1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Skkn một số biện pháp dạy luyện từ và câu nhằm tạo hứng thú và bồi dưỡng tư duy cho học sinh lớp 4,5

30 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số biện pháp dạy luyện từ và câu nhằm tạo hứng thú và bồi dưỡng tư duy cho học sinh lớp 4,5
Trường học Trường Tiểu học Vạn Thắng
Chuyên ngành Tiếng Việt
Thể loại SKKN
Năm xuất bản 2022 – 2023
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 4,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Lí do chọn đề tài (1)
  • II. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu (2)
  • III. Phạm vi nghiên cứu (2)
  • IV. Phương pháp nghiên cứu (2)
  • V. Đối tượng nghiên cứu (3)
  • VI. Thời gian nghiên cứu (3)
  • Chương I: cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn (3)
    • 1. Cơ sở lí luận (3)
    • 2. Phân môn Luyện từ và câu lớp 4,5 (4)
    • 3. Các biện pháp dạy học chủ yếu (4)
    • 4. Cơ sở tâm lí học (5)
    • 5. Cơ sở thực tiễn (7)
    • 6. Kết quả khảo sát thực tế đầu năm (8)
  • Chương II: Các biện pháp dạy luyện từ và câu nhằm tạo hứng thú,bồi dưỡng tư duy (8)
    • IV. Kết quả so sánh đối chứng (19)
  • PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ (20)

Nội dung

c Giúp học sinh ý thức và thói quen sử dụng tiếng Việt, văn hóa trong giao tiếp để trẻ tích luỹ những hiểu biết cần thiết về tiếng Việt: - Quá trình học "Luyện từ và câu" giúp các em biế

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ tầm quan trọng của việc bồi dưỡng tư duy cho học sinh Tiểu học

- Đề xuất một số biện pháp nhằm tạo hứng thú cho học sinh lớp 4,5 thông qua môn Luyện từ và câu

- Nghiên cứu về thực trạng bồi dưỡng tư duy cho học sinh lớp4,5 qua phân môn Luyện từ và câu

- Đề xuất một số biện pháp nhằm tạo duy cho hoc sinh lớp 4,5 qua phân mônLuyện từ và câu.

Phương pháp nghiên cứu

1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết Để thực hiện đề tài này,tôi chọn phương pháp chính là: -

Phương pháp phân tích, tổng hợp các lý thuyết

- Phương pháp mô hình hóa

Ngoài ra, tôi còn sử dụng thêm phương pháp: đọc sách và nghiên cứu tài liệu

2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn Tôi chọn phương pháp chính là:

- Phương pháp quan sát sư phạm

- Phương pháp thực nghiệm khoa học

Bên cạnh đó tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

3 Nhóm phương pháp thống kê toán học -

Phương pháp thống kê, lập bảng số liệu.

Thời gian nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 9/ 2022 đến tháng 3/ 2023

- Địa điểm: Lớp 4A2, 5A3 Trường Tiểu học Vạn Thắng.

cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Cơ sở lí luận

Trong thế giới hiện thực có rất nhiều cái con người chưa biết, chưa nhận thức được Nhiệm vụ của cuộc sống luôn đòi hỏi con người phải hiểu thấu những cái chưa biết đó, phải vạch ra được cái bản chất và những quy luật tác động của chúng.

Dưới góc độ giáo dục, có thể hiểu tư duy là hệ thống gồm nhiều ý tưởng, tức là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện Nó dùng suy nghĩ hay tái tạo suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một việc nào đó

Theo cách hiểu đơn giản nhất, tư duy là một loạt những hoạt động của bộ não diễn ra khi có sự kích thích Những kích thích này nhận được thông qua bất kì giác quan nào trong năm giác quan: xúc giác, thị giác, thính giác, khứu giác hay vị giác.

Tóm lại, có thể hiểu tư duy là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động nhận thức bậc cao ở con người.Cơ sở sinh lý của tư duy là sự hoạt động của vỏ đại não.Hoạt động tư duy đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ.Mục tiêu của tư duy là tìm ra các triết lý, lý luận, phương pháp luận, phương pháp, giải pháp trong các tình huống hoạt động của con người

Tư duy mà con người là chủ thể chỉ nảy sinh khi gặp tình huống “có vấn đề”.Tuy nhiên vấn đề đó phải được cá nhân nhận thức đầy đủ, được chuyển thành nhiệm vụ cá nhân (cái gì đã biết, cái gì cần tìm kiếm), đồng thời nằm trong ngưỡng hiểu biết của cá nhân và là nhu cầu động cơ tìm kiếm của cá nhân Tiếp theo, tư duy luôn phản ánh cái bản chất nhất chung cho nhiều sự vật hợp thành một nhóm, một loại, một phạm trù, đồng thời trừu xuất khỏi những sự vật đó những cái cụ thể, cá biệt Ngoài ra, tư duy luôn phản ánh gián tiếp hiện thực.Trong tư duy, có sự thoát khỏi những kinh nghiệm cảm tính.Cuối cùng, ngôn ngữ có vai trò cố định lại các kết quả của tư duy và nhờ đó làm khách quan hóa chúng cho người khác và cho cả bản thân chủ thể tư duy.

Phân môn Luyện từ và câu lớp 4,5

2.1 Mục đích dạy Luyện từ và câu cho học sinh lớp4, 5: a) Hình thành và phát triển kỹ năng tiếng Việt:

- Thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Sách giáo khoa tiếng Việt 5 tiếp tục lấy nguyên tắc giao tiếp làm định hướng cơ bản.Việc rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt thông qua tất cả các phân môn Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn, Luyện từ và câu

Phân môn luyện từ và câu có những tiết học dành riêng để trang bị kiến thức cho học sinh Các em được mở rộng, hệ thống hoá vốn từ, được trang bị kiến thức sơ giản về từ, câu, kỹ năng dùng từ đặt câu, sử dụng dấu câu Việt để học tốt các phân môn tiếng b) Sử dụng từ, câu tiếng việt giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, năng lực tư duy:

- Thông qua các bài Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn, Luyện từ và câu học sinh được rèn luyện và phát triển trí tưởng tượng ngay từ các bài thơ, bài văn c) Giúp học sinh ý thức và thói quen sử dụng tiếng Việt, văn hóa trong giao tiếp để trẻ tích luỹ những hiểu biết cần thiết về tiếng Việt:

- Quá trình học "Luyện từ và câu" giúp các em biết sử dụng từ ngữ phù hợp trong giao tiếp hàng ngày với bạn bè, bố mẹ và mọi người xung quanh Bồi dưỡng cho các em biết thưởng thức cái đẹp, biết thể hiện những buồn, vui, yêu, ghét của con người.Từ đó, học sinh biết phân biệt đẹp, xấu, thiện, ác để hoàn thiện nhân cách cho bản thân

2.2 Nội dung và mức độ cần đạt: a) Đối tượng để học sinh làm bài:

- Là những bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm, những bài tập về từ, câu b) Yêu cầu cần đạt:

- Nắm kiến thức về từ ngữ qua các chủ điểm

- Nắm kiến thức sơ giản về câu

- Rèn cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu.

- Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp.

Các biện pháp dạy học chủ yếu

a) Cung cấp kiến thức mới:

- Giáo viên tổ chức cho HS làm các bài tập ở phần nhận xét theo các hình thức: + Trao đổi chung cả lớp

+ Trao đổi từng nhóm (tổ; bàn; hoặc 2, 3HS)

+ Tự làm cá nhân, qua đó HS rút ra kết luận theo các điểm cần ghi nhớ về kiến thức b) Luyện tập và mở rộng vốn từ:

- Giáo viên cho học sinh nhắc lại một số kiến thức có liên quan, rồi tổ chức cho học sinh làm các bài tập theo các hình thức trao đổi nhóm, thi đua giữa các nhóm, cá nhân Cần lưu ý các vấn đề sau:

+ Hướng dẫn HS tìm hiểu kĩ yêu cầu của bài tập

+ Chữa mẫu cho học sinh một phần hoặc 1 bài để hướng dẫn cách làm + Hướng dẫn học sinh làm vào vở ( bảng con, bảng phụ, bảng nháp…) +Hướng dẫn HS nêu kết quả, chữa bài tậpvà tự kiểm tra kết quả luyện tập.

Cơ sở tâm lí học

4.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học

Hệ thần kinh của học sinh Tiểu học đang trong thời kì phát triển mạnh Đến chín, mười tuổi hệ thần kinh của trẻ căn bản được hoàn thiện và chất lượng của nó sẽ được giữ lại trong suốt cuộc đời Trong thời kì này các em sẽ có những đặc điểm tâm lý như khả năng kìm hãm (khả năng ức chế) của hệ thần kinh còn yếu, dễ bị kích thích Tri giác mang tính đại thể, toàn bộ, ít đi sâu vào chi tiết, mang tính không chủ động, gắn với hành động và với hoạt động thực tiễn Tuy vậy trẻ cũng bắt đầu có khả năng phân tích, tách dấu hiệu, chi tiết nhỏ của một đối tượng cụ thể.

Trí nhớ tuy đã phát triển nhưng còn chịu nhiều tác động từ hứng thú và các hình mẫu tác động mạnh Nhiều học sinh còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa mà có khuynh hướng phát triển trí nhớ máy móc

Tưởng tượng của học sinh Tiểu học đã phát triển phong phú Càng về những năm cuối cấp học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn Điều này chứng tỏ học sinh cuối cấp Tiểu học đã biết tưởng tượng sáng tạo, một trong những yếu tố cơ bản, cần thiết của tư duy

4.2 Đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học

Trong Tâm lý học nhận thức, Piaget đã đưa ra thuyết hoạt động hóa nhằm mô tả các cấu trúc lôgic khác nhau có tính kế thừa trong quá trình phát triển trí tuệ của con người từ khi sinh ra tới tuổi trưởng thành Ông cho rằng tư duy của trẻ hình thành và phát triển liên tục theo từng giai đoạn cụ thể Theo ông, ở giai đoạn từ 0 đến 2 tuổi, trẻ chỉ sử dụng công cụ tư duy là tri giác và động tác có khả năng biểu hiện Đó là thời kì trí tuệ cảm giác – vận động tiền ngôn ngữ Từ 2 tuổi đến khoảng

7 tuổi là khởi đầu cho một thời kì mới Ở giai đoạn này, trẻ có tư duy mang chức năng tượng trưng (kí hiệu), chuyển từ trí tuệ cảm giác - vận động sang trí tuệ biểu tượng Có nghĩa là các em nhận thức đối tượng chủ yếu và trực tiếp thông qua các giác quan Như vậy tư duy của trẻ đã chuyển từ tiền hoạt động sang thời kì hoạt động cụ thể, từ tiền thao tác sang thao tác

Thực chất của loại tư duy này là trẻ tiến hành các hành động để phân tích, so sánh, đối chiếu các sự vật

Trong giai đoạn tiếp theo (thường là học sinh từ lớp 3, lớp 4), trẻ đã chuyển được các hành động phân tích, khái quát, so sánh từ bên ngoài thành các thao tác trí óc bên trong, mặc dù tiến hành các thao tác này vẫn phải dựa vào các hành động đối với đối tượng thực, chưa thoát ly khỏi chúng Trẻ đã có khả năng đảo ngược các hình ảnh tri giác, khả năng bảo tồn sự vật khi có sự thay đổi các hình ảnh tri giác về chúng Từ 10 và 11 tuổi trở đi, tư duy của trẻ đã chuyển dần sang hoạt động hình thức hay còn gọi là hoạt động giả thuyết – suy diễn, không còn bám giữ vào đối tượng (đồ vật, hiện tượng) cụ thể, mà căn cứ vào “giả thuyết’’ Thời kì tư duy hình thức phát triển ở tuổi thiếu niên (vị thành niên)

Các thao tác tư duy như phân tích – tổng hợp, khái quát – trừu tượng hóa còn sơ đẳng ở các lớp đầu cấp Tiểu học, chủ yếu chỉ tiến hành hoạt động phân tích – trực quan - hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Nhưng trong quá trình học tập dần lên các lớp trên thì khả năng phân tích - tổng hợp, trừu tượng hóa – khái quát hóa trong tư duy của trẻ có sự phát triển vượt bậc Học sinh cuối cấp này có thể phân tích đối tượng mà không cần tới những hành động thực tiễn đối với đối tượng đó Các em có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ

Như vậy, theo thời gian, hoạt động tư duy của học sinh Tiểu học có nhiều biến đổi cơ bản Sự thay đổi mối quan hệ giữa tư duy hình tượng, trực quan cụ thể sang tư duy trừu tượng, khái quát chiếm ưu thế và là đặc điểm mới, nổi bật về hoạt động tư duy của học sinh cuối cấp Tiểu học

Trong lứa tuổi Tiểu học, học sinh có rất ít vốn từ, mỗi môn học cung cấp cho học sinh thêm một số từ để làm công cụ học tập cũng như trong giao tiếp Tất cả các môn học và các phân môn Tiếng Việt đều có vai trò to lớn trong việc dạy từ.Chúng mở rộng sự hiểu biết về thế giới, con người, góp phần làm giàu vốn từ cho học sinh Nguồn cơ bản của dạy Luyện từ và câu được xem là kinh nghiệm sống của cá nhân học sinh và những quan sát thiên nhiên, con người của các em DạyLuyện từ và câu phải gắn với đời sống, gắn với việc làm giàu những biểu tượng tư duy, bằng con đường quan sát trực tiếp và thông qua những mẫu lời nói

Tiết học Luyện từ và câu góp phần rèn luyện và phát triển kỹ năng sử dụng ngôn ngữ một cách thành thạo, góp phần phát triển kỹ năng giao tiếp và sử dụng văn bản sau này.

