1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Một số vấn đề về tăng thẩm quyền xét xử hình sự cho tòa án cấp huyện " docx

7 361 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 152,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nhận định cho rằng tư tưởng về tăng thẩm quyền cho các cơ quan tư pháp cấp huyện đã được hình thành và phát triển từ cách đây gần nửa thế kỉ.1 Điều đó có thể thấy rõ nếu xem xét c

Trang 1

ThS TrÇn §¹i th¾ng*

1 Một số nhận định cho rằng tư tưởng

về tăng thẩm quyền cho các cơ quan tư

pháp cấp huyện đã được hình thành và phát

triển từ cách đây gần nửa thế kỉ.(1) Điều đó

có thể thấy rõ nếu xem xét cả quá trình

hình thành và phát triển về thẩm quyền của

các cơ quan tư pháp cấp huyện mà trực tiếp

là của hệ thống toà án Ngay sau khi Nhà

nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời,

hệ thống toà án nhân dân đã được hình

thành với một loạt các văn bản liên quan,

đặc biệt là Hiến pháp năm 1946, Sắc lệnh

số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức toà án và

ngạch thẩm phán, Sắc lệnh số 51 ngày

17/4/1946 ấn định thẩm quyền các toà án

và sự phân công giữa các nhân viên trong

toà án Hệ thống toà án khi đó gồm có: Toà

án tối cao, các toà phúc thẩm, các toà đệ

nhị cấp và toà sơ cấp Toà sơ cấp là cơ chế

xét xử thấp nhất trong hệ thống toà án có

thẩm quyền xét xử chung thẩm những án

hình sự vi cảnh nhỏ, chẳng hạn án phạt bạc

dưới 9 đồng, xử sơ thẩm những án tiểu

hình có phạt giam đến năm ngày (tù).(2)

Toà án đệ nhị cấp xét xử phúc thẩm (chung

thẩm) những án hình sự vi cảnh mà toà sơ

cấp xử bị kháng cáo Những vụ án hình sự

không thuộc thẩm quyền xét xử của toà sơ

cấp cũng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm

của toà án cấp này (Điều 10, Điều 11 Sắc

lệnh 51)

Với cách thức phân định thẩm quyền như trên, toà sơ cấp, cấp toà thấp nhất trong hệ thống toà án lúc đó chỉ có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự đơn giản, mang tính chất vi cảnh Có hai loại thủ tục xét xử được áp dụng: Thủ tục xét

xử chung thẩm đối với những án vi cảnh nhỏ và thủ tục xét xử sơ thẩm đối với những án tiểu hình có phạt tù dưới 5 ngày Đáng chú ý là toà sơ cấp có một số thẩm quyền ngoài việc xét xử, mang tính chất tư pháp hành chính để phục vụ các hoạt động của toà án, công tố viên của cấp toà đệ nhị cấp như thi hành các mệnh lệnh của biện lí (chỉ có ở cấp toà đệ nhị cấp) hay phụ trách

tư pháp cảnh sát trong địa hạt, điều tra đối với tội tiểu hình hay đại hình khi có vụ việc xảy ra.(3)

Sau khi có Hiến pháp năm 1959, một loạt văn bản liên quan tới hệ thống tư pháp

ra đời đã thay đổi cơ bản hệ thống tư pháp nước ta trong thời gian đó Toà sơ cấp đã được đổi tên thành toà án huyện, quận, thị xã và đã có thay đổi theo hướng tăng một bước về thẩm quyền Theo điểm d Điều 12 của Pháp lệnh năm 1961 quy định cụ thể

