Tiềm năng phát triển Logistics ở Việt Nam hiện nay
Trang 1MỤC LỤC
2- Sự hình thành và phát triển của Logistics 8 II- Vai trò và chức năng nhiệm vụ của Logistcis 11
2- Tìm nguồn hàng và thu mua nguyên vật liệu 16
Chương II: Thực trạng kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam hiện nay 21 I- Thực trạng kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay 21 1- Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về logistics 21 1.1- Logistics là sự phát triển tất yếu của dịch vụ vận tải giao nhận 21 1.2- Lợi ích logistics mang lại cho các doanh nghiệp sản xuất-kinh
doanh 22
2-Thực trạng kinh doanh logistics trong các doanh nghiệp ở Việt Nam 25 2.1- Các hình thức hoạt động kinh doanh logistics ở Việt Nam 25 2.2- Qui mô các doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ logistics ở Việt
Trang 22.3.2- Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối 30 2.3.3 Các công ty cung cấp dịch vụ hàng hóa 31 2.3.4- Các công ty cung cấp dịch vụ logistics chuyên ngành 32 3- Thực trạng hoạt động các dịch vụ logistics của một số doanh nghiệp tiêu biểu
Chương III:Tiềm năng phát triển kinh doanh dịch vụ Logistcis ở Việt Nam 45 I- Tiềm năng phát triển logisctics ở Việt Nam hiện nay 45
2.2- Hệ thống cảng hàng không.47
II- Thuận lợi và khó khăn trong việc kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam 50
1-Thuận lợi trong việc kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam 50 2- Khó khăn trong việc kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam 52 II- Định hướng phát triển logistics ở Việt Nam 54 1- Ban hành chính sách khuyến khích đầu tư phát triển hoạt động kinh doanh
Trang 34- Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực 56
LỜI NÓI ĐẦU
Bước sang thế kỉ XXI nền kinh tế đang trong đà phát triển mạnh mẽ,các lĩnh vực kinh tế đều hoạt động hết công suất của nó Thương mại là mộtngành vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển đó Nó tạo ra một nguồnlợi nhuận khổng lồ đồng thời tạo ra bước ngoặt mới cho nền kinh tế thế giới
Các nguồn tài nguyên trên trái đất là hữu hạn, nhưng ước muốn củacon người là vô hạn Chính vì vậy, Logistcis ra đời để giúp con người sửdụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) một cách tối ưu, để có thể đápứng nhu cầu ngày càng cao của cá nhân và xã hội một cách tốt nhất Tronglịch sử hình thành của mình, Logistcis là từ chuyên môn được sử dụng trongquân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần Sau này thuật ngữLogistics dần được áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, được lan truyền từ châulục này sang châu lục khác, hình thành nên Logistics toàn cầu Logisticsphát triển rất nhanh chóng và cho đến nay đã được ghi nhận như một công
cụ hữu hiệu mang lại thành công cho các doanh nghiệp cả trong khu vực sảnxuất lẫn trong khu vực dịch vụ
Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi cáchoạt động có hệ thống và hiệu quả của hệ thống này có tầm quan trọng lớn,quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗiquốc gia Sự phát triển dịch vụ logistics có lý nghĩa đảm bảo cho việc vận
Trang 4hành sản xuất, kinh doanh Logistcis phát triển tốt sẽ mang lại khả năng cắtgiảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.
Logistics là một ngành mới mẻ ở nước ta tuy nhiên cơ hội cho việcphát triển logistics ở Việt Nam trong tương lai là rất nhiều Chính vì vậy em
đã chọn đề tài “Tiềm năng phát triển Logistics ở Việt Nam hiện nay” để
hiểu rõ hơn các điều kiện mà Việt Nam có thể khai thác để từ đó phát triểnlogistics một cách hiệu quả và bền vững
Trang 5Chương I TỔNG QUAN VỀ LOGISTICS
I- SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LOGISTICS
1- Khái niệm về logistics
Bước vào thế kỉ XX, sản xuất vật chất của xã hội đã đạt được năngsuất lao động cao nhờ áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến và đặc biệt lànhững thành tựu mới trong công nghệ thông tin Tuy nhiên, muốn tối ưu hóaquá trình sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh củahàng hoá trên thị trường, chỉ còn cách cải tiến và hoàn thiện hệ thống quản
lý phân phối vật chất ( Phisical Distribution Management ) để giảm tới mứcthấp nhất thiệt hại do tồn kho, ứ đọng nguyên vật liệu, bán thành phẩm vàthành phẩm trong qua trình sản xuất và lưu thông Hệ thống phân phối vậtchất này còn được gọi là “ logistics”
Trên thực tế, thuật ngữ logistics đã xuất hiện từ rất lâu “Logistics”theo nghĩa đang sử dụng trên thế giới có nguồn gốc từ từ “Logistique” trongtiếng Pháp “Logistique” lại có gốc từ từ “Loger” nghĩa là nơi đóng quân, từnày có quan hệ mật thiết với từ “Lodge”- nhà nghỉ ( một từ cổ trong tếngAnh, gốc Latinh) Ban đầu, thuật ngữ này được sử dụng đầu tiên trong quânđội và mang nghĩa là “hậu cần” hoặc “tiếp vận” Tướng Chauncey B.Baker,tác giả cuốn “Transpotation of Troops and Merterial” có viết: “Một nhánhtrong nghệ thuật chiến đấu có liên quan đến việc di chuyển và cung cấplương thực, trang thiết bị cho quân đội được gọi là “logistics”
Trang 6Cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội, nhiều thập kỉ qua, logistics đượcnghiên cứu sâu và áp dụng sang những lĩnh vực khác như sản xuất, kinhdoanh Thuật ngữ logistics ngày nay được hiểu với nghĩa quản lý hệ thốngphân phối vật chất của các đơn vị sản xuất kinh doanh trong xã hội Nhưngcho đến nay trên thế giới chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa đầy đủ vềlogistics cũng như hệ thống logistics Tùy thuộc vào góc độ tiếp cận mà cáctác giả đưa ra các khái niệm về logistics Sau đây là một số khái niệm vềlogistics:
Theo hội đồng quản trị logistics Mỹ-1988: Logistics là quá trình lên kếhoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưuchuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tinliên quan từ điểm sản xuất đến nơi tiêu thụ nhằm mục đích thoả mãn nhữngnhu cầu của khách hàng
Theo tác giả Donald J.Bowersox-CLM Proceeding-1987: Logistics là mộtnguyên lý bán lẻ nhằm hướng dẫn quá trình lên kế hoạch, định vị và kiểmsoát các nguồn nhân lực và tài lực có liên quan tới hoạt động phân phối vậtchất, hỗ trợ sản xuất và hoạt động mua hàng
Logistics được uỷ ban quản lý logistics của Mỹ định nghĩa như sau: logistics
là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để quản lý, kiểm soát việc
di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đốivới nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tintương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất đến khi hàng hoá đến tay người tiêudung cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng
Theo khái niệm của liên hợp quốc được sử dụng cho khoá đào tạo quốc tế vềvận tải đa phương thức và quản lý logistics tổ chức tại ĐH Ngoại Thương
Hà Nội tháng 10/2002 thì: Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu
Trang 7chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tớitay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng…
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra khái niệm “logistics”
mà đưa ra khái niệm “dịch vụ logistics” như sau: Dịch vụ logistics là hoạtđộng thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiềucông đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hảiquan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi kí mãhiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có lien quan đến hàng hoá theo thỏathuận với khách hàng để nhận thù lao ( Điều 233- Luật Thương mại ViệtNam năm 2005)
Qua các khái niệm trên, cho dù có sự khác nhau về từ ngữ diễn đạt,cách trình bày nhưng trong nội dung tất cả các tác giả đều cho rằng logisticschính là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâumua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tayngười tiêu dùng nhằm giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh vớimột thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục
vụ ản xuất cũng như phân phối hàng háo một cách kịp thời
Tóm lại, theo quan điểm của cá nhân thì logistics được hiểu như sau:Logistics là nghệ thuật tổ chức sự vận động của hàng hoá, nguyên vậtliệu từ khi mua sắm, qua các quá trình lưu kho, sản xuất, phân phối cho đếnkhi đưa đến tay người tiêu dùng
Trang 8Qua khái niệm về logistics như trên chúng ta có sơ đồ sau đây:
2- Sự hình thành và phát triển của logistics.
Thuật ngữ logistics dịch ra Tiếng Việt có nghĩa là “hậu cần”, “ngànhhậu cần” hay “tiếp vận” hoặc cũng có người dịch là “Tổ chức dịch vụ cungứng”… Như đã nói, thuật ngữ logistics ban đầu được sử dụng như một từchuyên môn trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần.Logistics chiếm một vị trí quan trọng góp phần làm nên chiến thắng củaquân đội nhiều nước khác nhau trên thế giới Điển hình là quân đội hoànggia Pháp ở thế kỉ XVII-XVIII, khi đối đầu với sức mạnh của hải quân Anh,
Sản xuất
Kho dự trữ sản phẩm
Thị trường tiêu thụ
Trang 9thuỷ quân hoàng gia Pháp yếu kém hơn rất nhiều so với kẻ thù, song với sự
nỗ lực lớn về công nghiệp và logistics diễn ra trong một thế kỉ, quân độiPháp đã khắc phục những điểm yếu của mình cho phép họ ngăn cản hoạtđộng của quân Anh ở Châu Mỹ Hay như cuộc đổ bộ thành công của quânđồng minh vào vùng Normandie tháng 6 năm 1944 chính là nhờ sự nỗ lựccủa khâu chuẩn bị hậu cần và qui mô của các phương tiện hậu cần được triểnkhai
Logistics đã góp phần làm tăng cường sức mạnh cho các nhà quân sựgiành được chiến thắng trong chiến tranh, do đó rất nhiều kĩ năng vềlogistics đã được nghiên cứu và áp dụng đặc biệt là trong chiến tranh thếgiới thứ II Xuất phát từ bản chất ưu việt của logistics, sau khi chiến tranhthế giới thứ II kết thúc, các chuyên gia logistics trong quân đội đã áp dụngnhững kĩ năng logistics trong hoạt động kinh tế thời hậu chiến tranh nhằmđáp ứng nhiệm vụ thực tế là tái thiết đất nước sau chiến tranh Như vậylogistics trong doanh nghiệp đuợc áp dụng sau chiến tranh thế giới thứ II
Ngày nay thuật ngữ logistics đã được phát triển, mở rộng và đượchiểu với nghĩa là quản lý (management) Từ những năm 50 của thế kỉ XXđến nay, công nghiệp và thương mại thế giới đã trải qua những biến cố sâusắc từ nền kinh tế dựa trên cơ sở sản xuất hàng loạt, đòi hỏi một lượng hànglớn đồng nhất sang nền kinh tế mà tính độc đáo và đa dạng của hàng hóađược nhấn mạnh Trong buôn bán, người bán không nhất thiết là người sảnxuất, người mua chưa chắc đã là người tiêu dùng cuối cùng Quá trình hànghóa từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng có thể phải quanhiều người trung gian lần lượt đóng vai trò là người bán hay người mua và
là một bộ phận của quá trình lưu thông hàng hoá Tính chất phong phú củahàng hoá cùng với sự vận động phức tạp của chúng đòi hỏi phải có một sựquản lý chặt chẽ, điều này đặt ra cho những nhà sản xuất kinh doanh một
Trang 10yêu cầu mới Đồng thời để tránh đọng vốn, các nhà sản xuất kinh doanh luôntìm cách duy trì một lượng hàng tồn kho nhỏ nhất Từ những lý do trên yêucầu hoạt động vận tải giao nhận nói riêng và lưu thông phân phối nói chungphải đảm bảo cho nguyên liệu hàng hóa được cung ứng kịp thời, đúng lúc…logistics trong doanh nghiệp đã ra đời.
Theo ESCAP ( Economic and Social Commission for Asia and thePacific- ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á-Thái Bình Dương) Logistics đượcphát triển qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phân phối vật chất
Vào những năm 60, 70 của thế kỉ XX, người ta bắt đầu quan tâm đếnnhững vấn đề quản lý một cách có hệ thống những hoạt động có liên quanvới nhau để đảm bảo phân phối sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng mộtcách có hiệu quả Những hoạt động đó bao gồm: vận tải, phân phối, bảoquản hàng hóa, quản lý tồn kho, bao bì đóng gói, phân loại dán nhãn…những hoạt động nêu trên được gọi là phân phối, cung ứng sản phẩm vậtchất hay còn có tên gọi là logistics đầu ra
Giai đoạn 2: Hệ thống logistics
Thời kì này khoảng những năm 80-90 của thế kỉ XX, các công ty kếthợp chặt chẽ việc quản lý giữa hai mặt: đầu vào và đầu ra để giảm tối đa chiphí cũng như tiết kiệm chi phí Như vậy sự kết hợp chặt chẽ giữa cung ứngnguyên vật liệu cho sản xuất với phân phối sản phẩm đến tay người tiêudùng đã đảm bảo sự ổn định và tính liên tục của dòng vận chuyển, sự kếthợp này được mô tả là hệ thống logistics
Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng
Đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi nối tiếp cáchoạt động từ người cung cấp-người sản xuất đến khách hàng tiêu dùng sảnphẩm, cùng với việc lập các chứng từ có liên quan, hệ thống theo dõi, kiểm
Trang 11tra làm tăng giá trị sản phẩm Khái niệm này coi trọng việc phát triển quan
hệ với đói tác, kết hợp chặt chẽ giữa người cung cấp, nhà sản xuất và ngườitiêu dùng cùng các bên có liên quan như: các công ty vận tải, kho bãi, giaonhận và người cung cấp công nghệ thông tin
ESCAP cũng định nghĩa quản l dây chuyền cung ứng và logistics làkhái niệm đồng bộ hóa những hoạt động của nhiều tổ chức trong dây chuyềnlogistics và phản ánh những thông tin cần thiết đúng thời gian, bằng cách sửdụng mạng lưới công nghệ thông tin và truyền thông kĩ thuật số
Như vậy logistics được phát triển từ việc áp dụng các kĩ năng “tiếpvân”, “hậu cần” trong quân đội để giải quyết những vấn đề phát sinh củathực tiễn sản xuất-kinh doanh và đến nay được hoàn thiện trở thành hệ thốngquản lý mang lại hiệu quả kinh tế cao
II-VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA LOGISTICS
1-Vai trò của logistics
1.1-Vai trò của logistics đối với nền kinh tế
Logistcis là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết vớinhau và tác động qua lại lẫn nhau Nếu xem xét ở góc độ tổng thể ta thấylogistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sảnxuất, lưu thông và phân phối hàng hóa Mỗi hoạt động trong chuỗi đều cómột vị trí và chiếm một khoản chi phí nhất định Một nghiên cứu gần đâycủa trường đại học Quốc gia Michigan (Hoa Kì) cho thấy, chỉ riêng hoạtđộng logistics đã chiếm từ 10% đến 15% GDP của hầu hết các nước lớn ởchâu Âu, Bắc Mỹ và một số nền kinh tế châu Á- Thái Bình Dương Vì vậynếu nâng cao hiệu quả hoạt động logistics thì sẽ góp phần nâng cao hiệu qảukinh tế-xã hội
Trang 12Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển hàng hóa trong các giao dịchkinh tế Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dâychuyền logistics hoạt động liên tục và trôi chảy.
Hiệu quả hoạt động logistics tác động trực tiếp đến khả năng hội nhậpcủa nền kinh tế Theo nhà kinh tế học người Anh Ullman thì khối lượnghàng hóa lưu chuyển giữa hai nước tỷ lệ thuận với chỉ số tiềm năng kinh tếcủa hai nước và tỷ lệ nghịch với khoảng cách của hai nước đó Khoảng cách
ở đây được hiểu là khoảng cách kinh tế Khoảng cách kinh tế càng được rútngắn thì lượng hàng tiêu thụ trên thị trường càng lớn điều này lí gải vì saokhoảng cách địa lý từ Thái Lan đến Mỹ xa hơn đến Việt Nam nhưng khốilượng và kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan và Mỹ lớn hơn so với ViệtNam Do vậy việc giảm chi phí logistics có nghĩa rất quan trọng trong chiếnlược thúc đẩy xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia
Hoạt động logistics hiệu quả làm tăng khả năng cạnh tranh của mộtquốc gia trên trường quốc tế Theo nghiên cứu của Limao và Venable (2001)cho thấy sự khác biệt trong kết cấu cơ sở hạ tầng (đặc biệt là lĩnh vực giaothông vận tải) chiếm 40% trong sự chênh lệch chi phí giữa các nước tiếpgiáp với biển và 60% đối với các nước không tiếp giáp với biển Hơn nữatrình độ phát triển và chi phí logistics của một quốc gia còn được xem là mộttrong những căn cứ quan trọng để đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia Do
đó, quốc gia nào có cơ sở hạ tầng tốt, hệ thống cảng biển đảm bảo… sẽ thuhút được sự đầu tư của các công ty hay tập đoàn lơn trên thế giới Sự pháttriển vượt bậc của Singapore, Hồng Kông và gần đây là Trung Quốc là minhchứng sống động cho việc thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tăng trưởng xuấtkhẩu, tăng GDP thông qua việc phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ logistics
1.2- Vai trò của logistics đối với các doanh nghiệp.
Trang 13Logistics có vai trò rất to lớn đối với các doanh nghiệp Logistics giúpgiải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả Nhờ
có thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu quá trình chuchuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ… logistics giúp giảm chi phí vàtăng khả năng cạnh tranh trong doanh nghiệp nhiều doing nghiệp đã thànhcông nhờ có chiến lược và hoạt động logistics đúng đắn, ngược lại có không
ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại do sai lầm trong hoạt độnglogistics, vi dụ như: chọn sai vị trí, chon nguồn tài nguyên cung cấp sai, dựtrữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển không hiệu quả
Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trong doanh nghiệp.Doanh nghiệp chủ động trong việc chọn nguồn cung cấp nguyên liệu, côngnghệ sản xuất, thiết kế mẫu mã, tìm kiếm thị trường tiêu thụ thông qua nhiềukênh phân phối khác nhau…; chủ động trong việc lên kế hoạch sản xuất,quản lý hàng tồn kho và giao hàng đúng thưòi gian với tổng chi phí thấpnhất
Logistcis còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt làmarketing hỗn hợp Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sảnphẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm thích hợp Sản phẩm/dịch
vụ chỉ có thể thỏa mãn khách hàng và có giá trị khi nó đến được với kháchhàng đúng thời gian và địa điểm qui định
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm gia tăng sự hài lòng vàgiá trị cung cấp cho khách hàng của dịch vụ logistics Đứng ở góc độ này,logistics được xem là công cụ hiệu quả để đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài
về sự khác biệt hóa và tập trung
2- Chức năng nhiệm vụ của logistics
Trong xã hội, mục đích sản xuất là để phục vụ tiêu dùng Cùng với sựphát triển của công nghệ thông tin, quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa diễn
Trang 14ra mạnh mẽ và sâu sắc hơn Khoảng cách về không gian giữa sản xuất vàtiêu dùng ngày càng xa dần và mở rộng, dịch vụ logistics chiếm một vị tríquan trọng trong sản xuất và phân phối vật chất của xã hội.
Chức năng nhiệm vụ của logistics được thể hiện trên các mặt sau đây:
* Dịch vụ logistics có nhiệm vụ nâng cao hiệu quả quản lý, giảm chiphí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Với việc hình thành và phat triển dịch vụ logistics, doanh nghiệp sẽgiảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinhdoanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn Giảm chi phí trong sản xuất, quátrình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nângcao sẽ góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
* Dịch vụ logistics có nhiệm vụ tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạtđộng lưu thông và phân phối
Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộngvới chi phí lưu thông Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là chi phí vận tải,chiếm một tỉ trọng không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trênthị trường , đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế Vận tải là yếu tốquan trọng của lưu thông Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêudùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa
Mà vận tải là một trong những yếu tố quan trọng trong hệ thống logistics chonên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho chiphí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đếntiết kiệm và giảm chi phí lưu thông
* Logistics có nhiệm vụ mở rộng thị trưòng trong buôn bán quốc tế.Trong xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc đãlàm cho khoảng cách về mặt không gian giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩmngày càng trải rộng Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở
Trang 15rộng thị trường cho sản phẩm của mình thì cần phẩi có sự hỗ trợ của dịch vụlogistics Dịch vụ logistics giữ vai trò như chiếc cầu nối trong việc chuyểndịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêucaauf về thời gian và địa điểm đặt ra Dịch vụ logistics do đó có tác dụng lớntrong khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho doanh nghiệp.
III- NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LOGISTICS
1- Dịch vụ khách hàng và xử lý đơn đặt hàng.
Do tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng nên ngày nay cụm từ nàythường xuyên được nhắc đến Ở đại đa số các công ty logistics, dịch vụkhách hàng thường được định nghĩa theo một trong ba cách sau:
* Dịch vụ khách hàng là những hoạt động cụ thể của công ty nhằmgiải quyết tốt đơn đặt hàng của khách hàng, các hoạt động đó có thể là: lập
bộ chứng từ, làm thủ tục hải quan, xử lý đơn hàng, xử lý khiếu nại…
* Dich vụ khách hàng là việc thực hiện những công việc cụ thể, đượcđánh giá bằng những thông số cụ thể, những tiêu chuẩn có săn, ví dụ: Khảnăng hoàn thành 98% đơn đặt hàng trong vòng 24 tiếng đồng hồ; Đến thămkhách hàng chính 6 tahngs một lần; Giải quyết khiếu nại trong vòng 15ngày;…
* Dựa vào triết lý của tổ chức người ta định nghĩa dịch vụ khách hàng
là một phần trong triết lý chung của công ty, phải thỏa mãn nhu cầu củakhách hàng một cách tôt nhất
Định nghĩa thứ ba mang tính toàn diện, khái quát, năng động và linhhoạt hơn hai định nghĩa trước đó Nó nêu rõ được tầm quan trọng của dịch
vụ khách hàng, nó yêu cầu các bộ phận của công ty, các nhân viên phải luônchăm sóc khách hàng hơn là chăm sóc chính bản thân mình
Trên thực tế có rất nhiều yếu tố liên quan đến dịch vụ khách hàng.Một số nhà nghiên cứu chia các yếu tố đó thành ba nhóm:
Trang 16* Khả năng thực hiện giao hàng đặc biệt
* Khả năng điều chuyển hàng hóa
* Sản phẩm thay thế
Thứ ba là các yếu tố sau giao dịch Đây là các yếu tố hỗ trợ cho sảnphẩm hoặc dịch vụ sau khi chúng đã đến tay khách hàng Trước đây dokhách ít quan tâm đến dịch vụ hậu mãi nên các yếu tố sau giao dịch có phần
bị xem nhẹ Giờ đây tình hình đã đổi khác, các công ty đều nhận thức được
Trang 17rằng: việc duy trì và làm hài lòng các khách hàng hiện có có lợi hơn việc tìmkiếm khách hàng mới Các yếu tố sau giao dịch bao gồm:
* Lắp đặt, bảo hành và sửa chữa
* Theo dõi sản phẩm
* Giải quyết các than phiền và khiếu nại
* Cho khách hàng mượn sản phẩm để dùng tạm
2-Tìm nguồn hàng và thu mua nguyên vật liệu
Nhiệm vụ cơ bản của dịch vụ logistics là đảm bảo cung ứng cho sảnxuất và tiêu dùng những hàng hóa cần thiết đủ về số lượng, tốt về chấtlượng, kịp thời gian yêu cầu, thuận lợi cho khách hàng và phải đáp ứng mộtcách thường xuyên, liên tục và ổn định
Nguồn hàng là toàn bộ khối lượng và cơ cấu hàng hóa thích hợp vớinhu cầu của khách hàng đã và có khả năng mua được trong kỳ kế hoạch Tổchức công tác tạo nguồn và mua hàng là toàn bộ những hoạt động nghiệp vụnhằm tạo ra nguồn hàng để doanh nghiệp mua được trong kỳ kế hoạch, từ đóbảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng chất lượng, quy cách…cho các nhu cầu của khách hàng
Nội dung của nghiệp vụ tạo nguồn và mua hàng gồm những điểmchính sau đây:
- Nghiên cứu nhu cầu mặt hàng của khách hàng
Mục đích của tạo nguồn và mua hàng là thỏa mãn nhu cầu của kháchhàng Dịch vụ logistic không những đảm bảo nguyên liệu đầu vào cho nhàsản xuất mà còn cung ứng chính xác hàng hóa thành phẩm cho người tiêudùng, do đó việc thỏa mãn đúng nhu cầu của khách hàng sẽ đảm bảo cho sựtồn tại và phát triển của doanh nghiệp
- Nghiên cứu thị trường nguồn hàng
Trang 18Tùy từng loại mặt hàng: mặt hàng tư liệu sản xuất hay mặt hàng tưliệu tiêu dùng, mà doanh nghiệp phải tìm nguồn hàng từ các doanh nghiệpsản xuất mặt hàng tương ứng từ trong nước hoặc từ nước ngoài (nhâp khẩu).
- Lựa chọn bạn hàng
Đây là khâu quyết định đối với sự chắc chắn và ổn định của nguồnhàng Thiết lập mối quan hệ truyền thống, trực tiếp, lâu dài với các bạn hàngtin cậy là một trong những yếu tố tạo sự ổn định trong nguồn cung ứng đốivới doanh nghiệp Có nhiều phương pháp nghiên cứu phát triển thị trườngnguồn hàng, đặc biệt là nguồn hàng mới.Thông qua nghiên cứu, khảo sátthực tế, thông qua hội trợ-triển lãm, thông qua internet, thông qua quảngcáo, thông qua các trung tâm giới thiệu,… việc lựa chon bạn hàng tùy thuộcrất lớn vào mối quan hệ truyền thống, tập quán và sự phát triển kinh tế ởtrong nước và ngoài nước
- Thiết lập mối quan hệ kinh tế bằng hợp đòng mua bán hàng hóa
- Kiểm tra hàng hóa và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
3- Dịch vụ kho và quản lý kho
Kho bãi là một bộ phận của hệ thống logistics, là nơi cất giữ nguyênvật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm… trong suốt quá trình chu chuyển từđiểm đầu đến điểm cuối của chu trình cung ứng, đồng thời cung cấp cácthông tin về tình trạng, điều kiện lưu giữ và các vị trí của các hàng hóa đượclưu kho
Kho bãi là một bộ phận không thể thiếu trong chuỗi logistics Cùngvới thời gian, vai trò của kho bãi ngày càng được khẳng định và nâng cao, hệthống kho bãi ngày càng phát triển Kho bãi giúp các tổ chức tiết kiệm đượcchi phí vận tải thông qua việc gom nhiều lô hàng nhỏ thành lô hàng lớn đểvận chuyển một lần Bên cạnh đó, nó giúp tiết kiệm chi phí trong sản xuất:kho giúp bảo quản tốt nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, giảm
Trang 19bớt hao hụt, mất mát, hư hỏng; Kho giúp cung cấp nguyên vật liệu đúng lúc,tạo điều kiện cho sản xuất tiến hành liên tục nhịp nhàng… nhờ đó giam đượcchi phí sản xuất Một vai trò khác của kho bãi đó chính là việc giúp tổ chứcđược hưởng lợi từ các khoản giảm giá do mua số lượng lớn và mua theo kìhạn Kho bãi giúp duy trì nguồn cung ứng ổn định, hỗ trợ cho chính sáchdịch vụ khách hàng của tổ chức và giúp tổ chức có thể đương dầu với nhữngthay đổi của thị trường ( do tính thời vụ, nhu caauf thay đổi, cạnh tranh…).
Nhà kho ngày càng được sử dụng như một nơi “chung chuyển” hơn làmột nơi “giam hàng” như trước đây Các tổ chức ngày càng tích cực thuthập, cập nhật thông tin, tổ chức tốt hoạt động logistics để có thể giảm, tiếntới không phải lưu kho, mua hàng với một số lượng thích hợp và sử dụngnhà kho như một địa điểm để gom, tách, ghép đồng bộ, hoàn thiện hàng hóa
để phục vụ tốt cho nhu cầu của khách hàng trên cơ sở tiết kiệm chi phí vậntải và các dịch vụ khác
4-Vận tải và phân phối.
Trong các nội dung của logistics thì vận tải và phân phối là nội dungquan trọng nhất Chi phí cho hoạt động này thường chiếm tới 1/3 tổng chiphí của logistics Muốn giảm chi phí của logistics thì phải giảm chi phí củakhâu vận tải và phân phối từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ khác nhau trên thịtrường Việc vận tải-phân phối phải đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu chosản xuất kịp tiến độ, phải cung cấp thành phẩm đến đúng địa điểm và đúngnơi qui định mà khách hàng cần Từ đó giảm tới mức thấp nhất chi phí, thiệthaik do lưu kho, tồn đọng sản phẩm để giảm chi phí logistics nói chung
Vận tải và phân phối là những hoạt động rất cần và không thể thiếuđược trong logistics, yêu cầu này xuất phát từ xu hướng chuyên môn hóatrong hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội Khi một doanh nghiệp thuhẹp phạm vi hoạt động của mình vào một hay một nhóm sản phẩm có liên
Trang 20quan thì doanh nghiệp đó ngày càng phụ thuộc vào môi trường bên ngoài.Mỗi thành viên của hệ thống công nghiệp, từ doanh nghiệp nhỏ nhất tớinhững tập đoàn hùng mạnh nhất, đều phải dựa vào các doanh nghiệp kháccung cấp nguyên vật liệu cho mình Vận tải là người cung cấp các phươngtiện, dịch vụ nhằm di chuyển nguyên liệu đó từ nơi cung cấp đến nơi doanhnghiệp cần Tại đó, nguyên liệu được đưa vào sản xuất, chế biến thành sảnphẩm và vận tải giao nhận đảm nhiệm việc cung cấp hệ thống phân phối vậtchất cho sản phẩm.
Nhận thức ngày càng hoàn thiện hơn về logistics đã kéo theo nhậnthức ngày càng tăng về vai trò và ý nghĩa của các cách thức bố trí phươngthức vận chuyển cũng như là hệ thống kênh phân phối trong hệ thốnglogistics Trước đây, các kênh phân phối thường đề cao vai trò của vị trí nhàxưởng, nơi sản xuất hay kho hàng…Một doanh nghiệp nên chọn vị trí gầnnguồn nguyên liệu hoặc nơi gần đường giao thông thuận lợi, xuyên suốt.Ngược lại khả năng sẵn sàng vận chuyển nguyên liệu tới doanh nghiệp chophép doanh nghiệp có lựa chọn thay thế và xây dựng nhà xưởng, kho tanggần thị trường tiêu thụ Việc quá nhấn mạnh vào tầm quan trọng của địađiểm này đã làm sao nhãng vấn đề thời gian trong hệ thống logistics Vì vậycần phải có cách nhìn mới và toàn diện hơn về kênh phân phối và phươngthức vận chuyển trong hệ thống logistics nhằm tối ưu hóa dòng lưu chuyểncủa hàng hóa
Trang 21CHƯƠNG II THỰC TRẠNG KINH DOANH DỊCH VỤ
LOGISTICS Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I-THỰC TRẠNG KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1-Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về logistics
Qua nghiên cứu và khảo sát thực tế, chúng ta có thể rút ra sự nhậnthức của doanh nghiệp kinh doanh dịch logistics được thể hiện ở nhữngđiểm cụ thể sau đây:
1.1- Logistics là sự phát triển tất yếu của dịch vụ vận tải giao nhận
Logistics chính là sản phẩm của sự phát triển vận tải giao nhận ở trình
độ cao Cho đến nay, việc kinh doanh dịch vụ logistics ở các doanh nghiệpViệt Nam mới chỉ xoay quanh hoạt động vận tải giao nhận Do đó theo cácdoanh nghiệp Việt Nam thì hoạt động logistics có thể chia thành 4 giai đoạnnhư sau:
Trang 22* Giai đoạn 1: Người kinh doanh dịch vụ logistics có nhiệm vụ giaonhận, vận chuyển hàng hóa, làm các thủ tục và tư vấn cho chủ hàng để giảiquyết những vấn đề phát sinh trong giao nhận vận chuyển hàng hóa
* Giai đoạn 2: Người kinh doanh dịch vụ logistics đảm nhiệm giaonhận hàng hóa, làm tất cả các thủ tục có liên quan như là người đại lý củachủ hàng, nhưng người kinh doanh dịch vụ logistics phải đứng ra tiến hànhviệc gom hàng
* Giai đoạn 3: Người kinh doanh dịch vụ logistics đảm nhận việcvận chuyển hàng hóa từ điểm đầu đến điểm cuối Họ đảm nhiệm tất cả cácdịch vụ của một số người vận tải và cung cấp dịch vụ Nguời kinh doanhdịch vụ logistics cũng đảm nhận việc thông quan cho hàng hóa và thươngthảo với cảng với tư cách là một người kí hợp đồng độc lập với cảng để thựchiện một số công việc cần thiết Lúc này người kinh doanh dịch vụ logisticskhông còn hành động như một đại lý thay mặt chủ hàng nữa mà là ngườiđứng ra cung cấp các dịch vụ cho chủ hàng Họ đã trở thành một người chủtrong dây chuyền vận tải với tư cách là một bên chính, phát hành các chứng
từ vận chuyển đa phương thức và chịu trách nhiệm đối với hàng hóa trongsuốt quá trình vận chuyển từ khi nhận hàng để chở cho tới khi giao hàngxong cho người nhận hàng, kể cả việc chậm giao hàng ở nơi đến
* Giai đoạn 4: Hiện nay người kinh doanh dịch vụ logistics khôngcòn làm những công việc đơn thuần của giao nhận vận chuyển mà còn đảmnhận nhiều công việc khác nữa theo yêu cầu của khách hàng đồng thời kếthợp các công việc liên quan trở thành một chuỗi dịch vụ cung cấp.Logisticstrong quan niệm của các doanh nghiệp Việt Nam bao gồm mọi dịch vụ liênquan tới vận tải giao nhận (đường biển, đường hàng không, đường bộ và nộithủy) lưu kho lưu bãi, sắp xếp hàng hóa sẵn sàng cho việc vận chuyển đóng
Trang 23gói bao bì, ghi mã hiệu, thương hiệu và phân phối đi các nơi theo yêu cầucủa khách hàng.
1.2- Lợi ích logistics mang lại cho các doanh nghiệp sản kinh doanh.
xuất-Các doanh nghiệp sản xuất-kinh doanh trên thế giới nói chung và ViệtNam nói riêng ngày càng nhận thấy rằng tất cả các chi phí của việc lập kếhoạch sắp xếp và chuẩn bị mọi mặt cho hàng hóa để sẵn sàng cung cấp vàchi phí lưu thông có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau trênnhiều khía cạnh Nếu tận dụng được công nghệ tin học để tổ chức tốt và chặtchẽ các khâu, các quá trình lưu chuyển thì giá thành của hàng hóa sẽ giảmđáng kể, do vậy năng lực cạnh tranh của hàng hóa được nâng cao Logisticskhông phải là một dịch vụ đơn lẻ mà luôn luôn là một chuỗi các hoạt động
về vận tải giao nhận hàng hóa như: đóng gói, lưu kho, lưu bãi, phân phốihàng hóa (nguyên liệu hay thành phẩm) đi các địa chỉ khác nhau, chuẩn bịcho hàng hóa luôn luôn sẵn sàng ở trạng thái có yêu cầu của khách hàng làvận chuyển ngay Chính vì vậy mà khi nói đến logistics bao giờ người tacũng đề cập đến chuỗi dịch vụ (logistics system chain) Với hệ thống chuỗidịch vụ này, người cung ứng dẽ giúp khách hàng có thể tiết kiệm được chiphí đầu vào trong các khâu dịch chuyển, lưu kho, lưu bãi và phân phối hànghóa cũng như chi phí tương thự ở đầu ra
Qua khảo sát điều tra một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vựcsản xuất-kinh doanh trên địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thì lợiích của logistics đối với doanh nghiệp như sau:
* Giảm được chi phí trong khâu vận tải giao nhận
Theo kết quả điều tra, có tới 56% số doanh nghiệp được hỏi cho rằng:ứng dụng hoạt động logistics trong kinh doanh sẽ giảm được rất nhiều chiphí đặc biệt là chi phí vận chuyển Bởi vì khi ứng dụng hoạt động logistics,
Trang 24nhà kinh doanh sẽ tập hợp được các kế hoạch riêng lẻ của các cung đoạn,các phần việc trong lưu chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu thành một kếhoạch thống nhất nhằm thực hiện một kế hoạch chung đã được vạch ra trêntoàn bộ hành trình của hàng hóa Đảm bảo chi việc hàng được giao đúngthời gian, đúng thời điểm theo yêu cầu của khách hàng Áp dụng logistics đãtạo ra sự thống nhất trong hành động nhằm thực hiện một kế hoạch chung đãđịnh sẵn cho nên tất cả các chi phí trong vận tải đã được giảm đi rất nhiềunhư chi phí lưu kho tại các điểm đầu, điểm cuối của hành trình giao nhậnvận chuyển, hạn chế được các nhược điểm của phương thức vận tải tham giacũng như phát huy được những ưu điểm của chúng, giảm được thời giangiao nhận vận chuyển, tăng nhanh thời gian giao hàng.
* Tăng cường chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp thương mại.Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các ngành, các lĩnhvực, các doanh nghiệp đang diễn ra hết sức gay gắt Ngành thương mại cũngkhông tránh khỏi quy luật đó Trong bối cảnh đó, để chiến thắng không cóbiện pháp nào hữu hiệu hơn là nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp Chỉ cónâng cao chất luợng dịch vụ đáp ứng đwocj mọi nhu cầu của khách hàngmới đảm bảo được sức cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại trên thịtrường Logistcis chính là yếu tố tạo nên sức mạnh cho doanh nghiệp trongcạnh tranh Hiệu quả của logistics chính là sản phẩm được giao nhận và vậnchuyển đến đúng địa điểm, đúng thời gian và an toàn trong điều kiện tốt nhấtvới giá cả thỏa thuận hợp lý nhất Nhờ áp dụng logistics, chất lượng dịch vụthương mại được nâng lên rất nhiều, nâng cao được năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp trên thị trường so vói các doanh nghiệp kinh doanh thươngmại thông thường trước đây
* Tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp kinh doanh vận tảigiao nhận
Trang 25Logistcis là một công nghệ tiên tiến, khi ứng dụng sẽ mang lại nhiềulợi ích thiết thực cho các doanh nghiệp sản xuất-kinh doanh Nhờ tiết kiệmđược chi phí trong các khâu của quá trình lưu thông hàng hóa, nguyên vậtliệu và gia tăng được chất lượng dịch vụ mà từ đó các doanh nghiệp có cơhội tăng doanh thu và lợi nhuận của mình Khi cung ứng dịch vụ logisticscác doanh nghiệp kinh doanh vận tải giao nhận sẽ cung cấp toàn bộ dịch vụcho cả chuỗi lưu chuyển hàng hóa “từ kho đến kho” Hàng hóa của chủ hàng
sẽ được lưu gửi trong hệ thống kho bãi của doanh nghiệp vận tải giao nhận,được vận chuyển trên các phương thức vận tải của doanh nghiệp vận tải gioanhận theo một kế hoạch được vạch sẵn Như vậy chi phí lưu kho của kháchhàng sẽ tăng dẫn tới doanh thu của doanh nghiệp cũng sẽ tăng Mặt khác,nếu quy mô hoạt động cũng như dịch vụ cung cấp càng lớn, càng đa dạngphong phú bao nhiêu thì càng làm tăng lợi thế của doanh nghiệp bấy nhiêu.Chi phí cho giao nhận một lô hàng lớn bao giừo cũng rẻ hơn nhiều chi phígiao nhận vận tải ch nhiều lô hàng nhỏ, lẻ Việc thu gom các lô hàng lẻ củanhiều chủ gửi để hình thành một lô hàng lớn hơn đã tạo cho các doanhnghiệp vận tải giao nhận khai thác triệt để nguồn hàng trong vận tải giaonhận, tiết kiệm được thời gian, tận dụng tối đa phương tiện vận chuyển vàkết quả cuối cùng là lợi nhuận tăng thêm
2-Thực trạng kinh doanh logistics trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
2.1- Các hình thức hoạt động kinh doanh logistics ở Việt Nam
Hiện nay, theo quy định tại điều 233 Luật Thương mại năm 2005,dịch vụ logistics được phân loại như sau:
a) Các dịch vụ chủ yếu, bao gồm:
* Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếpcontainer;
Trang 26* Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinhdoanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
* Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả thủ tục làm đại lý hải quan vàlập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;
* Dịch vụ bổ trợ khác; bao gồm cả hoạt đoọng tiếp nhận, lưu kho
và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trongsuốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại,hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó;hoạt động cho thuê và thuê mua container
b) Các dịcg vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm:
c) Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm:
* Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật
* Dịch vụ bưu chính
* Dịch vụ thương mại bán buôn
* Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm các hoạt động quản lý hànglưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng;
* Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng hoạt động kinh doanh logistics baogồm rất nhiều mảng, nhiều hoạt động Tất cả các hoạt động được nêu ở trêntạo thành một chuỗi có mối quan hệ mật thiết với nhau, gọi là “chuỗi cungứng” Thực tế hiện nay ở Việt Nam cho thấy, do nhiều yếu tố tác động khác
Trang 27nhau, cả chủ quan lẫn khách quan, mà các doanh nghiệp trong nước mới chỉtập trung khai thác các mảng nhỏ trong chuỗi cung ứng Trong đó, chúng tathấy phổ biến nhất là hình thức giao nhận vận tải Đây là hình thức khá đơngiản, các công ty giao nhận đóng vai trò là người mua buôn sau đó bán lạicho người mua lẻ Thông qua hãng vận tải biển, hàng sau khi được gomthành những container sẽ được vận chuyển đến quốc gia của người nhận Tại
đó các đại lý mà các công ty Việt Nam có quan hệ đối tác sẽ làm thủ tục hảiquan nhận, dỡ hàng và giao lại cho người mua hàng tại kho Như vậy hìnhthức này chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ chuỗi giá trị gia tăng logistics
2.2- Qui mô các doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ logistics
ở Việt Nam hiện nay.