Cơ sở thực tiễn

Trong quá trình dạy học chúng ta thường quan tâm đến 3 vấn đề quan trọng đó là sách giáo khoa và các tài liệu khác, trình độ giáo viên, trình độ học sinh

Sách giáo khoa có chức năng giúp học sinh lĩnh hội, củng cố, đào sâu những tri thức tiếp thu được trên lớp, phát triển năng lực trí tuệ và có tác dụng giáo dục học sinh đồng thời giúp giáo viên xác định nội dung kiến thức và lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học, tổ chức công tác dạy học của mình Vì vậy, mỗi giáo viên cần phải tìm hiểu nghiên cứu để có hiểu biết về chương trình

Trước đây được đào tạo chuyên ngành với nhiều hình thức trình độ đào tạo khác nhau, có sự chênh lệch nhau về kiến thức, kỹ năng Không ít giáo viên gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy Vì vậy, dạy học ở Tiểu học còn đơn điệu, nặng nề, học sinh chưa tích cực chủ động tiếp thu bài, giáo viên cũng gặp không ít khó khăn về cơ sở vật chất, về phương tiện dạy học… Hiện nay, đã thực hiện đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm giáo viên chỉ là người hướng dẫn chỉ đạo, tổ chức cho học sinh hoạt động nên giờ học hiện nay có khởi sắc hơn nhưng vấn đề quan tâm đến bồi dưỡng tư duy cho các em còn rất hạn chế Bên cạnh đó, đối với phân môn Luyện từ và câu không ít giáo viên vẫn chưa thoát khỏi quỹ đạo của phương pháp dạy học truyền thống Một số giáo viên vẫn coi học sinh Tiểu học là đối tượng nói theo, làm theo khuôn mẫu, ít sáng tạo và khả năng tư duy còn thấp

Chính vì vậy cần đổi mới phương pháp dạy học "Luyện từ và câu" theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học để giờ học sinh động, hấp dẫn, hiệu quả

Với đặc thù của phân môn Luyện từ và câu là trang bị những kiến thức cơ bản về từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt để các em học tốt các môn học khác Bởi vậy, việc bồi dưỡng và nâng cao hiểu biết về từ, câu, kỹ năng sử dụng tiếng Việt văn hoá là vô cùng quan trọng góp phần kích thích sự phát triển tư duy, hoàn thiện nhân cách cho học sinh

5.2 Về phía học sinh Đối với học sinh trong nhà trường, học sinh không chỉ là đối tượng được giáo dục mà còn là chủ thể chính của nhận thức, rèn luyện kỹ năng và thông qua đó hình thành nhân cách con người mới Vì vậy, hoạt động giảng dạy của giáo viên đều hướng vào học sinh làm sao cho học sinh có hứng thú với bài học thông qua đó rút ra được kiến thức

Tuy nhiên học sinh Tiểu học ngại học môn từ ngữ, ngữ pháp Phải nói rằng phân môn Luyện từ và câu đối với các em là một môn học khó, khô khan nên học sinh không hứng thú trong các giờ học Các em chỉ mới hiểu nghĩa của từ, cấu tạo từ, song vốn từ của các em còn nghèo, không thể diễn đạt một cách trôi chảy những cảm nhận của mình Nhưng nếu giáo viên tổ chức không linh hoạt các hình thức,phương pháp dạy học thì học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, các em sẽ không có điều kiện để thỏa sức sáng tạo, nâng cao trình độ hiểu biết và khả năng tư duy thấp.

Kết quả khảo sát thực tế đầu năm

Tổng sô Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành

Các biện pháp dạy luyện từ và câu nhằm tạo hứng thú,bồi dưỡng tư duy

Kết quả so sánh đối chứng

Tổng sô: 36 em Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Đầu năm 15 em = 41,7 % 17 em = 47,2 % 4 em = 11,1% Cuối kì 1 18 em = 50 % 16 em = 44,4 % 2em = 5,6 % Giữa kì 2 20 em = 55,6 % 16 em = 44,4 % 0 em = 0 %

Ngày đăng: 26/10/2024, 21:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w