính mong Thầy cùng các bạn góp ý để bài viết được hoàn chỉnh
Trang 4Chương 1 : Những vấn đề lí luận chung về vai trò và mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
I Khái niệm phân loại và bản chất nguồn vốn đầu tư.
1 Khái niệm.
Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thể hiện dưới dạng giá trịđược chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội
2 Phân loại và bản chất nguồn vốn đầu tư.
2.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước.
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiếtkiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm củachính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội
Đây là nguồn vốn cơ bản, có vai trò quyết định chi phối mọi hoạt động đầu tư pháttriển trong nước Theo lí luận cũng như thực tiễn đã chứng minh bất kì nước nàocũng phải sử dụng lực lượng nội bộ là chính Sự chi viện bổ sung từ bên ngoài chỉmang tính chất tạm thời và chỉ khi sử dụng nguồn vốn trong nước có hiểu quả thìmới nâng cao được vai trò của nguồn bên ngoài này
2.1.1 Nguồn vốn nhà nước.
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồnvốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển củadoanh nghiệp nhà nước
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư Thường chiếm một tỉtrọng nhất định trong toàn bộ khối lượng đầu tư, giữ một vai trò quan trọng trongchiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Thường được sử dụng chocác dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự ánđầu tư vào lĩnh vực cần tham gia của nhà nước Đây là nguồn cung quan trọng để
Trang 5xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành thenchốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triểncác doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Nguồn kinh phí trong ngân sáchcũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, khi cácdoanh nghiệp gặp khó khăn cần sự trợ giúp của nhà nước.
- Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từhình thức cấp phát vốn ngân sách sang hình thức tín dụng đối với các dự án có khảnăng thu hồi vốn trực tiếp Đây là hình thức cho vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn lãisuất thị trường tín dụng nên nhà nước phải dành ra một phần ngân sách để trợ cấp
bù lãi suất Có tác dụng giảm chi ngân sách nhà nước và nâng cao trách nhiệm củangười sử dụng vốn Đồng thời có vai trò đáng kể trong việc phục vụ công tác quản
lí và điều tiết kinh tế vĩ mô Do mang tính ưu đãi nên nhà nước chủ động địnhhướng dòng chảy của nguồn vốn này theo chiến lược quy hoạch đã vạch sẵn đểthực hiện các mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo, giáo dục, y tế …
- Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước.
Nguồn vốn này chủ yếu từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại củadoanh nghiệp nhà nước, thường chiếm 14 – 15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủyếu là đầu tư theo chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dâychuyền công nghệ của doanh nghiệp Các doanh nghiệp nhà nước là thành phầnchủ đạo của nền kinh tế và nắm giữ một lượng lớn nguồn vốn của đất nước Hoạtđộng của các doanh nghiệp nhà nước là hoạt động then chốt của nền kinh tế nó vàgóp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vàophát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế,tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quảcác vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, chống lạm phát
Trang 62.1.2 Nguồn vốn của dân cư và khu vực tư nhân.
Nguồn vốn của khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của khu vực dân cư, phầntích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Trong giai đoạn 2001 –
2005 vốn đầu tư của dân cư va khu vực tư nhân chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu
tư toàn xã hội, nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động được của
hệ thông ngân hàng Tiềm năng vốn của khu vực này là rất lớn, nếu có thể huyđộng triệt để thì sẽ tạo ra được số vốn khổng lồ phục vụ cho nhu cầu đầu tư của cảnền kinh tế Có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển nông nghiệp và kinh tếnông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,thương mại, dịch vụ và vận tải trên các địa phương Đây là khhu vực năng động,nhạy bén, tạo nhiều công ăn việc làm, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thất nghiệpthời vụ tại các vung nông thôn, phát huy được các lợi thế của địa phương
2.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của cá nhân, cácdoanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động vàoquá trình đầu tư của nước sở tại
Đây là nguồn vốn quan trọng mà mỗi quốc gia đều quan tâm, nó có thể tạo ra cúhích cho sự phát triển Nó bổ sung vốn cho đầu tư khi nguồn vốn trong nước khôngđáp ứng đủ nhu cầu, nhất là đối với các nước đang phát triển khi nội lực chỉ mớiđáp ứng hơn 50% tổng nhu cầu về vốn
2.2.1 Tài trợ phát triển chính thức :ODF Với ODA chiếm tỉ trọng chủ yếu.
Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủnước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển Với các điềukiện ưu đãi hấp dẫn về lãi suất thấp, thời hạn cho vay dài, khối lượng cho vay lớn
và đặc biệt bao giờ trong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25%
Trang 7Nguồn vốn này được cấp qua các cơ quan chính thức của chính phủ nước nhậnviện trợ, và để được nhận ODA thì nước nhận đầu tư phải có nguồn vốn đối ứngtương ứng Nguồn vốn ODA mang mục đích nhân đạo, tăng cường mối quan hệgiữa các nước nên không cấp cho dự án mang tích thương mại.
Tuy có nhiều ưu đãi song đi kèm với loại vốn này thường là các điều kiện và ràngbuộc bất lợi cho nước nhận viện trợ Các nước khi đi viện trợ vốn ODA đều gắnvới nhũng lợi ích và chiến lược lâu dài để mở rộng thi trường, mở rộng các quan hệ
có lợi cho mình, gây ra sự lệ thuộc về quân sự, chính trị, … các nước viện trợODA thường yêu cầu các nước nhậ viện trợ phải dỡ bỏ dần hang rào thuế quan bảo
hộ các ngành công nghiệp non trẻ, giảm thuế nhập khẩu Hơn nữa các dự án ODAthường đòi hỏi phải do các công ty của nước viện trợ trực tiếp thực hiện dự án, vớigiá cả đắt hơn hẳn so với giá cả chung của thị trường, bỏi vậy cho nên thường hơn90% nguồn vốn ODA lại chảy về nước viện trợ qua các công ty này Bởi vây nhiềulúc bản chất của viện trợ ODA là các nước viện trợ tạo điều kiện cho các công tycủa nước mình có các hợp đồng béo bở, bởi vậy thực sự khi đi viện trợ họ lại đượcnhiều hơn mất Bởi vậy khi đàm phán xin viện trợ cần cố gắng hạn chế đến mứcthấp nhất bất lợi này
2.2.2 Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế.
Đây là nguồn vốn vay từ ngân hàng thương mại quốc tế với lãi suất tươngđối cao, có thời gian trả nợ chính xác và thủ tục cho vay khắt khe Tuy nhiên nókhông có các ràng buộc về chính trị xã hội Đây là nguồn vốn cho vay với lãi suấtthương mại nên nếu các nước tiếp nhận không sử dụng hiệu quả nguồn vốn này thì
có nguy cơ dẫn đến tình trạng mất khả năng chi trả, dẫn đến nguy cơ vỡ nợ Đây lànhững trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo khi hiệu quả sử dụng vốn chưacao Bởi vậy nguồn vốn này thường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu vốncủa các hoạt động xuất nhập khẩu thường là ngắn hạn
Trang 82.2.3 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước này đến để đầu tư cho sảnxuất kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận ở một nước khác Hìnhthức này không làm phát sinh nợ ở nước nhận đầu tư bởi vì nhà đầu tư thay vì nhậnlãi suất trên vốn đầu tư thì họ sẽ thu được lợi nhuận khi kết quả đầu tư đi vào hoạtđộng có hiệu quả Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường mang theo tất cả tài nguyênkinh doanh như phương pháp quản lí, mô hình hoạt động, công nghệ máy móc, …nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, như ngành công nghệ cao hayngành cần nhiều vốn Bởi vậy nguồn vốn này có tác động cực kì lớn tới quá trìnhcông nghiệp hóa hiện đại hóa đấy nước, chuyển dịch cơ cấu đầu tư, tốc độ tăngtrưởng cao và tăng thu cho ngân sách ở nước nhận đầu tư
2.2.4 Nguồn vốn từ thị trường vốn quốc tế.
Đây là nguồn vốn được huy động từ thị trường chứng khoán trên thế giới bằng việcbán các chứng khoán của chính phủ và các công ty trong nước ra nước ngoài
Có thể huy động vốn với số lượng lớn, trong thời gian dài để đáp ứng nhu cầu vềvốn cho nến kinh tế mà không bị ràng buộc bởi các điều kiện về tín dụng, quan hệcho vay để gây sức ép với nước huy động vốn trong các quan hệ khác
II Vai trò và mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu
tư nước ngoài.
1 Vai trò của vốn đầu tư trong nước.
Vốn đầu tư trong nước là nguồn vốn cơ bản, có vai trò quyết định đối với tăngtrưởng và phát triển của từng đơn vị kinh tế cũng như của cả đất nước Bởi sự pháttriển của bất cứ hiện tượng sự vật nào cũng phải bắt đầu từ sự chuyển biến thay đổitrong ngay bản thân sự vật hiện tượng đó Đây là nội lực của mỗi quốc gia nênchúng ta chủ động trong việc thu hút và sử dụng vào các lĩnh vực cần thiết màkhông phải chịu bất cứ sự lệ thuộc nào và nó có tính ổn định, đảm bảo hơn nguồnvốn từ nước ngoài
Trang 9- Nguồn vốn trong nước là nguồn đóng góp lớn vào GDP , góp phần thúc đẩy tăng
trưởng phát triển kinh tế Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước đầu tư cho các dự ánkết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đã tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho cácdoanh nghiệp trong mọi lĩnh vực khác phát triển Bởi các dự án này thường đòi hỏinguồn vốn lớn, khả năng thu hồi vốn chậm, cho nên các doanh nghiệp không đủkhẳ năng để thực hiện Hơn nữa vốn trong nước thường được bổ sung cho cácdoanh nghiệp vơi lãi suất ưu đãi để các doanh nghiệp này tận dụng được cơ hội đầu
tư tăng lợi nhuận Từ đó làm tăng GDP cho xã hội
- Nguồn vốn đầu tư trong nước đóng vai trò định hướng cho việc thay đổi cơ cấu
kinh tế, cân bằng thị trường hàng hóa, giúp cho nền kinh tế quốc gia tăng trưởng,phát triển toàn diện, đồng đều và bền vững giữa các vùng miền Vốn của nhà nướcthường được đầu tư vào cách lĩnh vực đòi hỏi quy mô vốn rất lớn như điện lực, dầukhí,… hay vào những ngành có tỉ suất lợi nhuận thấp, thời gian thu hồi vốn lâu dàinhư các ngành xây dựng đường, các công trình công cộng Để ưu tiên vốn của cácthành phần kinh tế khác đầu tư vào các lĩnh vực sinh lời Việc phân bổ nguồn vốncủa nhà nước theo kế hoạch cũng nhanh chóng tạo xu thế thay đổi cơ cấu kinh tếtheo định hướng của nhà nước
- Thường nguồn vốn trong nước được ưu tiên để xây dựng cơ sở hạ tầng cho các
vùng kinh tế còn yếu kém Tạo điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và nângcao hiểu quả đầu tư của nguôn vốn, tạo sự vững chắc cho sự tăng trưởng của nềnkinh tế Bởi nguồn vốn đầu tư nước ngoài chỉ lựa chọn địa điểm đầu tư tại nơi cólợi thế so sánh nhất Do đó nguồn vốn trong nước phải đi trước để chuẩn bị sẵn đóncác nhà đầu tư nước ngoài vào như xây dựng các khu công ngiệp, cơ sở hạ tầngphục vụ sản xuất kinh doanh…
- Góp phần kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá
trong nhiều doanh nghiệp nhà nước, tạo đà cho tăng trưởg và phát triển kinh tế.Đầu tư quá mức gây ra lạm phát Một phần việc sử dụng vốn thực hiện hoạt động
Trang 10đầu tư gây ra lạm phát "cầu kéo" Việc sử dụng vốn đầu tư không hiệu quả lại gây
ra lạm phát "chi phí đẩy" Như vậy, đầu tư trọng tâm, trọng điểm, có hiệu quả vàkiểm soát cả về mặt lượng và mặt chất của việc sử dụng nguồn vốn trong nước đặcbiệt là nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và việc kiểm soát chặt chẽ đầu tư của cácdoanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp được nêu ra để chống lạmphát, ổn định kinh tế vĩ mô Nguồn vốn đầu tư trong nước đặc biệt là nguồn vốndồi dào của khu vực dân cư và tư nhân là tác động lớn nhất thúc đẩy quá trình cổphần hoá các doanh nghiệp nhà nước diễn ra nhanh chóng và đồng bộ Từ đó giảiquyết những tồn tại và tình trạng sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả của các doanhnghiệp nhà nước, đang gây trở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế thị trường vàhội nhập kinh tế quốc tế
- Nguồn vốn đầu tư trong nước phải luôn là đối trọng với nguồn vôn đầu tư nước
ngoài để có thể hạn chế được những mặt tiêu cực của nguồn vốn đầu tư nướcngoài, đồng thời tạo bộ khung kinh tế để có thể chống lại được những tác động củathị trường thế giới Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ không nướcnào không chịu ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng, mà việc quan tâm là mức độảnh hưởng như thế nào và khả năng phục hồi ra sao khi kết thúc khủng hoảng kinh
tế Nhà nước ta vẫn luôn nắm giữ những ngành then chốt trong nền kinh tế nhưđiện lực, tài chinh, viễn thông,…và luôn dành một phần ngân sách nhất định đểduy trì, phát triển các lĩnh cực này không cho đầu tư nước ngoài tham gia hay thamgia góp vốn với tỉ lệ hợp lí để nhà nước vẫn luôn nắm các ngành này trong tay Mặttrái của vốn đầu tư nước ngoài là có thể đó là công cụ để nước ngoài thâu tómquyền lực chính trị, tạo ra sự phụ thuộc Bởi vậy việc duy trì những ngành thenchốt này là cần thiết
Tuy nguồn vốn trong nước có một vai trò quyết định không thể thay thế như vậy,nhưng nếu chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước trong việc thúc đẩy và tăng trưởngkinh tế mà không xem xét đến nguồn vai trò của nguồn vốn nước ngoài thì sẽ là
Trang 11một sự thiếu sót lớn Trong điều kiện nền kinh tế đất nước ta mới phát triển đượchơn 30 năm, khả năng tích lũy của nền kinh tế còn thấp trong khi nhu cầu pháttriển lại vô cùng cấp bách, đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tư lớn thì nguồn vốn đầu
tư trong nước sẽ là không đủ Do đó, nguồn vốn trong nước luôn rơi vào tình trạngthiếu và bị hạn chế về cả qui mô và số lượng Lúc này, sự bổ sung của nguồn vốnnước ngoài đối với nhu cầu về vốn là rất quan trọng và kịp thời
2 Vai trò của nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Đây là nguồn vốn có vai trò rất quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển nềnkinh tế Nó bổ sung nguồn vốn đầu tư cho, nhất là với Việt Nam chúng ta tích lũynội bộ còn thấp mới chỉ đáp ứng được hơn 50% nhu cầu vốn đầu tư Nhờ việc thuhút vốn đầu tư mà vị thế của đất nước trên chính trường quốc tế càng được nângcao Đi theo dòng tiền thường là các khoa học công nghệ, kĩ thuật, trình độ quản lí
mà nước nhận đầu tư rất cần nhất là với các nước đang phát triển
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nước nhận
đầu tư sẽ từ một nước nông nghiệp lạc hậu sang nước công nghệp hiện đại Nó làmthay đổi cơ cấu từ ngành có trình độ khoa học kĩ thuật lạc hậu chuyển thành trình
độ khoa học tiên tiến hiện đại, nâng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt
- Nhờ có nguồn vốn này mà các mục tiêu xã hội sẽ được quan tâm hơn tạo điều kiện
xóa đói giảm nghèo làm nền tảng vững chắc cho sự phát triển Khi có nguồn vốnđầu tư nước ngoài vào trong nước, số lượng và quy mô các doanh nghiệp sẽ tănglên làm tăng việc làm, giải quyết vấn đề thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội Ngoài ra,nguồn vốn này còn là cơ hội để các nước nghèo, kém phát triển giải quyết vấn đềxoá đói giảm nghèo(đặc biệt là nguồn vốn ODA) Chỉ khi giải quyết được các vấn
đề xã hội thì nước tiếp nhận vốn mới có được môi trường ổn định để phát triểnkinh tế
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài tạo điều kiện nâng cao trình độ khoa học công nghệ,
đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng Việc đầu tư vào trong nước sẽ đi kèm với
Trang 12đào tạo đội ngũ lao động hình thành nên đội ngũ lao động có chất lượng cao Độingũ lao động này một phần làm việc cho các doanh nghiệp nước ngoài, bên cạnh
đó lại góp phần vào xây dựng đất nước Nguồn vốn nước ngoài khi vào trong nước
sẽ đem theo các công nghệ tiên tiến, hiện đại đồng thời thực hiện chuyển giao côngnghệ Bởi vậy nước sở tại sẽ được thừa hưởng, học hỏi những công nghệ đó Trình
