Ở hầu hết các nước, hôn nhân và gia đình đã được gán với một bộ luật quan trọng trong hệ thống luật pháp.. Vấn đề về quan hệ hôn nhân và gia đình trong bộ luật Hồng Đức là một trong nhữn
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử phát triển hàng triệu năm của loài người đã được đánh dấu bằng vô
số những thành quả trong đó có tập hợp các mối quan hệ được hình thành trong xãhội Tính văn minh của loài người thể hiện ở việc phát triển cộng đồng từ các mốiquan hệ từ thấp đến cao Có thể nói gia đình là đơn vị tổ chức cơ bản nhất của xãhội Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mốiquan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặcquan hệ giáo dục Tuy nhiên theo quan niệm hiện đại về gia đình thì hôn nhân làtiền đề cơ bản để tạo nên một gia đình Vấn đề hôn nhân và gia đình dần được xãhội quan tâm nhiều hơn, đặc biệt trong lịch sử phạm trù “hôn nhân” đã được xuấthiện khá lâu Từ thời Trung Cổ với các chính sách của nhà thờ Kitô thì vấn đề thànhlập gia đình giữa nam và nữ cũng đã được đề cập đến
Cùng với sự ra đời của nhà nước, Pháp luật luôn đóng vai trò là cán cân công
lý, là công cụ hữu ích giúp nhà nước quản lý tốt bộ máy pháp quyền Vấn đề quan
hệ giữa các giai cấp, các giai tầng và các nhóm xã hội là những nhân tố quyết địnhtrực tiếp đối với Nhà nước và Pháp luật Ở hầu hết các nước, hôn nhân và gia đình
đã được gán với một bộ luật quan trọng trong hệ thống luật pháp Ở Việt Nam cũngvậy, hiện nay nước ta đang đưa vào sử dụng bộ luât “hôn nhân và gia đình” – bộluật được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa X, kỳ họp thứ
7 thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2000 Lịch sử cũng đã ghi nhận “Quốc triều hình luật” hay còn gọi là “Luật Hồng Đức” của triều đình nhà Lê với nhiều điểm tích
cực mà trên cơ sơ đó Luật pháp nước ta hiện nay vẫn còn kế thừa và phát huy Vấn
đề về quan hệ hôn nhân và gia đình trong bộ luật Hồng Đức là một trong nhữngđiểm tiến bộ đáng kể Nghiên cứu về những giá trị hữu ích trên và ứng dụng vàothực tiễn Luật pháp nước ta hiện nay sẽ mang lại nhiều kết quả trong việc phát triểnkinh tế-văn hóa và xã hội Nếu có một hệ thống luật pháp vững chắc, chặt chẽ vàphục vụ lợi ích cho đông đảo các giai tầng trong xã hội thì chắc hẳn xã hội ấy sẽphát triển một cách thịnh vượng và có chiều sâu
Trang 2Đó chính là lý do để em quyết định nghiên cứu đề tài: “Quy định về hôn nhân của luật Hồng Đức và luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (2000) – sự kế thừa và phát huy”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận đi sâu nghiên cứu về 2 bộ luật của hai thời đại khác nhau là bộ luậtHồng Đức (Thời nhà Lê) và bộ luật hôn nhân và gia đìnhViệt Nam (2000)
Tiểu luận tập trung phân tích về quan hệ hôn nhân và gia đình trong 2 bộ luậttrên
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm phân tích một số điểm tích cực về quan hệ hôn nhân
và gia đình trong bộ luật Hồng Đức qua đó thấy được sự kế thừa và phát huy vàoluật pháp nước ta hiện nay Đồng thời tìm ra một số giá trị mới khác trong bộ luậtHồng Đức mà Luật pháp nước ta chưa áp dụng
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận cơ bản là “chủ nghĩa duy vật biện chứng” và
“chủ nghĩa duy vật lich sử”.
Sử dụng các phương pháp phân tích văn bản, tổng hợp, thống kê, so sánh…
để đi sâu nghiên cứu đề tài
Sử dụng tài liệu tham khảo từ sách vở và một số trang web chính thức
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
MỤC LỤC 3
CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU CHUNG VỀ LUẬT HỒNG ĐỨC VÀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM (2000) 4
1.1 Sự ra đời và phát triển 4
1.1.1 Luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) 4
1.1.2 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (2000) 5
1.2 Chức năng của từng bộ luật 5
1.2.1 Đặc điểm nội dung 5
1.2.2 Chức năng 7
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH QUAN HỆ HÔN NHÂN TRONG LUẬT HỒNG ĐỨC VÀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM (2000) 9
2.1 Những quy định tích cực trong hôn nhân 9
2.1.1 Những quy định chung 9
2.1.2 Chấm dứt hôn nhân 11
2.2 Những quy định về gia đình 15
2.2.1 Quan hệ giữa vợ - chồng 15
2.2.2 Quan hệ giữa bề đưới với bề trên 15
CHƯƠNG 3: TẦM NHÌN TƯƠNG LAI CỦA LUẬT HỒNG ĐỨC VỀ VẤN ĐỀ HÔN NHÂN 17
3.1 Một số điểm tiến bộ trong bộ luật Hồng Đức về quan hệ hôn nhân 17
3.2 Luật Hồng Đức quan tâm đến người phụ nữ-ảnh hưởng đến tương lai 18 3.3 Tầm nhìn tương lai của luật Hồng Đức về vấn đề hôn nhân 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 4CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU CHUNG VỀ LUẬT HỒNG ĐỨC VÀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM (2000)
1.1 Sự ra đời và phát triển
1.1.1 Luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật)
Sự phát triển cao độ của chế độ phong kiến tập quyền thời Lê sơ đề ra yêucầu xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để cố định những trật tự xã hội có lợicho giai cấp thống trị, để bảo vệ và bênh vực nền chuyên chính của giai cấp phongkiến Bộ Quốc triều hình luật (tức Luật Hồng Đức) đã ra đời trong hoàn cảnh lịch sử
ấy, nhằm đáp ứng lại những yêu cầu phát triển sang giai đoạn mới của chế độ phongkiến Việt Nam Bộ Luật Hồng Đức đã trải qua một quá trình xây dựng lâu dài từthời Lê Thái Tổ, đến thời Lê Thánh Tông mới hoàn thành
Ngay sau khi lên ngôi vua, trong năm 1428, Lê Lợi đã cùng với các đại thầnbàn định một số luật lệ về kiện tụng và phân chia ruộng đất của thôn xã Những thứhình phạt, những lễ ân giảm trong Luật Hồng Đức (49 điều thuộc chương Danh lệ)phần lớn đều được quy định trong thời Lê Thái Tổ Ba mươi hai điều luật trongchương Điền sản để pháp chế hóa các thể lệ quân điền cũng được quy định chặt chẽtrong những năm Thuận Thiên (1428-1433) và được thực hiện suốt trong thời Lê sơ
Tuy vậy chỉ mới là bước đầu xây dựng, nên luật pháp thời Thái Tổ còn cónhiều thiếu sót nhất là về phương diện tư hữu tài sản Những thiếu sót ấy sẽ đượccác triều vua sau bổ sung thêm
Trong thời Thái Tông (1434-1442), một số nguyên tắc xét xử các vụ kiện cáo
và một số điều luật nghiêm cấm nạn hối lộ, hành động giao thiệp với nước ngoàiđược xây dựng thêm
Đến năm 1449, Nhân Tông ban hành 14 điều luật khẳng định và bảo vệquyền tư hữu ruộng đất, quy định nguyên tắc xét xử những hành động xâm phạmđến quyền tư hữu ruộng đất Sang thời Thánh Tông, triều đình liên tiếp ban bốnhiều điều lệ về kế thừa hương hỏa, về việc bảo vệ tôn ty trật tự và đạo đức phongkiến, về việc trấn áp mọi hành vi chống đối hay làm nguy hại đến địa vị thống trịcủa giai cấp phong kiến Sách Hồng Đức thiện chính thư và Thiên Nam dư hạ tập
Trang 5còn ghi chép lại nhiều điều luật ban bố và thi hành trong thời Thánh Tông, theo thứ
tự từng năm Riêng trong Thiên Nam dư hạ tập, còn ghi lại 40 điều luật thi hànhtrong năm Quang Thuận (1460-1469) và 61 điều trong năm Hồng Đức (1470-1497)
Năm 1483, Thánh Tông sai các triều thần sưu tập tất cả các điều luật, cácphép lệnh đó ban bố và thi hành trong các triều vua thời Lê sơ, san định lại, xâydựng thành một bộ pháp điển hoàn chỉnh Đó là bộ Quốc triều hình luật, mà người
ta thường gọi là bộ Luật Hồng Đức, để đề cao vai trò xây dựng của Lê Thánh Tông.
Thực ra bộ luật đó không phải do Lê Thánh Tông sáng tạo ra, cũng không phảiđược xây dựng riêng trong những năm Hồng Đức (1470-1497), mà là sản phẩm củamột thời kỳ phát triển cực thịnh của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam, trong
cả thời Lê sơ Công lao của triều vua Lê Thánh Tông là đã san định các luật lệ củanhững triều vua trước để hoàn thành bước xây dựng bộ pháp điển ấy
1.1.2 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (2000)
Việc ban hành luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là cả một quá trình kếthừa và phát huy lâu dài từ các bộ luật ở các thời kỳ trước Từ các bộ luật của thời
kỳ thực dân phong kiến: Bộ luật Bắc Kỳ 1931, Bộ luật Trung Kỳ 1936; Luật giađình 1959 của Ngô Đình Diệm, Dân luật 1972 của Nguyễn Văn Thiệu- Đến các sắclệnh như: SL 10-10-1945, 97-SL ngày 22-05-1950, 159-SL ngày 17-11-1950…vàcác Hiến Pháp của các thời kỳ như HP 1946, HP 1980, HP 1992…
Nhằm đáp ứng một cách kịp thời các điều chỉnh pháp luật, các quan hệ hônnhân và gia đình trong giai đoạn mới Quốc hội khóa X tại kỳ họp thứ VII đã thôngqua luật Hôn nhân và gia đình mới ngày 9/6/2000 và được công bố vào ngày22/6/2000
1.2 Chức năng của từng bộ luật
1.2.1 Đặc điểm nội dung
1.2.1.1 Luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật)
Hệ thống chương điều
Quốc triều hình luật trong cuốn sách A.341 có 13 chương, ghi chép trong 6quyển (5 quyển có 2 chương/quyển và 1 quyển có 3 chương), gồm 722 điều Ngoài
Trang 6ra, trước khi đi vào các chương và điều thì Quốc triều hình luật còn có các đồ biểuquy định về các hạng để tang và tang phục, kích thước và các hình cụ (roi, trượng,gông, dây sắt v.v).
Bố trí cụ thể như sau
1.Chương Danh lệ: 49 điều quy định về những vấn đề cơ bản có tính chất chi
phối nội dung các chương điều khác (quy định về thập ác, ngũ hình, bát nghị, chuộctội bằng tiền v.v)
2.Chương Vệ cấm: 47 điều quy định về việc bảo vệ cung cấm, kinh thành và
các tội về cấm vệ
3.Chương Vi chế: 144 điều quy định về hình phạt cho các hành vi sai trái của
quan lại, các tội về chức vụ
4.Chương Quân chính: 43 điều quy định về sự trừng phạt các hành vi sai trái
của tướng, sĩ, các tội quân sự
5.Chương Hộ hôn: 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân-gia đình
và các tội phạm trong các lĩnh vực này
6.Chương Điền sản: 59 điều, trong đó 32 điều ban đầu và 27 điều bổ sung
sau (14 điều về điền sản mới tăng thêm, 4 điều về luật hương hỏa, 9 điều về châmchước bổ sung luật hương hỏa) quy định về ruộng đất, thừa kế, hương hỏa và các tộiphạm trong lĩnh vực này
7.Chương Thông gian: 10 điều quy định về các tội phạm tình dục.
8.Chương Đạo tặc: 54 điều quy định về các tội trộm cướp, giết người và một
số tội chính trị như phản nước hại vua
9.Chương Đấu tụng: 50 điều quy định về các nhóm tội đánh nhau (ẩu đả) và
các tội vu cáo, lăng mạ v.v
10.Chương Trá ngụy: 38 điều quy định các tội giả mạo, lừa dối.
11.Chương Tạp luật: 92 điều quy định về các tội không thuộc các nhóm tội
danh trên đây
12.Chương Bộ vong: 13 điều quy định về việc bắt tội phạm chạy trốn và các
tội thuộc lĩnh vực này
Trang 713.Chương Đoán ngục: 65 điều quy định về việc xử án, giam giữ can phạm
và các tội phạm trong lĩnh vực này
1.2.1.2 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (2000)
+ Chương VI: Cấp dưỡng+ Chương VII: Xác định cha, mẹ, con+ Chương VIII - Con nuôi
+ Chương IX: Giám hộ giữa các thành viên trong gia đình+ Chương X: Ly hôn
+ Chương XI: Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
1.2.2 Chức năng
1.2.2.1 Luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật)
Trong lịch sử tồn tại và phát triển hàng nghìn năm, các nhà nước Quân chủ
và Phong kiến Việt Nam đã nhận thức được vai trò của Pháp luật và quan tâm, đầu
tư cho việc ban hành Pháp luật Hệ thống Pháp luật Việt Nam thời kỳ này gồm các
bộ luật tổng hợp và các văn bản Pháp luật khác như: Chiếu, Chỉ, Lệ, Lệnh, Dụ, Sắc
Bộ luật Quốc triều hình luật được ban hành dưới thời Lê Thánh Tông (1483)được hình thành trên cơ sở sưu tập tất cả các điều luật, các văn bản Pháp luật đãđược ban bố và lưu hành dưới các thời Vua trước, được sửa chửa, bổ sung và sanđịnh lại hoàn chỉnh Đây là bộ luật được ban hành trong giai đoạn phát triển mạnh
mẽ của chế độ Phong kiến trung ương tập quyền Quốc triều hình luật không chỉ là
bộ luật chính thức của Việt Nam dưới thời Lê sơ mà còn được các thời đại sau này
sử dụng cho đến hết TK thứ XVIII
Trang 81.2.2.2 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (2000)
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 góp phần xây dựng, hoànthiện và bảo vệ chế độ Hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lýcho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền lợi ích hợp phápcủa các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹpcủa gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnhphúc bền vững
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 qui định chế độ hôn nhân-giađình và trách nhiệm của công dân – Nhà nước - Xã hội trong việc xây dựng, cũng
cố chế độ Hôn nhân-gia đình Việt Nam
Tiểu kết
Hai bộ luật nêu trên thể hiện rõ bản chất riêng của từng xã hội, mang đậm nétvăn hóa đặc trưng của xã hội Có thể thấy rằng, trong điều kiện phát triển của xã hộiPhong kiến với nền kinh tế trọng nông, các chế định, chế tài…nghiêng hẳn về việcbảo vệ chế độ và việc duy trì xã hội phát triển theo xu hướng của giai cấp thống trị
Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) có nhiều điều luật mang đậm tư tưởng Nho
giáo, những vấn đề về quan hệ gia đình, luật điều chỉnh hành vi cư xử của conngười sao cho phù hợp với đạo đức.Trong đó có nhiều điểm vẫn đang được xã hộichấp nhận và được coi là những điểm tiến bộ cần phát huy
Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) được xây dựng qua nhiều triều đạikhác nhau, mà cụ thể là được chọn lọc từ các triều đại như: Thái Tông(1434-1442),Nhân Tông(1449), Thánh Tông(1483) Đây là một giai đoạn phát triển cao độ củachế độ Phong kiến tập quyền Việt Nam Trong đó công lao của triều vua Lê ThánhTông là đã san định các luật lệ của những triều vua trước để hoàn thành bước xâydựng bộ pháp điển Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức)
Bộ luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 cũng có một số điểm ảnhhưởng của tư tưởng Nho giáo, điều này thể hiện khá rõ thông qua một số chươngliên quan đến quan hệ gia đình, quan hệ hôn nhân
Hệ thống chương điều của bộ luật Hồng Đức được bố trí khá hợp lý với 13chương và 722 điều Trong đó các quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình được
Trang 9tập trung chủ yếu ở chương Hộ hôn và chương Điền sản Bộ luật hôn nhân và giađình Việt Nam năm 2000 có hệ thống chương điều với các qui định khá rõ ràng, cácmục được phân ra cụ thể với nhiều lỉnh vực riêng trong quan hệ hôn nhân và giađình như: kết hôn, ly hôn, quan hệ vợ-chồng, quan hệ cha mẹ-con cái…
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH QUAN HỆ HÔN NHÂN TRONG LUẬT HỒNG ĐỨC VÀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM (2000)
2.1 Những quy định tích cực trong hôn nhân
2.1.1 Những quy định chung
Luật Hồng Đức(Quốc triều hình luật)
Độ tuổi: Mặc dù luật Hồng Đức không quy định rõ ràng về độ tuổi kết hôn,
tuy nhiên theo “Hồng Đức giá nghi lễ” có chỉ rõ con gái từ 16 tuổi trở lên, con trai
từ 18 tuổi trở lên mới được dựng vợ gã chồng Đây là quy định nhằm hạn chế nạntảo hôn trong xã hội
Những trường hợp không đươc kết hôn: Không được kết hôn giữa những
người trong họ hàng thân thích (điều 319), cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ
hay chồng (điều 317), cấm kết hôn khi ông, bà, cha hay mẹ đang bị giam cầm, tù tội (điều 318), cấm anh (em) lấy vợ góa của em (anh), trò lấy vợ góa của thầy (điều 324), với một số quy định khác trong các điều 316, 323, 334, 338, 339.
Đăng ký kết hôn: Luật Hồng Đức quy định về hình thức và thủ tục kết hôn như đính hôn và thành hôn (các điều 314, 315, 322) Điều 314 quy định: Việc kết
hôn chỉ được coi là hợp pháp khi được sự đồng ý của 2 bên cha mẹ, có việc trao đổi sính lễ trước sự có mặt của họ hàng hai bên
Luật Hồng Đức cho thấy cuộc hôn nhân có giá trị pháp lý từ sau lễ đính
hôn Ví dụ điều 315 quy định: Gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa thì phải phạt 80 trượng…Còn người con gái phải gả cho người hỏi trước Tuy
nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn cho đến khi thành hôn mà một trong haibên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ hôn
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam(2000)
Điều kiện kết hôn Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: (Điều 9)
Trang 101 Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;
2 Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được épbuộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;
3 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy địnhtại Điều 10 của Luật này
Tổ chức đăng ký kết hôn: Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên
nam, nữ kết hôn Đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn
tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôntrao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên
Những trường hợp không đươc kết hôn: (Điều 10) Việc kết hôn bị cấm
trong những trường hợp sau đây:
1 Người đang có vợ hoặc có chồng;
2 Người mất năng lực hành vi dân sự;
3 Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họtrong phạm vi ba đời;
4 Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi vớicon nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ,
mẹ kế với con riêng của chồng;
5 Giữa những người cùng giới tính
Đăng ký kết hôn: Điều 11
1 Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
(sau đây gọi là cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều
14 của Luật này
Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đềukhông có giá trị pháp lý
Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thìkhông được pháp luật công nhận là vợ chồng
Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn
2 Chính phủ quy định việc đăng ký kết hôn ở vùng sâu, vùng xa.