Sự thay đổi của các thị trường tài chính cùng với mức độ mở cửa thương mại - tài chính của các nước và những điều kiện bên trong của mỗi quốc gia đều có thể dẫn đến nguy cơ khủng hoảng..
Trang 1GVHD: Hoà Thò Hoàng Minh
SV : Nguyễn Văn Thanh Vi
MSSV : K105041663
Trang 21 Lí do chọn đề tài :
Tài chính là một lĩnh vực vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của một quốc gia Nền tài chính của một quốc gia là cơ sở để đánh giá trình độ phát triển của quốc gia đó Sự phát triển của hệ thống tài chính toàn cầu bên cạnh việc mang lại những cơ hội lớn cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc thì đồng thời cũng tiềm ẩn những nguy cơ khủng hoảng Sự thay đổi của các thị trường tài chính cùng với mức độ mở cửa thương mại - tài chính của các nước và những điều kiện bên trong của mỗi quốc gia đều có thể dẫn đến nguy cơ khủng hoảng
Trong những năm gần đây, khủng hoảng tài chính đã diễn ra ngày càng liên tục với cường độ mạnh và diễn biến ngày càng phức tạp, gây ra những hậu quả nặng nề đối với các quốc gia và toàn thế giới Nhiều thị trường mới nổi đã trải qua những cuộc khủng hoảng tài chính, có thể nhắc đến như khủng hoảng Mexico 1994, khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, khủng hoảng Acgentina 2001, và cuộc đại khủng hoảng 2008-2009.Cả thế giới đang phải chao đảo gánh chịu hậu quả của cơn bão khủng hoảng tài chính Khủng hoảng đem tới thách thức và cơ hội cho những ai biết nắm bắt thời cơ Hiện nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ đươc tầm quan trọng của việc nghiên cứu khủng hoảng, triển vọng và tác động của nó trong bối cảnh đất nước đang tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào liên kết khu vực, hội nhập quốc tế Đó cũng là động lực thúc đẩy tôi chọn đề tài nghiên cứu :
“Khủng hoảng tài chính” (Financial crisis)
2 Mục đích nghiên cứu :
Nghiên cứu làm rõ một số khái niệm, vấn đề cơ bản về khủng hoảng tài chính trước sự biến động phức tạp của nền kinh tế Tập trung phân tích những nguyên nhân, tác động của khủng hoảng tài chính để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về chính sách phát triển kinh tế và chính sách kinh tế đối ngoại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Phần cơ sở lý luận, đề tài sẽ đi vào tìm hiểu khái niệm, nguyên nhân, phân loại, hệ quả và các phương pháp dự báo, ngăn ngừa khủng hoảng tài chính Phần tìm hiểu về 2 cuộc khủng hoảng tài chính lớn trên Thế Giới, đề tài sẽ giới thiệu sơ lược về nguyên nhân, tính chất, tác động của nó đến toàn bộ nền kinh tế Phần vận dụng thực tiễn, đề tài sẽ rút ra bài học kinh nghiệm, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam Ngoài ra do có sự giới hạn nên trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu sẽ không đi sâu vào phân tích những vấn đề như : chi tiết về đặc điểm của từng loại khủng hoảng tài chính, các loại mô hình khủng hoảng tài chính…
4 Phương pháp nghiên cứu :
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như thống kê – mô tả, phân tích – tổng hợp, so sánh – đối chiếu, diễn dịch – quy nạp và phương pháp quan sát thực tiễn để khái quát bản chất của các vấn đề cần nghiên cứu Đề tài dựa vào cơ sở lý thuyết chuyên ngành tài chính doanh nghiệp, lý thuyết tài chính tiền tệ kết hợp với nguồn dữ liệu thông tin sưu tầm, tập hợp từ các sách báo, tạp chí và các webside có liên quan…
5 Kết cấu của đề tài :
Với phạm vi nghiên cứu như trên, nội dung chính của đề tài gồm 04 chương :
Chương I : Lý thuyết về khủng hoảng tài chính
Chương II : Khủng hoảng tài chính Đông Nam Á 1997
Chương III : Khủng hoảng tài chính Mỹ 2008
Chương IV : Bài học rút ra cho Việt Nam và các doanh nghiệp
Trang 3CHƯƠNG I : LÝ THUYẾT VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
1 Tổng quan về thị trường tài chính :
* Xung quanh vấn đề tài chính có rất nhiều quan niệm khác nhau Nhưng tổng kết lại, tài chính mang những đặc điểm sau : tài chính chỉ ra đời và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi mà ở đó có những hiện tượng kinh tế xã hội khách quan nhất định xuất hiện và tồn tại Có thể xem những hiện tượng kinh tế xã hội khách quan đó như tiền đề khách quan quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính với tư cách là phạm trù lịch sử Tài chính thuộc lĩnh vực phân phối dưới hình thái giá trị Nó là tổng thể các quan hệ kinh tế trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân, nó gắn liền với sự ra đời và tồn tại và hoạt động của nhà nước, phát triển trong các mối quan hệ hữu cơ với nền sản xuất hàng hoá và quan hệ hàng hoá tiền
tệ Hay nói cách khác tài chính là quá trình phân phối các nguồn lực tài chính có hạn nhằm đáp ứng nhu cầu các chủ thể trong nền kinh tế
* Bản chất của tài chính thể hiện ở những khía cạnh sau : tài chính là những quan hệ kinh tế nhưng không phải mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều thuộc phạm trù tài chính Tài chính chỉ bao gồm những quan hệ phân phối dưới hình thái giá trị Tài chính là những quan hệ phân phối phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ Đây là một đặc trưng quan trọng của tài chính Tài chính là những quan hệ kinh tế chịu sự tác động trực tiếp của nhà nước, của pháp luật, nhưng tài chính không phải là luật lệ tài chính Luật tài chính là công cụ của nhà nước để điều tiết các quan hệ tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu của nhà nước
* Trong nền kinh tế các quan hệ tài chính xuất hiện đan xen nhau liên hệ, tác động ràng buộc lẫn nhau trong một thể thống nhất tạo nên hệ thống tài chính Có thể chia hệ thống tài chính làm 2 kênh dẫn vốn : kênh dẫn vốn qua thị trường tài chính (trực tiếp), kênh dẫn vốn qua các trung gian tài chính như ngân hàng thương mại, quỹ bảo hiểm, quỹ tín dụng… (gián tiếp) Nhờ 2 kênh này mà vốn được lưu chuyển thuận lợi, giảm được rất nhiều chi phí giao dịch giữa hai bên cung và cầu vốn
2 Khái niệm khủng hoảng tài chính :