độ công nghệ của nước nhận đầu tư sẽ tăng lên đáng kể
- Vốn đầu tư nước ngoài vào cổ phiếu trong nước sẽ giúp giảm chi phí vốn và đa
dạng hóa rủi ro Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài vô hình chung tạo một
áp lực cải thiện thể chế và chính sách lên nước nhận đầu tư Không chỉ có vậy, đikèm với nguồn vốn đầu tư nước ngoài là các công ty đánh giá mức độ tín nhiệm sẽ
có tác động tích cực, góp phần cải thiện chất lượng thông tin trên thị trường và nhờ
đó tăng tính hiệu quả của thị trường chứng khoán Cơ chế cáo bạch sẽ tăng lên vàgiúp nước sở tại phát triển các dịch vụ về kế toán, kiểm toán, các dịch vụ môi giới
và kinh doanh chứng khoán Vậy là, cùng với nguồn vốn đầu tư nước ngoài thịtrường tài chính trong nước sẽ từng bước được cải thiện, hoàn chỉnh, nâng cao chấtlượng và hiệu quả trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia
- Nguồn vốn nước ngoài làm hình thành các loại hình doanh nghiệp mới, các
phương thức kinh doanh hiện đại tạo ra môi trường cạnh tranh, nâng cao tính cạnhtranh giữa các thành phần kinh tế trong xã hội tạo động lực cho sự tăng trưởng vàphát triển kinh tế
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài là nguồn cung ngoại tệ đáng kể cho cán cân thương
mại quốc tế của đất nước Tạo điều kiện nâng cao năng lực xuất nhập khẩu, đầu tư
ra nước ngoài và trả nợ từ đó tạo đà cho tăng trưởng và phát triển
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng tạo điều kiên giúp nước nhận đầu tư tiếp cận
với thị trường quốc tế, mở rộng giao lưu quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập vớithế giới va khu vực
Trang 133 Mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Đối với các nước đang phát triển thi vấn đề thiếu vốn luôn là một vấn đề nan giải.Một quốc gia mà chỉ sử dụng những nguồn lực sẵn có của mình thì sẽ không baogiờ có thể đuổi kịp các nước khác, bởi vậy trên thế giới không có quốc gia nào chỉ
sử dụng nguồn vốn trong nước, các nước đều cố gắng thu hút nguồn vốn đầu tưnước ngoài, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay Vì thế hai nguồn vốnnày có mối lien hệ chặt chẽ, hữu cơ gắn bó với nhau, tác động lẫn nhau theo nhiềuchiều Tuy nguồn vốn trong nước có một vai trò quyết định, nhưng nếu chỉ dựa vàonguồn vốn trong nước trong việc thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế mà không xemxét đến nguồn vốn nước ngoài thì nền kinh tế sẽ mãi trì trệ trong vòng luẩn quẩncủa nghèo đói đó là
Thu nhập bình quân thấp Tiết kiệm, đầu tư thấp
Năng suất thấp Tăng trưởng chậm
Trong điều kiện nền kinh tế đất nước ta mới phát triển được hơn 30 năm, khả năngtích lũy của nền kinh tế còn thấp trong khi nhu cầu phát triển lại vô cùng cấp bách,đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tư lớn thì nguồn vốn đầu tư trong nước sẽ là không
đủ Do đó, nguồn vốn trong nước luôn rơi vào tình trạng thiếu và bị hạn chế về cảqui mô và số lượng Lúc này, sự bổ sung của nguồn vốn nước ngoài đối với nhucầu về vốn là rất quan trọng và kịp thời Bên cạnh đó việc sử dụng vốn đầu tưtrong nước còn chưa hiệu quả, chưa tương xứng với tổng số vốn đã chi, gây tổnthất cho nền kinh tế Nhưng nếu được sự bổ sung kết hợp của nguồn vốn đầu tưnước ngoài cùng với sự chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lí thì tổn thất đó
Trang 14sẽ phần nào được giảm bớt Như vậy trong mối quan hệ giữa hai nguồn vốn, nguồnvốn nước ngoài có vai trò tác động ngược trở lại nguồn vốn trong nước, là nguồnvốn đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong việc hỗ trợ, khắc phục nhữngnhược điểm của nguồn vốn trong nước trong tác động đối với sự tăng trưởng vàphát triển kinh tế của một quốc gia.
* Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài sẽ làm tăng tổngvốn đầu tư toàn xã hội Xét về mặt lượng thì hai nguồn vốn này hoàn toàn độc lậpvơi nhau do đó khi kết hợp chúng lại ta sẽ có tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội làtổng của hai nguồn vốn này
* Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện naychủ yếu theo bề rộng trong đó nhân tố khối lượng vốn đầu tư chiếm vai trò quantrọng chủ yếu tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Cho nên sự gia tăngtổng số vốn đầu tư toàn xã hội kéo theo bước tăng trưởng và phát triển đáng kể củanền kinh tế Việt Nam Chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạihoá luôn phải giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Yêu cầu có tínhnguyên tắc này đã được bảo đảm trong suốt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế nhữngnăm vừa qua Mặc dù trong những năm 2001-2005, số lượng doanh nghiệp Nhànước đã giảm đáng kể do tổ chức, sắp xếp lại và thực hiện cổ phần hoá, nhưng tỷtrọng của khu vực kinh tế Nhà nước trong tổng sản phẩm trong nước vẫn duy trì ởmức trên 38% (Năm 2001 chiếm 38,40%, năm 2002 chiếm 38,38%; 2003 chiếm39,08%; 2004 chiếm 39,10%; năm 2005 ước tính chiếm 38,42%)
* Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn tạo nguồn lực tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế
xã hội Một phần vốn đầu tư đã dành cho chương trình phát triển kinh tế-xã hội vàxây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ tại các xã đặc biệt khó khăn Tính chung từ năm
Trang 151999 đến hết năm 2005 chương trình đã được đầu tư trên 8850 tỷ đồng Nhờ vậy,đến hết năm 2004 đã có 97% số xã đặc biệt khó khăn có đường ô tô đến trung tâmxã; 100% số xã có trạm y tế; 70% số xã có điểm bưu điện văn hoá; 90% số xã cótrạm truyền thanh; 65% số xã có công trình nước sạch và 50% số hộ được sửdụng nước sạch.
* Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn này có thể tạo ra những cú hích nâng cao năng
lực khoa học công nghệ của nước ta Đối với mỗi nước thì khoa học công nghệluôn là một nguồn lực quan trọng và cần phải đầu tư xây dựng lâu dài, với yêu cầuvốn và nền tảng kĩ thuật cao Do đó nếu chỉ dựa vào nội lực với nguồn vốn đầu tưtrong nước thì quá trình phát triển rất chậm không theo kịp với trình độ phát triểnchung của khu vực và thế giới, vì thế cần có sự bổ sung từ nguồn vốn nước ngoài
- Nguồn vốn đầu tư trong nước hỗ trợ tạo điều kiện cho nguồn vốn đầu tư nước
ngoài Nguồn vốn trong nước đặc biệt là nguồn vốn ngân sách nhà nước thườngđược sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng càng hiện đại, càng đồng
bộ thì các hoạt động đầu tư càng thuận lợi và do đó nguồn vốn nước ngoài chảyvào càng nhiều Đồng thời các nguồn vốn trong nước thường được ưu tiên để xâydựng các công trình, lĩnh vực phụ trợ với mức lợi nhuận thấp như xây dựng cáckhu công nghiệp, các khu chế xuất,… để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Do đãđược giải phóng san lấp mặt bằng, hệ thống giao thông, điện nước… nên nguồnvốn đầu tư nước ngoài sẽ không mất chi phí này mà được dung trực tiếp đầu tư vàosản xuất kinh doanh Do đó mức lợi tức cao hơn nên thu hút được nhiều vốn đầu tưnước ngoài hơn
- Nguồn vốn trong nước hạn chế gây cản trợ nguồn vốn đầu tư nước ngoài Đó là lúc
các nước nhận đầu tư thực hiện các chính sách bảo hộ doanh nghiệp trong nước,nhà nước dành cho các doanh nghiệp này những ưu đãi đặc biệt như bù lỗ, tạo độcquyền,…Khiến cho nguồn vốn bên ngoài không thể xâm nhập vào được Tạo ra
Trang 16môi trường cạnh tranh không lành mạnh nên làm giảm sức hút đầu tư của bênngoài.