* Viện khoa học kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 2

về tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao và

tổ chức các tòa án nhân dân địa phương,

tòa án nhân dân cấp huyện có quyền phân

xử những vụ án hình sự nhỏ không phải

mở phiên toà và xét xử sơ thẩm những vụ

án hình sự có thể phạt từ hai năm tù trở

xuống Cách thức phân định thẩm quyền

như trên tồn tại tận đến năm 1981, sau khi

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam thông qua Luật tổ chức toà án

nhân dân ngày 4/7/1981 Theo quy định tại

Điều 36 của Luật này, tòa án nhân dân cấp

huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm tất cả

các vụ án hình sự, trừ những tội xâm phạm

an ninh quốc gia, những tội phạm hình sự

có tính chất nghiêm trọng, phức tạp hay

gây hậu quả lớn

Tiếp sau đó, khi BLTTHS đầu tiên của

Nhà nước ta được Quốc hội thông qua

ngày 28/6/1988, thẩm quyền xét xử của toà

án cấp huyện đã được thay đổi và quy định

rõ ràng hơn so với Luật tổ chức toà án

1981 Theo khoản 1 Điều 145 BLTTHS

năm 1988, tòa án nhân dân cấp huyện được

xét xử sơ thẩm những tội phạm mà Bộ luật

hình sự quy định từ 7 năm tù trở xuống, trừ

những tội đặc biệt xâm phạm an ninh quốc

gia và một số tội khác của Bộ luật hình sự

Thẩm quyền này được giữ nguyên cho đến

khi BLTTHS năm 2003 được ban hành

2 Như vậy, việc tăng thẩm quyền cho

toà án cấp huyện đã được thực hiện trong

suốt nửa thế kỉ đi cùng với tiến trình xây

dựng nền tư pháp hình sự riêng của một

chính thể mới trong lịch sử phát triển của

dân tộc Hơn 10 năm trở lại đây, chủ

trương này đã được đề cập nhiều tại các

diễn đàn, hội nghị khác nhau và hàng loạt chủ trương, chính sách của Đảng đã nhấn mạnh về việc tăng thẩm quyền cho toà án cấp huyện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII

nêu rõ: "Tăng thẩm quyền xét xử cho toà

án nhân dân cấp huyện theo hướng việc xét

xử sơ thẩm được thực hiện chủ yếu ở tòa

án cấp này" Tiếp sau đó, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII cũng chỉ

rõ: "Phân định lại thẩm quyền xét xử của

toà án nhân dân, từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho tòa án nhân dân cấp huyện" Thể chế hoá đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng trong xây dựng pháp luật, BLTTHS được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kì họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 đã thể hiện đầy đủ những tư tưởng, quan điểm đó Khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003 quy định tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vực xét xử những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội xâm phạm an ninh quốc gia (14 tội), các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (4 tội) và 21 tội phạm khác mà BLHS quy định hình phạt đến 15 năm tù nhưng có tính chất phức tạp Đồng thời vẫn giữ quy định toà

án nhân dân cấp tỉnh và tòa án quân sự cấp quân khu có thể lấy lên để xét xử những vụ

án thuộc thẩm quyền của tòa án cấp huyện Việc tăng thẩm quyền cho toà án cấp huyện cũng đồng thời dẫn đến yêu cầu phải tăng thẩm quyền điều tra, truy tố cho cơ

Trang 3

quan điều tra và viện kiểm sát nhân dân

cấp huyện nhằm đảm bảo tính đồng bộ

trong hoạt động của các cơ quan tư pháp

cấp huyện Để đảm bảo tính khả thi của

quy định tăng thẩm quyền cho các cơ quan

tư pháp cấp huyện, Nghị quyết của Quốc

hội quy định lộ trình thực hiện việc tăng

thẩm quyền của các cơ quan tư pháp cấp

huyện là 5 năm kể từ ngày Bộ luật có hiệu

lực (1/7/2004) để các cơ quan tư pháp có

thời gian sắp xếp, củng cố, tăng cường đội

ngũ cán bộ, cơ sở vật chất và điều kiện

làm việc Ngoài ra, đối với một số địa

phương có điều kiện cho phép tổ chức

thực hiện kể từ ngày Bộ luật có hiệu lực,

Uỷ ban thường vụ Quốc hội sẽ ra nghị

quyết riêng

3 So với BLTTHS năm 1988, việc

tăng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của toà án

cấp huyện từ 7 năm lên đến 15 năm tù là

một bước thay đổi lớn có ý nghĩa đột phá

trong tiến trình cải cách tư pháp Có lẽ bức

xúc về thực trạng dồn án, đọng án ở các

toà án cấp tỉnh và Toà án nhân dân tối cao

đã dẫn đến những đòi hỏi cần thiết phải

tăng thẩm quyền cho toà án cấp huyện và

hình thành ý tưởng thiết lập hệ thống toà

án theo mô hình sơ thẩm - phúc thẩm -

giám đốc thẩm tương ứng với toà án cấp

huyện - toà án cấp tỉnh - Toà án nhân dân

tối cao

Thực tiễn xét xử những năm qua cho

thấy hàng năm tòa án cấp tỉnh thụ lí và giải

quyết theo thủ tục sơ thẩm khoảng 32 đến

35% tổng số vụ án thực tế xảy ra Trong

khi đó toà án cấp tỉnh còn phải thụ lí và xét

xử một số lượng lớn vụ án hình sự theo

thủ tục phúc thẩm, chiếm khoảng 46% số

vụ án thụ lí và 60% vụ án đã xét xử sơ thẩm ở cấp huyện Do vậy, toà án cấp tỉnh không có điều kiện để tập trung làm tốt công tác xét xử phúc thẩm và hướng dẫn tòa án cấp huyện áp dụng thống nhất pháp luật Tương tự như vậy, số vụ án hình sự xét xử theo thủ tục phúc thẩm ở các toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao còn chiếm tỉ lệ rất lớn, bằng số vụ án phải xét

xử phúc thẩm ở tòa án cấp tỉnh (khoảng

7000 đến 8000 vụ/năm) do vậy, việc xét xử

bị kéo dài, quá hạn luật định, tồn đọng…(4) Một yêu cầu nữa đặt ra là việc toà án cấp tỉnh hiện nay vẫn phải xét xử phần lớn những vụ án hình sự (sơ thẩm, phúc thẩm)

và các toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao vẫn phải xét xử quá nhiều các vụ án hình sự theo thủ tục phúc thẩm đã gây khó khăn nhất định đến việc tham gia phiên toà của những người tham gia tố tụng (nhân chứng, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa

vụ liên quan, nguyên đơn và bị đơn dân sự…) Nếu những người này vắng mặt tại phiên toà sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc giải quyết vụ án nhanh chóng và kịp thời, khách quan Vì vậy, có nhiều hi vọng đối với việc tăng thẩm quyền xét xử cho toà

án cấp huyện sẽ đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm trong giai đoạn mới, đảm bảo quyền dân chủ của công dân trong tố tụng hình sự, tạo điều kiện cho các toà án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác có khả năng nâng cao hiệu quả hoạt động

4 Tuy nhiên, qua nghiên cứu xem xét các mô hình tố tụng hình sự của hầu hết

Trang 4

các nước trên thế giới thì thấy rằng không

có nước nào có hệ thống toà án theo cơ cấu

3 cấp: Sơ thẩm - phúc thẩm - giám đốc

thẩm và rất ít nước cho phép toà án cấp

thấp nhất được xử những tội phạm nghiêm

trọng có hình phạt đến 15 năm tù Ba mô

hình tố tụng hình sự phân tích dưới đây,

điển hình cho 3 loại tố tụng đặc thù hiện

nay: Án lệ hay tranh tụng (adversarial

system) - Bang Victoria của Australia; dân

sự hay thẩm cứu (Inquisitorial system) -

Pháp và một mô hình có thể nói là hỗn hợp

ở một nước đông dân gần với nước ta -

Nhật Bản

- Bang Victoria(5)

Hệ thống tư pháp hình sự của Bang

Victoria, nếu không nói đến hệ thống tư

pháp hình sự của Liên bang có thẩm quyền

đối với những tội phạm liên bang, hệ thống

toà án của Bang gồm ba cấp: Toà án tối

cao; toà án cấp quận (District court) - toà

án trung cấp và toà án địa phương - cấp

thấp nhất (Magistrate court) Toà án cấp

quận và các toà án địa phương không tổ

chức song song với hệ thống hành chính

mà theo khu vực, căn cứ vào số dân cư ở

các vùng, các địa phương Toà án tối cao

của Bang có thẩm quyền giám đốc thẩm

những bản án của toà án cấp dưới nhưng

cũng được quyền xử sơ thẩm những vụ

phạm tội nghiêm trọng như giết người và

phản bội tổ quốc Toà án cấp quận được

quyền xét xử phúc thẩm những bản án của

toà án địa phương, xử những tội nghiêm

trọng có mức hình phạt trên 3 hoặc 5 năm

tù.(6) Riêng toà án địa phương, cấp toà thấp

nhất trong hệ thống toà án chỉ được quyền

xét xử những tội vi cảnh, tội ít nghiêm trọng dưới 3 hoặc 5 năm tù và cả những tội nghiêm trọng nếu bị cáo đồng ý bị xét xử theo thủ tục rút gọn.(7) Đặc biệt, cấp toà này còn có một số thẩm quyền mang tính chất tư pháp hành chính (Qua si - judicial) như phê chuẩn giam giữ hay cho tại ngoại, lấy lời khai của nhân chứng, bị hại và nhận

hồ sơ từ công tố viên, điều tra viên về vụ

án, quyết định chuyển vụ án cho toà cấp quận Những hoạt động này chiếm một khối lượng lớn công việc của cấp toà địa phương và nếu vụ án thuộc thẩm quyền toà

án cấp quận, toà án cấp quận hầu như chỉ cần đưa vụ án ra xét xử Tuy rằng không

có thẩm quyền xét xử những vụ án nghiêm trọng, phức tạp, hầu như tất cả các hoạt động điều tra, truy tố trong tố tụng đều diễn ra xoay quanh toà án cấp này

- Pháp

Có 3 loại thủ tục chính trong tố tụng hình sự Pháp và tương ứng là 3 cấp toà

án.(8) Đối với các tội đại hình như giết người, hiếp dâm, hay cướp có vũ khí mà hình phạt áp dụng là từ 5 năm tới chung thân, vụ án sẽ được xét xử ở một trong 33 toà đại hình trên toàn nước Pháp, án xử có hiệu lực ngay và không có thủ tục phúc thẩm, trừ khi xin được xem xét lại ở Toà tối cao - Toà phá án Đối với các tội có mức hình phạt có thể áp dụng từ 2 tháng đến 5 năm tù hoặc phạt tiền tới và trên 25.000 france, vụ án sẽ được xét xử ở toà tiểu hình (Tribunal correctionnel) Cấp toà thấp nhất là toà vi cảnh xét xử những án phạt tù từ một ngày đến dưới hai tháng tù hoặc phạt tiền tối đa dưới 25.000 france

Trang 5

Tất cả các kháng cáo, kháng nghị phúc

thẩm đối với những bản án, quyết định đã

tuyên ở toà vi cảnh hay toà tiểu hình đều

được xử ở cấp toà phúc thẩm - cấp toà độc

lập không trực thuộc Toà án tối cao.(9) Mô

hình tố tụng Pháp cho thấy thẩm quyền xét

xử ở cấp toà thấp nhất chỉ hạn chế đối với

những vụ án không nghiêm trọng, đơn giản

và có sự phân định rõ thẩm quyền giữa các

toà để xét xử các loại tội: Vi cảnh, tiểu

hình, đại hình; giữa toà xét xử sơ thẩm và

toà phúc thẩm chuyên trách Bên cạnh đó

sự phân loại tội phạm (tội đại hình, tiểu

hình và vi cảnh) có ý nghĩa cơ bản để xác

định thủ tục tố tụng và thẩm quyền tố tụng

tương ứng Đây là điểm then chốt cần phải

tham khảo trong quá trình xây dựng pháp

luật hình sự và tố tụng hình sự của nước ta

- Nhật Bản

Trong tố tụng hình sự, hệ thống toà án

được chia thành 4 cấp:(10) Toà án tối cao,

toà án cấp cao, toà án quận và toà án giản

lược (Supreme court, Hight court, District

court and Summary court) Toà án tối cao

có vai trò là toà phá án, toà án cấp cao có

thẩm quyền xét xử phúc thẩm những vụ án

có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án,

quyết định của toà án quận và toà án giản

lược Ngoài ra, toà án này cũng có quyền

xét xử những vụ án liên quan đến bị cáo

phản bội tổ quốc Toà án quận xét xử mọi

tội phạm trừ những tội phạm thuộc thẩm

quyền của toà án cấp cao và toà án giản

lược Toà án giản lược chỉ xử những vụ án

có bị cáo phạm tội có thể bị áp dụng hình

phạt dưới 3 năm tù Như vậy, cấp toà thấp

nhất - toà án giản lược chỉ được xử những

vụ án đơn giản, ít nghiêm trọng và trung tâm xét xử của hệ thống tố tụng hình sự Nhật Bản là toà án cấp quận - cấp trung gian của hệ thống toà án.(11)

5 Những phân tích trên cho thấy có những bất cập trong hệ thống tư pháp hình

sự nước ta Tất cả các toà án ở cấp thấp nhất trong các hệ thống tố tụng nêu trên đều không có thẩm quyền xử những vụ án lớn, phức tạp mà chỉ xử những vụ án vi cảnh, đơn giản, nhỏ mà hình phạt tù áp dụng thường không quá 5 năm Việc tăng thẩm quyền cấp huyện và biến toà án cấp huyện trở thành những pháo đài trong tố tụng hình sự để hình thành mô hình xét xử

sơ thẩm - phúc thẩm - giám đốc thẩm trong

hệ thống tư pháp sẽ dẫn đến một loạt các vấn đề khó có thể dự đoán hết, đó là:

Thứ nhất, điều đó sẽ đòi hỏi một số lượng lớn thẩm phán cho cấp toà này Một thực tế là ở các toà án nhân dân cấp huyện đang có tình trạng thiếu thẩm phán, chưa tìm được người đủ tiêu chuẩn để bổ sung cho một vài năm tới Hiện nay, gần 100 toà

án huyện - chiếm khoảng gần 1/6 tổng số toà án cấp huyện, chỉ có 1 hoặc 2 thẩm phán (trong khi còn phải xử lí những loại việc dân sự, kinh tế khác).(12) Số thẩm phán huyện còn thiếu khoảng 1.067 người, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của thẩm phán huyện còn rất hạn chế và không đồng đều ở các khu vực.(13) Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của các cơ quan tư pháp cấp huyện nhiều nơi còn thiếu thốn

và lạc hậu, chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ mới Tất nhiên những cản trở trên có thể được giải quyết trong khoảng