* Khủng hoảng tài chính xảy ra trong các mối quan hệ tài chính và các kênh dẫn vốn trong nền kinh tế Khủng hoảng tài chính nảy sinh khi các mối quan hệ này đạt tới mức thấp có nghĩa là bên cung vốn không muốn tài sản tài chính mà mình có cho bên cầu vốn nữa Và điều này tác động lên các kênh dẫn vốn, làm cho nó bị tê liệt không phát huy được tác dụng và do đó sẽ làm sụp đổ hoặc suy yếu các tổ chức, định chế tài chính Các tổ chức định chế tài chính này không bao giờ biệt lập với nhau mà chúng có quan hệ mật thiết, do đó khủng hoảng tài chính thường làm sụp đổ hàng loạt tổ chức, định chế, gây thiệt hại to lớn
* Khủng hoảng tài chính là vấn đề có liên quan đến một phạm trù, đó là chu kì kinh doanh Quy luật chung của con đường phát triển được miêu tả như đồ thị hình sin Đó là bất kì một lĩnh vực nào cũng có thời kì phát triển rực rỡ, huy hoàng, có lúc ổn định và có thời gian thoái trào Nghiên cứu kinh tế Mỹ đã chỉ ra rằng tiền tệ -tài chính đóng góp một vai trò quan trọng trong việc tạo ra chu kì kinh doanh Mỗi cơn suy thoái trong thế kỉ XX đã đứng liền sau một sự suy giảm tỉ lệ tăng trưởng tiền
tệ Ngược lại nếu nền kinh tế lâm vào suy thoái cũng là nguyên nhân không nhỏ dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính Điều này được giải thích bởi quan hệ tài chính có mối liên hệ hữu cơ, mật thiết với nền sản xuất hàng hoá và quan hệ hàng hoá tiền tệ
Các khái niệm về khủng hoảng tài chính :
Khủng hoảng tài chính là sự đổ
vỡ của thị trường tài chính mà trong đó những
lưa chọn bất lợi và tâm lý hoang mang đã trở
nên xấu đi, dẫn đến hậu quả thị trường tài chính
không thể có những quỹ hiệu quả cũng như cơ
hội đầu tư tốt nhất (Định nghĩa của Mishkin)
Frederic Mishkin, tác
giả cuốn sách The
Economics of Money, Banking and Financial Markets
Trang 4 Khủng hoảng tài chính là tình trạng mà trong đó một bộ phận của nền tài chính có những khoản nợ lớn hơn giá trị tài sản thực có trên thị trường gây ảnh hưởng tới các cán cân đầu
tư khác, dẫn tới sự sụp đổ của không ít công ty tài chính, dẫn tới việc Chính phủ bắt buộc phải có những can thiệp (Định nghĩa của Sundarajan và Balino năm 1991)
Khủng hoảng tài chính là việc mất niềm tin vào giá trị của đồng tiền hoặc những tài sản tài chính khác khiến cho các nhà đầu tư quốc tế thu hồi quỹ đầu tư của họ ra khỏi quốc gia bị khủng hoảng
3 Dấu hiệu của khủng hoảng tài chính :
Tùy theo mức độ và phạm vi, khủng hoảng tài chính thể hiện qua các điểm sau đây :
- Sự giảm giá dây chuyền của các đồng tiền
- Tỷ giá hối đoái tăng đột biến và dây chuyền
- Lãi suất tín dụng gia tăng : lãi suất tăng kéo theo cầu tiền tệ, cầu tín dụng sụt giảm làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị suy giảm
- Hệ thống ngân hàng bị tê liệt
- Thị trường cổ phiếu sụt giá nhanh chóng
- Các hoạt động kinh tế bọ suy giảm
4 Phân loại khủng hoảng tài chính :
4.1 Khủng hoảng tiền tệ (Currency crisis) :
Khủng hoảng tiền tệ còn được gọi là khủng hoảng tỷ giá hối đoái nổ ra khi hoạt động đầu cơ tiền tệ dẫn đến sự giảm giá một cách đột ngột của đồng nội tệ hoặc trường hợp buộc các cơ quan có trách nhiệm phải bảo vệ đồng tiền của nước mình bằng cách nâng cao lãi suất hay chi ra một khối lượng lớn dự trữ ngoại hối
4.2 Khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis) :
Khủng hoảng ngân hàng rất hay gặp do ngân hàng là trung gian tài chính nhận tiền gửi của các cá nhân và pháp nhân cho vay nên rủi ro dồn cả về mặt số lương, thời hạn cũng như chùng loại tiền Ngân hàng có thể lâm vào khủng hoảng do cho vay quá mức và không thu hồi lại được dẫn đến
tỷ lệ nợ quá hạn cao làm cho ngân hàng không thể thanh toán các nghĩa vụ khi đến hạn Ngân hàng
là một hệ thống chặt chẽ nên khủng hoảng rất dễ lây lan và tạo khủng hoảng cả hệ thống Trong trường hợp khủng hoảng, các ngân hàng thương mại thường có xu hướng siết chặt các điều kiện tín dụng hay nâng lãi suất để bù đắp rủi ro và kết quả là đẩy các doanh nghiệp vào tình thế khó khăn do thiếu nguồn tài chính để hoạt động
Trang 54.3 Khủng hoảng kép (Twin Crisis) :
Khủng hoảng kép xảy ra khi khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng xảy ra đồng thời với nhau
4.4 Khủng hoảng nợ quốc gia (National Debt Crisis) :
Trường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài (vay chính thức, vay thương mại) quá nhiều, sử dụng không hiệu quả vốn nên không trả được nợ đúng hạn, lâm vào khủng hoảng buộc phải xin hoãn
nợ, xóa nợ thậm chí phải tuyên bố vỡ nợ (như trường hợp của CHDCND Triều Tiên) Có nhiều tiêu chí đánh giá khả năng thanh toán nguồn vay nước ngoài của một quốc gia, trong đó chỉ tiêu quan trọng nhất là tỷ lệ giữa nguồn vay nước ngoài cả gốc và lãi mà quốc gia đó trả trong một năm trên tổng kin ngạch xuất khẩu của quốc gia đó trong năm đó hoặc năm trước đó Bình thương chỉ tiêu này nằm dưới 20%, nếu chỉ tiêu này lớn hơn 20% chứng tỏ lượng vốn vay nước ngoài của quốc gia đó quá lớn Khủng hoảng nợ xảy ra khá nhiều (Argentina, hay nhiều nước châu Phi vừa qua) cùng với tiến trình toàn cần hóa kinh tế do các điều kiện vay nợ nước ngoài trở nên dễ dàng hơn
4.5 Khủng hoảng thị trường chứng khoán (Crisis of Security Market) :
Dòng người ồ ạt đến rút tiền
tại ngân hàng Northern
Rock (Anh) 1 ngày sau khi
ngân hàng này yêu cầu và
trung tâm kinh tế năng động nhất
Nam Mỹ vào cảnh đói nghèo, tình
hình xã hội hết sức hỗn độn Chỉ trong
vòng 1 tuần, có tới 5 vị Tổng thống
lên và xuống chức Người dân, công
nhân, viên chức liên tục xuống đường
biểu tình
Trong hình, người dân Argentina
xuống đường biểu tình khi nước này
rơi vào cảnh phá sản
(Nguồn : vnexpress.net)
Trang 6Với tư cách là đỉnh cao của kinh tế thị trường, thị trường chứng khoán rất ngạy cảm và phức tạp nên cũng dễ đổ vỡ Khủng hoảng thị trường chứng khoáng xảy ra khi giá chứng khoán biến động mạnh (“tuột dốc” hay “giảm không phanh” quá nhanh) ngoài tầm kiểm soát và do hiệu ứng “bầy đàn” làm cho chứng khoán bị “bán đổ”, “bán tháo” hay thị trường bị “đông cứng” vì không có giao dịch tạo