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài tạo điều kiện nâng cao hiểu quả sử dụng nguồn vốn
đầu tư trong nước Do có nguồn vốn đầu tư nước ngoài bổ sung nên nguồn vốntrong nước sẽ được phân bổ một cách hợp lí hơn giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế
và mục tiêu phát triển đồng bộ Các mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo, y tế,giáo dục… sẽ được quan tâm hơn do nguồn vốn được cấp nhiều hơn, đó là vốntrong nước với tỉ trọng lớn hơn và vốn ODA của các tổ chức quốc tế Cùng với sựtăng trưởng kinh tế thì các thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn tạo rarất nhiều công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người lao động
Từ đây mà tích lũy của đất nước tăng lên, dẫn đến nguồn vốn đầu tư trong nướctăng lên Cùng với quá trình hội nhập và hợp tác kinh tế với nước ngoài thì nhữngnguồn lực mà trước đây chưa được sử dụng hay sử dụng với hiệu quả chưa cao dothiếu vốn, thiếu công nghệ,… nay được đưa vào sản xuất bằng cách hợp tác sảnxuất kinh doanh Các công ty có vốn đầu tư nước ngoài này do có thừa hưởng trình
độ quản lí, khoa học kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến nên thường làm ăn cóhiệu quả cao hơn doanh nghiệp trong nước Do đó cùng với quá trình hoạt động cóhiểu quả của các doanh nghiệp liên doanh thì phần vốn góp của phía Việt Namtrong các doanh nghiệp cũng tăng lên từ đó làm quy mô vốn trong nước tăng lên.Hơn nữa thuế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một nguồn thuquan trọng đối với các nước đang phát triển
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài làm giảm khối lượng nguồn đầu tư trong nước, do
các khoản vốn đầu tư nước ngoài đến kì phải trả, mà nếu sử dụng các khoản vaynày không hiểu quả thì đây sẽ là vấn đề đáng lo ngại đối với các nước thu hút vốnđầu tư nước ngoài Đây là gánh nặng nợ mà nguồn vốn trong nước phải trích ra đểtrả nợ, do đó tổng vốn đầu tư trong nước sẽ giảm đi Không những vậy các khoảnvốn đầu tư nước ngoài thường đi kèm theo các ràng buộc về kinh tế, chính trị Điều
Trang 17này có thể dẫn đến tình trạng phụ thuộc mất tự chủ của nước nhận vốn Nguồn vốnđầu tư nước ngoài tạo điều kiện hội nhập nền kinh tế thế giới nên cũng làm cho cácnước này dễ bị ảnh hưởng của các khủng hoảng kinh tế thế giới Mà khi bị khủnghoảng thì tất cả mọi mặt của đất nước sẽ bị giảm sút.
Chương II.Thực trạng về vai trò và mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:
I.Thực trạng về việc huy động và sử dụng nguồn vốn trong nước trong việc thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế.
Có thể nói vốn có vai trò quyết định trong việc tạo ra mọi của cải vật chất vatiến bộ xã hội, vì thế nó là nhân tố vô cùng quan trọng để thực hiện quá trình ứngdụng tiên bộ khoa học kĩ thuật, phát triển cơ sở hạ tâng, chuyển dịch cơ cấu và đẩynhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Từ đó tác động mạnh đến cơ cấu kinh tế của đấtnước được chuyển dịch nhanh chóng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,làm cho nền kinh tế có các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ lệ cao và hướngmạnh về xuất khẩu Chính điều đó đã dẫn tới nền kinh tế có tốc độ tăng cao và ổnđịnh
Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới đã có những chuyển biến quan trọng vàđạt được những thành tựu lớn lao, nhưng chúng ta vẫn là nước nghèo, mức sốngcòn thấp, tích tụ và tập trung vốn trong nội bộ nền kinh tế còn quá thấp, Trong khi
đó nhu cầu vốn đầu tư cho cả nền kinh tế nói chung và cho việc phát triển côngnghiệp nói riêng rất lơn và cấp bách
Trong giai đoạn 2001 – 2005, vốn đầu tư trong nước tăng khá nhanh, từ
1240011 tỷ đồng(chiếm 82,04% tổng vốn đầu tư)(năm 2000) lên 292033 tỉ đồng
Trang 18(năm 2005) chiếm 85,11 % tổng vốn đầu tư ,tính chung trong cả thời kỳ này vốntrong nước chiếm 67,61% tổng vốn đầu tư toàn xã hội,giai đoạn 2006-2007 vốnđầu tư trong nước chiếm 78,96% tổng vốn đầu tư.
Đối với Việt Nam, trong thành phần của nguồn vốn đầu tư trong nước, nguồn vốnkhu vực nhà nước luôn chiếm một tỉ trọng rất lớn và có một vai trò rất quan trọng;
nó là nguồn hình thành các công trình trọng điểm của quốc gia, nhất là các côngtrình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của đất nước, những công trình mà các thànhphần kinh tế khác không thể hoặc không muốn đầu tư Nguồn vốn này góp phầnthay đổi cơ bản hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, hình thành những ngành côngnghiệp mới và nhiều lĩnh vực dịch vụ, cải tạo nền nông nghiệp theo hướng sản xuấthàng hoá, dần tiếp cận với thị trường thế giới; tạo tiền đề cho quá trình tăng trưởngkinh tế của đất nước
2 Thực trạng về vai trò của vốn đầu tư trong nước đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam
2.1 Nguồn vốn trong nước là nguồn đóng góp lớn vào GDP toàn xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế Việt Nam.
Khả năng huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm 2001-2005vào khoảng 840 nghìn tỷ đồng (theo mặt bằng giá năm 2000) tương đương khoảng
60 tỷ USD, bằng 1,5 lần tổng vốn đầu tư thực hiện thời kỳ 1996-2000; trong đónguồn vốn trong nước chiếm khoảng 2/3
Vốn đầu tư trong nước giai đoạn 1995-2007
Trang 19Năm T ổng vốn đầu tư
Trang 20số vốn đầu tư phát triển huy động được trong kế hoạch 5 năm 1996-2000 Tính
ra, vốn đầu tư phát triển bình quân mỗi năm trong 5 năm 2001-2005 đạt trên 240nghìn tỷ đồng, bằng 201,6% mức bình quân mỗi năm trong kế hoạch 5 năm1996-2000
Tỷ lệ vốn đầu tư so với tổng sản phẩm trong nước đã tăng từ 35,42% năm 2001lên 37,16% năm 2002; 37,76% năm 2003; 38,45% năm 2004 và ước tính năm
2005 là 38,67% Tỷ lệ đầu tư của nước ta hiện nay chỉ thấp hơn Trung Quốc,còn cao hơn hầu hết các nước trong khu vực (Tỷ lệ đầu tư so với tổng sản phẩmtrong nước năm 2004 của Trung Quốc là 45,7%; Hàn Quốc 29,3%; Thái Lan37,8%; Ma-lai-xi-a 22,5%; Phi-li-pin 19,6%, In-đô-nê-xi-a 19,5%; Xin-ga-po15,3%
Trong tổng số vốn đầu tư 5 năm 2001-2005 thì vốn đầu tư trong nướcchiếm tới 84%, cao hơn hẳn tỷ lệ 78,6% của những năm 1996-2000 Sở dĩ cóđược kết quả này một mặt do Nhà nước tăng cường đầu tư, nhưng mặt khác còn
do các chính sách khuyến khích kinh tế ngoài Nhà nước phát triển, trong đó cóNghị quyết Trung ương 5 (Khoá IX) về kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân đã gópphần rất quan trọng Trong 5 năm 2001-2005 đã có gần 14 vạn doanh nghiệp dândoanh đăng ký thành lập với tổng số vốn đăng ký lên tới 294 nghìn tỷ đồng Nhờvậy số vốn của khu vực này chiếm trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng từ22,6% năm 2001 lên 26,2% năm 2002; 29,7% năm 2003; 30,9% năm 2004 vàước tính năm 2005 là 32,4%
Trang 212.2 nguồn vốn trong nước được tập trung đầu tư cho những ngành quan trọng nhằm tăng cường sự ổn định đồng thời giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững ,phát triển một cách toàn diện giữa các ngành ,các vùng và các địa
phương khác nhau:.
Đầu tư trong nước là công cụ định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kíchthích phát triển sản xuất kinh doanh ,trong những năm gần đây thự hiện chủ trươngcủa Đảng là thực hiện “công nghiệp hóa ,hiện đại hóa đất nước”vì vậy, vốn đầu tưtrong nước cũng có những bước chuyển biến hết sức căn bản và mạnh mẽ về cơcấu vốn đầu tư theo lĩnh vực ngành nghề theo hướng tăng nhanh tỷ trọng vốn dànhcho đầu tư phát triển các dự án công nghiệp nặng, công nghiệp hóa nông nghiệpnông thôn và hiện đại hóa công nghiệp nhẹ, trong đó chú trọng đến công nghiệpchế biến nông, lâm, thủy sản
Nguồn vốn đầu tư phân theo ngành kinh tế giai đoạn2000-2006
(đơn vị:tỉ đồng)
NLNN-thuỷ sản 15938 12945 24130 14706 15962 18412 Công nghiệp-xd 45155 62805 69325 80388 90516 104575 Dịch vụ 54016 72183 73359 94225 107453 120319
(nguồn:tổng cục thống kê)
Tốc độ tăng trưởng kinh tế 5 năm 2001-2005 tương đối cao và đạt mục tiêu
đề ra Trong ba khu vực kinh tế thì khu vực công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăngtrưởng bình quân hàng năm cao nhất với mức tăng 10,24%/năm (công nghiệp tăng10,12%; xây dựng tăng 10,75%); khu vực dịch vụ tăng bình quân hàng năm 6,96%;khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,83%/năm
Trang 22Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt tốc độ tăng cao hơn các khu vực khácnên đóng góp của khu vực này vào tốc độ tăng chung của tổng sản phẩm trong nướccũng lớn nhất trong 3 khu vực kinh tế Sau khu vực công nghiệp và xây dựng làđóng góp của khu vực dịch vụ Khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp thấpnhất Trong 5 năm 2001-2005, hàng năm đóng góp của khu vực này thường khôngvượt qua mức một điểm phần trăm.
Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng
Nông lâm nghiệp và thuỷ sản 0,69 0,93 0,79 0,92 0,82
Công nghiệp và xây dựng 3,68 3,47 3,92 3,93 4,19
Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tuy đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm5,42% về giá trị sản xuất và 3,83% về giá trị tăng thêm, nhưng tỷ trọng trong tổngsản phẩm trong nước đã giảm từ 24,53% năm 2000 xuống 23,24% năm 2001;23,03% năm 2003; 21,81% năm 2004 và ước tính năm 2005 chỉ còn 20,89% phầnlớn giá trị tăng thêm đạt được trong những năm vừa qua là do tăng trưởng củangành trồng trọt Ngành chăn nuôi trong hai năm 2004 và 2005 bị ảnh hưởng lớncủa dịch cúm gia cầm Tuy nhiên, do có sự tăng nhanh về số lượng gia súc và ápdụng các phương pháp chăn nuôi có tính chất công nghiệp với qui mô lớn nên giátrị tăng thêm của ngành chăn nuôi vẫn đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm xấp xỉtốc độ tăng chung của ngành nông nghiệp Trong giai đoạn 1995-2000, ngànhNông Lâm Ngư nghiệp đóng góp trung bình khoảng 26% GDP, vốn đầu tư choNông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản chiếm khoảng 14% trong tổng vốn đầu tư
Trang 23xã hội Trong đó, nguồn vốn đến chủ yếu từ khu vực ngoài quốc doanh Tốc độtăng vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước vào Nông nghiệp tăng bình quân 2,1%/nămtrong giai đoạn 2001-2005, có những năm tốc độ tăng âm Chính vì sự giảm đầu tư
xã hội cho Nông nghiệp để ưu tiên cho các ngành khác nên tốc độ tăng trưởngGDP nông nghiệp trung bình trong giai đoạn 2001-2005 chỉ là 3,8%, năm 2006 là2,8% và năm 2007 là 2,3%
Giá trị tăng thêm của ngành thuỷ sản bình quân hàng năm tăng 8,9%, cao hơntốc độ tăng bình quân 4,9% của thời kỳ 1996-2000, do tăng cả sản lượng nuôi trồng
và sản lượng khai thác, nhất là khai thác biển Sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng,chủ yếu do nhiều địa phương tiếp tục mở rộng diện tích nuôi trồng
Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp thì tỷ trọng giá trị tăng thêm theo giáthực tế chiếm trong tổng sản phẩm trong nước của khu vực công nghiệp và xâydựng đã tăng từ 36,73% năm 2000 lên 38,13% năm 2001; 38,49% năm 2002;39,47% năm 2003; 40,21% năm 2004 và năm 2005 ước tính chiếm 41,04% chiếmkhoảng 85% giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp và xây dựng với tốc độ tăngbình quân hàng năm 10,1%, trong đó công nghiệp chế biến tăng 11,69%; điện, ga,nước tăng 12,15% Riêng công nghiệp khai thác có tốc độ tăng bình quân hàng nămkhông cao, chủ yếu do sản lượng khai thác dầu thô tăng thấp hoặc có năm bị giảmsút Tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành xây dựng bình quân hàng năm đạt10,75%, cao hơn tốc độ tăng của ngành công nghiệp Ta thấy, cũng trong lĩnh vựccông nghiệp, tỷ lệ vốn tín dụng của quỹ hỗ trợ phát triển luôn cao hơn tỷ lệ vốnđầu tư của toàn xã hội, điều này đồng nghĩa với việc lĩnh vực công nghiệp cũng thuhút các nguồn vốn khác trong nền kinh tế ngày càng nhiều trong giai đoạn 2006-
2010 ngành Công nghiệp sẽ đầu tư khoảng 388,2 ngàn tỷ đồng, tăng gấp 1,7 lần sovới giai đoạn 2001-2005, chiếm 29,5% tổng vốn đầu tư cộng đồng Dự kiến nguồnvốn đầu tư công cộng sẽ tập trung phát triển có chọn lọc các ngành công nghiệp cótiềm năng, các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, công nghiệp sản xuất tư
Trang 24liệu sản xuất quan trọng và công nghiệp xuất khẩu; đầu tư trang thiết bị cho cáccông trình lớn và phức tạp; đầu tư phát triển các khu công nghiệp, cụm côngnghiệp và các điểm công nghiệp trên cả nước theo quy hoạch để thu hút các nguồnvốn khác đầu tư vào các khu công nghiệp…
Khu vực dịch vụ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nước ta Chính vì
vậy Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra mục tiêu tăng trưởng dịch
vụ bình quân hàng năm 7% và đến năm 2010 giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụphải chiếm 42-43% tổng sản phẩm trong nước Để đạt mục tiêu này, trong những nămvừa qua các cấp, các ngành đã quan tâm đầu tư thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển.Nhờ vậy, tốc độ tăng bình quân hàng năm về giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ thời
kỳ 2001-2005 đã đạt 6,96%, xấp xỉ mục tiêu tăng 7% và cao hơn mức tăng 5,69% củathời kỳ 1996-2000, trong đó năm 2004 tăng 7,3% và năm 2005 tăng 8,5%
Trong khu vực dịch vụ, các ngành dịch vụ kinh doanh (bao gồm thương mại;khách sạn, nhà hàng; vận tải, bưu điện; tài chính, ngân hàng; kinh doanh tài sản,dịch vụ tư vấn liên quan) nhìn chung có mức tăng trưởng cao Đây cũng là nhữngngành có chi phí đầu tư không lớn, còn nhiều tiềm năng nên cần được phát triểnmạnh hơn trong những năm tới Khu vực dịch vụ vẫn duy trì được tỷ trọng chiếmtrên dưới 38% tổng sản phẩm trong nước Tỷ trọng của ba khu vực qua các nămnhư trên đã thể hiện rất rõ nền kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệphoá, hiện đại hoá Đây là sự chuyển dịch đúng hướng vì nước ta đang trong quátrình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu theo 3 khu vực kinh tế, các số liệu động thái về
tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng sản phẩm trong nước còn cho thấy nội bộ từng khuvực kinh tế cũng có sự chuyển dịch nhất định Trong nội bộ khu vực nông lâm nghiệp
và thuỷ sản sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng
tỷ trọng của ngành thuỷ sản Tỷ trọng của ngành lâm nghiệp tương đối nhỏ do vậy ítảnh hưởng Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp, tức là
Trang 25giữa trồng trọt và chăn nuôi thì chưa thật rõ nét Ngành trồng trọt vẫn chiếm trên 80%;ngành chăn nuôi hàng năm chỉ tạo được gần 20% giá trị gia tăng của ngành nôngnghiệp do chăn nuôi ở nước ta quy mô nhỏ, phân tán, khó chủ động trong phòngchống dịch bệnh
Khu vực công nghiệp và xây dựng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng côngnghiệp chế biến và tỷ trọng của ngành xây dựng Ngành điện, ga và nước giữ được
tỷ trọng ổn định Tỷ trọng ngành công nghiệp khai thác có xu hướng giảm Tuynhiên, tỷ trọng công nghiệp chế biến tăng không nhiều do các ngành công nghiệpgia công lắp ráp chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong sản xuất công nghiệp Giá trịsản xuất công nghiệp những năm vừa qua tăng trưởng nhanh nhưng chủ yếu là tăng
ở các ngành may mặc, giầy da, lắp ráp ô tô, lắp ráp ti vi, lắp ráp xe máy có giá trịtăng thêm chỉ chiếm 10-15% giá trị sản xuất
Khu vực dịch vụ nhìn chung không tăng được tỷ trọng trong tổng sảnphẩm trong nước, chủ yếu là do những ngành dịch vụ có khả năng tạo nhiều giátrị tăng thêm vẫn chưa được đầu tư thích đáng, nhất là đầu tư chiều sâu cho cácngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ cảng biển, dịch vụ hàng không,dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ du lịch Tuy nhiên, trong những năm vừaqua cũng đã có một số ngành tăng trưởng tương đối khá như: thương mại; kháchsạn, nhà hàng; vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; tài chính, tín dụng
Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, trong 5 năm 2001-2005 cơ cấuthành phần kinh tế cũng có sự chuyển dịch theo hướng giữ vững vai trò chủ đạocủa kinh tế Nhà nước và tăng đóng góp của các khu vực kinh tế ngoài Nhà nước.Kinh tế Nhà nước tăng bình quân hàng năm 7,46%, gần bằng mức tăng trưởngchung của nền kinh tế, do kết quả sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, giảmđáng kể các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả hoặc thua lỗ Do vậy, trong 5 năm2001-2005, kinh tế Nhà nước vẫn giữ được tỷ trọng tương đổi ổn định, chiếmkhoảng 38-39% tổng sản phẩm trong nước