Trang 6

thời gian nhất định nhưng còn rất nhiều

những vấn đề tồn tại khác

Thứ hai, việc tăng thẩm quyền dẫn đến

việc cấp toà này sẽ xét xử những vụ án lớn,

phức tạp trong khi trình độ của đội ngũ cán

bộ thẩm phán cấp huyện hiện nay có nhiều

bất cập, chênh lệch giữa khả năng trình độ

và nhiệm vụ được giao Hiện nay, trong số

thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện còn

một số lượng khá lớn chưa có trình độ cử

nhân luật, đội ngũ hội thẩm nhân dân ở tòa

án cấp huyện có trình độ pháp lí còn hạn

chế (chỉ có khoảng 14% có trình độ cử

nhân luật).(14) Tăng thẩm quyền cho toà án

cấp huyện đòi hỏi sự đồng bộ với các cơ

quan tư pháp khác nhưng thực tế chỉ có

khoảng 48% kiểm sát viên có trình độ cử

nhân luật và còn khoảng 50% điều tra viên

chưa có trình độ đại học.(15) Đất nước ta đã

thống nhất gần 30 năm, các trường đại học

có đào tạo trình độ đại học luật đã mở từ

cách đây hơn 20 năm nhưng chúng ta vẫn

chưa có đủ đội ngũ cán bộ tư pháp cấp

huyện để đáp ứng đòi hỏi nhiệm vụ theo

thẩm quyền hiện nay (theo BLTTHS năm

1988) Tuy có Nghị quyết của Quốc hội về

tăng cường đội ngũ cán bộ tư pháp cho cấp

huyện trong thời gian tới nhưng điều đó

khó có thể thực hiện trong thời gian ngắn

nếu so sánh với công tác tăng cường đội

ngũ cán bộ trong những năm qua

Thứ ba, hiệu quả vận hành của hệ

thống tố tụng và hiệu quả kinh tế nói

chung cũng đặt ra yêu cầu cần cân nhắc

Sự phân bố không đồng đều các cấp toà do

gắn với hệ thống hành chính dẫn đến tình

trạng là án của một tỉnh nhỏ chưa bằng số

án phải giải quyết của một quận ở nội thành Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh Trong khi rất nhiều thẩm phán ở toà án huyện, tỉnh không có việc hay đủ việc để làm thì ở nơi khác số án quá nhiều gây tình trạng tồn đọng và đi theo đó là những vi phạm trong tố tụng Tăng thẩm quyền cho toà án cấp huyện dẫn đến phải đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường đội ngũ cán bộ nhưng quy mô của một toà án cấp huyện không thể xây dựng như một toà án cấp tỉnh Tình trạng tương tự như vậy cũng diễn ra ở cơ quan tư pháp cấp huyện khác như viện kiểm sát, cơ quan điều tra Xét đến hiệu quả vận hành của hệ thống tố tụng trong tổng thể và hiệu quả kinh tế có thể thấy rõ có những vấn đề cần phải nghiên cứu, cân nhắc.(16)

Thứ tư, việc tăng thẩm quyền cho toà

án cấp huyện không giải quyết triệt để được tình trạng dồn án, đọng án ở toà án các cấp hiện nay Theo tính toán cho thấy, quy định tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003 sẽ dẫn đến việc toà án cấp huyện xét xử khoảng 75% tổng số khung hình phạt của BLHS so với khoảng 51% theo BLTTHS năm 1988 tính cả những tội loại trừ thuộc thẩm quyền cấp huyện, tăng 24%

so với Bộ luật cũ hiện hành Tuy nhiên, hiện nay, toà án cấp huyện thực tế xét xử khoảng 60-65% tổng số án thụ lí xét xử sơ thẩm và theo một số dự đoán, khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực, toà án cấp huyện sẽ xét xử vào khoảng 75-80% tổng số án xét

xử sơ thẩm,(17) tức tỉ lệ án thực tế sẽ tăng

so với hiện nay khoảng 15% Đó là một tỉ

lệ tăng đáng kể và nếu không giải quyết thoả đáng những vấn đề liên quan như cơ

Trang 7

sở vật chất, cán bộ sẽ tạo ra sức ép về số

lượng án phải giải quyết cùng với hàng

loạt các vấn đề phát sinh ở toà án cấp

huyện, nhất là ở những địa bàn trọng điểm

ở thành phố lớn Hơn nữa, toà án cấp tỉnh

tuy giảm được một số lượng án xử sơ thẩm

nhưng lại phải xử nhiều án phúc thẩm hơn

Toà án tối cao có thể giảm số án xét xử

phúc thẩm nhưng thực tế đây không phải là

vấn đề tồn tại chính của Toà án tối cao mà

ở số đơn kiến nghị các bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám

đốc thẩm.(18) Hơn nữa, tỉ lệ án phải xử

phúc thẩm quá lớn (60% số án cấp huyện

đã xử sơ thẩm) và số lượng lớn đơn kiến

nghị xem xét lại các bản án và quyết định

đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám

đốc thẩm, tái thẩm đặt ra những câu hỏi,

suy nghĩ về chất lượng xét xử và thủ tục

phúc thẩm, cơ chế giám đốc thẩm, tái thẩm

cũng như hiệu quả của hoạt động điều tra,

truy tố xét xử hiện nay./

(1).Xem: Khuất Văn Nga, "Những tư tưởng mới của

4/2004, tr.13-18

(2).Xem: Điều 5, 6 và 7 Sắc lệnh số 51 ngày

17/4/1946 ấn định thẩm quyền các toà án và sự phân

công giữa các nhân viên trong toà án

(3).Xem: Điều 15 Sắc lệnh số 51

(4), (12), (14).Xem: Ngô Quang Liễn, "Vấn đề tăng

thẩm quyền cho cơ quan tư pháp cấp huyện trong Bộ

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Viện kiểm sát nhân

dân tối cao ngày 22-23/3/2004

(5) Theo R G Fox, Victorian Criminal Procedure,

state and federal law, 10th ed Monash Law book

co-operative limited, 2000, page 77-88

(6).Xem: Điều 36A Đạo luật Courty court act 1958

Nguyên nghĩa: Indictable offences Không có quy

định cứng quy định từ bao nhiêu năm tù là tội nghiêm trọng mà mỗi đạo luật khác nhau khi quy định một hành vi nào đó là tội phạm thì sẽ định nghĩa đó là tội nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng - Summary offences Ở Úc, các bang đều có đạo luật hình sự riêng nhưng Quốc hội khi ban hành luật đều có thể quy định một hành vi nào đó là tội phạm

(7).Xem: Điều 25 Đạo luật Magistrate’s Court Act 1989 (8) Theo Comparative criminal procedure, page 21-23

Và Bộ luật tố tụng hình sự Pháp 1958 (bản tiếng Việt), Nhà pháp luật Việt Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, H.1998 Quyển thứ hai: Các cơ quan xét xử (9).Xem: Điều 496, Điều 547 Bộ luật tố tụng hình

sự Pháp

(10) Theo Luật tổ chức toà án Nhật Bản In trong tập Law Bulletin series, Japan,Volume II Điều 16 - 33 (11) Cần phân biệt, cấp quận đây không phải như một địa bàn hành chính cấp quận huyện như ở Việt Nam, việc phân bổ toà án của Nhật Bản cũng như hầu hết các nước không gắn với hệ thống cơ quan quản lí hành chính

(13), (15) Uỷ ban pháp luật Quốc hội khoá XI, Báo cáo thẩm tra Dự án Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) ngày 8/5/2003, tr 16-17

(16) Chính vì những lí do trên trong quá trình xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, có những ý kiến đưa ra là vẫn giữ thẩm quyền cho toà án cấp huyện và toà án cấp tỉnh như hiện nay và thành lập các toà phúc thẩm riêng, không trực thuộc toà án tối cao (17) Giải trình của Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 26/4/2003 về

Dự án Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tr.16

(18) Tính trung bình một năm từ 1998 đến 2002, chỉ riêng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận được khiếu nại đối với khoảng trên dưới 4000 vụ kiện dân sự, chiếm khoảng gần 40% số vụ án đã xét xử phúc thẩm

- Đề tài khoa học cấp cơ sở, "Một số giải pháp nâng

cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản

án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật tại

2002, tr.16-17 Số liệu án hình sự tương đương là gần

2000 vụ việc trong tổng số 7-8000 vụ toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao xét xử

Ngày đăng: 29/06/2014, 01:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w