ra sự thâm hụt giữa tiền (chứng khoán) vào so với tiền ra thị trường chứng khoán (quỹ chứng khoán)
4.6 Khủng hoảng cán cân thanh toán/ Cán cân vãng lai/ Cán cân vốn (Crisis of Balance of Payment/ Crisis of Current Account/ Crisis of Capital
Account) :
Khủng hoảng xảy ra khi cán cân này thâm hụt quá nặng trong thời gian dài và không có nguồn
bù đắp Khủng hoảng cán cân vãng lai thường xảy ra khi cán cân thương mại (nhập trừ đi xuất) bị thâm hụt Khủng hoảng cán cân thanh toán khi tổng các luồng ngoại tệ ra lớn hơn ngoại tệ vào gây nên thâm hụt nặng nề
4.7 Khủng hoảng khả năng tính thanh khoản (Crisis of Liquidity) :
Nếu các loại khủng hoảng tài chính ở trên liên quan tới cả ba mặt : số lượng, thời hạn và chủng loại tiển thì khủng hoảng tính thanh khoản là sự mất cân đối chủ yếu liên quan tới thời hạn và chủng loại của tài sản “giống như tiền” và một số loại tài sản đặc thù
4.8 Khủng hoảng ngân sách (Budget Crisis) :
Ngân sách nhà nước thâm hụt nặng và kéo dài trong khi các nguồn thu bù đắp thâm hụt (in tiền, vay nợ trong và ngoài nước) bị hạn chế hay không thể lạm dụng hơn nữa nếu muốn tránh hậu quả như vỡ nợ hay bùng nổ lạm phát
Trên đây là những dạng khủng hoảng tài chính cơ bản và trong tương lai có thể xuất hiện thêm nhiều dạng nữa cùng với sự phát triển của thị trường tài chính trong tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế
5 Các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính :
5.1 Nguyên nhân bên ngoài :
Người vô gia cư ở Tây Ban Nha tăng vọt sau khi nước này “gia nhập” cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực đồng euro cùng với các nước Hy Lạp, Bồ Đào Nha
và Ireland
(Nguồn : euobserver.com)
Trang 7MSSV : K105041663 – KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH Page 7
* Như đã đề cập ở trên, các quan hệ tài chính là một phần của quan hệ kinh tế, có mối quan
hệ mật thiết, hữu cơ với nền sản xuất hàng hoá và quan hệ hàng hoá tiền tệ Hệ thống tài chính được coi như huyết mạch trong nền kinh tế Khi nền kinh tế suy thoái, tức là nền sản xuất hàng hoá giảm sút, không thu được lợi nhuận Để đảm bảo an toàn cho tiền của mình bên cung vốn muốn rút vốn lại hoặc không muốn cho vay vì sợ không thu hồi được nợ Do đó các ngân hàng, tổ chức tài chính sẽ phải đối mặt với một lượng tiền mặt lớn để trả cho người gửi, dẫn đến nguy cơ phá sản Trên thị trường chứng khoán lúc này giá trị thực của các công ty niêm yết sẽ tụt dốc làm xuất hiện tình trạng bán tháo cổ phiếu, trái phiếu…
* Ngoài ra các tài sản do các tổ chức định chế tài chính nắm giữ cũng bị mất giá nghiêm trọng làm giá trị thực của chúng bị giảm, gây nên tình trạng khủng hoảng Tính thanh khoản của thị trường theo đó cũng đi xuống
* Chẳng những thế, tình trạng làm ăn thua lỗ, phá sản của các công ty, tập đoàn sản xuất cũng kéo theo những khoản đền bù khổng lồ từ các công ty bảo hiểm làm cho các công ti này cũng bị sụp
đổ theo do không đủ khả năng chi trả
* Suy thoái kinh tế là vấn đề mang tính chu kì do đó khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ suy thoái kinh tế cũng mang tính chu kì Nền kinh tế suy thoái chứng kiến sự thua lỗ, phá sản của hàng loạt không những của hãng sản xuất mà còn cả sự sụp đổ trong lĩnh vực tài chính Suy cho cùng tài chính cũng là một bộ phận của kinh tế
5.2 Nguyên nhân bên trong :
Trên thị trường tài chính, khủng hoảng có thể do nguyên nhân từ hoạt động bên trong của chính nền tài chính ấy Trong nền tài chính của bất kì một quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng phải đối mặt với những vấn đề như: thông tin không cân xứng, chọn lựa đối nghịch, rủi ro đạo đức…
6 Hệ quả của khủng hoảng tài chính :
* Khủng hoảng tài chính, nói chung, thường gây ra những tác động lớn đối với xã hội Bởi kinh
tế đóng vai trò then chốt trong việc ổn định trật tự xã hội, nên khi nền kinh tế bị tác động mạnh, nó sẽ kéo theo những ảnh hưởng (cả tích cực lẫn tiêu cực) trong mọi lĩng vực, mọi khía cạnh của đời sống
* Xét về mặt tiêu cực, khủng hoảng tài chính góp phần không nhỏ làm đảo lộn trật tự xã hội Trong tất cả các doanh nghiệp, tài chính luôn là vấn đề cốt lõi nhằm duy trì sự hoạt động của doanh nghiệp và cuộc sống của người lao động Khi gặp phải khủng hoảng tài chính, các doanh nghiệp khó
có khả năng mở rộng đầu tư và phát triển, gây sự đình trệ trong công việc, thậm chí phá sản Theo hiệu ứng dây chuyền, sự phá sản của doanh nghiệp này sẽ tác động tới các doanh nghiệp khác và cao hơn nữa là toàn bộ nền kinh tế (tùy theo quy mô của doanh nghiệp) Không những thế, khủng hoảng tài chính còn góp phần gây ra những bất ổn về xã hội do lượng người thất nghiệp gia tăng
* Bên cạnh đó, khủng hoảng tài chính cũng có những tác động tích cực lên nền kinh tế Nó báo hiệu sự chấm dứt thể độc tôn của các “ông lớn” trên thị trường tài chính, góp phần làm thay đổi diện mạo của nền kinh tế Đồng thời, khủng hoảng tài chính cũng buộc người ta phải xem xét, sửa đổi các nguyên tắc đã quy định lên hệ thống tài chính từ trước tới nay, loại bỏ những nguyên tắc đã không còn thích hợp để thích ứng với những biến đổi trong xã hội, từ đó có cái nhìn đúng đắn hơn và chủ động ứng phó với những cuộc khủng hoảng trong tương lai
Trang 87 Các phương pháp dự báo khủng hoảng tài chính :
7.2 Phương pháp dự báo dựa trên các nguy cơ :
* Dựa trên thực tế cuộc khủng hoảng diễn ra năm 1997 ảnh hưởng nặng nề tới Thái Lan và Hàn Quốc các nhà kinh tế học đã xây dựng mô hình “Các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát
sinh khủng hoảng kinh tế - tài chính”
* Bốn nguy cơ tích lũy khủng hoảng :
- Sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp
- Sự kém hiệu quả của các ngân hàng, công ty tài chính
- Sự lên giá của đồng nội tệ
- Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán
Trang 9MSSV : K105041663 – KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH Page 9
Tác động mang tính quyết định từ bên ngoài đó là sự rút vốn tài chính cùa các nhà đầu tư nước ngoài
* Phương pháp xác định các chỉ số cảnh báo chủ chốt :