Trang 26Tỷ trọng giá trị tăng thêm của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước thường chiếm46-47% tổng sản phẩm trong nước và những năm gần đây có xu hướng giảm dokhu vực kinh tế cá thể chiếm tỷ trọng 2/3 khu vực kinh tế ngoài Nhà nước nhưngchỉ tăng bình quân hàng năm 6,26% Trong khu vực kinh tế ngoài Nhà nước thìkinh tế tư nhân tuy có tốc độ tăng cao, nhưng mới chiếm tỷ trọng trên 8% tổng sảnphẩm trong nước nên không bù được cho sự tăng trưởng thấp của khu vực cá thể
Sự phân tích trên cho thấy, trong những năm tới chúng ta có thể và cần phảiđưa ra chiến lược và các giải pháp hợp lý, đồng bộ thúc đẩy khu vực dịch vụ pháttriển, trước hết là khai thác lợi thế so sánh phát triển dịch vụ tài chính, dịch vụ cảngbiển, dịch vụ hàng không, dịch vụ bưu chính viễn thông và dịch vụ du lịch Sự pháttriển của các ngành dịch vụ này không chỉ làm cho khu vực dịch vụ tăng trưởngnhanh mà còn tác động tích cực đến sự phát triển của khu vực nông lâm nghiệp vàthủy sản cũng như khu vực công nghiệp và xây dựng
Trang 27Trong thời kỳ đổi mới, kinh tế Việt Nam đã hình thành nên các vùng kinh tế trọngđiểm giữa vai trò đầu tàu của nền kinh tế cả nước Đó là những vùng có lợi thế về
cơ sở hạ tầng phát triển, nguồn lao động tập trung và có trình độ cao như vùngĐông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Cửu Long Thời kỳ 1996-2000, vùng Đồngbằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ, hai vùng kinh tế trọng điểm của cả nướcchiếm 53,5% vốn đầu tư phát triển, các tỉnh miền núi phía Bắc chiếm 7,6%, vùngĐồng bằng sông Cửu Long chiếm 14% Các tỷ lệ này tương ứng với năm 2001 là52,75%; 7,79%; 14,9% và năm 2002 là 51,74%; 8,02%; 15,13%
bên cạnh những vùng kinh tế trọng điểm, đối với những vùng miền còn lạc hậu,điều kiện kinh tế xã hội cơ sở hạ tầng kém, Nhà nước ta cũng đã có những khoảnmục đầu tư nhất định và tăng dần tỉ trọng theo các năm nhằm cải thiện tình xóa đóigiảm nghèo Năm 2001 dự kiến ngân sách nhà nước đầu tư từ 4000 đến 4.500 tỉđồng, tăng 16% so với năm 2000; trong đó, Chương trình đầu tư phát triển kinh tế
xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa sẽ được đầu tưkhoảng 1.300 tỉ đồng, tăng 73% so với năm 2000 Dự kiến kinh phí cho chươngtrình xóa đói giảm nghèo sẽ có khoảng 1.500 tỉ đồng từ vốn ngân sách Nhà nước,huy động từ các tổ chức quốc tế từ 500 đến 600 tỉ đồng, vốn tín dụng từ 2.000 đến2.500 tỉ đồng Số kinh phí trên sẽ được tập trung đầu tư cho các dự án xây dựng kếtcấu hạ tầng kết hợp với các chương trình khuyến khích sản xuất như trồng trọt,chăn nuôi, thủy sản
2.3Nguồn vốn trong nước xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như tăng tính hiệu quả, nhanh chóng của việc sử dụng vốn đầu tư nước ngoài, tạo nền tảng vững chãi cho sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam
Một trong những vai trò quan trọng của nguồn vốn đầu tư trong nước là ổn định vàcải thiện môi trường kinh tế vĩ mô; tạo tiền đề thu hút nguồn vốn đầu tư nước
ngoài Điều đó thể hiện rất rõ trong các Dự án phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng
của đất nước.Sau hơn 20 năm đổi mới, từ một hệ thống kết cấu hạ tầng yếu kém cả
Trang 28về số lượng và chất lượng, đến nay kết cấu hạ tầng đã đạt được kết quả đáng kểtrong các lĩnh vực như sau:
- Đường bộ có khoảng
Trong đó: Quốc lộ có khoảng
: 310.000 Km: 21.000 Km
- Năng lực thông qua cảng thuỷ nội địa : 96 Triệu tấn
- Năng lực thông qua các cảng biển khoảng : 187 Triệu tấn
- Năng lực thông qua các cảng hàng không
- Tỷ lệ xử lý chất thải rắn đô thị khoảng : 80%
- Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu đi lại hai đô thị đặc
biệt của vận tải hành khách công cộng
án cấp nước; 2.920 tỷ đồng để đầu tư 80 dự án xây dựng hạ tầng kinh tế cửa khẩu,
hạ tầng khu công nghiệp Bước đầu đã đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế-xã hội.Đảm bảo cho tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ vận tải hàng năm bình quân 9-11%,cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế chung và phù hợp với quy luật Năm 2008 khốilượng luân chuyển hành khách đạt 77,4 tỷ hành khách/năm, luân chuyển hàng hoáđạt 160,3 tỷ tấn-km, cấp nước đô thị 4,5 triệu m3/ngày cho khoảng 80% dân số đôthị, tỷ lệ chất thải rắn đô thị thu gom đạt gần 80% là những con số đầy ấn tượng.Như vậy nhờ có sự đầu tư một cách đồng bộ của nhà nước cũng như của cácthành phần kinh tế khác mà việc phát triển kết cấu hạ tầng đã đạt được nhữngthành tựu sau:
Trang 29Phát triển tương đối đồng bộ giữa các vùng, miền; xây dựng các công trình quy
mô lớn, hiện đại kết hợp với chương trình xoá đói, giảm nghèo trong cả nước Đã
có chuyển biến mạnh trong đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đô thị nhằm giảm áchtắc, tai nạn giao thông, tăng thị phần vận tải công cộng tại các đô thị lớn, chấtlượng kết cấu hạ tầng nâng cao theo xu hướng hội nhập, hướng tới tiêu chuẩn quốc
tế, phát triển đồng bộ Ngành giao thông vận tải đã đưa vào đúng cấp hệ thống giaothông quốc gia và để hướng tới mục tiêu công nghiệp hoá-hiện đại hoá vào năm
2020 đã quy hoạch và từng bước xây dựng hệ thống đường cao tốc, đường cấp caotrong đường bộ, đường sắt; xây dựng các cảng biển quy mô lớn, cảng nước sâu,cảng trung chuyển quốc tế, đổi mới đội tàu nâng cao chất lượng dịch vụ để tăng thịphần vận tải, nhất là thị phần vận tải quốc tế; hệ thống cảng hàng không được nângcấp hàng loạt cảng hàng không nội địa, bảo đảm tiêu chuẩn quốc tế, thiết bị bayđêm để tăng tần suất sử dụng phương tiện bay, cải thiện điều kiện cạnh tranh trongđiều kiện nguồn lực có hạn, xây dựng mới các cảng hàng không quốc tế, mở thêmnhiều tuyến bay quốc tế, nội địa tạo điều kiện cho các ngành kinh tế phát triểnđồng bộ; kết cấu hạ tầng đường sắt được cải thiện đáng kể, góp phần nâng cao chấtlượng và tốc độ chạy tàu an toàn Chất lượng thiết bị trong toàn ngành cũng đượcđổi mới, nhất là trong ngành hàng không và vận tải đường bộ Đã có những hệthống cấp nước quy mô lớn (1,2 triệu m3/ngày) sử dụng nguồn nước mặt cung cấpnước sạch theo vùng, không hạn chế về giới hạn địa lý nhằm sử dụng có hiệu quảtài nguyên nước; các dự án thoát nước-vệ sinh môi trường bước đầu đã phát huyhiệu quả, giảm thiểu tác động ô nhiễm môi trường đô thị, nâng cao chất lượng đờisống nhân dân
Có chuyển biến trong huy động các nguồn lựccho đầu tư kết cấu hạ tầng trên cơ sở Nhà nước tạomôi trường pháp lý, khuyến khích đầu tư từ cácthành phần kinh tế tư nhân và đang tạo ra sức hút từnguồn FDI trong các dự án kết cấu hạ tầng quy môlớn, trước hết là cảng biển, cảng hàng không quốctế
Ngoài những công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng với những năng lực tăngthêm thì trong những năm 2001-2005 còn khởi công hàng trăm công trình nhóm A
và hàng nghìn công trình nhóm B và nhóm C, trong đó có những công trình quantrọng như cầu Bãi Cháy, cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh Tuy, cầu Cần Thơ, đường Hồ ChíMinh, nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy thủy điện Sơn La Trong số này, nhiều
Một khu đô thị mới tại Hà Nội
Trang 30công trình sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng trong những năm tới, chắc chắn sẽ pháthuy tác dụng tích cực đối với việc thực hiện kết hoạch phát triển kinh tế - xã hội
2006-2010 và những năm tiếp theo Đồng thời theo cam kết viện trợ thì Chính phủ Nhật Bản cũng đã đồng ý hỗ trợ Việt Nam đầu tư xây dựng 2 dự án lớn vào hạ tầng kỹ thuật, đó là đường sắt cao tốc và đường bộ cao tốc Bắc - Nam.
Môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam bắt đầu được hoàn thiện vàđược cộng đồng quốc tế đánh giá cao bởi việc hoàn thiện khung pháp luật về đầu
tư ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế và khu vực nhờ đó sau 20 năm đổi mới Việt Nam đã thực hiện cấp giấy phép đầu tư cho khoảng 8.000 dự án có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký lên đến 72
tỷ USD, trong đó số vốn thực hiện đầu tư chiếm tỷ lệ khoảng 50%.Vì vậy có thể nói rằng Việt Nam là điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong
những năm sắp tới, mặc dù kinh tế thế giới và Việt Nam đang đứng trước nhữngbiến động phức tạp
2.4 Nguồn vốn trong nước giúp Nhà nước ổn định nền kinh tế vĩ mô đồng thời đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam.
Có thể nói trong điều kiện kinh tế hiện nay thì vài trò của Nhà nước trongviệc điều tiết nềnkinh tế ở vĩ mô là cực kỳ quan trọng.Trong số các công cụ có thểđiều tiết hiệu quả biến động của nền kinh tế thì sử dụng hợp lí Ngân sách Nhà nướcđược đặt ra một cách cấp bách Việc sử dụng ngân sách nhà nước hiệu quả là mộttrong những công cụ quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát và bình ổn giá cả,đồng thời dung ngân sách có thể kích cầu nền kinh tế giúp nền kinh tế khôi phụcnhanh hơn sau thời kỳ khủng hoảng, Xử lý bội chi ngân sách nhà nước là một vấn
đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tácđộng đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia
Trang 31Ở Việt Nam theo tính toán của Bộ Tài chính, tổng thu cân đối NSNN năm
2008 ước tăng 26,3% so với 2007 và vượt 23,5% dự toán cả năm; cơ cấu thu cótiến bộ, thu nội địa trong tổng thu NSNN tăng 8,3%, thu từ dầu thô tăng 49,4%, thucân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng 41% so với dự toán
Bên cạnh đó, tổng chi cân đối NSNN ước tính tăng 22,3% so với năm trước
và vượt 18,9% dự toán năm Bội chi NSNN trong phạm vi 5% GDP; dư nợ Chínhphủ, dư nợ nước ngoài của Quốc gia trong giới hạn đảm bảo an ninh tài chính quốcgia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
Trên cơ sở đó, dự toán thu NSNN năm 2009 là 389.300 tỷ đồng, bằng 21,5%GDP Trong đó, thu nội địa (không kể dầu thô) tăng 13,7% , không kể thu tiền sửdụng đất theo đăng ký của địa phương tăng 15,8% so ước thực hiện năm 2008 Dựtoán chi NSNN là 491.300 tỷ đồng, tăng 92.320 tỷ đồng (tăng 23,1%) so với dựtoán năm 2008
Chi ngân sách nhà nước theo hướng thắt chặt đã góp phần thực hiện mụctiêu kiềm chế lạm phát, tập trung nguồn lực để bảo đảm an sinh xã hội với thựchiện các mục tiêu phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng an ninh, phát triển sựnghiệp giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường
Cùng với đó, sự gia tăng về quy mô của nguồn vốn trong nước đã thúc đẩyquá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước diễn ra Theo báo cáo gần đâycủa Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước (tháng 5-2006),trong 15 năm qua, nước ta đã thực hiện cổ phần hóa được 2.935 doanh nghiệp nhànước, trong đó có 80% số doanh nghiệp mới thực hiện cổ phần hóa từ năm 2001đến nay Từ số liệu trong Báo cáo này, bước đầu có thể phân tích thực trạng cổ phTính đến ngày 27-10-2005, cả nước đã cổ phần hóa được 1.960 doanh nghiệp nhànước, hầu hết đều hoạt động có hiệu quả, vốn điều lệ và doanh thu tăng, thu nhậpcủa người lao động được cải thiện rõ rệt Riêng 10 tháng của năm 2005, đã cổ phầnhóa được 400 doanh nghiệp nhà nước Tại Hà Nội, bình quân của 86 doanh nghiệp
Trang 32đã cổ phần hóa tăng doanh thu tới 1,5 lần Vốn nhà nước được bảo toàn và tiếp tụctăng Doanh nghiệp “tự thân vận động” tốt hơn khi còn được bảo lãnh vay vốn củaNhà nước, xóa bỏ được tình trạng giãn nợ và khoanh nợ cho Nhà nước, tiến dần tới
sự liên doanh giữa ngân hàng và doanh nghiệp cùng có lợi và cùng chia sẻ rủi ronhư thông lệ của kinh tế thị trường Điều đáng lưu ý là, có rất ít doanh nghiệp cổphần kinh doanh có hiệu quả mà không hề có cổ đông là Nhà nước Thực tế chothấy những doanh nghiệp mà Nhà nước định bán hết 100% cổ phần, đều rất khóthực hiện cổ phần hóa sau khi cổ phần hóa, có tới 90% doanh nghiệp hoạt động cóhiệu quả, góp phần tăng ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho người lao động,huy động vốn xã hội cũng tăng lên, chấm dứt tình trạng bù lỗ của ngân sách nhànước, tạo thêm công ăn việc làm Chỉ có 10% số doanh nghiệp sau cổ phần hóahoạt động kém hiệu quả Như vậy, nguồn vốn trong nước đã có tác động thúc đẩytiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước diễn ra đồng bộ, nhanh chóng,hiệu quả hơn; và chính việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước này cũng cótác động tích cực ngược trớ lại làm gia tăng về số lượng cũng như chất lượng củaviệc huy động và sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước
2.5 Nguồn vốn trong nước phát huy vai trò giúp Việt Nam hạn chế tiêu ít phụ
thuộc vào nguồn vốn từ nước ngoài do đó làm giảm ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế Việt Nam.
Mười năm sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á, thế giới lại đứngtrước một cuộc khủng hoảng tài chính mà mức độ nghiêm trọng và khả năng tànphá lớn hơn gấp nhiều lần Xuất phát từ khủng hoảng nợ dưới chuẩn của Mỹ, donhững chính sách tín dụng dễ dãi của các ngân hàng và tổ chức đầu tư bất độngsản, thông qua mối quan hệ kinh doanh chằng chịt của hệ thống ngân hàng thời đạitoàn cầu hoá, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã nhanh chóng lan rộng ranhiều lĩnh vực và khu vực trên toàn thế giới.xem xét một cách sâu xa cuộc khủng
hoảng đó thì một nguyên nhân rất quan trọng là “Chủ quyền kinh tế của các quốc
Trang 33gia, nhất là những nước có nền kinh tế phụ thuộc vào nước ngoài và nội lực kinh
tế thấp sẽ bị ảnh hưởng khi phải chấp nhận những điều kiện ràng buộc của các tổ
chức kinh tế quốc tế.Ở Việt Nam tăng trưởng GDP năm 2008 đạt mức 6,7% Lạm
phát hai con số ,ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân,ngoài ra dấu hiệuthiểu phát đã bắt đầu xuất hiện ở những tháng cuối năm 2008 Kim ngạch xuấtkhẩu, đầu tư, thu ngân sách, thị trường chứng khoán, du lịch, vận tải, dịch vụ vàsức mua đều giảm sút so với những tháng gần đây Chính vì vậy, Việt Nam cần đềcao vấn đề sử dụng và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trong nước, dựa vàonhân tố nội lực để làm chủ sự phát triển của nền kinh tế, kiềm chế sự gia tăng quámức và lạm dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài, góp phần ổn định nền kinh tế,chống những cú sốc kinh tế từ bên ngoài
II/: Thực trạng về việc huy động và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong việc thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế.
