Yếu tố giới trong tục ngữ tiếng nhật Yếu tố giới trong tục ngữ tiếng nhật Yếu tố giới trong tục ngữ tiếng nhật
Lịch sử nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Nghiên cứu tục ngữ tiếng Nhật và nghiên cứu yếu tố giới trong tục ngữ tiếng Nhật là đề tài không hoàn toàn mới tại Nhật Bản và được một số các nhà nghiên cứu, những học giả quan tâm từ các góc độ khác nhau Thông qua hệ thống tục ngữ rất phong phú của tiếng Nhật khi muốn tìm hiểu quan niệm của người Nhật về giới (nam và nữ) được thể hiện qua đó thì hầu như đề tài này chưa được thực hiện ở Việt Nam từ cách nhìn của người Việt Nam Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả thực hiện lược khảo một số công trình nghiên cứu như sau:
Tài liệu "Japanese Proverbs and Sayings" (Buchanan, D C.1965) 2 là công trình về tục ngữ Nhật Bản và biểu hiện của tục ngữ Nhật Bản trong cuộc sống hằng ngày của người Nhật Cuốn sách chứa hơn 1.500 câu tục ngữ, ca dao và thành ngữ Nhật Bản, được sắp xếp theo thứ tự chữ cái tiếng Nhật và bao gồm cả phiên âm La Tinh để giúp người đọc dễ dàng hiểu và phát âm chính xác Nội dung của cuốn sách xoay quanh các chủ đề phổ biến trong văn hóa Nhật Bản như gia đình, tình yêu, cuộc sống, sự nghiệp, thời tiết và các mối quan hệ xã hội Mỗi câu tục ngữ hoặc ca dao đều được giải thích nghĩa đen và nghĩa bóng, cùng với ví dụ và giải thích thêm về ngữ cảnh sử dụng
Công trình "The nature of speech according to Japanese proverbs" (Fischer, J L., & Yoshida, T.1968) 3 là một nghiên cứu về những đặc điểm của ngôn ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ trong văn hóa Nhật Bản thông qua việc phân tích các tục ngữ, câu đố và câu ca dao Nhật Bản liên quan đến việc nói chuyện Trong tài liệu này, tác giả trình bày rằng văn hóa Nhật Bản đã giành một vị trí quan trọng cho việc kiểm soát và sử dụng các yếu tố ngôn ngữ Từ các câu đố đơn giản đến các câu ca dao phức tạp, tài liệu phân tích cách mà ngôn ngữ được sử dụng để thể hiện mối quan hệ xã hội, động viên, truyền đạt thông điệp, và giải quyết xung đột Ngoài ra, tài liệu cũng nhấn mạnh sự tôn trọng và sự kính trọng trong văn hóa Nhật Bản liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ Trong nhiều trường hợp, sự tôn trọng người khác được thể hiện thông qua cách sử dụng các mệnh đề phủ định mềm dẻo hoặc không trực tiếp, trong khi vẫn truyền tải thông điệp chính xác Cuối cùng, tài liệu kết luận rằng sử dụng ngôn ngữ trong văn hóa Nhật Bản có những đặc điểm riêng biệt và rất đa dạng Việc hiểu và trân trọng các đặc điểm này là rất quan trọng trong việc hiểu và tôn trọng văn hóa Nhật Bản
2 Buchanan, D C.(1965) Japanese proverbs and sayings ,Vol 1 University of Oklahoma Press
3 Fischer, J L., & Yoshida T.(1968 ) The nature of speech according to Japanese proverbs The Journal of
Trong báo cáo “Metaphors and Cultural Values Part of Plants in Japanese Proverbs” (Fitri, A N., & Rini, E I 2022) 4 đã xem xét các câu tục ngữ Nhật Bản bằng cách sử dụng phép ẩn dụ về tên của các bộ phận của cây Tên của bộ phận thực vật là một yếu tố hình thành tục ngữ Nhật Bản Nghiên cứu nhằm mục đích nghiên cứu về: 1) Nghiên cứu về việc sử dụng tên các bộ phận của cây trong tục ngữ Nhật Bản; 2) Nghiên cứu về nghĩa từ vựng và thành ngữ của tên các bộ phận của cây trong tục ngữ Nhật Bản; 3) Nghiên cứu về ẩn dụ về các bộ phận của cây trong tục ngữ Nhật Bản, và 4) Nghiên cứu về các giá trị văn hóa chứa đựng trong tục ngữ Nhật Bản có sử dụng khái niệm tên các bộ phận của cây.Việc thu thập dữ liệu được tác giả thực hiện bằng cách lấy dữ liệu về tục ngữ Nhật Bản từ internet và sách báo Kết quả cho thấy, tên các bộ phận của cây được sử dụng trong tục ngữ Nhật Bản, cụ thể: 1) Có 06 nhóm tên gọi các bộ phận của cây gồm quả, hạt, rễ, lá, hoa, thân; 2) Có nghĩa từ vựng và thành ngữ của tên các bộ phận của cây trong tục ngữ Nhật Bản; 3) Ẩn dụ có trong tục ngữ sử dụng tên của các bộ phận của cây, cụ thể là nỗ lực và tự bảo vệ; 4) Các giá trị văn hóa chứa đựng trong các câu tục ngữ sử dụng tên các bộ phận của cây, cụ thể là tôn trọng cuộc sống, chăm chỉ và cảnh giác với cuộc sống
Trong “Viewing Japanese People's Cognitive Concept From Japanese Proverbs -Taking" View of Nature" and" View of Emotion" (Xie, Y 2022) 5 đã cho thấy rằng: Tục ngữ là một thành phần quan trọng của văn hóa ngôn ngữ Nhật Bản bởi chúng bao quát tất cả các khía cạnh của sự tồn tại của con người Tục ngữ là kết quả của nhiều năm tích lũy kiến thức, là kết tinh của kinh nghiệm sống và là nguồn thông tin quý báu về cuộc sống của mỗi dân
4 Fitri, A N., & Rini, E I.(2022) Metaphors and Cultural Values Part of Plants in Japanese Proverbs, In E3S Web of
5 Xie, Y (2022), Viewing Japanese People's Cognitive Concept From Japanese Proverbs-Taking View of Nature and
View of Emotion as Examples Asian Journal of Social Science Studies, 7(3), pg.56
8 tộc Tục ngữ đã ăn sâu vào con người và văn hóa Nhật Bản Bài viết sử dụng đối tượng nghiên cứu là “quan điểm tự nhiên” và “quan điểm tình cảm” để lồng ghép lý thuyết văn hóa ngôn ngữ với thông tin về sự vật tự nhiên và văn hóa gia đình nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn về quan niệm nhận thức của người Nhật
Trong “Women in Japanese proverbs Asian Folklore Studies” (Storm,
H 1992) 6 đã cho thấy rằng: Bằng cách xem xét các câu tục ngữ về phụ nữ, ở một mức độ nào đó, người ta có thể thấy phụ nữ được nhìn nhận như thế nào trong một nền văn hóa nhất định Báo cáo nghiên cứu này đã thảo luận về những câu tục ngữ truyền thống của Nhật Bản về phụ nữ, cũng như những câu nói mới hơn xuất hiện sau Thế chiến thứ hai Sau đó, báo cáo đã trình bày kết quả của một cuộc khảo sát bằng câu hỏi về những câu tục ngữ như vậy Cuộc khảo sát nhằm làm rõ thái độ đương thời của người Nhật đối với phụ nữ, chỉ ra câu tục ngữ nào trong số mười tám câu tục ngữ trong bảng câu hỏi được coi là mô tả phụ nữ đúng và câu nào sai; nó cũng cho thấy hình ảnh của phụ nữ Nhật Bản khác với phụ nữ nói chung như thế nào, và điều gì ảnh hưởng đến tuổi tác và giới tính của người được hỏi đối với quan điểm của họ
Tình hình nghiên cứu tại Nhật Bản:
Liên quan đến “モンゴル語と日本語のことわざにおける男女の意識 と
その変化-ジェンダーの視点から” ( Ý thức về giới và những thay đổi của nó trong tục ngữ Mông Cổ và Nhật Bản) (Shunka 2012) 7 giải thích về bình đẳng giới giữa Nhật Bản và Mông Cổ, phê phán tục ngữ của 2 nước này Điều này phản ánh khái niệm cơ bản về ý thức giới và những thay đổi của nó theo thời gian Tác giả cho định kiến đối với thành viên nam trong gia đình (người
6 Storm, H (1992), Women in Japanese proverbs Asian Folklore Studies, pg.167-182.
7 春花(2012), 「モンゴル語と日本語のことわざにおける男女の意識とその変化 - ジェンダーの視点から」, 東北大学
9 cha) Hình mẫu lý tưởng của người cha cần có 5 năm điểm sau: 1) Có trí tuệ sâu và rộng, 2) có ý chí kiên cường, 3) Có phương châm vững vàng, 4) Là trụ cột của gia đình, 5) Làm gương cho con cái Để đạt được những tiêu chí này thì sẽ có những qui tắc nghiêm ngặt đối với vai trò của người cha như: “Đừng chạy trốn khỏi anh ấy”, “Đừng để bị cuốn vào màu sắc”
Trong “日本のことわざの認知度について” (Mức độ nhận thức của tục ngữ Nhật Bản ) (鄭芝淑2004) 8 đã thực hiện khảo sát để xác định mức độ phổ biến của tục ngữ Nhật Bản và Hàn Quốc với mục đích làm rõ liệu có sự khác biệt về thế hệ hoặc giới tính, về mức độ nhận thức giữa tục ngữ Nhật Bản và Hàn Quốc hay không? Cuộc khảo sát này cũng nhằm khẳng định tính hiệu quả của danh sách PS như một công cụ phương pháp luận để so sánh các tục ngữ
Nghiên cứu“日本のことわざからみる女性像の現在” (Hình tượng người phụ nữ hiện nay nhìn từ tục ngữ Nhật Bản của (宮偉, 2013) 9 đã sử dụng 71 câu tục ngữ liên quan đến giới tính nữ trong từ điển “故事・ことわ ざ辞典” 10 (Từ điển điển tích - tục ngữ ), từ đó rút ra những điều liên quan đến hình ảnh người phụ nữ và phân tích hình tượng người phụ nữ hiện nay qua 3 phương diện như : thuộc tính (tích cực, tiêu cực), thân phận và hình ảnh lý tưởng của người phụ nữ Qua phân tích từ điển tục ngữ năm 2007 có thể thấy rõ ràng về vấn đề giới trong xã hội hiện nay Hình ảnh người phụ nữ hiện nay về địa vị xã hội được cải thiện, sự phân biệt đối xử với phụ nữ không còn nữa
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam :
Tại Việt Nam, không có nhiều các học giả, tác giả nghiên cứu về đề tài tục ngữ tiếng Nhật, cũng như nghiên cứu về các yếu tố giới trong tục ngữ
8 鄭芝淑(2009) , 「日本のことわざの認知度について」 言語文化論集 , 30(1), tr.181-196
9 宮偉(2013) ,「日本のことわざからみる女性像の現在」, 中央学院大学社会システム研究所紀要, tr.19-28
10 岩波書店(2007)『故事・ことわざ辞典』
10 tiếng Nhật Số lượng đề tài khá là hạn chế Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả thực hiện lược khảo một số công trình nghiên cứu như sau:
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là khảo sát, phân tích đặc trưng cấu tạo và ngữ nghĩa cũng như giá trị biểu trưng của nhóm tục ngữ có chứa yếu tố giới trong tiếng Nhật, từ đó tìm hiểu quan niệm hay đánh giá của người Nhật về các giới (nam và nữ) trong văn hóa và đời sống xã hội của Nhật Bản thể hiện thông qua một thống nhất thuật ngữ cụ thể là tục ngữ.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có 2 nhiệm vụ nghiên cứu chính:
Thứ nhất, phân tích đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của các tục ngữ tiếng Nhật có chứa yếu tố giới
Thứ hai, thông qua phân tích và một số số liệu thống kê, đưa ra đặc trưng của các tục ngữ có chứa yếu tố giới và nhận xét về quan niệm của người Nhật hay xã hội Nhật Bản truyền thống về giới nam và nữ cũng như sự phản ánh của văn hóa – xã hội trong các tục ngữ có chứa yếu tố giới.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này sử dụng tổng hợp một số phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có sử dụng các phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp thống kê
Về phương pháp chính, luận văn sử dụng ba phương pháp:
(1) Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Dựa trên những nghiên cứu lý thuyết về thành ngữ, tục ngữ và đặc điểm khu biệt giữa chúng để làm cơ sở lý luận cho đề tài và làm cơ sở để luận giải những vấn đề đề tài đề cập tới
(2) Phân loại, phân tích, thống kê tư liệu ngôn ngữ học và tổng hợp: phân loại bảng kết quả khảo sát tục ngữ có chứa từ vựng dành cho nam và nữ, phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa, thành tố của ngôn ngữ cho 265 các đơn vị tục ngữ trong quyển từ điển tục ngữ về nam và nữ.Trên cơ sở phân tích giá trị biểu trưng của yếu tố giới nam và yếu tố giới nữ trong các tục ngữ Nhật bản,
15 Nguyễn Thị Hồng Thu (2001) Tục ngữ Nhật - Việt , Nhà xuất bản văn học
16 Nguyễn Thị Hồng Thu (2005) Tục ngữ Nhật Bản về văn hoá ứng xử: Có so sánh với tục ngữ Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội
15 tìm hiểu quan điểm và đánh giá người Nhật về vị thế, vai trò, tính cách của nam giới và nữ giới trong xã hội Nhật Bản
(3) Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Sử dụng những kiến thức của các chuyên ngành liên quan như văn hóa học, khu vực học nhằm hỗ trợ thêm cho việc triển khai nghiên cứu của đề tài.
Ý nghĩa của đề tài
- Về mặt lý luận: Luận văn là kết quả của việc ứng dụng các kiến thức lý thuyết về khu vực học, ngôn ngữ học (chủ yếu là ngôn ngữ học so sánh đối chiếu), văn hóa học vào khảo sát, phân tích và đưa ra kiến giải cho một đối tượng cụ thể là tục ngữ tiếng Nhật có chứa các yếu tố về giới, trên cơ sở đó góp phần làm phong phú hơn những nghiên cứu về Nhật Bản
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc giảng dạy và học tập tiếng Nhật và văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam, cung cấp cho độc giả cái nhìn tổng quan hơn về văn hóa nhật bản được thể hiện qua các câu tục ngữ có chứa yếu tố giới nam và yếu tố giới nữ.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, các danh mục, nội dung chính của luận văn gồm có 03 chương chính:
- Chương 1: Trình bày về các khái niệm và phân loại tục ngữ với thành ngữ trong tiếng Nhật, đặc trưng của tục ngữ và những biểu hiện về mặt cấu tạo của các tục ngữ tiếng Nhật có chứa yếu tố giới
- Chương 2: Trình bày về những biểu hiện về mặt ngôn từ trong các tục ngữ tiếng nhật có chứa yếu tố giới
- Chương 3: Trình bày về giá trị biểu trưng cho giới tính nam, giới tính nữ và tìm hiểu quan niệm, đánh giá của người Nhật về vị thế vai trò, tính cách của từng giới trong xã hội
YẾU TỐ GIỚI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CẤU TẠO TỤC NGỮ
Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về tục ngữ
Trong các công trình về tiếng Nhật, hầu hết các nhà Nhật ngữ học đều thống nhất sử dụng hai cách gọi “Kotowaza” (ことわざ) và “Kanyouku” (慣 用句) cho 2 loại đơn vị ngôn ngữ cố định có nội hàm không hoàn toàn giống nhau Trên cơ sở đặc trưng của từng kiểu loại, các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng Kotowaza đa phần tương đương với đơn vị tục ngữ của tiếng Việt, còn Kanyouku đa phần tương đương với đơn vị thành ngữ Từ trước đến nay ở Nhật Bản có rất nhiều định nghĩa, quan niệm về tục ngữ, thành ngữ Trong “ 慣用句の体系的分類” Phân loại hệ thống thành ngữ của Momiyama Yosuke
(1997) 17 có viết : “Thành ngữ là một liên kết cố định của nhiều từ, trong đó ý nghĩa của tổng thể không thể bắt nguồn từ tổng số ý nghĩa mà các từ cấu thành riêng lẻ, hoặc cũng có khi chúng không phải là một phần của liên kết đó.” Hay Shiraishi Daiji (1950) 18 cho rằng: “Thành ngữ(イディオム)là đơn vị ngôn ngữ có những đặc điểm cơ bản: Về hình thức, thành ngữ giống như cụm từ nhưng là cụm từ đặc biệt Là cụm từ bởi thành ngữ bao gồm ít nhất từ hai từ trở lên Là cụm từ đặc biệt bởi thành ngữ có tổ chức cấu trúc nghiêm ngặt, thường không thể thêm bớt từ hay thay đổi một cách tự do trật tự của chúng; có nghĩa biểu trưng, bóng bẩy, ẩn dụ ”
Còn với tục ngữ, trong luận án tiến sỹ “モンゴル語と日本語のこと わざにおける男女の意識 とその変化-ジェンダーの視点から” (Ý thức giới và những biến đổi của nó trong tục ngữ Mông Cổ và Nhật Bản - nhìn từ góc độ giới) của Shunka (2012) 19 thì “Tục ngữ là tác phẩm văn học của con
17 籾山 洋介(1997) 「慣用句の体系的分類」, 名古屋大学国語国文学会, tr.29
18 白石 大二(1950) 「日本語のイディオム」 三省堂出版 国語双書,tr.112
19 春香(2012)「モンゴル語と日本語のことわざにおける男女の意識 とその変化-ジェンダーの視点から」都北
17 người được lưu truyền trong xã hội từ xa xưa Tác giả của những câu văn này vẫn chưa được xác định và mọi người cho rằng hầu hết chúng không phải được tạo ra bởi một người cụ thể mà chúng đại diện cho lối suy nghĩ và giá trị chung của mọi người và đã được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.”
Theo như cuốn “日英比較ことわざ辞典”(từ điển so sánh thành ngữ, tục ngữ Nhật- Anh ) Yamoto 20 cho rằng: ''Kotowaza được kết tinh từ trí tuệ anh minh của nhân dân Với hình thức ngắn gọn hàm súc, cùng sự tinh tế đầy tình người và cách thể hiện rất thú vị nhờ âm điệu, những chân lý, những lời giáo huấn hoặc những điều hài hước được rút ra từ sự trải nghiệm của nhân dân qua thời gian dài năm tháng, đã được người ta vận dụng nhiều trong mọi cảnh huống của đời sống thường nhật"
Kotowaza (Tục ngữ) là thành tố quan trọng nhất trong văn hóa dân gian của Nhật Bản Theo “日本語大辞典” 21 (Đại từ điển tiếng Nhật ) đây là những lời giáo huấn, sự phê phán nhẹ nhàng từ xưa truyền lại phần lớn do người Nhật tạo ra Có thể coi kotowaza là cuốn sách giáo khoa lớn về kinh nghiệm cuộc sống quý giá được đúc kết từ đời này sang đời khác, được truyền từ người này sang người khác Qua kotowaza, chúng ta có thể hiểu về một nền văn hoá đa sắc diện, độc đáo vừa truyền thống và cũng rất hiện đại của đất nước và con người Nhật Bản, đồng thời qua kotowaza cũng phần nào hiểu được hệ tư tưởng dân gian, cách trị nước an dân, những bài học kinh nghiệm, cách ứng xử thích hợp trong cuộc sống, những tri nhận về tự nhiên ví dụ:
“兄弟は手足なり” (keiteiwashusokunari) Anh em như chân với tay, “子持て ば親心” (komotebaoyagokoro) “ 生あれば食あり” (seiarebashokuari )
Các học giả Việt Nam đã có những quan tâm đến thành ngữ và tục ngữ bằng những nhận xét như sau:
20 山本忠尚 監修 (1980) 『日英比較ことわざ辞典』創元社, 編集部 119, tr.129
21 講談社カラー版 (1989) 『日本語大辞典』、 tr.102
Lê Chi Quế căn cứ vào đặc tính văn học của thể loại để nhận xét về tục ngữ: "Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc do nhân dân lao động sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế hệ Nó phản ánh và đúc kết mọi mặt tri thức, đời sống của nhân dân thông qua những hình tượng nghệ thuật độc đáo 22 Đỗ Hữu Châu cho rằng, sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là ở chỗ, trong khi ngữ cố định có tính chất tương đương với từ hoặc cụm từ thì tục ngữ là những đơn vị tương đương với câu, và trong khi ý nghĩa của các ngữ cố định tương đương với nghĩa của cụm từ thì nghĩa của tục ngữ là
“một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khẳng định về một chân lý, một lẽ thường đối với một nền văn hóa nào đó, nghĩa là một tư tưởng hoàn chỉnh” 23
Trong bài "Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ " Nguyễn Văn Mệnh đã kết luận "Có thể nói nội dung của một thành ngữ mang tính chất hiện tượng còn nội dung của tục ngữ nói chung là mang tính chất quy luật Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau cơ bản về hình thức ngữ pháp Mỗi thành ngữ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn Mỗi tục ngữ “tối thiểu là một câu” 24
Trong “Tục ngữ Việt Nam” 25 , Chu Xuân Diên đã viết: "Tục ngữ là một đơn vị độc lập, có những đặc điểm truyền thống về mặt cấu trúc, hình thức cũng như về mặt tạo nghĩa" Về thành ngữ tục ngữ tác giả còn nói rõ thêm: "Sự giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ là ở chỗ cả hai đều là những sản phẩm của sự nhận thức của nhân dân về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan, đều chứa đựng và phản ánh tri thức của nhân dân Sự khác nhau là ở chỗ những tri thức ấy khi được rút lại thành những khái niệm thì ta có thành ngữ, còn khi được trình bày, diễn giải thành các phán đoán thì ta có tục ngữ.”
22 Lê Chi Quế (2001) Văn học dân gian Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr.239
23 Đỗ Hữu Châu (1996) Ngôn ngữ học thực hành, NXB Giáo dục Việt Nam , tr.75
24 Nguyễn Văn Mệnh ( 1972) Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ ,Tạp chí ngôn ngữ số 3, tr.13
25 Chu Xuân Diên ( 1985) Tục ngữ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội,11, tr.160
Mặc dù cùng sử dụng các từ gốc Hán vay mượn từ Trung Hoa song cách hiểu của người Việt và người Nhật về khái niệm thành ngữ (kanyoku) và tục ngữ (kotowaza) có ít nhiều khác nhau Từ ý kiến của các nhà nghiên cứu trên có thể nhận định tục ngữ có đặc điểm chung nhất đó là:
Tục ngữ là trí tuệ mà con người đúc kết được qua nhiều năm kinh nghiệm, là bài học và chân lý được lưu truyền từ xa xưa Từ câu tục ngữ, có thể thấy được lối sống, cách nghĩ của con người trong thời đại hình thành ra nó
Tục ngữ, với tư cách là một dạng ngôn ngữ, cũng thay đổi theo thời gian Có nhiều trường hợp những câu tục ngữ đã từng sử dụng nay không còn được sử dụng nữa, hoặc ý nghĩa của những câu tục ngữ đã có những thay đổi nhất định so với ý nghĩa trước đây Từ đó có thể thấy được những thay đổi thay đổi trong tư duy, quan niệm của xã hội trong những giai đoạn, thời kỳ khác nhau
Và chúng ta có thể rút ra được sự giống và khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ - kotowaza như bảng dưới đây :
Bảng 1.1: Phân biệt thành ngữ và tục ngữ
Có ý nghĩa hoàn chỉnh, mang tính ví von, ẩn dụ, bóng bẩy và mang 2 tầng ngữ nghĩa
Có hình thái cấu trúc là cụm từ cố định hoặc cụm Chủ- Vị
Câu hoặc phát ngôn cố định (gồm cả câu đơn và câu ghép)
Có chức năng định danh sự vật, hiện tượng, quá trình, quan hệ
Có chức năng định danh sự kiện, sự tình, trạng huống
Có tính tái hiện trong lời nói, có tính miêu tả Đúc kết kinh nghiệm và có tính tri thức
1.1.2 Đặc trưng của tục ngữ tiếng Nhật
Theo như từ điển : “ことわざに表れた性差別 男と女のことわざ
辞典” (Phân biệt giới tính biểu hiện trong tục ngữ) Watanabe Tomosuke
(1995) 26 thì tục ngữ có những đặc điểm cơ bản như sau:
- Qui tắc 1: Bản chất của tục ngữ: tục ngữ là tác phẩm ngôn ngữ phê phán con người, thế giới con người, các sự kiện xã hội, hiện tượng tự nhiên, nắm bắt chính xác chân lý và diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn
Yếu tố giới nhìn từ đặc điểm cấu tạo tục ngữ
Tục ngữ là một loại đơn vị ngôn ngữ có cấu trúc chặt chẽ, cố định, cân đối, dựa trên sự lập luận lô-gích và tương quan giữa các hiện tượng Tục ngữ thường phản ánh một thông báo hoàn chỉnh, kết cấu của tục ngữ vừa mang chức năng cú pháp, vừa mang chức năng ngữ nghĩa Nói đến kết cấu ngữ pháp trong câu tục ngữ, người ta đã chia thành nhiều loại, chủ yếu là dựa vào cấu trúc ngữ pháp của câu Do đó, có câu tục ngữ lại tương đương như một
22 câu đơn, có câu lại mang cấu trúc của một câu ghép Cấu tạo của tục ngữ tiếng Nhật thường đơn giản và trực tiếp, thông qua một hoặc hai câu nhưng thể hiện một thông điệp hoặc triết lý sâu sắc
Trên cơ sở đặc điểm cấu trúc của tục ngữ, chúng tôi tạm phân chia các tục ngữ tiếng Nhật làm 2 loại: loại có cấu trúc là một mệnh đề (cấu trúc đơn) và loại có cấu trúc từ 2 mệnh đề trở lên (cấu trúc phức)
Theo thống kê của chúng tôi, trong số 265 câu tục ngữ có chứa yếu tố giới được khảo sát, số lượng câu có kết cấu một mệnh đề là 159 trường hợp, trong khi đó chỉ có 106 trường hợp có kết cấu từ 2 mệnh đề trở lên Trong số
106 câu có kết cấu từ 2 mệnh đề còn có 1 số lượng ít các câu có 2 mệnh đề bao gồm thành phần mở rộng ( 29 câu ) và câu phức có nhiều mệnh đề ( 5 câu)
Về phương diện cấu trúc, tục ngữ tiếng Nhật không thuần nhất mà khá đa dạng Tuy nhiên, tạo thành một kho tàng kinh nghiệm đầy đặn hơn cả đó là nhờ dân gian đã khéo léo xây dựng các câu tục ngữ bằng cách suy luận dựa trên mối quan hệ giữa các vế Sau đây là một số ví dụ cho kết cấu 1 mệnh đề và 2 mệnh đề:
Gồm 3 kiểu loại cơ bản là: Loại gồm 2 thành phần cơ bản Chủ - Vị
Loại không có thành phần chủ ngữ Loại câu đặc thù a) Loại gồm 2 thành phần cơ bản chủ - vị :
“女の知恵 は 鼻の先” (onnanochie wa hananosaki” (trí tuệ của người phụ nữ ở đầu mũi), trong đó “onnanochie” là danh từ ở phần đầu câu đóng vai trò là chủ ngữ sử dụng với kết từ “wa” , “hananosaki” là cụm danh từ đóng vai trò là vị ngữ đưa ra nhận định về người phụ nữ Nghĩa của câu tục ngữ này là : Phụ nữ chỉ nghĩ được những thứ ngay trước mắt, ngoài mũi ra là không thấy gì, không có khả năng suy nghĩ rộng và sâu sắc
"女と坊主に 余り物 が ない” (Onnatobouzu ni amarimono ga nai)(ở phụ nữ và nhà tu không có thứ dư thừa ) nghĩa của câu tục ngữ là : phụ nữ và nhà tu không quá quan tâm đến những thứ không cần thiết, chỉ sự giản dị, không có những thứ xa hoa, thừa thãi Câu này có cấu trúc [ Ở A có/không có B], là dạng câu tồn tại với vị ngữ là động từ “nai – không có”
“女に十二の角あり” (onna ni jyuuninotsuno ari) (ở phụ nữ có 12 cái sừng) Người ta nói rằng: mặc dù những chiếc sừng của phụ nữ rất sâu nhưng khi mỗi 1 đứa trẻ sinh ra thì 1 chiếc sừng sẽ bị cắt bỏ và khi sinh ra 12 đứa trẻ thì tất cả những chiếc sừng đều bị cắt bỏ và trái tim cũng không còn nữa Đây vẫn là cấu trúc dạng câu tồn tại với động từ “ari- có” kết hợp với cụm danh từ “jyuuninotsuno”
“男の謝罪は打首も同様”( otokonoshazai wa uchikubimo douyou)
(việc xin lỗi của đàn ông cũng nhục nhã như bị chặt đầu) sử dụng từ so sánh
“変の道には女が賢しい” (Hen no michi ni wa onna ga kashikoi)
(Trên con đường lạ phụ nữ thông minh ) Đây là dạng câu nêu trạng thái có có kết thúc bằng vị ngữ là tính từ “kashikoi” Ý nghĩa của câu muốn nói đến khả năng ứng phó, linh hoạt của phụ nữ khi gặp phải con đường lạ hay tình huống bất thường
“女房は一人でも食える” (nyoubou wa hitoridemo kueru ) ( người vợ dù 1 mình cũng có thể sống ) Đây là dạng câu nêu trạng thái có có chủ ngữ là
“nyoubou “, kết từ “wa” kết thúc bằng vị ngữ là động từ ở dạng khả năng
“女の知恵 は欲 が元” (onnanochie wa yoku ga moto) ( Sự khôn ngoan của phụ nữ dựa trên tham muốn ) đây là cấu trúc câu [ Aは Bが C](A thì B là C) trong đó có “yoku – tham muốn” thuộc về “ onnanochie - Sự khôn ngoan của phụ nữ”
Mặc dù xếp vào nhóm có đầy đủ thành phần chủ - vị, song do đặc thù cần sự ngắn gọn, súc tích, hầu hết các trường hợp trên đều bị tỉnh lược đi yếu tố ngữ pháp hình thức đánh dấu chức năng vị ngữ ở cuối câu (desu, de aru) b) Loại không có thành phần chủ ngữ trong câu :
“哲婦城を傾く” (Teppusiro wo katamuku) (làm nghiêng thành teppu) Trong câu tục ngữ này tuy không xuất hiện thành phần chủ ngữ nhưng khi gắn vào ngữ cảnh cụ thể thì đây là 1 câu tục ngữ xuất phát từ thơ kinh điển của Taiga và Cheongwa, nói về người phụ nữ khôn ngoan và tài năng can thiệp vào nhiều việc xây dựng đất nước nhưng chính sự thông minh của người phụ nữ mưu trí này cuối cùng lại gây ra sự suy tàn của 1 quốc gia và sự tan vỡ của 1 gia đình
“美人舌を破る”(bijinsita wo yaburu) ( cắt lưỡi giai nhân), câu không có chủ ngữ là chủ thể của hành động mà chỉ đối tượng của hành động được đưa lên đầu câu “bijinsita”, câu tục ngữ được đặt trong bối cảnh bậc quân vương bị mê hoặc bởi 1 mỹ nữ xinh đẹp và bỏ qua lời của những của các trung thần của mình c) Câu đặc thù : là những câu tục ngữ hình thức cấu tạo như một cụm danh từ, cụm động từ hoặc câu giản lược v.v nhưng vẫn là câu "mang ý nghĩa trọn vẹn”
YẾU TỐ GIỚI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGÔN TỪ CỦA TỤC NGỮ
Biểu hiện ngôn từ nói về giới tính nữ
Tục ngữ Nhật Bản có những cách chơi chữ rất phức tạp, trừ một số câu có nghĩa rõ ràng, còn lại đối với các đơn vị có nghĩa bóng, nhiều nghĩa hoặc có xuất xứ từ những giai thoại dân gian, các điển tích, các từ cổ, từ địa phương …tạo rào cản cho vấn đề dịch nghĩa Vì vậy trong bài luận chúng tôi có sử dụng cách dịch nghĩa để sao cho người đọc dễ hiểu và gần gũi với diễn đạt của người Việt
Trong tiếng Nhật, cũng như trong các ngôn ngữ khác, có nhiều biểu hiện ngôn từ nói về giới tính nữ trong tục ngữ Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp quan trọng của con người Tuy nhiên, trong sử dụng ngôn ngữ, chúng ta thường không nhận ra rằng những từ ngữ, cách diễn đạt, hay cả những câu tục ngữ có thể ảnh hưởng đến địa vị và vai trò của một giới tính trong xã hội, hướng đến địa vị và vai trò của một giới tính trong xã hội a) Đầu tiên, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong tục ngữ tiếng Nhật, từ vựng được sử dụng có ý nghĩa là nữ giới, phụ nữ sẽ có những từ như “女” (onna), “女子”(jyoshi) “女人”(nyonin) hay “おなごう”(onagou), những từ vựng như “美人”(bijin)、佳人(kajin) để khen ngợi những phụ nữ đẹp hoặc
美婦(bifu) chỉ những người phụ nữ đẹp có gia đình, “女賢”(Joken) để chỉ những người phụ nữ khôn ngoan, 許嫁(iinazuke/kyokon) dành cho người con gái đã có đính ước, hôn thê
Ngoài ra các từ vựng để miêu tả phụ nữ thường mang tính tiêu cực Ví dụ như từ "女房" (nyoubou) để chỉ vợ, hay "婦人" (fujin) để chỉ một phụ nữ đã lập gia đình Nó hay xuất hiện trong những thành ngữ nói về mối quan hệ giữa mẹ chồng nàng dâu Tuy trong tục ngữ Nhật Bản không thể hiện nhiều định kiến đối với mẹ chồng, con dâu nhưng những từ này thường mang ý
31 nghĩa phụ nữ chỉ nên ở nhà, công danh của người phụ nữ luôn gắn liền với vai trò "nội trợ" và không thể đóng vai trò quan trọng trong xã hội, không có danh tiếng Hoặc khi dùng với mục đích phê phán thói trăng hoa, quan hệ bất chính thì cụm từ "女房" (nyoubou) được sử dụng trong câu tục ngữ :
“人の女房と枯れ木の枝は上るほど危ない” (hitono nyoubou to kareki no edawa noboruhodoabunai) (lén lút quan hệ vợ người thì nguy hiểm không khác gì ngồi trên cành cây khô)
Tuy có những đánh giá tích cực nhưng phụ nữ trong tục ngữ Nhật vẫn là những người hướng nội, hướng về gia đình và có mối quan hệ bền chặt với gia đình, ủng hộ đàn ông Phần nữ giới chỉ được nhìn nhận từ quan điểm của nam giới và người ta cho rằng phần nữ giới trong tục ngữ Nhật cũng phản ánh các giá trị hướng tới nam giới
Qua khảo sát chúng tôi thống kê các từ vựng chỉ người là nữ giới trong
265 câu tục ngữ có chứa yếu tố giới với số lượng như sau :
Bảng 2.1: Các từ vựng chỉ người là nữ giới
STT Từ chỉ giới nữ
1 女 onna 115 女の知恵は鼻の先 (onnanochie wa hana no saki)
Sự khôn ngoan của phụ nữ ở đầu mũi ( 1, PL 80)
9 女子の違いのと月の夜は役に立たない
(Joshino chigainoto tsukinoyoruwa yakunitatanai) Khác biệt giữa các cô gái và đêm trăng không có ích gì (6, PL 80)
8 美人は性を断つ斧 ( bijin wa sei wo tatsuono)
Mỹ nhân là rìu cắt đứt tình dục (17, PL 80)
5 女房は一人でも食える
(nyoubou wa hitoridemo kaeru) Người vợ dù 1 mình cũng sống được (135 PL 86)
5 婦 fu 3 婦に長舌あるは維麗の階
(funi cyoushitaaruwa ireinogai) Phụ nữ lưỡi dài giống dải lụa tầng thiên (37, PL 81)
1 毒蛇を見るとも女人をば見るべからず dokkuhebi wo mirutomo nyounin wo bamirubekarazu (16, PL 80) Cho dù nhìn thấy rắn độc đừng nhìn phụ nữ
1 おなごうという業じゃ (onagou toiu goujya)
“con gái” không phải là nghề (72, PL 83)
1 佳人薄命 ( kajinhakumei)
Hồng nhan bạc mệnh (108, PL84)
1 美婦は不詳の器 (bifu wa fushou no utsuwa)
Phụ nữ đẹp là vật chứa bí ẩn (18, PL 80)
1 人世婦人の身となることなかれ
(jinseifujin no mitonaru kotonakare) (59,PL 82) Không nên là phụ nữ khi sinh ra trên thế giới này
1 許嫁は国を隔てて悋気する
(iinazuke wa kuni wo hedatete rinkisuru) Hôn thê u sầu vượt quê hương (44, PL 82)
Nguồn: Tổng hợp từ “ことわざに表れた性差別 男と女のことわざ
辞典 (Phân biệt giới tính biểu hiện trong tục ngữ - từ điển tục ngữ nam và nữ) (Watanabe Tomosuke 1995)
33 b) Thứ hai, trong các tục ngữ tiếng Nhật, cũng có nhiều biểu hiện ngôn từ phân biệt giới tính "女は花、男は葉" (Onna wa hana, otoko wa ha) "Phụ nữ như hoa, nam giới như lá " Tục ngữ này thường được sử dụng để so sánh giữa phụ nữ và nam giới, sử dụng hình ảnh của hoa và lá để biểu hiện sự khác biệt về mặt tính cách, vẻ đẹp và vai trò trong cuộc sống Cụ thể: Hoa - Thường được liên kết với sự tươi mới, đẹp đẽ và mềm mại Tương tự, phụ nữ thường được coi là những người tinh tế, dịu dàng và nữ tính Lá - Đại diện cho sự mạnh mẽ, kiên nhẫn và ổn định Tương tự, nam giới thường được coi là những người mạnh mẽ, bền bỉ và trưởng thành Tục ngữ này thể hiện sự phân biệt giới tính truyền thống và sự kỳ vọng về tính cách và vai trò của nam giới và phụ nữ trong xã hội
"女は度胸の半分男は言い訳の半分" (onna wa dokyou no hanbun otoko wa iiwake no hanbun) (phụ nữ có một nửa can đảm, nam giới có một nửa biện hộ) Tục ngữ này thường được sử dụng để so sánh giữa phụ nữ và nam giới trong việc xử lý tình huống khác nhau Nó nhấn mạnh rằng phụ nữ thường có sự can đảm, dũng cảm, trong khi nam giới thường có xu hướng tìm lý do hoặc biện hộ cho hành động của họ Đây là một cách diễn đạt về các đặc điểm tích cực và tiêu cực của cả hai giới tính c) Cuối cùng, trong tiếng Nhật, có rất nhiều tục ngữ mô tả tính cách của phụ nữ, thường gắn với những đặc tính tiêu cực như yếu đuối, hay thay đổi, hay ghen, ngu ngốc, nói nhiều, không giữ chữ tín… tất cả đều là mặt tiêu cực của phụ nữ Nhật
"男は風、女は雲" (otokowa kaze, onnawa kumo ) đàn ông là gió, phụ nữ là mây Phụ nữ như là “mây”, có thể ám chỉ đến tính nhạy cảm, mềm
34 mại và linh hoạt của phụ nữ, giống như những đám mây di chuyển dễ dàng trên bầu trời
Khi tiến hành khảo sát 265 câu tục ngữ dành cho nam và tục ngữ dành cho nữ nói chung tổng cộng có 170 câu tục ngữ có chủ đề dành cho nữ nói chung và được chia thành 3 tiêu chí đánh giá về phụ nữ với số lượng các câu như bảng thống kê dưới đây Đây là một nỗ lực để hiểu sâu hơn về cách thức mà xã hội Nhật Bản coi và đánh giá vai trò của phụ nữ:
Bảng 2.2: Phân loại tục ngữ về giới tính nữ theo nhóm tiêu chí
1 Về ngoại hình, tuổi tác, cách trang điểm
45 女は髪容 (onnawa kamiyou) (125,PL 85)
Phụ nữ là vẻ đẹp mái tóc 美人薄命(bijin hakumei) (109,P L 84) Hồng nhan bạc mệnh
師走女の化粧には山の神も怖がる (shiwasu onnano keisyouniwa yamano kamimo kowagaru) (102,PL 84)
Cách trang điểm của phụ nữ tháng 12 đến thần núi cũng sợ
女 二 十 は 婆 始 め (onna hatachi wa babahajime) phụ nữ 20 bắt đầu già ( 151, PL85)
43 女心と秋の空 (onnakokoro to aki no sora) trái tim phụ nữ và bầu trời thu ( 50, PL 82) 女三人寄れば姦しい
35 hành vi của phụ nữ
(Onna sannin yorebakash imashī) (29, PL 81)
3 người phụ nữ tụ lại thì sẽ huyên náo 嫉妬深きは三女の一つ
(Sittobukaki wa sanjo no hitotsu) (39, PL 81) Ghen tuông nhiều có ở 1 trong 3 người phụ nữ
3 Vai trò trong gia đình và xã hội
世界に余った女はない (144, PL 85) (Sekaini amattaonna wa nai )
(Trên thế giới không có phụ nữ dư thừa ) 男は外廻り女は内廻り (249, PL 86) (otoko wa sotomawari onna wa uchimawari) (Nam ngoài, nữ trong)
Nguồn: Tổng hợp từ “ことわざに表れた性差別 男と女のことわざ
辞典 (Phân biệt giới tính biểu hiện trong tục ngữ - từ điển tục ngữ nam và nữ) ( Watanabe Tomosuke 1995)
2.1.1 Biểu hiện qua ngoại hình, tuổi tác và cách trang điểm
Sắc đẹp là lẽ sống đối với phụ nữ Có rất nhiều tục ngữ tiếng Nhật mô tả mối quan hệ giữa phụ nữ và ngoại hình đẹp Một người phụ nữ, dù sinh ra trong gia đình bình thường hay địa vị thấp, đều có thể giành được tình yêu của những người giàu có, trở nên giàu có và lên vị trí cao hơn nếu cô ấy có vẻ ngoài xinh đẹp Từ đó, có thể thấy rõ tầm quan trọng của ngoại hình đẹp đối với phụ nữ Phụ nữ có làn da trắng, dù có khuyết điểm nào đó trên khuôn mặt, hãy che đi những khuyết điểm đó và luôn xinh đẹp Ngay cả một người phụ nữ kém thanh lịch cũng sẽ đẹp hơn một chút khi trang điểm
“女 は 己 を 悦 ぶ 者 の た め に か た ち づ く る” (Onna wa onore o yorokobu mono no tame ni katachizukuru) có nghĩa là "Phụ nữ tạo hình cho
Biểu hiện ngôn từ nói về giới tính nam
Trong ngôn ngữ nói chung, một trong những biểu hiện đầu tiên của giới tính nam trong ngôn ngữ là việc sử dụng các từ ngữ chỉ nam tính nam Ví dụ như, từ “anh”, “ông” hay “chàng trai” được sử dụng để chỉ đến đối tượng nam giới Sự lựa chọn từ ngữ này thể hiện rõ ràng sự chú ý và sự tôn trọng đến giới tính nam trong xã hội
Các tục ngữ có liên quan đến giới tính nam thường được sử dụng để thể hiện tính cách của một người đàn ông Ví dụ như, từ “nam tính”, “kiêu ngạo”,
“thô lỗ” thường được sử dụng để mô tả tính cách của đàn ông Những tục ngữ này thường được xem là những đặc trưng của giới tính nam dù có hay chưa có
41 gia đình và thể hiện rõ sự kì vọng của xã hội đối với người nam Trong các ngôn ngữ khác nhau, giới tính nam thường được coi là “mạnh mẽ”, “can đảm”, “lãnh đạo” và có thể điều khiển được mọi tình huống Tuy nhiên, đôi khi, các ngôn ngữ cũng thể hiện những đặc điểm yếu hơn của giới tính nam như sự nhạy cảm, tình cảm và sự tinh tế
Qua khảo sát chúng tôi thống kê các từ vựng chỉ người là nam giới trong 265 câu tục ngữ có chứa yếu tố giới với số lượng như sau:
Bảng 2.3: Các từ vựng chỉ người là nam giới
STT Từ chỉ giới nam
Số lượng câu tục ngữ
1 男Otoko 54 男は二十五の朝飯までおがる
(otoko wa nijuugono asagohanmade ogaru)
( 231, PL 90) (Đàn ông đợi đến 25 tuổi mới ăn sáng) 男は三年に一度笑う (172, PL 87) (otoko wa sannenni ichido warau)
(Đàn ông 3 năm cười 1 lần)
5 男子家を出ずれば七人の敵あり
(dansikawo dezureba nananin no tekiari) Đàn ông khi bước ra khỏi nhà sẽ có 7 kẻ thù
4 小男の総身に智恵が回りかね
(216, PL 89) Trí tuệ không thể bao trùm toàn thân người đàn ông nhỏ bé
1 大男の殿 (oootoko no singari)
Cung điện của người đàn ông lớn
Nguồn: Tổng hợp từ “ことわざに表れた性差別 男と女のことわざ辞
典 (Phân biệt giới tính biểu hiện trong tục ngữ - từ điển tục ngữ nam và nữ),
Trong tục ngữ tiếng Nhật chứa yếu tố giới nam những từ miêu tả nam giới thường có ý nghĩa tích cực hơn so với các từ về nữ giới, ví dụ như “男” (otoko), "男子" (danshi) để chỉ nam giới, hoặc "主人" (shujin) để chỉ chồng, xét về mặt số lượng như bảng thống kê trên thì những từ để chỉ giới tính nam chiếm số lượng ít hơn hẳn so với những biểu hiện ngôn từ về giới tính nữ Các từ chỉ người là giới tính nữ được phân chia khá tỉ mỉ trong khi các từ chỉ người là giới tính nam chủ yếu là những từ gọi đối tượng một cách khách quan, các từ chỉ sự phân hóa nghề nghiệp, công danh, sự đi lại chủ yếu nói về nam giới Trong bài luận này, chúng ta sẽ xem xét các biểu hiện ngôn từ này và cách chúng ảnh hưởng đến cách suy nghĩ và hành vi của người Nhật
Các tục ngữ Nhật Bản về giới tính nam đưa ra nhiều quan điểm, quan niệm và kỳ vọng về người đàn ông trong xã hội Một số tục ngữ tập trung vào vai trò của người đàn ông trong gia đình và xã hội, cho thấy sự trách nhiệm và nghĩa vụ của họ trong việc bảo vệ và nuôi dưỡng gia đình, cũng như thể hiện sự tôn trọng và hưởng ứng với những nhiệm vụ và trách nhiệm của họ Nội dung tích cực về nam giới bao gồm sự vượt trội, giỏi giang, khiêm tốn, có năng lực, không ngại khó, có phẩm cách hơn phụ nữ và phân biệt rõ ràng mình với phụ nữ Sự nam tính là đặc điểm và hình ảnh lý tưởng được xã hội và văn hóa tạo ra về một người đàn ông cũng như những quan niệm sẵn có được xã hội mong đợi Có những tục ngữ cũng phản ánh một số vấn đề và thực trạng xã hội liên quan đến người đàn ông, bao gồm sự thay đổi, sự lừa
43 dối và áp đặt vai trò nam tính truyền thống Số lượng các câu tục ngữ đánh giá tích cực cao hẳn so với những câu đánh giá về phụ nữ và người ta cho rằng đây là từ góc nhìn của người đàn ông
Khi tiến hành khảo sát 265 câu tục ngữ dành cho nam và tục ngữ dành cho nữ nói chung tổng cộng có 66 câu tục ngữ có chủ đề dành cho nam nói chung và được chia thành 3 tiêu chí đánh giá về nam giới với số lượng các câu như bảng thống kê dưới đây:
Bảng 2.4: Phân loại tục ngữ về giới tính nam theo nhóm chủ đề
1 Tính cách, thái độ và hành vi
43 男は三日に一遍笑えばよし (171, PL 87)
(Otoko wa mikka ni ippen waraeba yoshi)
Cứ 3ngày, người đàn ông nên cười ít nhất một lần
男の謝罪は打首も同様 (173, PL 87) (otoko no shazai wa uchikubi mo douyou)
Sự xin lỗi của đàn ông cũng giống như chặt đầu
男は礼儀に余れ (176, PL 87)
(otoko wa reigi ni amare) Đàn ông lễ nghi có thừa
“藁でしたのも男は男” (195, PL 88) (waradeshita nomo otoko wa otoko)
Dù cỏ có khô thì đàn ông cũng vẫn là đàn ông
2 Vẻ bề ngoài, tuổi tác
15 茄子と男は黒いがよい (190, PL 88)
(nasu to otoko wa kuroi ga yoi)
Cà tím và đàn ông đen sẽ tốt
男振のよいのに煙がなびく (191, PL 88)
(otokofu no yoinoni kemuriganabiku) Khói bay dù người đàn ông đẹp trai 十五は三十の半ら男 (235, PL 90)
(juugo wa sanjuu no hanra otoko) Đàn ông 15 tuổi vẫn chưa phải là đàn ông trưởng thành
3 Vai trò trong gia đình và xã hội
4 “公事掛合は男の務め”
(koujikakeai wa otoko no tsutome) Việc đại sự là của đàn ông (208, PL89)
Nguồn: Tổng hợp từ “ことわざに表れた性差別 男と女のことわざ
辞典 “ (Phân biệt giới tính biểu hiện trong tục ngữ - từ điển tục ngữ nam và nữ), (Watanabe Tomosuke 1995)
Trong số các câu tục ngữ có chủ đề dành cho nam nói chung có 43 câu tục ngữ liên quan đến tính cách, thái độ hành vi của đàn ông, 15 câu liên quan đến ngoại hình, tuổi tác của đàn ông, 4 câu liên quan đến phân chia vai trò Qua đây chúng ta thấy được rằng số lượng tục ngữ về phụ nữ nhiều hơn nam và nhiều câu trong số đó phản ánh chính xác sự chênh lệch về nam nữ trong xã hội Nhật bản Mặc dù có rất ít câu tục ngữ liên quan đến nam giới nhưng có thể tổng hợp lại đặc điểm chính về giới tính nam trong tục ngữ như sau :
2.2.1 Biểu hiện qua tính cách, thái độ và hành vi
“酒は古いほど価値があるように、年老いた男性ほど価値がある
” (Sake wa furuihodo kachigaaru youni, toshioita danseihodo kachigaaru): (Như rượu ngon càng lâu càng có giá, người đàn ông tuổi già càng đáng quý) Câu tục ngữ này thường được sử dụng để diễn đạt ý nghĩa về sự trưởng thành, sự tích lũy kinh nghiệm và giá trị mà người đàn ông đã trải qua thời gian
“男は狐のようであるべきで、勇敢で、賢明で、柔軟で、誠実で
、 活 力 に 満 ち て い な け れ ば な ら な い” (Otokowa kitsunenoyoudearu bekide, yuukan de, kenmeide, juunande, seijitsude, katsuryokunimichite inakerebanaranai): " Người đàn ông nên giống như một con cáo, dũng cảm, thông minh, linh hoạt, trung thành, và đầy năng lượng"
“藁でしたのも男は男” (waradesitanomo otokowaotoko) (dù là một cọng rơm thì đàn ông vẫn là đàn ông ) Trong trường hợp này, đề cập đến sự cứng rắn và bản tính nam tính của đàn ông, không phụ thuộc vào tầm vóc xã hội hay hoàn cảnh mà anh ta đang đối mặt
“男は泣かず飛ばず (Otoko wa nakazu tobazu) - "Đàn ông không khóc, không bay " Miêu tả một người đàn ông kiên nhẫn, vững chãi, không bị ảnh hưởng bởi cảm xúc hoặc khí thế, mà luôn giữ vững tinh thần và không bao giờ bất ổn
"男は言わせなければ病気にもならない" (Nếu không được phép nói, thì đàn ông cũng không mắc bệnh) Câu tục ngữ này thường được sử dụng để miêu tả tính cách của đàn ông, đề cao sự mạnh mẽ và kiên định, giữ cho bản thân mình mạnh mẽ và không cho phép bản thân bị ảnh hưởng bởi cảm xúc hay tình trạng tâm lý tiêu cực
"小男の総身に智恵が回りかね" (Sự thông minh không thể rải đều trên toàn thân của người đàn ông nhỏ bé) Câu muốn nói đến việc người đàn ông nhỏ bé không có sự thông minh hoặc khôn ngoan trong mọi khía cạnh của cuộc sống
Biểu hiện ngôn từ nói về giới tính nam và nữ
Theo Watanabe (1995) cho biết “Thông qua những câu nói của người Nhật, phụ nữ và nam giới Nhật Bản sẽ được biểu hiện trong thời đại trước mà không phải trong thời hiện đại Trong các câu tục ngữ đàn ông là đối tượng đã đưa ra những chỉ trích dành cho người khác giới là phụ nữ nhiều hơn Đàn ông và phụ nữ là đại diện cho sự bất bình đẳng giới, phân biệt giới tính.”
Trong tiếng Nhật, từ "otoko" chỉ giới tính nam, còn từ "onna" chỉ giới tính nữ Cả nam và nữ cũng thường được miêu tả bằng các thuật ngữ đặc biệt: từ "otoko no ko" được sử dụng để chỉ nam giới trẻ, trong khi từ "onna no ko" được sử dụng để chỉ nữ giới trẻ
Các tục ngữ tiếng Nhật cũng có sự chênh lệch về giới tính
"女は悲しそうに笑う” (onna wa kanashi-sou ni warau)có nghĩa là (phụ nữ cười một cách buồn), diễn đạt ý nghĩa của sự kiện hoặc cảm xúc phức tạp, khi một phụ nữ cười nhưng có vẻ buồn bã, đau lòng bên trong
Trong khi câu nói "男は悲しくなることができない” (otoko wa kanashikunaru koto ga dekinai) có nghĩa là (người đàn ông không thể trở nên buồn) Tuy đây là một quan điểm rất cổ điển và không thực sự phản ánh sự thực Đàn ông cũng có thể trải qua cảm xúc buồn bã và đau khổ như bất kỳ người nào khác
Giới tính nam và giới tính nữ được đề cập riêng biệt:
"男は黙って女が道を譲る" (Otoko wa damatte onnaga michiwo yuzuru) có nghĩa là (Đàn ông im lặng trong khi đàn bà nhường đường) Diễn tả sự đối xử truyền thống, nơi đàn ông thường được kỳ vọng là người dẫn đầu, trong khi phụ nữ thường nhận vai trò nhường nhịn
Tuy nhiên, không phải tất cả các tục ngữ tiếng Nhật đề cập đến giới tính một cách rõ ràng Một số câu tục ngữ như "悪妻は百年の不作" (Akusai wa hyaku-nen no fusaku) có nghĩa là (Một người vợ xấu thất bát cả trăm năm) Câu này thường được hiểu là việc có một người vợ xấu có thể gây ra những hậu quả xấu cho gia đình suốt nhiều năm sau này Nó diễn đạt ý nghĩa về tầm quan trọng của việc chọn lựa một đối tác đời đúng đắn, và nhấn mạnh rằng sự lựa chọn không chính xác có thể ảnh hưởng lâu dài đến hạnh phúc và sự thịnh vượng của gia đình Mặc dù câu nói này đề cập đến "vợ" nhưng không có sự phân biệt rõ ràng giữa giới tính nam và giới tính nữ
2.3.1 Biểu hiện qua ngoại hình, tính cách của đàn ông và phụ nữ
Các câu tục ngữ liên quan đến ngoại hình, tính cách của đàn ông và phụ nữ thường có tính chất đối lập và tạo sự so sánh giữa hai giới Đàn ông thường được miêu tả là mạnh mẽ, dũng cảm và nữ thì được đánh giá với tính
50 cách dễ gần, thân thiện Các câu tục ngữ này cho thấy sự chia rẽ giữa giới tính và thường được sử dụng để miêu tả đặc điểm của một người, dựa trên giới tính của họ Đối với phụ nữ, câu tục ngữ như "có thể nhan sắc tuyệt vời nhưng nếu không biết cách cư xử sẽ bị khinh rẻ", thể hiện sự quan tâm đến tính cách, cách cư xử của phụ nữ Trong khi đó, đối với đàn ông, những câu tục ngữ như
"tay to mồm to thì đừng nói nhiều", "đàn ông không nên quá đẹp trai" là những ví dụ tiêu biểu
"男の母似女の父似" (Otokonohaha ni on'nano chichini) chỉ ra sự giống nhau giữa cha mẹ và con cái cùng giới tính (con trai giống mẹ, con gái giống cha) Tức là đàn ông thường có tính cách, đặc điểm, hành động giống với mẹ của họ, trong khi phụ nữ thường có tính cách, đặc điểm, hành động giống với cha của họ
Câu tục ngữ "男は度胸女は愛敬" (otokowadokyou onnawa aikyou) (Đàn ông can đảm, đàn bà duyên dáng) Trong đó, "度胸" (doryoku) là từ vựng biểu thị tinh thần can đảm, gan dạ, không sợ hãi trong tình huống đối mặt với khó khăn, nguy hiểm đặc trưng cho đàn ông , còn "愛敬" (aikyou) là từ thể hiện sự mềm mỏng, dễ thương, tình cảm của phụ nữ Hai từ vựng này sử dụng để miêu tả những đặc điểm cơ bản của hai giới tính, và cũng có thể ám chỉ sự kết hợp hoàn hảo giữa can đảm và duyên dáng trong một mối quan hệ tình cảm
2.3.2 Biểu hiện qua phân công vai trò của đàn ông và phụ nữ
Các câu tục ngữ thể hiện quan điểm phong kiến của xã hội Nhật Bản, khi mà vai trò của người đàn ông được coi trọng hơn so với vai trò của người phụ nữ Vai trò của đàn ông và phụ nữ được phân chia rõ ràng và có sự khác biệt về vai trò liên quan đến các công việc và trách nhiệm trong gia đình hoặc xã hội giữa nam và nữ
51 Đàn ông thường được xem là người chịu trách nhiệm kiếm tiền và ra ngoài làm việc, trong khi phụ nữ thường đảm nhận trách nhiệm chăm sóc gia đình và làm việc trong nhà Tuy nhiên, quan điểm này đã gặp phải sự thay đổi và tranh cãi trong xã hội hiện đại với sự phát triển của bình đẳng giới
“高家の妻は七人半のあてがい” (Kouka no tsuma wa sichinin han no ategai) (vợ của gia đình danh giá đảm nhận 7 người rưỡi) nghĩa của câu tục ngữ này muốn nhấn mạnh tầm quan trọng, vai trò của người vợ trong gia đình danh giá, họ phải đương trách nhiệm lo việc nhà chu toàn cho cả 1 gia đình lớn
“分別男に稼ぎ女" (Bunbetsu otoko ni kasegi onna) (phụ nữ kiếm tiền cho đàn ông sáng suốt) - vai trò truyền thống của nam giới và nữ giới trong gia đình, với đàn ông thường luôn đặt tâm trí sáng suốt vào công việc, trong khi phụ nữ thì làm việc chăm chỉ thường đảm nhận trách nhiệm chăm sóc gia đình Đây sẽ được cho là khuôn mẫu của 1 cặp đôi lý tưởng
Về mặt biểu hiện ngôn từ dành cho giới tính nam và giới tính nữ, có thể thấy người Nhật sử dụng khá đa dạng những từ vựng để chỉ giới tính nữ so với các từ vựng để chỉ giới tính nam Ngoài ra những từ vựng, cụm từ, vế câu được dùng để phản ánh những nét đặc trưng về mặt tính cách, ngoại hình, phẩm chất, vai trò, địa vị của 2 giới nam và nữ cũng được thể hiện rõ nét Qua việc tổng quát lại các tiêu chí, đặc điểm cơ bản dành cho từng giới trong 265 câu tục ngữ, có thể thấy cái nhìn và sự đánh giá, quan niệm và giá trị của xã hội Nhật Bản về giới tính Ngoài những sự đánh giá tích cực về tính cách, phẩm chất, hình thức, vai trò trong gia đình và xã hội thì cũng có rất nhiều biểu hiện đánh giá tiêu cực dành cho nữ giới dưới cái nhìn của nam giới Qua đây thấy được sự phân biệt giới tính trong xã hội Nhật bản đã tồn tại từ rất lâu trong các câu ca dao tục ngữ Các câu tục ngữ thể hiện quan điểm phong kiến
52 của xã hội Nhật Bản, khi mà vai trò của người đàn ông được coi trọng hơn so với vai trò của người phụ nữ
GIÁ TRỊ BIỂU TRƯNG CỦA YẾU TỐ GIỚI
Hình ảnh biểu trưng cho giới tính nam
Đằng sau những câu tục ngữ có chứa yếu tố giới là bản sắc, là lời nói, cách nghĩ của con người Nhật Bản Trong các tục ngữ Nhật Bản về giới tính nam, ta thường thấy những hình ảnh ẩn dụ liên quan đến sức mạnh, sự kiên trì và sự độc lập
Hình ảnh “cáo” trong câu: “男は狐のようであるべきで、勇敢で、
賢 明 で 、 柔 軟 で 、 誠 実 で 、 活 力 に 満 ち て い な け れ ば な ら な い”
27 吉川幸次郎 (1962) 「日本文化史」, 岩波書店, tr.132
(Otokowa kitsune no youde arubekide, yuukande, kenmei de, juunan de, seijitsu de, katsuryoku ni michite inakereba naranai): Tức là một người đàn ông nên có tính cách như một con cáo, thông minh, nhanh nhạy và dũng cảm, có khả năng thích ứng với mọi hoàn cảnh và sự kiện, và luôn trung thực trong hành động và lời nói
Hình ảnh “sư tử” “持続する獅子の顔” (shishi no kao o motsu) (có khuôn mặt như sư tử ) để miêu tả sự trưởng thành, kiên cường và uy quyền của nam giới
Hình ảnh ẩn dụ “Đám cháy” thể hiện sức mạnh đặc biệt của nam giới trong những tình huống khẩn cấp hoặc nguy hiểm Câu tục ngữ "男は火事場 の馬鹿力" (Otoko wa kajiba no bakariki) (Sức mạnh của đàn ông trong đám cháy) Câu tục ngữ này diễn tả ý nghĩa rằng đàn ông thường có khả năng đối mặt với những tình huống khẩn cấp và thách thức một cách dũng mãnh và mạnh mẽ, đặc biệt là trong tình huống nguy hiểm như một hiện trường đám cháy
Hình ảnh ẩn dụ “Sắt” - "男は鉄" (Otoko wa tetsu) (Đàn ông như sắt) thường được sử dụng để mô tả tính cách của đàn ông, ví họ mạnh mẽ, kiên định và bền bỉ như kim loại sắt hay "男の意地" (Otoko no iji), (Sự cứng đầu của đàn ông) Cụm từ này được sử dụng để mô tả tính cách kiên cường, quyết đoán và không chịu khuất phục của đàn ông trong các tình huống khó khăn hoặc thách thức
Trong quan hệ xã hội, các tục ngữ tiếng Nhật về giới nam thường được sử dụng để miêu tả một người đàn ông có phẩm chất tốt, đặc biệt là trong các mối quan hệ kinh doanh và chính trị Từ "danryu" (anh hùng đàn ông) hay
"seiji-ka" (chính trị gia) thường được sử dụng để miêu tả những người đàn ông có ảnh hưởng và quyền lực trong xã hội
Nam giới được ví như hình ảnh cái cuốc "男は鍬、女は杵" (Otoko wa kuwa, onna wa kine) (Đàn ông là cái cuốc, phụ nữ là cái chày) nam giới thường được coi là người làm việc ngoài trời, cày cấy, trong khi phụ nữ thường đảm nhận công việc nội trợ, xay xát, nghiền nát thực phẩm Yếu tố sản xuất nông nghiệp của Nhật bản được thể hiện rõ nét trong câu tục ngữ này Đàn ông được miêu tả là mạnh mẽ, lớn lên như một cây lúa mạch cao to, trong khi nữ được miêu tả như một tấm vải mềm mại và dễ thương."男は 麦、女は棉" (Otoko wa mugi, onna wa momen) - Nghĩa đen: "Nam là lúa mạch, nữ là bông vải"
Những tục ngữ này phản ánh sự kính trọng và tôn vinh đối với người đàn ông, những phẩm chất và phẩm vị của họ, đồng thời cũng thể hiện sự tôn trọng và vinh danh các giá trị văn hóa truyền thống của đất nước Nhật Bản.
Hình ảnh biểu trưng cho giới tính nữ
Trong tục ngữ Nhật Bản, sử dụng các cách diễn đạt ẩn dụ phản ánh văn hóa Nhật Bản Các hình ảnh trong tự nhiên như: hoa, ánh sáng, ánh trăng, tuyết, nước, mây, gió và cây cối được sử dụng là hình ảnh ẩn dụ cho giới tính nữ Yếu tố thiên nhiên, thời tiết này có lẽ cũng xuất phát từ nền sản xuất nông nghiệp của Nhật Bản đã ảnh hưởng đến các câu tục ngữ
Hình ảnh ẩn dụ “Hoa” thể hiện vẻ đẹp và tinh tế của phụ nữ "女は花
、男は葉"(onna wa hana, otoko wa ha) (phụ nữ như hoa, đàn ông như lá) hoặc "男は木、女は花" ( otoko wa ki, onna wa hana) (đàn ông là cây, phụ nữ là hoa) Để mô tả sự đẹp đẽ và dịu dàng của phụ nữ như hoa, trong khi đàn ông được liên kết với hình ảnh của lá, thể hiện sự mạnh mẽ và bền bỉ
Hình ảnh ẩn dụ : "女は木陰、男は陽" (onnawa kokage, otokowa hi - phụ nữ là bóng cây, đàn ông là ánh nắng) được sử dụng để so sánh giữa phụ nữ và nam giới trong mối quan hệ với ánh sáng và bóng tối Hình ảnh mô tả sự mát mẻ, yên bình của phụ nữ như bóng cây, trong khi đàn ông được liên kết với sự sáng sủa, năng động như ánh nắng mặt trời
Hình ảnh ẩn dụ “Nước và tuyết” thể hiện tính khéo léo và tinh tế của phụ nữ."女は水, 男は石" (onna wa mizu, otoko wa isi) (phụ nữ là nước, đàn ông là đá) Câu tục ngữ này thường được sử dụng để mô tả sự nhân từ, mềm mại và linh hoạt của phụ nữ như nước mát mẻ, trong khi đàn ông thường được liên kết với sự vững chắc, cứng rắn như đá hoặc "男は雪、女は綿" (otoko wa yuki, onna wa wata) (đàn ông là tuyết, phụ nữ là bông) sự tinh khôi và nhẹ nhàng của phụ nữ, giống như bông mềm mại, trong khi đàn ông thường được liên kết với sự lạnh lùng và tinh túy như tuyết
Hình ảnh ẩn dụ thiên nhiên - Núi Phú Sĩ thường được xem là biểu tượng của sức mạnh và sự kiên nhẫn và vẻ đẹp của Nhật Bản “女の言うこ とには富士の山もなびく” (onnanoiukotoniwa fujinoyamanimo nabiku - những gì phụ nữ nói núi Phú Sĩ cũng cúi đầu), Câu tục ngữ này diễn đạt ý nghĩa rằng lời nói của phụ nữ có thể rất quan trọng và ảnh hưởng, thậm chí có thể gây ra sự biến đổi lớn
Vật dụng quen thuộc với cuộc sống của người Nhật - chiếu tatami được so sánh với người vợ trong câu: “女房と 畳は新しい 方が良い”
(nyoubouto tatamiwa atarashihougayoi - Vợ và chiếu tatami mới là tốt nhất) có nghĩa rằng những điều mới thường được ưa chuộng và có giá trị hơn trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là trong việc cải thiện không gian sống và mối quan hệ gia đình Trong ngữ cảnh này, "tatami" đề cập đến loại thảm truyền thống được sử dụng làm sàn trong nhà truyền thống Nhật Bản
“女房と味噌古いほどが良い” (nyouboutomiso furuihodogayoi - Vợ và tương miso càng cũ thì càng tốt) Ý nghĩa ẩn dụ của câu: trong mối quan hệ hôn nhân thể hiện lòng trung thành và sự ấm áp của mối quan hệ lâu dài, giống như việc miso trở nên ngon hơn khi lưu trữ trong thời gian dài Trong nền văn hóa Nhật Bản, có một sự đánh giá cao về giá trị của thứ cũ, thể hiện qua sự tôn trọng và ấm áp đối với những thứ mang tính kỷ niệm và lịch sử
Phụ nữ thường được mô tả là “đồ vật”, hoặc “thức ăn” như “売れ残り- bán ế” ,“箱入り” (hakoiri - cho vào hộp) , “片付け”(katazuke-dọn dẹp),“ 悪い虫がつかないように” (waruimusiga tsukanaiyouni - để không thu hút côn trùng xấu “ 女は先付けである" (onna wa sakizuke de aru) có nghĩa là
"Phụ nữ là món khai vị" đưa ra suy nghĩ rằng phụ nữ chỉ có giá trị khi được sử dụng như một món đồ ăn Khi chê một người vợ xấu thì tục ngữ cũng lấy vụ mùa để làm đối tượng đề cập như câu tục ngữ: “悪 妻 は 百 年 の 不
作”(akusai wa hyakunen no fusaku) “Vợ xấu là một mùa vụ kém trong 100 năm” và những cách nói này không xảy ra ở nam giới
Trong các tục ngữ Nhật Bản về giới tính, cả nam và nữ đều được miêu tả bằng những hình ảnh ẩn dụ mang tính so sánh với các đặc điểm và tính cách khác nhau Khi xem xét "nam tính" và "nữ tính" được thể hiện như thế nào? thì trong các câu nói, những gì được phân loại theo tiêu chí của của "nữ tính" sẽ là "nói dối, ghen tuông, lười biếng".Ngược lại, câu tục ngữ “nam tính” là sự dũng cảm, mạnh mẽ và có năng lực lãnh đạo Với các hình ảnh đồ vật như súng, lọ, chày, cuốc, động vật như: như cáo, cá, vịt, gấu…để làm các ẩn dụ trong các câu tục ngữ về đàn ông và phụ nữ ở Nhật Bản cho thấy đặc điểm, tính cách, điều gì được cho là "nữ tính" và "nam tính" trong tục ngữ Từ đó thể hiện sự đánh giá tiêu cực, là sự truyền thống trong tục ngữ , là đặc điểm sinh ra từ tư tưởng trọng nam khinh nữ trên nền tảng văn hóa truyền thống
Tục ngữ tiếng Nhật về giới không chỉ được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày mà còn xuất hiện trong văn học, thơ ca và nghệ thuật Việc tìm hiểu, sử dụng và khai thác những yếu tố giới biểu hiện thông qua hình ảnh ẩn dụ trong tục ngữ tiếng Nhật sẽ giúp con người hiểu rõ hơn về văn hóa, tư tưởng và tầm nhìn của người Nhật
Giá trị biểu trưng của yếu tố giới trong tục ngữ tiếng Nhật
Việc sử dụng các tục ngữ tiếng Nhật có chứa yếu tố về giới nữ cũng có thể đưa ra những đánh giá tích cực và tiêu cực về phương diện phẩm chất, tính cách, hành vi, ngoại hình, cách trang điểm hay vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội Và từ đó phản ánh quan niệm của xã hội Nhật Bản về nữ giới như thế nào trong số 265 câu tục ngữ tiếng Nhật có chứa yếu tố giới nam và yếu tố giới nữ
3.3.1.1 Những đánh giá tích cực a) Về ngoại hình, tuổi tác, cách trang điểm
Làn da, khuôn mặt, mái tóc:
Người Nhật đưa ra những tiêu chuẩn về vẻ đẹp của khuôn mặt, dung mạo của người phụ nữ, quan điểm xem trọng ngoại hình được thể hiện thông qua các hình ảnh phụ nữ đẹp Người phụ nữ đẹp, ưa nhìn với tiêu chuẩn về ngoại hình như làn da trắng, tóc đen, biết cách trang điểm… sẽ là vũ khí tàn sát đàn ông và có khả năng giành được tình yêu của người đàn ông giầu có
“米の飯と女は白い程よい” (komeno meshi to onna wa shiroihodo yoi ) (gạo và phụ nữ, càng trắng càng tốt) Câu này thường được dùng để miêu tả sự yêu thích làn da trắng của phụ nữ và làn da phụ nữ càng trắng càng đẹp cũng như gạo càng trắng thì sẽ càng ngon
“髪型は女の太陽” ( kamikata wa onnano taiyou) tức là kiểu tóc của phụ nữ đẹp như ánh sáng mặt trời với sức sống và rực rỡ
“一瓜顔に二丸顔” (ichiurigao nimarugao) tiêu chuẩn đánh giá về khuôn mặt ưa nhìn của người phụ nữ Nhật Bản : thứ 1 là khuôn mặt trái xoan thứ 2 là khuôn mặt tròn
“女のえくぼこは城を傾く”(Onna no ekubo ko wa shiro o katamuku) (lúm đồng tiền của phụ nữ làm nghiêng thành) "笑顔は女を美しくする” (Nụ cười làm cho phụ nữ trông xinh đẹp hơn) , nhấn mạnh tầm quan trọng của nụ cười trong việc làm nổi bật nét đẹp của phụ nữ
“恋に落ちた女は美しい" (koi ni ochita onna wa utsukushii), có nghĩa là (người phụ nữ đã yêu đương trở nên xinh đẹp) Tục ngữ này cho thấy sự liên kết giữa tình yêu và ngoại hình, tuy nhiên nó cũng cho thấy rằng vẻ đẹp của một người phụ nữ không chỉ phụ thuộc vào ngoại hình mà còn phụ thuộc vào nội tâm và cảm xúc “ 美人は言わねど隠れなし” (bijin wa iwanedo kakurenasi) (Người đẹp không cần phải nói, cũng không thể giấu được)
"美人に年なし”(bijin ni toshinashi) (đối với phụ nữ đẹp thì không có tuổi) dùng để miêu tả những người phụ nữ xinh đẹp không bị tuổi tác ảnh hưởng đến vẻ ngoài của họ, tức là họ vẫn giữ được nhan sắc trẻ trung và quyến rũ qua các giai đoạn tuổi đời Các tục ngữ này cho thấy sự đánh giá tích cực về ngoại hình và cách trang điểm của phụ nữ trong xã hội Nhật Bản b) Về phẩm chất, hành vi, thái độ:
“花は 咲か せて おき まし ょう”(Hana wa sakasete okimashou) có nghĩa là "Hãy để hoa nở rộ" Tục ngữ này nhấn mạnh tới sự quan tâm đến sự phát triển và nở rộ tự nhiên của một người phụ nữ, sự mềm mỏng, nhu mì và dịu dàng như hoa
“女房は一人でも食える”(Nyoubou wa hitoridemo kueru) có nghĩa là
"Người vợ dù 1 mình cũng sống được " Câu thường được sử dụng để nhấn mạnh sự độc lập, mạnh mẽ và không phụ thuộc vào đàn ông trong cuộc sống của người phụ nữ
“女房と味噌古いほどが良い” (nyouboutomiso furuihodogayoi - Vợ và tương miso càng cũ thì càng tốt) Mặc dù người Nhật cho rằng phụ nữ càng trẻ sẽ càng hấp dẫn nhưng với câu tục ngữ này người vợ được so sánh với miso là món ăn gần gũi quen thuộc của người Nhật, miso trở nên ngon hơn khi lưu trữ trong thời gian dài cũng giống như người vợ càng nhiều tuổi càng gắn bó lâu dài thì càng hấp dẫn và ấm áp
Sức mạnh của người phụ nữ cũng được đánh giá tích cực qua câu : "女 子力" (joshiryoku) có nghĩa là "sức mạnh của phụ nữ" và được sử dụng để miêu tả các đặc tính tích cực của phụ nữ, bao gồm sự mạnh mẽ, quyết đoán và thông minh Câu tục ngữ này giúp phụ nữ được tôn vinh và tự tin vào năng lực của mình
"女はやめてくだける”( Onna wa yamete kudakeru) có nghĩa là "Phụ nữ có thể từ bỏ và phá vỡ mọi thứ" Tục ngữ này thể hiện sức mạnh, tính kiên định và quyết đoán của phụ nữ Nó cũng đưa ra một thông điệp tích cực rằng phụ nữ có thể đảm đương vai trò dẫn đầu trong công việc và cuộc sống
"女 は 悲 し い と き ほ ど 美 し い ” (Onna wa kanashii toki hodo utsukushii) có nghĩa là (Phụ nữ càng buồn thì càng đẹp) Tục ngữ này thể hiện sự đồng cảm với phụ nữ trong những thời điểm khó khăn và cho thấy rằng sự đau khổ có thể giúp phụ nữ trưởng thành và trở nên xinh đẹp hơn
61 c) Về vai trò trong gia đình và xã hội
Việc sử dụng những câu tục ngữ như “女は国の平らげ" (onna wa kunino hirage) (phụ nữ mở mang đất nước) hoặc “女ならで世が明けぬ” (onnanarade yoga akenu) (chỉ có phụ nữ mới làm sáng tỏ thế giới) Câu tục ngữ xây dựng hỉnh ảnh tích cực về vai trò của người phụ nữ ngoài xã hội, vượt cả tầm quốc gia, bởi vì nhờ có phụ nữ nên thế giới sẽ có sự hòa bình và an nhiên