Theo ý kiến của Kaminsky, Lizodo và Reinhart đã chọn ra những chỉ số có khả năng cảnh báo tốt nhất Cả ba người đều cho rằng :
- Một hệ thống cảnh báo tin cậy cần bao quát nhiều chỉ số khác nhau bởi lẽ khủng hoảng tiền
tệ thường là hậu quả của nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, tâm lý và đôi khi còn mang tính chất chính trị phức tạp
- Những biến số thường được sử dụng với danh nghĩa là những chỉ số cảnh báo về một cuộc khủng hoảng tiền tệ có thể là : dự trữ ngoại tệ giảm dần, nội tệ lên giá, tăng trưởng tín dụng quá mức
và lạm phát gia tăng, tính trạng tồi tệ của cán cân thương mại kết quả của xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng của GDP thực tế cũng như sự gia tăng trong lượng tiền cung ứng, tỉ lệ khối tiền tệ mở rộng (M2 hoạc M3) so với tổng dự trữ quốc gia và thâm hụt ngân sách cũng là những chỉ số quan trọng cần được tính đến
- Đối với các chỉ số khác thì những kết luận chỉ mang tính chất thử nghiệm vì chúng chỉ được rút ra chủ yếu từ một hoặc hai công trình nghiên cứu trên lĩnh vực này Như vậy một biên số tài chính, thể chế và chính trị cũng ít nhiều có hiệu lực trong dự báo các cuộc khủng hoảng tài chính
- Các biến số liên quan tới nợ nước ngoài không có ý nghĩa lắm Mặt khác, trái với thông lệ, cán cân vãng lai không nhận được nhiều sự đồng tình trong vai trò một chỉ số cảnh báo tin cậy về một cuộc khủng hoảng Điều này có thể là do những thay đổi của tỷ giá hối đoái đã phản ánh diễn biến của cán cân vãng lai trong phần lớn các công trình nghiên cứu, người ta thấy rằng khi mà ảnh hưởng của cán cân vãng lai không nhiều lắm thì ở đó các tỷ giá hối đoái thực cũng không có tác dụng
8 Một số phương pháp ngăn ngừa cơ bản :
bản kế hoạch ngăn ngừa khủng hoảng như sau :
- Tránh tác động qua lại giữa mất cân đối bảng cân đối tài chính của ngân hàng với tỷ giá cố định
- Nhiều ý kiến cho rằng chính ngân hàng ở các thị trường mới nổi cần phải ngăn cản những khoản vay ngoại tệ ngắn hạn nhiều rủi ro
- Tránh áp dụng chế độ tỷ giá cố định là một biện pháp quan trọng làm cho rủi ro tiền tệ không được bảo hiểm trở nên rõ ràng và đơn giản hơn, song vẫn chưa đủ về những biến động tiền tệ vẫn xảy ra cả khi đã áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi
- Áp dụng biện pháp kiểm soát vốn nghĩa là sử dụng các hình thức cấm đoán song phải đặc biệt chú ý để không dẫn tới sự lạm dụng, tham nhũng hay tạo ra những kẽ hở
- Thuế có vẻ như là biện pháp được ưa chuộng, chẳng hạn Chilê đã thành công trong việc đánh thuế những khoản vay bằng ngoại tệ mặc dù biện pháp này khá thô bạo
- Nền kinh tế quốc gia không thể dựa chủ yếu vào vốn bên ngoài đặc biệt là vốn vay ngắn hạn
và đầu tư vào thị trường cổ phiếu Nhà nước cần theo dõi và có chính sách hạn chế vay mượn nước ngoài dù tư nhân hay Nhà nước ở mức độ nền kinh tế có thể chịu đựng được
- Xác định đúng tỷ giá hối đoái nhằm tạo tính cạnh tranh cho xuất khẩu, tăng hiểu quả sử dụng hàng nhập khẩu Cân bằng cán cân thương mại đồng thời có biện pháp ngăn chặn dòng vốn ngắn hạn có tính chất đầu cơ
- Cần có biện pháp giảm áp lực tăng giá bất động sản tránh tình trạng nền kinh tế “bong bóng” nhằm tạo môi trường ổn định cho đầu tư và đời sống nhân dân Tăng thuế thu nhập do mua đi bán lại trong thời gian ngắn là biện pháp hữu hiệu nhằm giảm bớt nhu cầu đầu cơ
Trang 10- Ngăn chặn tình trạng “bong bóng” trên thị thường cổ phiếu, cần hạn chế người nước ngoài mua cổ phiếu và vay tín dụng ngân hàng để mua cổ phiếu cũng như dùng chứng khoán để thế chấp vay mượn
Kết luận : Theo như trên thì kiểm soát vốn là công cụ ngăn ngừa khủng hoảng tài chính – tiền tệ hữu hiệu nhất vì :
- Kiểm soát vốn có thể được sử dụng như một phương pháp để đảm bảo sự độc lập của chính sách tiền tệ
- Kiểm soát vốn có thể được biện minh như một công cụ nhằm cải thiện an ninh kinh tế Sự đảm bảo tuyệt đối của Chính phủ đối với các khoản nợ nước ngoài đi kèm với hệ thống thông tin tương xứng giữa ngân hàng và các cổ đông (những người gửi tiết kiệm) cũng đưa đến an sinh xã hội
- Tự do hóa tài chính là tất yếu khách quan với một quốc gia mong muốn tăng lợi ích đầu tư, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, nâng cao mức sống Tuy nhiên, với các thị trường tài chính chưa hoàn thiện, các dòng chuyển dịch vốn không ổn định thì việc kiểm soát vốn sẽ giảm bớt những rủi ro đạo đức, lựa chọn nghịch, đối xử không công bằng… nếu có các chính sách hợp lý như thuế, giám sát ngân hàng sự đảm bảo của Chính phủ và pháp luật…
CHƯƠNG II : KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐÔNG Á 1997
Khủng hoảng tài chính Đông Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm
1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá
cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là
"những con Hổ Đông Á" Cuộc khủng hoảng này còn thường được gọi là Cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Á, hoặc cục bộ, là Cuộc khủng hoảng quỹ tiền tệ quốc tế, tuy nhiên, ở một điểm nào đấy, cái tên sau còn gây nhiều tranh cãi
Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philippines cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình Còn Đại lục Trung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng mấy Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự khủng hoảng, song nền kinh tế Nhật phải kinh qua những khó khăn kinh tế dài hạn của chính bản thân mình
Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn từ Đông Á, nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga, Brazin và Hoa Kỳ
1 Nguyên nhân :
Cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á, xét theo cả cấp độ quốc gia lẫn khu vực, chính là kết quả
“hợp lực” của sự tác động qua lại giữa ba nhóm nguyên nhân chủ yếu : từ phía các chính sách vĩ mô của Chính phủ, các nhà đầu tư trong nước và các nhân tố bên ngoài vượt khỏi tầm kiểm soát của các nước trong khu vực
1.1 Nhóm nguyên nhân thứ nhất : Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém của Chính phủ
Trang 11MSSV : K105041663 – KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH Page 11
Trong một thời gian dài, các nước châu Á đã đạt được những thành tựu kinh tế mà các nhà kinh tế đã gọi là hiện tượng châu Á hay một “châu Á diệu kỳ” Từ giữa những năm 1960 đến giữa những năm 1990, thu nhập bình quân đầu người tăng hơn 4 lần ở Malaysia, Indonesia và Thái Lan; 7 lần ở Hàn Quốc Nhìn chung trong giai đoạn này cho đến trước khủng hoảng, chúng ta thấy một Đông Á được quản lí tốt, tốc độ tăng trưởng cao liên tục, lạm phát thấp, ngân sách cân đối về cơ bản, nền kinh tế được tự do hóa ở một mức độ cao Không có gì cho ta thấy là các nước này sẽ trượt ra khỏi quỹ đạo tăng trưởng mạnh trong suốt những thập kỷ đó
Các chỉ số kinh tế vĩ mô năm 1996
Các nước Mức tăng GDP Lạm phát Thặng dư tài khoản
vãng lai (%GDP)
Thặng dư khối hành chính (%GDP)
Từ năm 1995-1997, đồng USD đổi chiều liên tục, tăng giá tới 50% so với đồng yên, với Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ hơn 30% vào cuối năm 1994 cùng chính sách neo giữ tỷ giá vào USD nói trên khiến các đồng bản tệ tăng giá giả tạo
- Chính sách tự do hóa các hoạt động kinh tế khong được tiến hành đồng bộ đi đôi với việc tăng cường giám sát hoạt động của các cơ sở kinh doanh và các tổ chức tài chính ngân hàng Tình trạng chung của các nước châu Á lúc bấy giờ là :
+ Nền kinh tế thị trường chưa hoàn hảo
+ Sự can thiệp khá sâu vào nền kinh tế thông qua chính sách công nghiệp dẫn đến tình trạng bao cấp và cắt giảm thuế cho một số ngành Công nghiệp trong khu vực
+ Tình trạng thị trường lao động kém linh hoạt (Hàn Quốc); hệ thống giám sát ngân hàng không hợp
1.2 Nhóm nguyên nhân thứ hai: Sai lầm của các nhà đầu tư trong nước
Trước hết phải khẳng định rằng một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra cơn bùng phát khủng hoảng tài chính tiền tệ hiện nay ở châu Á là do sự “nóng lên” dẫn đến “khủng hoảng nợ” ở khu vực kinh tế tư nhân Sự tăng lên ồ ạt của các khoản nợ đã làm cho nền kinh tế trở nên khó kiểm soát cộng thêm sự quản lí lỏng lẻo của Chính phủ đã làm méo mó cơ chế thị trường dẫn đến sự sút giảm kim ngạch xuất khẩu, đồng thời cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp cũng giảm đáng kể
Trang 12Trên khía cạnh cơ bản nhất, lý do chủ yếu của cuộc khủng hoảng Đông Á là việc không làm chủ được quá trình mở cửa tiếp cận vốn nước ngoài
Kindleberger đã nhận xét rằng : chi phí sử dụng đồng tiền quá thấp dường như là một yếu tố quan trọng trong sự bùng nổ của nhiều cuộc khủng hoảng tài chính, yếu tố này khiến các nhà đầu tư tìm cách lao vào các hoạt động rủi ro hơn nhằm kiếm những khoản lợi nhuận khá hơn
1.3 Nhóm nguyên nhân thứ ba : Các nhân tố bên ngoài vượt khỏi tầm kiểm soát của các nước trong khu vực
- Trước hết, chính sách tiền tệ tín dụng của các nước lớn trong và ngoài khu vực châu Á, đặc biệt là Mỹ
- Ảnh hưởng của những hoạt động tiền tệ tín dụng nước ngoài có tính đầu cơ đã thổi phồng các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ và làm tăng khả năng lây nhiễm Chính phủ cũng đưa lượng cung bản tệ lên quá cao Theo tính toán của IMF, hầu hết các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á đều
có mức tăng lượng cung tiền hàng năm từ 2-5 lần tốc độ tăng trưởng GDP
- Sự tham gia của một số nước mới đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ vào thị trường xuất khẩu của các nước Đông Nam Á Điều đó làm cho hàng hóa của những nước này mất đi lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế, xuất khẩu đình trệ
- Cuối cùng là sự biến đổi nhanh chóng của tương quan cung cầu và vòng đời sản phẩm trên thị trường thế giới mà trình độ phát triển năng lực sản xuất hiện tại của các nước châu Á chưa thể thích ứng kịp trong ngày một ngày hai
Tóm lại, xét cho cùng thì những nguyên nhân từ phía bản than các nước đang chịu khủng hoảng nặng nề mới là lý do chính yếu gây nên cuộc khủng hoảng này
2 Diễn biến :
2.1 Thái Lan – ngòi nổ của cuộc khủng hoảng :
Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan có một nền kinh tế mạnh, tăng trưởng với tốc
độ bình quân hàng năm là 9%, được xem là tấm gương về quản lí kinh tế hiệu quả Thái Lan được xếp vào nhóm các nền kinh tế đạt thành tựu cao của châu Á, lạm phát thấp, ngân sách Chính phủ luôn dư thừa, cán cân thanh toán có thể kiểm soát được, đầu tư tăng vọt, tình trạng thất nghiệp hầu
như không có Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo nền kinh tế
Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi
- Ngày 4&5 / 3 / 1997, hơn 21,4 tỷ baht đã được rút khỏi các ngân hàng và công ty tài chính
- Ngày 9 / 4 / 1997, Chính phủ ra lệnh đóng cửa 16 công ty tài chính, nâng tổng số công ty tài chính bị đóng cửa lên 58/91 (chiếm 64% toàn quốc) Chính phủ bán ngoại tệ làm dự trữ ngoại tệ giảm
- Ngày 14&15 / 5 / 1997, đồng baht Thái bị tấn công đầu cơ quy mô lớn
- Ngày 30 / 6 / 1997, thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá baht
- Ngày 2 / 7 / 1997, thấy trước nguy cơ, Chính phủ Thái Lan thả nổi đồng baht Baht ngay lập tức mất giá gần 50%
- Vào tháng 1 / 1998, giá đồng baht đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ Chỉ
số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm
1997 Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản
Trang 13- Ngày 11 / 8 /1998, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan
- Ngày 20 / 8 / 1998, IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ dollar
2.2 Indonesia – Hiệu ứng lan truyền của cuộc khủng hoảng :
Indonesia phát triển liên tục trong suốt 30 năm với nhịp độ tăng trưởng trung bình 6%GDP/năm Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ ở Thái Lan đã nhanh chóng lan truyền vào Indonesia
- Khủng hoảng tài chính được khởi đầu bằng việc mất giá của đồng Rupiah
- Tháng 7 / 1997, khi Thái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ của Indonesia đã nới rộng biên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar Mỹ từ 8% lên 12% Tháng 8 /
1997, đồng Rupiah bị giới đầu cơ tấn công
- Ngày 14 / 8 / 1997,chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý được thay thế bằng chế độ thả nổi hoàn toàn Đồng Rupiah liên tục mất giá IMF đã thu xếp một gói viện trợ tài chính khẩn cấp cho Indonesia lên tới 23 tỷ Dollar, nhưng đồng Rupiah vẫn rớt giá không cứu vãn được do đồng Rupiah bị bán ra ồ ạt và lượng cầu Dollar Mỹ ở Indonesia tăng vọt Thời điểm rớt giá cao nhất lên tới trên 625%
- Tháng 9 / 1997, cả giá Rupiah lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm xuống mức thấp lịch sử
- Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia, đặc biệt là làm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên Trước tình hình đó, nhiều công ty đẩy mạnh mua Dollar vào (có nghĩa là bán Rupiah ra) khiến cho nội tệ thêm mất giá và tỷ lệ lạm phát tăng vọt
Cùng với sự phá giá đồng baht là
các ngân hàng, công ty tài chính sụp đổ, tỷ
giá hối đoái tăng cao, các doanh nghiệp phá
sản hàng loạt làm bùng nổ khủng hoảng
kinh tế tài chính ở Thái Lan – khởi đầu cho
khủng hoảng kinh tế tài chính ở Đông Á
Đồng baht sụp đổ, nền kinh tế khủng
hoảng trầm trọng đã đẩy Thái Lan
vào tình trạng bạo loạn lan tràn, thủ
tướng Chavalit Youngchaiyudh từ
chức, đời sống nhân dân khó khăn
(Nguồn : businessinsider.com)
- Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách
tài chính khắc khổ theo yêu cầu của IMF khiến
chính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng
Tình trạng bạo động để tranh giành mua hàng
đã bùng phát Riêng ở Jakarta đã có tới 500
người bị chết do bạo động Khủng hoảng kinh
tế đã dẫn tới khủng hoảng chính trị Giữa năm
1998, Suharto buộc phải từ chức tổng thống
Phong trào sinh viên biểu tình vào tháng
Trang 14- Trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar vào khoảng 2000 : 1 Nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, tỷ giá đã giảm xuống mức 18.000 : 1 Do thay đổi tỷ giá hối đoái và do nhiều nhân tố khác, GDP theo Dollar Mỹ của Indonesia đã giảm đi
2.3 Malaysia :
- Năm 1997, Malaysia có một lương lớn tài khoản vãng lai thâm hụt 6% GDP
- Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2 / 7 / 1997), đồng Ringgit bị tấn công bởi những kẻ đầu cơ bằng việc bán đi một cách bất hợp pháp các cổ phần có nguồn gốc Malaysia ở Singapore Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/Dollar Mỹ xuống còn 4,20 Ringgit/Dollar Những người tham gia thị trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng Ringgit ở trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự tính về sử giảm giá của đồng Ringgit trong tương lai Kết quả là lãi suất trong nước của Malaysia giảm xuống khuyến khích dòng vốn chảy ra nước ngoài Lượng vốn chảy ra đạt tới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997
- Ngày 6 / 7 / 1997, Standard & Poor’s đánh giá thấp tỷ lệ nợ của Malaysia
- Ngày 13 / 7 / 1997, thị trường chứng khoán Kuala Lumpur sụt xuống còn 856 điểm, thấp nhất
2.4 Philippines :
Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3 tháng 7 ngân hàng trung ương Philippines
đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ 15% lên 24% Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso/USD xuống còn 38 peso/USD vào năm 2000 và còn 40 peso/USD vào cuối cuộc khủng hoảng
Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liên quan tới các vụ bê bối của tổng thống Joseph Estrada Do khủng hoảng chính trị, vào năm 2001, Chỉ số Tổng hợp PSE của thị trường chứng khoán Philippines giảm xuống còn khoảng 1000 điểm từ mức cao khoảng
3000 điểm hồi năm 1997 Nó kéo theo việc đồng peso thêm mất giá
Cuộc khủng hoảng đã dẫn tới sự ra đi của tổng thống Joseph Estrada, thay thế vị trí đó là bà Gloria Macapagal-Arroyo, bà là người đưa đất nước Philippines thoát khỏi cuộc khủng hoảng này
Trang 152.5 Hàn Quốc – Sự sụp đổ của các tập đoàn kinh tế (Chaebol) :
- Các tập đoàn kinh tế lớn (chaebol) được coi là những trụ cột của nền kinh tế Hàn Quốc Thế nhưng chưa đầy 10 tháng, 7/30 tập đoàn lớn nhất đã gục ngã Phải đến khi tập đoàn thép Hanbo – tập đoàn lớn thứ 14 cũa Hàn Quốc gục ngã vì không đủ sức thanh toán tổng số vốn nợ thì nền kinh
tế Hàn Quốc mới thật sự bị chấn động Như một bệnh dịch có khả năng lan truyền cao, hàng loạt các tập đoàn khác lần lượt gục ngã Sự đổ vỡ của một loạt tập đoàn lớn đã giáng một đòn nặng nề vào
hệ thống tài chính ngân hàng của nước này vốn vẫn được coi là tụt hậu nhiều so với nền kinh tế Mối
lo ngại cho ngành tài chính ngân hàng là khả năng trả nợ nước ngoài, và việc đồng won mất giá
- Tháng 11 / 1997, các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ở quy mô lớn
- Ngày 17 / 11 / 1997, đồng won giảm quá mức dự đoán là 1000 won/USD và tiếp tục giảm trong nhiều ngày sau đó
- Ngày 17 / 11 / 1997, đồng won giảm xuống mức kỷ lục là 1153 won/USD, tức là giảm 36,6%
so với cuối năm 1996 và 19,5% so với mức cuối tháng 10 / 1997
- Ngày 28 / 11 / 1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11 / 12 / 1997, lại hạ tiếp xuống B2 Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá Riêng trong ngày 7 tháng 11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4% Ngày 24 / 11 / 1997, lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ
Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000 KRW/USD
2.6 Nhật Bản – Sự sụt giá của đồng Yên :
Vượt qua Hàn Quốc, cơn bão khủng hoảng tài chính tiền tệ tràn vào đất nước mặt trời mọc – Nhật Bản Một số công ty chứng khoán ở Nhật Bản bị phá sản, hàng ngàn người lao động mất việc
và buộc thủ tướng Hashimoto phải từ chức
Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Nhật Bản khởi đầu bằng việc sụt giá của đồng yên từ tháng 5 /
1998, vào cuối tháng 8 / 1998 ở mức 145,5 yên/USD Tốc độ tăng trường chậm một cách đáng nhớ trong năm 1997, từ 5% xuống cón 1,6% và chìm đắm trong suy thoái 1998
Như vậy sự yếu kém và mức độ bất ổn cao của đồng yên đã làm thay đổi tính chất của cuộc khủng hoảng Không còn đơn thuần là cuộc khủng hoảng tài chính mà nó biến thành cuộc khủng hoảng kép (khủng hoảng tài chính tiền tệ), kèm theo nguy cơ của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện
Sau một thời gian hoành hành ở
các nước Đông Nam Á như Thái Lan,
Indonesia, Malaysia, Philippines… Đến
tháng 10 / 1997, cuộc khủng hoảng tài
chính bắt đầu xảy ra ở Hàn Quốc Nhiều
nhà kinh tế nhận định, thực chất sự suy
thoái kinh tế ở Hàn Quốc là sự sụp đổ
một loạt các tập đoàn kinh tế lớn
Các tập đoàn kinh tế sụp đổ kéo theo một
lượng lớn người lao động Hàn Quốc rơi
vào cảnh thất nghiệp
(Nguồn : money.cnn.com)
Trang 16Trên phạm vi toàn cầu, cơn bão tiền tệ Nhật Bản cũng đang chứng tỏ sức tàn phá của mình Thị trường chứng khoán khắp nơi rung lên theo động thái thất thường của đồng yên Số phận của đồng đôla và thị trường chứng khoán Hồng Kông đang đứng trước một thử thách mới gay gắt Thực
tế là tháng 10 / 1997, thị trường chứng khoán Hồng Kông sụp đổ Ngày 27 / 10 / 1997 chỉ số công nghiệp Dow Jones giảm mạnh 554 điểm, thị trường chứng khoán tại New York tạm thời đóng băng
2.7 Trung Quốc – một bức tường thành :
Kể từ khi biến động tài chính nổ ra ở Thái Lan vào tháng 7 / 1997 gây ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực châu Á, đến nay Trung Quốc là nước Đông Á duy nhất đứng ngoài cuộc khủng hoảng tài chính này và luôn là điểm sang tăng trưởng của khu vực
Do cuộc khủng hoảng, kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc bắt đầu giảm từ tháng 7 /
1997, xong mức giảm sút không nghiêm trọng lắm Tỷ giá hối đoái của đồng yuan về cơ bản vẫn ổn định Chỉ số tháng 1, tháng 6 và tháng 12 năm 1996 tương ứng là 105,82%; 107,16%; 109,08% Như vậy sự biến động ở mức khá ổn định trong năm nay Do tỷ giá hối đoái của các đồng tiền Đông Nam
Á và đồng Won nối đuôi nhau giảm sút làm cho thị trường Trung Quốc có thể bị ảnh hưởng chút ít nhưng có một điều chắc chắn rằng thị trường tàu chính của Trung Quốc sẽ vẫn ổn định và đồng yuan
sẽ được duy trì một cách an toàn
2.8 Singapore :
Luôn được coi là nền kinh tế tương đối khỏe mạnh so với các nước trong khu vực trong suốt thời kì khủng hoảng nhưng đương nhiên là quốc gia này vẫn bị ảnh hưởng ít nhiều Tuy nhiên, xét về tổng thể thì khả năng chèo lái đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng vẫn được chú ý rộng rãi, chính sách tài khóa cùa Singapore rất đáng để các quốc gia láng giềng học tập Là một nền kinh tế mở, đồng đôla Singapore cũng được mở tự do cho thị trường đầu cơ ngay từ 1985 Nền kinh tế đủ năng động để khiến Singapore trở thành một quốc gia có chỗ đứng độc lập, Chính phủ Singapore quản lý tỉ giá hối đoái để tránh khả năng tấn công của đầu cơ Tuy đồng tiền của quốc gia này được coi là đồng tiền mạnh nhất ASEAN vậy mà vẫn bị rớt giá 10% so với đồng đôla Mỹ trong suốt thời kì khủng hoảng
3 Các biện pháp khôi phục kinh tế sau khủng hoảng tài chính Đông Á 1997 :
Để khôi phục nền kinh tế và ngăn ngừa khủng hoảng tái diễn, các nền kinh tế Đông Á bị ảnh hưởng nặng đều tiến hành các cải cách cơ cấu mạnh mẽ, gồm: cải tổ cách thức quản lý trong khu vực doanh nghiệp, cải cách tài chính, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đổi mới phương pháp quản lý kinh
tế vĩ mô, và đổi mới cả phương thức tăng trưởng kinh tế
* Đổi mới phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô :
Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia đã và đang thực thi một chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt và cơ chế ổn định giá cả Cụ thể, các nước từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái neo và hướng tới chế độ mục tiêu lạm phát Đồng thời, các nước nỗ lực gia tăng lượng dữ trự ngoại hối nhà nước của mình Từ 1997 đến 2005, năm nước bị ảnh hưởng nặng nhất của khủng hoảng đã tăng lượng dự trữ ngoại hối của mình lên bốn lần, đạt 378 tỷ USD
* Cải cách khu vực tài chính :
Các nước Đông Á đã thực thi các biện pháp, chính sách sau để cải cách khu vực tài chính: (1) Xóa và giảm nợ xấu, tái vốn hóa các thể chế tài chính; (2) Đóng cửa các thể chế tài chính đổ vỡ, (3) Tăng cường giám sát và áp dụng các tiêu chuẩn quản trị, kế toán mới đối với các tổ chức tín dụng và tài chính khác; (4) Đẩy mạnh chuyên môn hóa các thể chế tài chính; (5) Tăng cường giám sát và điều tiết các tổ chức tín dụng đồng thời với nâng cao kỷ luật thị trường Yellen (2007) cho thấy các ngân hàng của Hàn Quốc đã áp dụng phương thức quản trị hiện đại của phương Tây và đã giảm được tỷ
lệ sở hữu gia đình tại các ngân hàng, tăng cường lợi ích cho các giám đốc bằng cách cho họ quyền
Trang 17MSSV : K105041663 – KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH Page 17
chọn mua cổ phiếu, v.v Còn các ngân hàng Malaysia đã thay đổi tập quán cho vay của mình Giờ đây, họ cho các xí nghiệp nhỏ và vừa vay nhiều hơn
* Cải tổ cách thức quản lý của khu vực xí nghiệp :
Các nước Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia đã hoàn thiện các thủ tục về phá sản, nỗ lực tái
cơ cấu nợ của các xí nghiệp, củng cố các quy định và tiêu chuẩn về cáo bạch, bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ cũng như nâng cao quyền lực và trách nhiệm của ban giám đốc, áp dụng các tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán theo thông lệ quốc tế, tăng cường mức vốn tự có của doanh nghiệp và tạo thuận lợi cho các hoạt động mua lại và sáp nhập kể cả với doanh nghiệp trong nước cũng như với doanh nghiệp nước ngoài
* Cải cách các thị trường :
Các nước Đông Á đã và đang phát triển thị trường trái phiếu định danh bằng nội tệ của mình Đồng thời, cải cách thị trường lao động đã cho phép các xí nghiệp tuyển dụng và sa thải lao động dễ dàng hơn, giúp xí nghiệp của các nước Đông Á trở nên linh hoạt hơn
4 Tác động :
Không cần nói nhiều thì chúng ta cũng đã thấy được hậu quả nặng nề mà cuộc khủng hoảng
đã để lại cho các nước châu Á Tùy theo tình hình thực tế ở mỗi nước, mỗi khu vực mà hậu quả để lại cũng khác nhau Song nhìn chung, cuộc khủng hoảng đã tác động đến các nước theo 2 hướng khác nhau : các tác động tiêu cực và các tác động tích cực
4.1 Các tác động tiêu cực :
* Trước hết hậu quả dễ nhận thấy nhất và phổ biến nhất mà hầu như nước nào nằm trong khu vực chịu khủng hoảng cũng gặp phải đó chính là sự mất ổn định của đồng tiền và của thị trường tiền tệ làm giảm sút các luồng vốn nước ngoài đổ vào mỗi nước và toàn khu vực, giảm sút ngay cả nguồn vốn trong nước do lãi suất cao và yếu tố long tin Tất cả những điều đó đã hạn chế tốc độ tăng trưởng của các nước, giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu và tăng tài khoản thâm hụt vãng lai Sự gắng gỏi giữ bản giá tệ đã làm hao kiệt nhanh chóng lượng dự trữ ngoại tệ của nhà nước, đồng bản tệ bị phá giá nhanh chóng Cùng với điều đó là tình trạng thất nghiệp, lạm phát tăng cao
* Cuộc khủng hoảng cũng đánh dấu sự kết thúc một giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh, kéo dài hàng mấy thập kỷ trước đó và dựa vào các nguồn vốn nước ngoài của các nước đang phát triển trong khu vực để chuyển sang một giai đoạn phát triển mới với tốc độ ôn hòa hơn
* Cuộc khủng hoảng đã gây thiệt hại cho các nước châu Á ít nhất là 300 tỷ USD, bằng khoảng 20% GDP của các nước bị khủng hoảng và thiệt hại chung toàn thế giới khoảng 500 tỷ Qua đây chúng ta thấy được những tác động có tính chất toàn cầu của cuộc khủng hoảng này Lượng đầu tư tài chính ở châu Á giảm mạnh, theo tính toán khoảng 150 tỷ USD đã bị rút khỏi Đông Nam Á Các nhà đầu tư nước ngoài giảm niềm tin Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI bị sút giảm mạnh mẽ và đang còn tiếp tục giảm trong những năm tiếp theo, kéo theo đó là tình trạng thiếu vốn đầu tư sẽ xảy ra
* Sự phá giá bản tệ đã làm tăng các chi phí dịch vụ nợ và chất thêm nợ nần lên các công ty – con nợ, làm tăng tình trạng mất khả năng thanh toán, phá sản của chúng, nhất là đối với các công ty phục vụ thị trường trong nước mà nhu cầu đang giảm sút nhanh chóng Các ngân hàng thì rơi vào tình trạng gánh chịu một đống nợ khó đòi hoặc giữ gìn bất đắc dĩ một lượng tài sản thế chấp ngày càng mất giá và khó bán Ở Indonesia, Do phá giá tiền tệ, tỷ lệ nợ ngân hàng nước ngoài/GDP đã nhảy từ 35% lên đến 140%, hầu hết các ngân hàng bị coi là phá sản
* Khủng hoảng góp phần làm tăng lên nhanh chóng tình trạng thất nghiệp ở các nước trong khu vực (năm 1998 gấp đôi so với năm 1997 ở Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia…) mà còn ở các nước bạn hàng của họ do đó thu hẹp quy mô nhập khẩu vì khủng hoảng
4.2 Các tác động tích cực :
Trang 18Nhìn một cách khách quan thì cuộc khủng hoảng tài chính bên cạnh gây ra một loạt các tác động xấu vô cùng sâu sắc kể trên thì trong một chừng mực nào đó, nó cũng mang lại những tác động tích cực Đó là đem toàn bộ nền kinh tế châu Á nói chung và Đông Nam Á, Đông Bắc Á nói riêng sang một giai đoạn phát triển mới, thoát khỏi tình trạng nóng trước đó
* Th ứ nhất, việc chuyển sang chính sách tỷ giá linh hoạt sẽ giúp các Chính phủ giảm thiểu
được lượng ngoại tệ can thiệp để giữ giá bản tệ như thời gian trước đó, giúp tăng dự trữ quốc gia về lâu dài, với đồng bản tệ rẻ sẽ khuyến khích và tăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu, từ đó cải thiện những cân đối tài chính của đất nước
* Th ứ hai, nhiều nước sẽ nhận được nguồn tín dụng quốc tế chính thức để phục vụ cho mục
tiêu cải cách và phát triển kinh tế sau khủng hoảng Cuộc khủng hoảng cũng giúp định hướng lại và cải thiện cơ cấu đầu tư, lành mạnh hóa hơn nền tài chính quốc gia Có thể nói cuộc khủng hoảng như một cú “động” mạnh để xốc lại nền kinh tế cho cân bằng, hợp lý và hiệu quả Toàn bộ nền kinh tế sau khi vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của khủng hoảng sẽ có định hướng thị trường nhiều hơn, đầy
đủ, sâu sắc và hoàn thiện hơn, do đó, hiệu quả và sức cạnh tranh cao hơn
* Th ứ ba, cuộc khủng hoảng ít nhiều là dịp để Chính phủ và nhân dân cũng như các tổ chức
tài chính – tiền tệ bổ khuyết những thiếu sót về chính sách, thể chế, con người… Từ đó tạo ra những xung lực tích cực mới cho sự phát triển kinh tế
Ngoài ra, tác động của cuộc khủng hoảng cũng chuyển dịch vị thế về kinh tế chính trị truyền thống của các cường quốc tại khu vực như Nhật Bản, Trung Quốc, các nước ASEAN và Mỹ cũng như châu Âu
CHƯƠNG III : KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ 2008
Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ 2007-2009 là cuộc khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực tài chính (tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán) diễn ra từ năm 2007 Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp Và bản thân nó lại là nguồn gốc trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2010 Cuộc khủng hoảng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, lộ rõ những điểm yếu tràn lan trong khuôn khổ luật lệ của hệ thống tài chính toàn cầu
1 Nguyên nhân :
Cuộc khủng hoảng lần này không phải là quá bất ngờ với giới tài chính Mỹ nói riêng và thế giới nói chung Nó là kết quả của một chuỗi những rủi ro liên tiếp mà chính các tổ chức tài chính, ngân hàng ở Mỹ tạo ra cho chính mình
Có thể tóm lại một số nguyên nhân chính, mà thực chất là hệ quả của nhau – đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tất yếu này ở Mỹ như sau :
1.1 Sự suy sụp của thị trường bất động sản - nguyên nhân trực tiếp và
rõ ràng nhất :
Hầu hết người dân Mỹ khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng sau đó trả vốn lẫn lãi trong một thời gian dài (20-30 năm) với lãi suất thả nổi Do đó, có một sự liên hệ chặt chẽ giữa lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao; khi lãi suất cao thì người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà cửa xuống thấp Đây chính là cơ chế tạo nên hiện tượng bong bóng bất động sản – hiện tượng chỉ tình trạng thị trường trong đó giá bất động sản hoặc tài sản bất động sản được giao dịch tăng đột biến đến một mức giá vô lí hoặc không bền vững