Trước đổi mới (năm 1986) Việt Nam gần như không thu hút được vốn nướcngoài bởi vì chúng ta không mở cửa để hợp tác với các nước mà chủ yếu là nhậnviện trợ từ Liên Xô ,Trung Quốc và các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa.tuy nhiên
kể từ khi mở cửa và nhất là khi có luật đầu tư nước ngoài được Quốc hội nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 29tháng 12 năm 1987 thì đã tạo ra bước đột phá trong việc thu hút và sử dụng vốnđầu tư từ nước ngoài
1-các nguồn huy động vốn đầu tư nước ngoài:
1.1 Vốn FDI
-Trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, dòng FDI vào Việt Nam còn nhỏ Đến
năm 1991, ĐTNN đạt được 214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,6 tỷ USDtrong đó tổng vốn FDI ở Việt Nam mới chỉ là 213 triệu đô-la Mỹ Tuy nhiên, con
số FDI đăng ký đã tăng mạnh từ 1992 và đạt đỉnh điểm vào 1996 với tổng vốnđăng ký lên đến 8,6 tỷ đô-la Mỹ Sự tăng mạnh mẽ của FDI này là do nhiều nguyên
Trang 34nhân Các nhà đầu tư nước ngoài bị thu hút bởi tiềm năng của một nền kinh tế đangtrong thời kỳ chuyển đổi với một thị trường phần lớn còn chưa được khai thác.Thêm vào đó, các nhà đầu tư nước ngoài còn bị hấp dẫn bởi hàng loại các yếu tốtích cực khác như lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ và tỷ lệ biết chữcao Bên cạnh những yếu tố bên trong còn có các yếu tố bên ngoài đóng góp vàoviệc gia tăng của FDI Thứ nhất là làn sóng vốn chảy dồn về các thị trường mới nổitrong những năm 80 và đầu những năm 90 Trong các thị trường này, Đông Nam Á
là một điểm chính nhận FDI Năm 1990, các nước Đông Nam Á thu hút 36% tổngdòng FDI đến các nước đang phát triển Thứ hai là dòng vốn nước ngoài vào cácnền kinh tế quá độ khối xã hội chủ nghĩa trước đây, nơi mà họ cho rằng đang cócác cơ hội kinh doanh mới và thu lợi nhuận Thứ ba, là các nước mạnh trong vùng(cụ thể là Mã-lai-xi-a, Xin-ga-po, Thái-lan,…) đã bắt đầu xuất khẩu vốn Là mộtnền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ ở Đông Nam Á, Việt Nam có được lợi thế từcác yếu tố này[1]
Trong khoảng thời gian 1991-1996, Là giai đoạn bùng nổ ĐTNN tại VN
và được coi là làn sóng ĐTNN đầu tiên vào Việt Nam với 1.781 dự án được cấpphép với tổng vốn cấp mới là 28.3 tỷ USD FDI đóng một vai trò quan trọng trongviệc tài trợ cho sự thiếu hụt trong tài khoản vãng lai của Việt Nam và đã có nhữngđóng góp cho cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
Trong giai đoạn 1997-1999, Là giai đoạn khủng hoảng tài chính châu Á
(năm 1997), đã làm giảm ĐTNN tại VN Thời kỳ đó chỉ đạt được 961 dự án đượccấp phép với tổng vốn 13 tỷ USD Có nhiều dự án được cấp phép trong những nămtrước phải tạm ngưng triển khai hoạt động.Việt Nam đã trải qua một giai đoạn tụtdốc của nguồn FDI đăng ký, cụ thể là 49% năm 1997, 16% năm 1998 và 59% năm
1999 Năm nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam đều từ khu vực châu Á và phải đốimặt với những khó khăn thực sự tại quốc gia của mình Để bảo đảm cho hoạt độngkinh doanh tại nước mình, các nhà đầu tư này đã buộc phải huỷ hoặc hoãn các kế
Trang 35hoạch mở rộng ra nước ngoài Cuộc khủng hoảng cũng buộc các nhà đầu tư phảisửa đổi thấp đi chỉ tiêu mở rộng sang châu Á Cuộc khủng hoảng cũng đã dẫn đếnviệc đồng tiền của các nước Đông Nam Á bị mất giá Việt Nam, do vậy, cũng trởnên kém hấp dẫn đối với những dự án tập trung vào xuất khẩu Hơn nữa, các nhàđầu tư nước ngoài cũng nhận ra rằng các dự kiến về nhu cầu của thị trường đã bịthổi phồng Các bức rào cản cho việc kinh doanh cũng trở nên rõ ràng hơn.
Giai đoạn 2000-2007:
* Tổng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) qua các năm
Tỷ USD 2,01 2,59 1,82 1,95 4,2 5,8 10,2 20,3
Thu hút đầu tư có dấu hiệu phục hồi trở lại nhưng còn chậm Năm 2000 và
2001 đầu tư nước ngoài tại VN tăng nhẹ, năm 2002 & 2003 giảm nhẹ, năm 2004 &
2005 có xu hướng tăng nhanh
- Giai đọan 2006-2007: Là giai đoạn đặc biệt Dòng vốn ĐTNN tăng rấtnhanh Năm 2006, ĐTNN đạt 10,2 tỷ tăng 75,4% so với năm 2005
- Tính đến cuối năm 2007, có hơn 8.590 dự án ĐTNN còn hiệu lực hoạt độngtại VN với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khỏang 83,1 tỷ USD Năm 2007 đạt mức
kỷ lục trong 20 năm qua với 20,3 tỷ USD tăng gấp đôi so với năm 2006 Đây đượcxem là làn sóng ĐTNN lớn thứ 2 đổ vào VN từ trước đến nay
- Năm 2008 tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký của cả nước năm 2008 đạt64,011 tỉ USD, tăng 199,9% so với năm trước, cao nhất từ trước đến nay Tổng số
dự án được cấp mới của cả năm là 1.171 dự án Vốn giải ngân đạt 11,5 tỉ USD,tăng 43,2% so với năm trước Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng thu hút 572 dự ánvới 32,6 tỉ USD, dịch vụ có 554 dự án với tổng vốn đăng ký 27,4 tỉ USD, số dự án
và vốn đầu tư vào lĩnh vực nông - lâm - ngư rất nhỏ Malaysia trở thành nhà đầu tưđứng đầu tại VN với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỉ USD Giá trị xuất khẩu của các
Trang 36doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt gần 24,5 tỉ USD, chiếm khoảng 40%tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đây cũng là khu vực có kim ngạch nhập khẩurất lớn (28,5 tỉ USD) Đây là kết quả đáng khích lệ đối với các nhà hoạch địnhchính sách FDI, là thành quả của Chính phủ trong nỗ lực chỉ đạo, điều hành, củacác cơ quan quản lý hoạt động FDI từ Trung ương đến địa phương trong việc tạomôi trường đầu tư - kinh doanh hấp dẫn, cởi mở, minh bạch và thông thoáng, phùhợp với cam kết quốc tế về giảm thiểu các khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư.Bên cạnh đó còn là sự tích cực, chủ động trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiềubiện pháp theo hướng đơn giản thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợicho các dự án đầu tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanhhiệu quả, phát huy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp.
1.2 nguồn vốn ODA:
Trong thời gian qua ,việc thu hút ODA phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóahiện đại hóa ở Việt Nam đã diễ ra trong bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiềuthuận lợi Kể từ năm 1993 đến hết 2006 ,Việt Nam đã tổ chức được 14 hội nghịnhóm tư vấn các nhà tài trợ với tổng mức vốn cam kết hơn 36 tỉ usd.Với quy môtài trợ khác nhau ,hiện nay Việt Nam có trên 45 đối tác hợp tác phát triển songphương và hơn 350 tổ chức quốc tế và phi chính phủ đang hoạt động
Trong tổng số vốn cam kết nói trên bao gồm cả viên trợ không hoàn lạichiếm khoảng 15-20% và phần chủ yếu còn lại là vay ưu đãi Nguồn vốn ODA này
đã được Chính Phủ Việt nam định hướng ưu tiên cho các lĩnh vực giao thông vậntải ,phát triển hệ thống nguồn điện ,mạng lưới chuyể tải và phân phối điện ,pháttriển nông nghiệp và nông thôn gồm cả thủy lợi , thủy sản,lâm nghiệp kết hợp xóađói giảm nghèo ,cấp thoát nước và bảo vệ môi trường ,y tế giáo dục và đào tạo Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rất nhiều vàhiện có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa