1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI LUẬN Chiến lược kinh doanh quốc tế của KPMG INTERNATIONAL. ppt

30 1,3K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiến lược Kinh Doanh Quốc Tế Của KPMG International
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 428,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lĩnh vực kiểm toán Công ty thành viên của KPMG cung cấp các dịch vụ kiểm toán độc lập được thiết kế nhằm tăng độ tin cậy của thông tin được chuẩn bị bởi khách hàng để các nhà đầu tư, cá

Trang 1

BÀI LUẬN Chiến lược kinh doanh quốc tế của

KPMG INTERNATIONAL

Trang 2

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY KPMG

1.1 Thông tin chung

Tên đầy đủ: KPMG International

Trụ sở chính: Burgemeester Rijnderslaan 20 - 1185 MC Amstelveen – Hà Lan

Website: http://www.kpmg.com

Logo:

Khẩu hiệu: Think big

1.2 Lịch sử hình thành

- Công ty được thành lập năm 1870 khi William Barclay Peat mở một tổ chức

kế toán tại London

- Năm 1911 William Barclay Peat & Co và Marwick Mitchell & Co sáp nhập thành Peat Marwick Mitchell & Co, sau này được gọi là Peat Marwick

- Năm 1917 Piet Klynveld mở công ty kế toán tại Amsterdam Sau đó được nhập với Kraayenhof thành Klynveld Kraayenhof & Co

- Năm 1979 Klynveld Kraayenhof & Co (Hà Lan), Thomson McLintock (Hoa

Kỳ, thành lập năm 1877) and Deutsche Treuhandgesellschaft (Đức) sáp nhập thành KMG (Klynveld Main Goerdeler) như một tổ chức nghề nghiệp phi chính phủ để tiến tới thành lập một công ty quốc tế trụ sở ở Châu Âu

- Năm 1987 KMG và Peat Marwick tham gia vào vụ đại hợp nhất đầu tiên trong ngành kế toán và tạo nên công ty gọi là KPMG

- KPMG là cụm từ viết tắt của các nhà sáng lập: “K” có nghĩa là do Piet

Klynveld ; “P” có nghĩa là do William Barclay Peat; “M” bắt nguồn từ James Marwick ; “G” là do Tiến sỹ Reinhard Goerdeler, nhiều năm làm chủ tịch của KPMG, có công hợp nhất thành KPMG ngày nay

1.3 Ngành nghề kinh doanh

KPMG quốc tế là một mạng lưới toàn cầu bao gồm các công ty thành viên chuyên nghiệp, cung cấp các dịch vụ Kiểm toán, Thuế và Tư vấn Các công ty thành viên hoạt động độc lập trong mạng lưới KPMG quốc tế KPMG quốc tế không cung cấp dịch vụ cho khách hàng Không công ty thành viên nào có quyền buộc KPMG quốc tế với bên thứ 3 hoặc ngược lại, KPMG quốc tế cũng không có quyền buộc các công ty thành viên với bên thứ 3

1.3.1 Lĩnh vực kiểm toán

Công ty thành viên của KPMG cung cấp các dịch vụ kiểm toán độc lập được thiết kế nhằm tăng độ tin cậy của thông tin được chuẩn bị bởi khách hàng để các nhà đầu tư, các chủ nợ và các bên liên quan khác sử dụng, theo luật định của từng

Trang 3

quốc gia yêu cầu Dịch vụ kiểm toán cũng bao gồm nhiều hình thức chứng thực báo cáo khác nhau

Các dịch vụ kiểm toán:

- Dịch vụ chứng thực: Là dịch vụ được các chuyên gia kiểm toán của KPMG cung cấp nhằm giúp các khách hàng của công ty thành viên KPMG thực hiện các vấn đề cụ thể - đó là các báo cáo về tiềm năng của công ty và những hình thức chứng thực khác như: việc bảo đảm độ tin cậy, tính hợp lý về sản phẩm hay dịch vụ của công ty là khách hàng của KPMG Các dịch vụ này được thực hiện theo tiểu chuẩn quốc tế cam kết về kế toán hoặc theo tiêu chuẩn quốc gia đang áp dụng

- Dịch vụ kiểm toán tài chính: Phương pháp kiểm toán của KPMG được dựa trên một phương pháp phù hợp, tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế về kiểm toán Phương pháp kiểm toán được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cốt lõi liên quan tới vấn đề đạo đức, tính độc lâp, chuyên nghiệp, tính toàn vẹn

mà tất cả các công ty thành viên và từng nhân viên của công ty đều tuân thủ Các chuyên gia tận tụy và có kỹ năng nghề nghiệp cao của KPMG làm việc, hợp tác với khách hàng là giám đốc điều hành, ban giám đốc, các nhà quản lý, và các nhà nghiên cứu để nhằm hiểu được các biến động của môi trường kinh doanh Sau đó, KPMG sẽ chia sẻ những kiến thức của các công ty thành viên với khách hàng trên toàn cầu thông qua trung tâm tài nguyên sau: ACI (The Audit Committee Institute) - Hiệp hội ủy ban kiểm toán; The International Standards Group - Nhóm tiêu chuẩn quốc tế; The 404 Institute (Hiệp hội 404)

1.3.2 Lĩnh vực thuế

Dịch vụ thuế của công ty được thiết kế để đáp ứng nhu cầu khách hàng Các công ty thành viên kết hợp với khách hàng để việc tuân thủ thuế hiệu quả, quản lý rủi ro thuế và kiểm soát chi phí liên quan

Theo quan điểm doanh nghiệp, hoạt động quản lý thuế là một vấn đề ngày càng được ưu tiên, vì luật pháp ngày càng phức tạp hơn KPMG làm việc với khách hàng để thiết lập các chính sách và quy trình thuế, nhằm xác định rằng trách nhiệm tuân thủ thuế được thực hiện, các cơ hội hoạch định được thực hiện, và đảm bảo mối liên hệ thích hợp với thị trường và các cơ quan quản lý nhà nước Bằng cách này, Ban Giám đốc có thể tin tưởng công tác thuế được quản lý tốt và tiếp tục tập trung vào công tác quản lý hoạt động kinh doanh

KPMG sử dụng kiến thức thuế chuyên ngành, và hiểu biết sâu rộng về cách thức hài hòa vấn đề thuế trong bức tranh kinh doanh rộng lớn hơn, giúp khách hàng thực hiện trách nhiệm tuân thủ thuế Cho dù khách hàng là doanh nghiệp hay cá nhân, KPMG đều cộng tác theo nhóm để giúp khách hàng đạt được mục tiêu của

họ

Trang 4

Đặc tính này được tăng cường nhờ khả năng của KPMG trong việc hình thành nên các nhóm chuyên gia đa ngành, dựa vào nguồn lực của KPMG và hệ thống mạng lưới toàn cầu không chỉ trong lĩnh vực thuế, mà còn trong lĩnh vực kiếm toán

và tư vấn Nhân sự của KPMG hoạt động trong các nhóm chuyên ngành, giúp khách hàng tiếp cận với các chuyên gia tư vấn am hiểu các vấn đề cụ thể về thuế,

sử dụng kỹ thuật chuyên môn một cách thuần thục nhằm hỗ trợ công tác trích xuất

và quản lý dữ liệu KPMG cũng duy trì đối thoại thường xuyên và mang tính xây dựng với các cơ quan chức năng về thuế

KPMG làm việc hết sức mình để xây dựng và duy trì lòng tin, sự tôn trọng và

sự tin tưởng không chỉ đối với khách hàng và các cơ quan thuế mà còn đối với các cộng đồng nơi KPMG làm việc KPMG tin rằng các cam kết này đóng vai trò quan trọng trong việc khẳng định KPMG là một nhà tư vấn đáng tin cậy và được đánh giá cao, cũng như đã được tin tưởng là nhà tuyển dụng đáng lựa chọn

1.3.3 Lĩnh vực tư vấn

Dịch vụ tư vấn của KPMG thực hiện trên toàn cầu kết hợp các kỹ năng của chuyên gia nhằm đưa ra những lời khuyên khách quan, giúp công ty khách hàng duy trì và nâng cao những giá trị vốn có

Bao gồm các hoạt động:

- Tư vấn quản trị: tư vấn về kinh doanh hiệu quả, quản lý tài chính, công nghệ thông tin, nhân sự và luân chuyển nhân sự

- Tư vấn rủi ro: IARCS, tư vấn rủi ro IT

- Tư vấn trong lĩnh vực giao dịch và tái cơ cấu: tài chính doanh nghiệp, tái cơ cấu, mô hình nhóm kinh doanh, dịch vụ giao dịch,

Hoạt động tư vấn của KPMG mang đến cho khách hàng doanh nghiệp:

Trang 5

quan hệ với khách hàng, bảo vệ và nâng cao uy tín của mình KPMG đặt mục tiêu kết hợp các giá trị này vào các mối quan hệ với khách hàng và đồng nghiệp, điều này được phản ánh trong những công việc mà nhân viên KPMG làm mỗi ngày và các mối quan hệ họ có với nhau và với khách hàng của công ty

Công ty lãnh đạo bằng cách nêu gương Công ty làm việc trên tinh thần đồng đội Công ty tôn trọng từng cá nhân

Công ty tìm hiểu sự thật và thấu hiểu bản chất Công ty cởi mở và thành thật trong giao tiếp Công ty cam kết với cộng đồng

Quan trọng hơn hết, công ty hành động liêm trực

1.5 Quy mô và cơ cấu tổ chức

1.5.1 Quy mô

- KPMG quốc tế là một mạng lưới toàn cầu gồm các công ty thành viên hoạt động trên 821 thành phố ở 152 quốc gia thuộc 3 khu vực chính: Châu Mỹ; Châu Á Thái Bình Dương; Châu Âu, Trung đông và Châu Phi

- Nguồn nhân lực: Công ty sử dụng khoảng 152.000 người, trong đó có hơn 8.100 đối tác, gần 111.000 chuyên gia dịch vụ khách hàng và hơn 24.000 nhân viên hành chính và hỗ trợ

1.5.2 Cơ cấu tổ chức

Hội đồng quản trị toàn cầu là quản trị chính và là cơ quan giám sát Trách nhiệm chính của họ bao gồm việc phê duyệt chiến lược dài hạn, bảo vệ và nâng cao thương hiệu KPMG và phê duyệt các chính sách và các quy định Bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Chủ tịch của ba khu vực (Châu Mỹ, Châu Á Thái Bình Dương, và châu Âu, Trung Đông và châu Phi)

1 Michael Andrew Chủ tịch HĐQT KPMG quốc tế

2 Alan Buckle Phó chủ tịch HĐQT KPMG quốc tế

3 John Veihmeyer Chủ tịch HĐQT KV Châu Mỹ

4 Rolf Nonnenmacher Chủ tịch HĐQT KV châu Âu, Trung Đông, Châu Phi

5 Hideyo Uchiyama Chủ tịch HĐQT KV Châu Á Thái Bình Dương

Hội đồng quản trị toàn cầu tập trung vào nhiệm vụ quản trị cao cấp, bao gồm đại diện từ 54 công ty thành viên

Trang 6

Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức

1.6 Văn hóa Công ty

Các quy tắc ứng xử của KPMG toàn cầu xác định các tiêu chuẩn đạo đức mà KPMG yêu cầu ở các nhân viên của mình trên toàn thế giới Quy tắc này áp dụng như nhau từ Tổng giám đốc đến nhân viên tại các công ty thành viên KPMG - bất

kể đó là ai hay ở vị trí nào Nó đặt ra các nguyên tắc đạo đức giúp các Giám đốc và nhân viên hiểu và tôn trọng những nguyên tắc này Văn hóa của KPMG bắt nguồn

từ chính giá trị của công ty - giá trị tính liêm trực, trung thực trong hành động mọi lúc, mọi nơi Đó là một nền văn hóa của niềm tin và sự hợp tác, tính linh hoạt và đa dạng, một nền văn hóa trong đó mọi người tự do chia sẻ kiến thức và thực sự cố gắng để mang lại những điều tốt đẹp nhất Khách hàng lựa chọn KPMG vì đạo đức nghề nghiệp, lòng trung thành và khả năng tiếp cận; những người tài năng chọn cống hiến cho KPMG cũng vì chính văn hóa tổ chức lành mạnh và thống nhất trong mạng lưới toàn cầu

Chủ tịch KPMG toàn cầu

Chủ tịch

KPMG KV

Châu Mỹ

Chủ tịch KPMG KV Châu Âu, Trung Đông, châu Phi

Chủ tịch KPMG KV Châu Á Thái Bình Dương

KPMG Iceland, Israel,…

KPMG Trung Quốc

KPMG Việt Nam,…

KPMG Braxin

KPMG Angola, Zimbabwe,

KPMG Hàn Quốc

Trang 7

CHƯƠNG II: MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ

1.1 Môi trường chung

Môi trường kinh doanh quốc tế bao gồm môi trường kinh tế, môi trường chính trị, pháp luật, môi trường văn hóa

KPMG international là một công ty đa quốc gia, môi trường kinh doanh quốc

tế chính là môi trường kinh doanh ở các quốc gia khác nhau, nơi mà công ty có các công ty thành viên hoạt động

1.1.1 Môi trường kinh tế

Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực hội tụ nhiều cơ hội lớn, kinh tế phục hồi mạnh mẽ, các nước lớn và các trung tâm chính trị - kinh tế của thế giới dành sự quan tâm ngày càng cao đến khu vực này

a Thuận lợi

- Điểm sáng nhất trong nền kinh tế khu vực châu Á năm 2011 là khả năng các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trụ vững trước những biến động về kinh tế, các nền kinh tế ASEAN đã nỗ lực để phục hồi và cơ bản đạt được những chỉ tiêu đề ra Khu vực này tiếp tục được kỳ vọng là đầu tàu của sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2012

- Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, trong năm 2012 với tốc độ tăng trưởng chỉ giảm nhẹ còn 7,8% không bị suy giảm nặng nề như nhiều người từng lo ngại Trong vai trò là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và có nguồn dự trữ ngoại tệ lên tới 3.200 tỷ USD, Trung Quốc thực sự là "nhà đầu tư" triển vọng để châu Âu hiện thực hóa các giải pháp đối phó với vấn đề nợ công

- Kinh tế Nhật Bản được trông đợi sẽ phục hồi vào năm 2012 do sản xuất công nghiệp sẽ trở lại bình thường và gói kích thích tài chính phát huy tác dụng trong khi quá trình tái thiết sau thảm họa tăng tốc Sản xuất công nghiệp của Nhật được dự đoán sẽ tăng 9,5% trong năm 2012 sau khi đã giảm 2,8% trong năm 2011 Sự phục hồi tăng trưởng của Nhật Bản là nhân tố quan trọng giúp giảm nhẹ tác động của sự suy thoái trong khu vực sử dụng đồng euro

- Áp lực lạm phát giảm bớt, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia và Việt Nam là những quốc gia có chỉ số lạm phát đi xuống trong những tháng gần đây

b Khó khăn

- Nguy cơ lớn nhất đối với triển vọng kinh tế khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đến từ Khu vực đồng euro Nếu như nỗ lực bình ổn kinh tế của các chính phủ khu vực đồng euro thất bại thì khu vực này có thể bước vào khủng hoảng kinh tế ngày càng leo thang Bất cứ một biến động nào như thế cũng có nguy cơ làm bùng phát suy thoái trên phạm vi toàn cầu với các cú sốc trầm trọng lan đến châu Á

Trang 8

- Tình trạng mất cân đối và dễ bị tổn thương của kinh tế Trung Quốc đã tăng lên trong hai năm qua

Với những gì đã đạt được trong năm qua, hoàn toàn có cơ sở để khẳng định rằng châu Á -Thái Bình Dương sẽ không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động thương mại sôi động nhất thế giới trong năm 2012 mà còn là điểm tựa cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu

Khu vực Châu Mỹ

Nền kinh tế Châu Mỹ, nổi bật nhất là Mỹ đứng đầu nền kinh tế thế giới; tuy nền kinh tế giữa các quốc gia chênh lệch khá lớn nhưng Châu Mỹ đóng góp đến gần một nửa tổng GDP toàn thế giới, về điều kiện sống, Châu Mỹ là lục địa có mức sống cao nhất trên thế giới Trong đó, sự ảnh hưởng của nền kinh tế Mỹ cũng bao phủ kinh tế toàn khu vực hiện nay thực trạng kinh tế Mỹ đang rất khó khăn và triển vọng tăng trưởng kinh tế vẫn rất mờ mịt

Hai năm sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, kinh tế Mỹ hiện nay tuy có thể được coi là thoát khỏi khủng hoảng nhưng mức tăng trưởng chưa ổn định Những dấu hiệu đều cho thấy bức tranh về kinh tế khó khăn ở thời điểm hiện tại và cả trong thời gian tới Giá dầu tăng, thâm hụt ngân sách liên bang, nợ công khổng lồ, nguy cơ chính phủ không có tiền chi tiêu đến mức phải đóng cửa nếu như không nâng mức giới hạn vay nợ của chính phủ, thất nghiệp cao… tất cả những nhân tố này góp phần kìm hãm sự phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế

Thuận lợi:

- Việc thống nhất ba tổ chức kinh tế ở Châu Phi là Thị trường chung Đông - Nam Châu Phi, Thị trường chung Đông Châu Phi và Thị trường chung Nam Châu Phi đã thúc đẩy buôn bán nội khối tăng lên bù đắp tổn thất do thị trường thế giới bị suy giảm, đẩy tỉ lệ buôn bán nội khối cao hơn 10%

- Diễn đàn kinh tế Châu Phi đã đưa ra “gói giải pháp” đẩy mạnh phát triển kinh

tế toàn châu lục, nhấn mạnh đa dạng hóa thị trường và sản phẩm, cần mở rộng hơn nữa các kênh trao đổi buôn bán với các nước, nhất là các nước đang phát triển ở Châu Á, Mỹ La tinh Kim ngạch buôn bán với các nước Châu Á và đang phát triển tăng lên đáng kể, hiện nay tỉ lệ kim ngạch buôn bán với các nước Châu Á chiếm tới 38,5% tổng kim ngạch Châu Phi, trong đóTrung Quốc

là đối tác buôn bán lớn nhất của các nước Châu Phi

Trang 9

- Nhân tài ở nước ngoài trở về các nước Châu Phi làm việc ngày càng nhiều, đầu tư nước ngoài FDI vào Châu Phi tăng lên làm cho tiến trình đô thị hóa ở Châu Phi được đẩy nhanh và là nhân tố thúc đẩy GDP tăng trưởng trong năm

2011

Khó khăn và nguy cơ tiềm ẩn đối với kinh tế Châu Phi

- Về thiên tai, năm 2011 hạn hán đã làm 13 triệu người lâm vào nạn đói nghiêm trọng, tỷ lệ đói nghèo gia tăng, tạogánh nặng đối với nền kinh tế Châu Phi

- Về ngoại thương năm 2011 Châu Âu - thị trường và đối tác buôn bán lớn nhất của các nước Châu Phi chiếm tới trên 60% xuất khẩu - lại lâm vào khủng hoảng nợ công ngành chế tạo của Châu Phi phụ thuộc trên 30% vào thị trường EU, vì vậy dự kiến xuất khẩu năm 2012 sẽ giảm sút

- Nợ nước ngoài của Châu Phi năm qua cũng tăng lên đáng kể, như nợ nước ngoài của các nước ở nam xa mạc Sahara hiện tới 231 tỉ USD trong khi viện trợ nước ngoài chỉ có 10 tỉ USD Đây cũng là nhân tố kìm hãm kinh tế tăng trưởng năm 2012 tới

Châu Âu

Giống như tất cả các lục địa khác, nền kinh tế Châu Âu là một nền kinh tế không đồng đều giữa các quốc gia và các khu vực, nhưng tính theo GDP và điều kiện sống thì Châu Âu vẫn là lục địa có mức sống cao trên thế giới

Năm 2011, là năm khu vực Châu Âu lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính và

nợ công Hy Lạp là hình ảnh thu nhỏ của cuộc khủng hoảng nợ công kéo dài suốt hai năm nay Cuộc khủng hoảng khởi nguồn từ Hy Lạp, sau đó lan sang Ireland trước khi tràn tới Bồ Đào Nha, rồi đe dọa Tây Ban Nha, Italy và thậm chí cả Pháp

Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công nghiêm trọng, các nước bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng nợ công đã phải nhờ tới cứu trợ từ bên ngoài; đồng thời áp dụng các biện pháp "thắt lưng buộc bụng" đầy khắc khổ Các nhà lãnh đạo EU đã cố gắng làm những gì có thể để đưa Eurozone thoát khỏi vực thẳm từ việc mở rộng quy mô và quyền hạn cho Quỹ bình ổn tài chính châu Âu (EFSF) nhằm dựng "bức tường lửa" ngăn chặn bệnh nợ công lan rộng cho tới việc Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) bất ngờ mua trái phiếu chính phủ của những nước gặp khó khăn về tài chính Tuy nhiên, nỗ lực cứu trợ của quốc tế cũng chưa đủ sức dập tắt nguy cơ khủng hoảng nợ công biến thành khủng hoảng xã hội và thể chế trong khu vực

Khu vực Trung Đông

Trung Đông có vị trí chiến lược quan trọng, ở ngã 3 giữa châu Á, châu Phi và châu Âu, có kênh Suez nối liền Địa Trung Hải với Ấn Độ Dương, con đường hàng hải ngắn nhất từ Đông sang Tây Trung Đông có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt lớn nhất, chiếm 68% trữ lượng dầu thế giới, nơi cung cấp dầu mỏ chính cho Mỹ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc

Trang 10

Kinh tế Trung Đông những năm gần đây liên tục tăng trưởng Tuy thường xuyên xẩy ra các vụ xung đột, song kinh tế, thương mại khu vực Trung Đông vẫn phát triển do các nước có chính sách phát triển kinh tế phù hợp, giá dầu mỏ, hàng hóa phi dầu mỏ tăng cao

Trong xu thế toàn cầu hoá và an ninh chính trị trong khu vực, nhiều nước ở khu vực Trung Đông đã điều chỉnh chính sách, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại và coi trọng quan hệ hợp tác với nhiều nước ở châu Á nhằm giảm bớt sự lệ thuộc vào các nước lớn ở phía Tây và tranh thủ mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại với châu Á

1.1.2 Môi trường chính trị, pháp luật

Môi trường chính trị, pháp luật phản ánh mức độ rủi ro chính trị ở mỗi quốc gia Những diễn biến tiêu cực về chính trị, pháp luật có thể gây tổn hại tới lợi nhuận trong kinh doanh của các Công ty đa quốc gia Những quốc gia có hệ thống chính trị và pháp luật ổn định sẽ ít chưa đựng những rủi ro trong kinh doanh và ngược lại

Một vài nét cơ bản về tình hình chính trị trên thế giới ảnh hướng xấu tới hoạt động kinh doanh của các Công ty đa quốc gia

Thất bại trong những thỏa thuận chính sách và nguy cơ bị hạ bậc tín nhiệm của Mỹ

Thất bại của Mỹ trong việc mở rộng trợ cấp thất nghiệp và chính sách bảo hiểm

xã hội cho người lao động có thể làm ảnh hưởng đến GDP Dự kiến, năm 2012 nhiều tổ chức xếp hạng tín dụng sẽ tiếp tục hạ bậc tín nhiệm của Mỹ

Sự bất hợp tác của Đảng Cộng hòa trong lưỡng viện lập pháp mà trong đó Đảng Cộng hòa lại kiểm soát Hạ viện càng khiến giới kinh tế và kinh doanh cũng như đối tác bên ngoài và người dân trong nước thêm bi quan về sự phục hồi kinh tế

Trung Đông và Bắc Phi: phong trào Mùa xuân Ả Rập có thể cản trở việc sản xuất dầu mỏ

Không thể phủ nhân những tác động to lớn của những sự kiện tại Ai Cập và Syria Thị trường tập trung nhiều hơn vào những yếu tố như sản lượng cũng như giá dầu Tuy nhiên những lo ngại gần đây về tình hình tại Israel/ Iran sau khi Mỹ rút quan khỏi Iraq cũng là những đe dọa đối với tình hình sản xuất dầu

Kinh tế Trung Quốc đang trong nguy cơ tụt dốc

Từ tháng 10/2012 đến tháng 3/2013, đảng cộng sản Trung Quốc sẽ chuyển giao quyền lực cho thế hệ lãnh đạo thứ 5 Giai đoạn quan trọng này có thể ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế của Trung Quố nhưng các nhà lãnh đạo nước này sẽ

nỗ lực hết sức để duy trì và phát triển nền kinh tế lớn này

Hàn Quốc đối mặt với tình hình chính trị căng thẳng với Triều Tiên trong khi cuộc bầu cử đang tiến gần

Khủng bố Pakistan có thể sẽ tấn công Ấn Độ

Trang 11

Putin trở thành tổng thống có thể là kết quả của cuộc bầu cử tại Nga tới đây

Chính sách kinh tế tại Nga sẽ có những thay đổi trong trường hợp Putin ông lại trở thành tổng thống vào tháng 4/2012

Thái Lan có thể đối mặt với cuộc chiến tranh giai cấp

Cuộc tổng tuyển cử tại Malaysia có thể gây ra một sự xáo trộn chính trị

Nhìn chung, tình hình chính trị trên thế giới đã có rất nhiều biến cố xảy ra theo hướng tiêu cực và dự kiến năm 2012 rủi ro chính trị có thể tiếp tục xảy ra và ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế trên thế giới

1.1.3 Môi trường văn hóa

Các tập đoàn đa quốc gia có nhiều chi nhánh hoạt động ở nhiều nước trên thế giới, thường phải đối mặt với môi trường kinh doanh đa sắc tộc, đa quốc tịch và đa văn hóa

Một số nét cơ bản về văn hóa kinh doanh trong môi trường quốc tế mà các Công ty đa quốc gia cần phải nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng nếu không muốn bị thất bại trên đất khách

Văn hóa hội họp

Thời gian các cuộc họp kinh doanh nói chung ở các nước Châu Á và Nam Mỹ thường kéo dài trong khi ở Mỹ các cuộc họp thường diễn ra ngắn và luôn đề cao sự đúng giờ Hầu hết các quyết định kinh doanh ở các nước Châu Á và Nam Mỹ được đưa ra sau khi thảo luận Tại Nhật Bản, thị trường khó tính thứ hai thế giới thì đạo đức kinh doanh luôn được đặt lên hàng đầu Đúng giờ là điệp khúc cần được lưu trong bộ nhớ nếu bạn có ý định đầu tư vào đất nước hoa anh đào và ở Đức Các kế hoạch ngắn hạn luôn là sự lựa chọn của các công ty Nam Mỹ

Truyền thông

Nếu như ở Đức và Pháp ưu tiên giao tiếp bằng văn bản thì ở Argentina và Brazil lại lựa chọn giao tiếp bằng lời nói Pháp đặt tầm quan trọng của truyền thông thông qua việc sử dụng đúng ngữ pháp, trong khi Đức lại hy vọng các thông tin liên lạc kinh doanh được chính xác Sự hài hước thường được sử dụng trong giao tiếp văn phòng ở Mỹ và Australia, không giống như Đức, Nhật Bản và Trung

Trang 12

Quốc Quá khiêm tốn không phải là cách làm được đánh giá cao tại Mỹ nhưng điều này lại trái ngược đối với các nước Châu Âu Họ yêu sự khiêm tốn và đề cao những DN “biết mình biết ta”, không khoa trương thanh thế và tự mãn với bản thân Nếu muốn thành công ở Anh thì giao tiếp là chìa khóa giúp bạn đưa DN lên đỉnh cao

Thâm niên, nhân tài và việc ra quyết định

Các nước Châu Á luôn đề cao thâm niên của doanh nghiệp trong khi Mỹ, Úc

và Đức lại đề cao những doanh nghiệp trưng dụng được nhiều nhân tài Tại Pháp, một sự kết hợp giữa thâm niên và nhân tài là sự lựa chọn hàng đầu Việc ra quyết định đối với các nước ở Nam Mỹ không phụ thuộc hoàn toàn vào người chủ trì cấp cao mà thuộc về một tổ chức, một hội đồng thẩm định

Quà tặng và ủng hộ cá nhân

Quà tặng và việc ủng hộ cá nhân là phổ biến ở các nước Châu Âu và Nam Mỹ nhưng lại khó vận dụng ở Mỹ - nơi có những nguyên tắc nghiêm ngặt về trao đổi trong một tổ chức Bởi lẽ, người Mỹ cảm thấy rằng quà tặng và ủng hộ cá nhân sẽ ảnh hưởng đến sự công bằng của mỗi quyết đinh Điều này sẽ tạo ra sự bất công,

sự khuất tất và đôi khi là dẫn đến cả những sai lầm

Hiểu biết về sự khác biệt văn hóa giữa các quốc gia và thực thi theo chính sách

“ở đâu âu đấy” sẽ giúp doanh nghiệp thích ứng nhanh chóng với môi trường mới

và từng bước đến gần với thành công Nên dành thời gian nghiên cứu những đặc trưng về văn hóa, bởi mỗi quốc gia đều có những đặc điểm riêng Vì vậy, thay đổi theo từng môi trường và làm quen dần với từng nền văn hóa sẽ giúp doanh nghiệp tránh được những sai lầm không đáng có và chiếm được cảm tình của các đối tác một cách tự nhiên

1.2 Môi trường ngành

1.2.1 Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp

Số lượng và quy mô nhà cung cấp dịch vụ kiểm toán, thuế và tư vấn rất nhiều trên thế giới, có thể kể đến một số công ty lớn như Deloitte, Ernst & Young (E&Y), KPMG, PricewaterhouseCoopers (PwC), Baker Tilly, BDO, CBIZ, Crowe Horwath, Grant Thornton, Huron, RSM McGladrey, Protiviti, Accenture, Andersen, Bearing Point, Capgemini,

Tuy nhiên, trên thị trường chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động kinh doanh trong ngành đó là nhóm 4 công ty: Deloitte, Ernst & Young (E&Y), KPMG, PricewaterhouseCoopers (PwC) được gọi dưới tên Big4 - chiếm đến 85% thị phần kiểm toán tại châu Âu và tỷ lệ tương tự tại hầu hết các thị trường khác Như vậy, áp lực cạnh tranh của các nhà cung cấp là không cao

Trang 13

- Dịch vụ kiểm toán: Mảng doanh thu lớn nhất của các hãng, chiếm khoảng 47% tổng doanh thu, những tỉ lệ này qua các năm đã bị giảm dần

- Thuế: Doanh thu từ dịch vụ tư vấn thuế, chiếm khoảng 1/4 doanh thu của các hãng Big 4 và tỷ lệ này ổn định qua các năm

- Dịch vụ tư vấn: Tỷ lệ doanh thu từ dịch vụ tư vấn tăng Năm 2004, doanh thu của dịch vụ này chiếm 22% của tổng doanh thu và đã tăng mạnh lên mức 29% trong năm 2010

1.2.2 Áp lực cạnh tranh từ khách hàng

Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngành, có thể gây áp lực với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điểu khiển cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng

Với các công ty thành viên ở 152 quốc gia, KPMG hợp tác với khách hàng thuộc nhiều khu vực khác nhau như công ty, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức phi lợi nhuận Rất nhiều trong số khách hàng này có hoạt động xuyên quốc gia, KPMG giúp khách hàng vượt qua những rào cản về ngôn ngữ và văn hóa và đáp ứng được với các hệ thống pháp lý và hệ thống quản trị nhà nước mà họ chưa biết đến

1.2.3 Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn

Theo tình hình kinh tế thị trường hiện nay, rất nhiều DN lâm vào tình trạng khó khăn và cần tới dịch vụ tư vấn của các chuyên gia đầu ngành Như vậy, nhu cầu đối với ngành ngày càng tăng cao, mặc dù rào cản gia nhập ngành là cao vì nguồn lực quan trọng của ngành là nhân lực - người với bề dày kinh nghiệm, kiến thức sâu rộng trong lĩnh vực chuyên môn kiểm toán, thuế và tư vấn cho các doanh nghiệp, bên cạnh đó là công nghệ hiện đại để có thể bảo mật thông tin tuyệt đối cho khách hàng, xử lý số liệu chính xác, nhanh chóng và đồng bộ theo từng tiêu chuẩn riêng ở từng quốc gia và từng ngành, lĩnh vực cụ thể; như vậy sẽ có nhiều doanh nghiệp chuẩn bị gia nhập vào thị trường của ngành dịch vụ kiểm toán, thuế

Trang 14

vẫn nằm trong tay 4 nhà cung cấp dịch vụ Big4 nên áp lực cạnh tranh nội bộ ngành không cao

2.6 Áp lực từ các bên liên quan mật thiết

Các bên liên quan mật thiết như: Chính phủ, Cộng đồng, Các hiệp hội, Các chủ

nợ, nhà tài trợ, Cổ đông, Ví dụ: Đầu năm 2012, Ủy viên thương mại của EC - Michel Barnier đã trình lên Nghị viện châu Âu: các công ty kiểm toán trong nhóm

“Big Four” sẽ phải chia tách thành 2 bộ phận hoạt động riêng rẽ là kiểm toán và tư vấn Theo thông lệ, một công ty kiểm toán không được phép đồng thời cung cấp dịch vụ tư vấn và hậu kiểm cho một doanh nghiệp

Tuy nhiên việc 4 công ty chiếm đến 85% thị phần kiểm toán tại châu Âu và tỷ

lệ tương tự tại hầu hết các thị trường khác khiến dư luận cho rằng việc “thông đồng” để đảm bảo lợi ích chéo là rất dễ xảy ra Điều này phần nào có cơ sở sau khi rất nhiều doanh nghiệp gần đây phải nộp đơn phá sản dù trước đó được kiểm toán công nhận lành mạnh về tài chính

Nếu đề xuất này được phê duyệt sẽ gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh của các công ty kiểm toán đa quốc gia này

3 Môi trường cạnh tranh

KPMG là một trong những công ty dịch vụ chuyên nghiệp cùng với Deloitte Touche Tohmatsu (Deloitte), Ernst & Young (E&Y) và PricewaterhouseCoopers (PwC) lập thành nhóm bốn công ty kiểm toán lớn nhất thế giới được biết đến với tên Big Four

Cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong lĩnh vực kế toán, thuế, và tư vấn hiện nay nổi trội là sự cạnh tranh chủ yếu của bốn công ty trong nhóm Big 4 trên thị trường quốc tế

Trong số bốn công ty, mỗi công ty lại có những thế mạnh nổi trội trong các ngành, lĩnh vực Ví dụ như PwC thống trị trong việc kiểm toán những công ty thuộc ngành dầu khí và than đá, trong khi KPMG lại có thế mạnh trong việc kiểm toán cho các công ty thuộc lĩnh vực tài chính

Sau một thời gian tăng trưởng doanh thu vượt bậc liên tục từ đầu những năm

2000 đến năm 2008, tổng doanh thu quy đổi ra USD của Các hãng Big 4 năm 2009 giảm 7% so với năm 2008 Doanh thu quy đổi ra USD của Deloitte giảm 5%, của Ernst & Young và PricewaterhouseCoopers giảm 7% và của KPMG giảm tới 11%

Từ năm 2010 tình hình đã được cải thiện, tới năm 2011, tổng doanh thu quy đổi ra USD của Các hãng Big 4 đạt 103.6 tỷ USD, tăng 9.05%% so với 95.1 tỷ USD đạt được năm 2010 Doanh thu quy đổi ra USD tăng 8.02% đối với Ernst & Young, tăng 8.27% đối với Deloitte, tăng 9.774% đối với PwC, và 10.08% đối với KPMG, hãng có tốc độ tăng trưởng doanh thu cao nhất Hai năm liên tiếp KPMG luôn giữ tốc độ tăng trưởng doanh thu cao nhất trong nhóm Big4

Trang 15

Bảng 1: Doanh thu toàn cầu của nhóm Big 4 từ năm 2007 đến 2011

thu

% tăng

Doanh thu

% tăng

Doanh thu

% tăng

Audit 10,48 5.8 8,6 14.9

Tax 4,69 13 2,3 15.1 7,62 8

KPMG có bất lợi khi là công ty có doanh thu, quy mô nhỏ nhất trong nhóm Big

4 mặc dù khoảng cách này chưa nhiều Điều này cũng tạo đôi chút bất lợi cho công

ty trong việc cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Doanh thu của KPMG giảm nhiều nhất từ 2008 đến 2009 và đạt mức tăng

trưởng cao nhất từ năm 2010 đến 2011 Với mức doanh thu 22.71 tỉ

USD cho năm tài chính kết thúc vào 30/9/2011, so với 20,63 tỉ USD trong năm

trước, KPMG tăng trưởng 10.08% theo đồng đô la Mỹ, tăng 6.2% theo tiền địa

phương Trong số các khu vực địa lý thì Châu Á Thái Bình Dương vẫn là khu vực

phát triển mạnh mẽ nhất của KPMG với mức tăng trưởng 16.6%, tiếp đến là khu

vực châu Mỹ tăng trưởng 10.7% theo đồng đô la Mỹ, cuối cùng là khu vực châu

Ngày đăng: 29/06/2014, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức - BÀI LUẬN Chiến lược kinh doanh quốc tế của KPMG INTERNATIONAL. ppt
Hình 1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức (Trang 6)
Bảng 1: Doanh thu toàn cầu của nhóm Big 4 từ năm 2007 đến 2011 - BÀI LUẬN Chiến lược kinh doanh quốc tế của KPMG INTERNATIONAL. ppt
Bảng 1 Doanh thu toàn cầu của nhóm Big 4 từ năm 2007 đến 2011 (Trang 15)
Hình 2: Mô hình tổ chức KPMG những năm đầu - BÀI LUẬN Chiến lược kinh doanh quốc tế của KPMG INTERNATIONAL. ppt
Hình 2 Mô hình tổ chức KPMG những năm đầu (Trang 17)
Hình 4: Doanh thu hoạt động tư vấn kiểm toán tại các ngành 2009 và 2010 - BÀI LUẬN Chiến lược kinh doanh quốc tế của KPMG INTERNATIONAL. ppt
Hình 4 Doanh thu hoạt động tư vấn kiểm toán tại các ngành 2009 và 2010 (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w