Quy mô các doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ logistics nhỏ,kinh doanh manh mún Nguồn lợi hàng tỷ đô đang chảy vào túi của các nhàđầu tư nước ngoài Các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ có phần nhỏ trongmiếng bánh khổng lồ và đang ngày phình to của dịch vụ logistics Theo tínhtoán mới nhất của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất tronglogistics là vận tải biển thì doanh nghiệp trong nước mới chỉ đáp ứng chuyênchở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chiphối bởi các doanh nghiệp nước ngoài Điều này đã thực sự là một thua thiệtlớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi có đến 90% hàng hóa xuất nhậpkhẩu vận tải bằng đường biển Năm 2006, lượng hàng qua các cảng biểnViệt Nam là 153 triệu tấn và tốc độ tăng trưởng lên đến 19,4% Đây thực sự
là một thị trường mơ ước mà các tập đoàn nước ngoài đang thèm muốn vàtập trung khai phá
Hiện nay hạ tầng cơ sở logistics ở Việt Nam nói chung còn nghèo nàn,quy mô nhỏ, bố trí bất hợp lý Hệ thống cơ sở hạ tầng gioa thông của ViệtNam bao gồm trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000
Trang 28km đường thủy, 266 cảng biển và 20 sân bay Tuy nhiên chất lượng của hệthống này là không đồng đều, có những chỗ chưa đảm bảo vê mặt kỹ thuật.Hiện tải chỉ có khoảng 20 cảng biển tham gia vào việc vận tải hàng hóa quốc
tế, các cảng đnag trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhậncác đội tàu nhỏ và chưa được trang bị các thiết bị xếp dỡ container hiện đại,còn thiếu kinh nghiệm trong việc điều hàng xếp dỡ container
Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng(máy bay) cho việc vận chuyển vào mùa cao điểm Chỉ có sân bay Tân SơnNhất là đón được máy bau chở hàng quốc tế Các sân bay quốc tế như TânSơn Nhất, Nội Bài, Đà Nẵng vẫn chưa có nhà ga hàng hóa, khu vực hoạtđộng cho đại lý logistics thực hiện gom hàng và khai quan như các nướctrong khu vực đang làm Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ còn thấp,dường như không được thiết kế để vận chuyển container, các đội xe tảichuyên dùng hiện đang cũ kĩ, năng lực vận tải đường sắt không được tậndụng hiệu quả do chưa hiện đại hóa Theo số liệu của Tổng cục Thống kê,lượng hàng hóa vận chuyển đường sắt chiếm khoảng 15% tổng lượng hànghóa lưu thông Tuy nhiên đường sắt Việt Nam vẫn đang sử dụng 2 loại khổray khác nhau ( 1000 và 1435 mm) với tải trọng thấp Chuyến tàu nhanhnhất chạy tuyến Hà Nội-Hồ Chí Minh hiện vẫn còn cần đến 32 tiếng đồnghồ
Quy mô của doanh nghiệp còn thể hiện thông qua số nhân viên củacông ty, nhiều doanh nghiệp chỉ có từ 3-5 nhân viên, kể cả người phụ trách.Doang nghiệp chỉ đáp ứng được một công việc đơn giản của một kháchhàng Cũng vì vốn và nhân lực it nên việc tổ chức bộ máy của các doanhnghiệp rất đơn giản, tính chuyên sâu của các doanh nghiệp trong logisticskhông có Đặc biệt hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chưa có văn phòngđại diện tại nước ngoài trong khi xu thế hiện nay là logistics toàn cầu Hơn
Trang 29thế nữa, tính nghiệp đoàn của các doanh nghiệp logistics còn rất rời rạc,thiếu hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, cạnh tranh không lành mạnh.
Các doanh nghiệp tư nhân hiện đang chiếm khoảng 80% tổng sốdoanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics Các doanh nghiệp này có số vốnrất nhỏ, có doanh nghiệp chỉ đăng kí vốn kinh doanh từ 300-500 triệu đồng (tương đương 18.750-31.250 USD) Trên thực tế nếu muốn kí vận đơn vàoHoa Kỳ thì phải kí quỹ tới 150.000 USD Nhiều doanh nghiệ nhà nước saukhi cổ phần hóa từng bộ phận đã hình thành các công ty cổ phần với cỡ vốn
5 tỷ đồng ( khoảng 312.500 USD ) Với quỹ vốn như vậy các doanh nghiệpViệt Nam không đáp ứng được nhu cầu khi gia nhập thị trường logistics thếgiới
Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp đăng kí kinh doanh và mang têndịch vụ logistics, nhưng doanh nghiệp dịch vụ logistics thực sự thì khôngnhiều Nói một cách giản đơn theo nghĩa đen thì những nhà cung cấp dịch vụlogistics trọn gói Door to Door cho hàng hóa xuất nhập khẩu là những ngườitích hợp hàng loạt các dịch vụ vận tải giao nhận thông quan hàng hóa xuấtnhập khẩu thành một chuỗi liên tục để đảm bảo hàng hóa được vận chuyểnDoor to Door
2.3- Thực trạng các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam theo các nhóm sau:
2.3.1- Các công ty kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận của Việt Nam
- Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đơn phương thức
VD: Công ty cung cấp dịch vụ vận tải đường bộ, đường sắt, hàngkhông, đường biển
- Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức
- Các công ty cung cấp dịch vụ khai thác cảng
Trang 30- Các công ty môi giới vận tải
Các loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải giaonhận ở Việt Nam phát triển rất đa dạng và phong phú Từ chỗ kinh doanhvận tải chủ yếu là các loại hình doanh nghiệp nhà nước, đến nay trên thịtrường giao nhận đã có đầy đủ các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thànhphần kinh tế tham gia Hoạt động kinh doanh vận tải diễn ra sôi động vàmạnh mẽ nhất, chủ yếu nhất vẫn là lĩnh vực Hàng hải
Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận của Việt Nammới chỉ chủ yếu tập trung ở thành phố lớn, các cảng lớn như Hà Nội, HảiPhòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ… Các doanh nghiệp lớn đềuthành lập chi nhánh của mình tại các cửa khẩu quốc tế từ Bắc vào Nam Cácchi nhánh hoạt động trực thuộc sự quản lý của các doanh nghiệp hoặc cáccông ty con có tư cách pháp nhân nhưng kinh doanh độc lập và trực thuộccác tổng công ty Các chi nhánh chủ yếu cung cấp các dịch vụ phục vụkhách hàng trên địa bàn mình hoạt động hoặc phối hợp với nhau để thựchiện các hoạt động quá cảnh, chuyển tải theo kế hoạch chung
Hiện tại, hầu như tất cả các tổ chức, mạng lưới hoạt động kinh doanhdịch vụ vận tải giao nhận của các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ dừng lại ởtrong nước, cho đến nay chưa có một doanh nghiệp nào kể cả các doanhnghiệp lớn của Việt Nam có khả năng thành lập chi nhánh của mình ở nướcngoài để khai thác nguồn hàng và cung cấp dịch vụ cho khách hàng, kể cảcác nước lân cận như Lào, Campuchia, Trung Quốc…trừ vận tải hàng khôngnhư VietnamAirline và Pacific Airline có đặt văn phòng đại diện ở nướcngoài
2.3.2- Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối
- Công ty cung cấp dịch vụ kho bãi
- Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối