1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA

65 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo ngành hàng Mắc ca
Trường học Sở Công Thương
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH HÀNG MẮC CA TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT (8)
    • 1. Thế giới (8)
      • 1.1. Sản xuất, chế biến (8)
        • 1.1.1. Diện tích, sản lượng cây mắc ca trên toàn cầu (8)
        • 1.1.2. Sản lượng nhân mắc ca toàn cầu (10)
        • 1.1.3. Phân bố sản xuất theo khu vực địa lý và các loại giống mắc ca tiêu biểu tại từng khu vực địa lý (13)
          • 1.1.3.1. Phân bố theo khu vực địa lý (13)
          • 1.1.3.2. Phân bố theo loại giống (14)
          • 1.1.3.3. Tình hình sản xuất mắc ca ở các khu vực trồng chính trên thế giới (16)
        • 1.1.4. Ngành chế biến hạt mắc ca (20)
      • 1.2. Thương mại (22)
        • 1.2.1. Tình hình xuất khẩu mắc ca trên thế giới (22)
        • 1.2.2. Tình hình nhập khẩu mắc ca trên thế giới (24)
        • 1.2.3. Một số thị trường cung ứng (xuất khẩu) và phân tích cạnh tranh so với Việt Nam . 26 1.2.4. Một số thị trường tiêu thụ và phân tích cơ hội cho sản phẩm xuất khẩu của Việt (26)
      • 1.3. Các mô hình kinh doanh, phân phối tiêu biểu sản phẩm mắc ca trên thế giới (31)
        • 1.3.1. Các mô hình kinh doanh, kênh phân phối truyền thống đối với sản phẩm (31)
        • 1.3.2. Các mô hình kinh doanh, kênh phân phối hiện đại đối với sản phẩm mắc ca (31)
        • 1.3.3. Các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh mắc ca hàng đầu thế giới (32)
    • 2. Việt Nam (33)
      • 2.1. Sản xuất, chế biến (33)
        • 2.1.1. Diện tích, sản lượng, năng suất (33)
        • 2.1.2. Vùng trồng và giống tương ứng (38)
        • 2.1.4. Tình hình chế biến sản phẩm hạt mắc ca (41)
      • 2.2. Thương mại (42)
        • 2.2.1. Tình hình xuất khẩu mắc ca của Việt Nam (42)
        • 2.2.2. Tiêu thụ mắc ca của Việt Nam (45)
        • 2.2.3. Các doanh nghiệp, nhà phân phối tiêu biểu (48)
  • PHẦN II. DỰ BÁO (50)
    • 1.1. Về nhu cầu, xu hướng tiêu dùng các sản phẩm mắc ca (50)
    • 1.2. Về năng lực cung ứng, xu hướng sản xuất và công nghệ sản xuất mắc ca trên thế giới52 1.3. Về xu hướng chính sách của các thị trường đối tác có thể ảnh hưởng tới xuất khẩu mắc ca của Việt Nam (52)
    • 2.1. Về nhu cầu, xu hướng tiêu dùng, thị trường (57)
    • 2.2. Về năng lực cung ứng (59)
    • 2.3. Về các vấn đề khác (60)
  • Phần III. Khuyến nghị (62)
    • 1. Khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước (62)
    • 2. Khuyến nghị đối với các cơ sở kinh doanh, sản xuất và các hiệp hội (63)
  • KẾT LUẬN (65)

Nội dung

Cùng với xu hướng gia tăng tiêu thụ các loại hạt có lợi cho sức khỏe, ngành chế biến hạt mắc-ca trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, trong vòng 10 năm trở lại đây

TỔNG QUAN VỀ NGÀNH HÀNG MẮC CA TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT

Thế giới

1.1.1 Diện tích, sản lượng cây mắc-ca trên toàn cầu

Diện tích trồng mắc-ca trên phạm vi toàn cầu bắt đầu phát triển nhanh từ những năm

90 của thế kỷ 20 Giai đoạn 2010- 2020, tổng diện tích trồng mắc-ca trên thế giới tăng từ 140.000 ha năm 2010 lên 451.767 ha năm 2020 (tăng bình quân 31.767 ha/năm)

Năm 2020, tổng diện tích trồng mắc-ca trên thế giới là 451.767 ha Trung Quốc là quốc gia có diện tích mắc-ca lớn nhất trên thế với 191.754 ha (chiếm 42,4%), tiếp đến là các nước: Nam Phi với 50.000 ha (chiếm 11,1%), Australia với 33.00 ha (chiếm 7,3%), Kenya với 24.000 ha (chiếm 5,3%), Việt Nam với 18.840 ha (chiếm 4,2%),

Bảng 1 Diện tích hạt mắc-ca toàn cầu trong năm 2020

Quốc gia Năm 2020 (ha) Tỷ trọng 2020 (%)

Nguồn: Trung tâm TT CN&TM tổng hợp từ INC và Hiệp hội mắc-ca các nước

Theo số liệu của Hội đồng hạt - quả khô quốc tế (INC), sản lượng mắc-ca tăng nhanh trong 10 năm trở lại đây, sản lượng tăng từ 97.600 tấn hạt vào năm 2010 lên 226.825 tấn mắc-ca của Nam Phi là 48.925 tấn (chiếm tỷ trọng 21,6%), trong khi của Astralia là 46.9000 tấn (chiếm tỷ trọng 20,7%), của Kenya là 37.000 tấn (tỷ trọng 16,3%), và của Trung Quốc là 30.400 tấn (chiếm tỷ trọng 13,4%)

Năm 2021, sản lượng hạt mắc-ca toàn cầu vẫn trong xu hướng tăng, ước tăng 6,4% so với năm 2020 lên 241.420 tấn Trong đó, Australia chiếm 21% tổng sản lượng hạt mắc- ca toàn cầu với 50.770 tấn, tăng 8,3% so với năm 2020; tiếp theo là Nam Phi chiếm tỷ trọng hơn 20% với sản lượng khoảng 49.000 tấn, tăng nhẹ 0,2% so với năm trước Trong năm này, Kenya tiếp tục là quốc gia sản xuất hạt mắc-ca lớn thứ ba toàn cầu với 42.250 tấn, tăng 14,2% so với năm trước Mặc dù, sản lượng hạt mắc-ca của Trung Quốc tiếp tục tăng so với năm 2020, tăng 5,3% lên 32.000 tấn, nhưng tỷ trọng đã giảm nhẹ xuống còn 13,2% trong tổng sản lượng của toàn cầu Sản lượng hạt mắc-ca của Hoa Kỳ có xu hướng giảm trong những năm gần đây, năm 2021, sản lượng hạt mắc-ca của quốc gia này dự báo sẽ tiếp tục giảm 2% xuống còn 15 nghìn tấn Trong số các quốc gia sản xuất mắc-ca hàng đầu, Việt Nam có mức tăng trưởng sản lượng nhiều nhất, sản lượng trong năm 2021 dự báo sẽ tăng 26,4% so với năm 2020

Bảng 2 Sản lƣợng hạt mắc-ca toàn cầu trong năm 2020 – 2021 (nguyên vỏ, độ ẩm 3,5%)

Nguồn: Trung tâm TT CN&TM tổng hợp từ INC và Hiệp hội mắc-ca các nước

Nhìn chung, thị phần của các quốc gia trong tổng sản lượng hạt mắc-ca toàn cầu không có nhiều thay đổi, các nước hàng đầu về sản lượng trong những năm qua vẫn là Australia, Nam Phi, Kenya và Trung Quốc Trong năm 2021, thị phần có thay đổi nhẹ so với năm 2020: thị phần của Nam Phi giảm từ mức 22% xuống còn 20% trong khi Kenya tăng từ 16% lên 18%

Biểu đồ 1 Thị phần sản xuất hạt mắc-ca toàn cầu, phân theo địa lý

Nguồn: Trung tâm TT CN&TM tổng hợp từ INC và Hiệp hội mắc-ca các nước

1.1.2 Sản lượng nhân mắc-ca toàn cầu

Sản lượng nhân mắc-ca toàn cầu tiếp tục tăng, ước tính niên vụ 2020 đạt hơn 62.875 tấn, tăng 4,7% so với vụ trước và cao hơn 45% so với mức bình quân 10 năm trước

Australia và Nam Phi là những quốc gia sản xuất nhân mắc-ca hàng đầu thế giới, lần lượt chiếm 25% tổng sản lượng nhân mắc-ca toàn cầu

Sản lượng nhân mắc-ca của Trung Quốc có xu hướng tăng mạnh trong những năm gần đây, với mức tăng 33% so với năm 2019 lên 8.800 tấn trong năm 2020

Biểu đồ 2: Tăng trưởng sản lượng nhân mắc-ca toàn cầu giai đoạn 2010 – 2021

Nguồn: Trung tâm TT CN&TM tổng hợp từ INC và Hiệp hội mắc-ca các nước

Năm 2021, tổng sản lượng dự kiến đạt 67.195 tấn, tăng 6,9% so với 2020 Trong đó, Australia chiếm 25,5% tổng sản lượng với 17.150 tấn, tăng 8,3% so với năm trước; sản lượng của Nam Phi ổn định ở mức 15.700 tấn, tỷ trọng giảm từ 25% trong năm 2020 xuống 23,4% trong năm nay Sản lượng mắc-ca của Trung Quốc tăng 9,1% lên 9.600 tấn, chiếm tỷ trọng 14,3% Trong năm 2021, sản lượng nhân mắc-ca của hầu hết các vùng trồng hàng đầu đều tăng khá, nhất là Guatemala (tăng 22,8%); riêng sản lượng của Hoa

Kỳ giảm 2,9% so với năm 2020, xuống 3.300 tấn, tỷ trọng cũng giảm từ 5,4% xuống 4,9% Một số quốc gia duy trì sản lượng nhân mắc-ca ổn định gồm: Nam Phi, Brazil và Colombia

Bảng 3 Sản lƣợng nhân mắc-ca toàn năm 2020 - 2021

Nguồn: Trung tâm TT CN&TM tổng hợp từ INC và Hiệp hội mắc-ca các nước

Biểu đồ 3 Thị phần sản xuất nhân mắc-ca toàn cầu, phân theo địa lý

Nguồn: Trung tâm TT CN&TM tổng hợp từ INC và Hiệp hội mắc-ca các nước

Tính chung trong giai đoạn 2015 – 2020, sản lượng nhân mắc-ca toàn cầu bình quân đạt 55.787 tấn/năm Trong đó Australia chiếm tỷ trọng khoảng 26% với sản lượng bình quân là 14.600 tấn/năm; Nam Phi chiếm tỷ trọng khoảng 27% với sản lượng 15.118 tấn/năm; Kenya là 6.852 tấn/năm, đóng góp 12% vào tổng sản lượng nhân mắc-ca toàn cầu; Trung Quốc chiếm tỷ trọng 10% với sản lượng bình quân 5.369 tấn/năm

Bảng 4 Sản lƣợng nhân mắc-ca toàn cầu bình quân trong 2015 - 2020

Quốc gia Sản lƣợng (Tấn) Tỷ trọng

Các quốc gia còn lại 4.957 9%

Nguồn: Trung tâm TT CN&TM tổng hợp từ INC và Hiệp hội mắc-ca các nước

Trong mười năm qua, giá trị của toàn ngành nhân mắc-ca toàn cầu đã tăng trưởng mạnh mẽ, tăng 134,7% từ mức 0,46 tỷ USD trong năm 2011 lên 1,13 tỷ USD vào năm

2020 Giai đoạn 2014 - 2020, giá trị của ngành duy trì xu hướng tăng cao, nhất là trong những năm 2015 – 2018

Niên vụ 2020/21, mặc dù sản lượng nhân mắc-ca tăng nhưng giá trị toàn ngành nhân mắc-ca toàn cầu lại giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến tiêu thụ mắc-ca khó khăn hơn, ước tổng giá trị giảm 4,4% so với niên vụ 2019/20, xuống 1,08 tỷ USD trong niên vụ này

Biểu đồ 4: Tăng trưởng giá trị của nhân mắc-ca toàn cầu

Nguồn: Trung tâm TT CN&TM tổng hợp từ INC và Hiệp hội mắc-ca các nước

1.1.3 Phân bố sản xuất theo khu vực địa lý và các loại giống mắc-ca tiêu biểu tại từng khu vực địa lý

1.1.3.1 Phân bố theo khu vực địa lý

Trong một thập kỷ qua, sản lượng mắc-ca toàn cầu liên tục tăng, xét theo địa lý, có thể chia vùng sản xuất gồm: khu vực Bắc Mỹ, châu Á - Thái Bình Dương, châu Âu và một các nước còn lại Trong đó, châu Á - Thái Bình Dương chiếm thị phần lớn nhất với 32,4% trong tổng sản lượng mắc-ca toàn cầu Lý do khiến sản lượng và thị phần hạt mắc- ca của khu vực này tăng là do tăng tiêu thụ mắc-ca ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc Ngoài ra, nhu cầu sử dụng hạt mắc-ca trong ngành công nghiệp mỹ phẩm của khu vực này cũng gia tăng Còn châu Âu dự báo vẫn là thị trường phát triển mạnh nhất nhờ các yếu tố như: gia tăng đầu tư, chính sách phát triển mới, nhận thức về lợi ích sức khỏe của các loại hạt và trái cây sấy khô cũng như nhu cầu ngày càng tăng đối với hạt mắc-ca trong ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống

Mật độ trồng mắc-ca trung bình 200 cây/ha, phương thức trồng gồm: trồng thuần loài và trồng xen canh (với các loài cây công nghiệp như cà phê, tiêu, chè ) Trong đó, các nước phát triển như Australia, Hoa Kỳ, chủ yếu là trồng thuần loài, các nước còn lại trồng xen là chủ yếu

Năng suất mắc-ca phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như điều kiện lập địa, giống, tuổi cây trồng và kỹ thuật canh tác Các nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng, mắc-ca phải được trồng bằng cây ghép của các dòng đã được chọn lọc mới cho năng suất quả cao, trồng cây thực sinh cho năng suất thấp, phẩm chất kém, tỷ lệ thu hồi nhân thấp, không trở thành cây trồng sản xuất hàng hóa

Bảng 5 Năng suất mắc-ca bình quân ở các tuổi khác nhau (kg/cây), phân theo vùng trồng

Nguồn: Bộ NN và PT NT Việt Nam; Hiệp hội Mắc-ca Australia, 2020

Mắc-ca trồng bằng cây ghép được 3 - 4 năm bắt đầu cho quả, từ năm thứ 10 trở đi cho năng suất ổn định, tuổi thọ từ 50-60 năm Mắc-ca được trồng ở các khu vực khác nhau cho năng suất khác nhau và năng suất tăng dần theo tuổi cây Ở giai đoạn 6-10 tuổi, năng suất đạt từ 4-10 kg/cây (tương đương với 0,8-2 tấn/ha) Từ năm thứ 10 trở đi năng suất từ 10 - 40 kg/cây (tương đương với 2 - 4 tấn/ha)

1.1.3.2 Phân bố theo loại giống

Hiện trên thế giới, các loại mắc-ca thương phẩm chủ yếu là loại mắc-ca vỏ láng và mắc-ca vỏ nhám Nguyên sản mắc-ca là vùng á nhiệt đới ẩm tại duyên hải phía đông Queensland Loài mắc-ca vỏ hạt láng (Macadamia integrifolia) phân bố từ 250-280 vĩ tuyến nam, loài mắc-ca vỏ hạt nhám (M tetraphylla) phân bố xa hơn xuống phía nam tới vùng bắc New South Wales 280-290 vĩ tuyến nam Khi dẫn giống sang Hawaii 200-210 vĩ tuyến bắc thì sản lượng nhân của giống mắc-ca vỏ láng (M integrifolia) tăng khoảng 30% so với vùng nguyên sản Cụ thể như sau: a) Mắc-ca vỏ láng hoặc mắc-ca lá nhẵn (Macadamia integrifolia Maiden – Betche)

Việt Nam

2.1.1 Diện tích, sản lượng, năng suất

Tại Việt Nam, cây mắc-ca được đưa vào trồng từ những năm 1990 Năm 2020, tổng diện tích mắc-ca của cả nước là khoảng 16.400 ha; trong đó 65 ha thuộc các đề tài nghiên cứu, 480 ha thuộc dự án khuyến lâm; 7.500 ha của doanh nghiê ̣p, 8.355 ha của người dân tự trồng Đến tháng 6/2021, cả nước có 29 tỉnh trồng mắc-ca, với tổng diện tích 18.840 ha, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2020 và vượt 8.900 ha so với quy hoạch, đạt 189,5%; trong đó, Tây Bắc và Tây Nguyên là hai vùng trồng chủ yếu, với 17.576, ha, chiếm 98,7% diện tích mắc-ca cả nước

Trong đó, diện tích trồng thuần loài: 8.036,9 ha, chiếm 42,7,0%; mật độ trồng từ 278-

330 cây/ha; Diện tích trồng trồng xen canh: 10.803,1 ha, chiếm 57,0%; mật độ trồng từ

100 -150 cây/ha Vùng Tây Bắc và các tỉnh vùng khác chủ yếu trồng thuần loài, tập trung; vùng Tây Nguyên chủ yếu trồng xen canh với các cây công nghiệp, cây nông nghiệp khác như cà phê, chè, hồ tiêu,…

Trong tổng diện tích mắc-ca hiện nay, có 11.943,1 ha, tuổi từ 1-4, chiếm 63,4%; diện tích cho thu hoạch 6.896 ha, chiếm 36,6 % diện tích Mắc-ca ở vùng Tây Bắc chủ yếu mới được trồng trong những năm gần đây với diện tích 6.274,6 ha (chiếm 82%), diện tích cho thu hoạch mới đạt 18 % Đối với vùng Tây Nguyên, diện tích mắc-ca đang cho thu hoạch là 5.228,8 ha (chiếm 53%)

Bảng 11 Diện tích trồng mắc-ca tính đến tháng 6/2021

Quy hoạch (ha) Đã trồng ( ha)

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT Việt Nam

Bảng 12 Diện tích mắc-ca theo phương thức trồng và cấp tuổi

TT Vùng trồng Tổng diện tích (ha)

Theo phương thức trồng Theo cấp tuổi Trồng thuần Trồng xen

TT Vùng trồng Tổng diện tích (ha)

Theo phương thức trồng Theo cấp tuổi Trồng thuần Trồng xen

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT Việt Nam

Năm 2020 tổng sản lượng thu hoạch mắc-ca ước đạt 6.570 tấn hạt tươi (tương đương 4.930 tấn hạt khô), tăng 24,5 lần so với năm 2015 Năm 2021, tổng sản lượng mắc-ca ước đạt 8.514,2 tấn hạt, tăng 29,6% so với năm 2020 Đóng góp phần lớn vào tổng sản lượng là từ các diện tích trồng xen với 5.159,8 tấn, chiếm tỷ trọng 60,6%, còn vùng trồng thuần chiếm 39,3% với 3.354,4 tấn

Tây Nguyên vẫn là vùng có sản lượng mắc-ca lớn nhất cả nước, chiếm tới 75,8% tổng sản lượng mắc-ca của cả nước với 6.456,5 tấn Tiếp theo là vùng Tây Bắc, sản lượng ước đạt 1.654,4 tấn, chiếm tỷ trọng 19,4%; còn lại là sản lượng của các vùng trồng rải rác khác

Bảng 13 Sản lƣợng mắc-ca theo vùng

Vùng trồng Sản lượng theo phương thức trồng Tổng sản lượng năm 2021

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT Việt Nam

Bảng 14 Sản lượng Mắc-ca theo phương thức trồng và cấp tuổi năm 2021

Sản lƣợng dự kiến (tấn)

Trong đó Theo phương thức trồng Theo cấp tuổi

Sản lƣợng dự kiến (tấn)

Trong đó Theo phương thức trồng Theo cấp tuổi

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT Việt Nam

Năng suất hạt mắc-ca trồng tại các vùng với các phương thức trồng khác nhau có sự khác nhau rõ rệt, cụ thể:

+ Tại khu vực Tây Bắc, năng suất trung bình ở tuổi 7 trở lên đạt 3,0 tấn hạt tươi/ha, đối với phương thức trồng thuần và 2,1 tấn hạt tươi/ha đối với phương thức trồng xen với cây trồng khác Như vậy, năng suất cao hơn khoảng khoảng 1,63 lần so với vùng nguyên sản Australia (1,8 tấn/ha)

+ Tại khu vực Tây Nguyên, năng suất trung bình ở tuổi 7 trở lên đạt 4,0 tấn hạt tươi/ha đối với phương thức trồng thuần và 2,8 tấn hạt tươi/ha đối với phương thức trồng xen với cây trồng khác Như vậy, năng suất cao hơn 2,17 lần so với vùng nguyên sản Australia (1,8 tấn/ha)

Biểu đồ 15 So sánh năng suất hạt Mắc-ca theo địa lý

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT Việt Nam

Một số mô hình trồng mắc-ca cho năng suất cao và thu nhập ổn định, như: mô hình ở xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu, Sơn La; xã Ẳng Tơ, huyện Mường Ẳng, Điện Biên; ở thị trấn Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, Đắk Lắk,

2.1.2 Vùng trồng và giống tương ứng

Từ năm 2001, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã nhập 09 dòng mắc-ca từ Australia và 2 dòng mắc-ca từ Trung Quốc để khảo nghiệm Giai đoạn 2002-2015, đến năm 2018, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công nhận được 13 dòng mắc-ca và đưa vào sản xuất, bao gồm các dòng: OC, 246, 816, A38, A16, QN1, Daddow, 842,

849, 741, 800, 900 và 695 Đến nay, cả nước có 11 vườn cây đầu dòng được công nhận, trong đó: 3 vườn tại Tây Bắc, 4 vườn tại Tây Nguyên, 4 vườn ngoài vùng quy hoạch Tổng diện tích 35,4 ha (4289 cây đầu dòng) đạt tiêu chuẩn lấy hom ghép

Về sản xuất giống, cả nước có 26 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống mắc-ca (15 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống mắc-ca đủ điều kiện theo quy định), trong đó: vùng Tây Bắc 4 cơ sở, vùng Tây Nguyên 16 cơ sở và 6 cơ sở ngoài vùng quy hoạch (Hà Nội: 3, Thanh Hóa: 1, Nghệ An: 1 và Quảng Trị: 1) Hàng năm, sản xuất được khoảng 1.790.000 cây ghép Với số giống này nếu trồng thuần sẽ được 6.118 ha (mật độ 280 cây/ha) hoặc 14.920 ha nếu trồng xen (mật độ 120 cây/ha)

Hiện tại trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên và Tây Bắc và Vùng khác đã trồng 23 dòng:

OC, 246, 695, 741, 800, 816, 842, 849, 900, Daddow, A16, A38, QN1, 788, 344, A4, A268, A203, 699, 508, 814, 846, H2 Trong đó có 13 dòng mắc-ca đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận (OC, 246, 695, 741, 800, 816, 842, 849, 900, Daddow, A16, A38, QN1), và 10 dòng chưa được công nhận: 788, 344, A4, A268, A203,

Các dòng được trồng trên 10% diện tích bao gồm: OC, 246, 816, 849; các dòng trồng từ 5 đến dưới 10% diện tích bao gồm: QN1, 741, 800, 695, 842; Các dòng trồng từ 1 đến dưới 5% diện tích gồm: A38, A16, 900, 788, H2, Daddow; các dòng còn lại trồng dưới 1% diện tích Một số dòng được trồng nhiều tại vùng Tây Bắc và Tây Nguyên bao gồm:

+ Khu vực Tây Bắc (gồm Lai Châu, Sơn La, Điện Biên ): Giống Mắc-ca được trồng với diện tích nhiều nhất là dòng OC, thứ 2 là dòng 246, thứ 3 là dòng 816 và thứ 4 là dòng

+ Vùng Tây Nguyên: Giống mắc-ca được trồng với diện tích nhiều nhất là dòng OC, thứ 2 là dòng 849, thứ 3 là dòng 246 và thứ 4 là dòng QN1

Bảng 15 Tham khảo đánh giá các dòng mắc-ca, phân theo vùng trồng

TT Vùng trồng Các dòng phù hợp Các dòng không phù hợp

2 Điện Biên OC, A38, QN1, 246, A16, A4 Daddow, 816, 900, 695

3 Sơn La OC, A38, 246, QN1, 816 Daddow, 900, 695

8 Thanh Hóa OC, A38, 246 Daddow, 900 và, 856

9 Nghệ An OC, A38 Daddow, 344 và H2

10 Quảng Trị OC, A38, 246 Daddow và 344

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT Việt Nam

Nhìn chung, các dòng được trồng ở điều kiện đất đai, khí hậu tương tự với cùng chế độ chăm sóc nhưng các dòng OC, 246, 816, 849, 695, daddow, 788 cho năng suất cao hơn so với các dòng khác

DỰ BÁO

Về nhu cầu, xu hướng tiêu dùng các sản phẩm mắc ca

Trong thập kỷ qua việc tiêu thụ các loại hạt đã gia tăng trên toàn cầu do tăng nhận thức về lợi ích và tác dụng của các loại hạt đối với sức khỏe con người; trong đó, hạt mắc-ca được coi là thực phẩm có giá trị, nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu, tốt cho sức khỏe, có thể làm giảm nguy cơ các bệnh về tim mạch Gia tăng tiêu thụ hạt mắc-ca nói riêng và các loại hạt khác vẫn sẽ là xu hướng phổ biến trong thời gian tới

Dưới đây là những yếu tố chính về nhu cầu và xu hướng tiêu dùng giúp thúc đẩy thị trường mắc-ca gồm:

- Hạt mắc-ca được coi là cây lương thực có giá trị và là nguồn cung cấp dồi dào các chất dinh dưỡng cần thiết Nhận thức về lợi ích sức khỏe của các loại hạt và trái cây sấy khô ngày càng tăng sẽ thúc đẩy nhu cầu sử dụng hạt sấy khô trong chế độ ăn uống hằng ngày của người tiêu dùng trên khắp thế giới Nhất là trong bối cảnh đại dịch Covid-19, nhu cầu về thực phẩm dinh dưỡng tăng mạnh

- Tiếp tục gia tăng nhu cầu về hạt mắc-ca trong ngành thực phẩm và đồ uống bởi những lợi ích về sức khỏe và đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng Việc các hãng sản xuất thực phẩm liên tiếp đưa ra những sản phẩm mới sử dụng nguyên liệu mắc-ca như đồ ăn nhanh, sữa hạt, ngũ cốc, bánh dinh dưỡng, kem, bơ cũng là yếu tố thúc đẩy thị trường mắc-ca

- Tăng nhu cầu sử dùng mắc-ca làm nguyên liệu trong ngành công nghiệp mỹ phẩm Nhu cầu tiêu thụ mắc-ca trong ngành công nghiệp mỹ phẩm có xu hướng tăng nhanh trong vài năm trở lại đây do tác dụng làm mềm da, chống lão hóa của loại hạt này Hiện nhiều hãng mỹ phẩm đã sử dụng mắc-ca làm thành phần thiết yếu trong các sản phẩm chăm sóc da, kem dưỡng ẩm, kem chống nắng và chống lão hóa Xu hướng này dự báo sẽ còn gia tăng trong thời gian tới

- Nhu cầu gia tăng đối với dầu mắc-ca trong ngành dược phẩm, nhất là ở lĩnh vực thực phẩm chức năng

- Xu hướng sử dụng sản phẩm mắc-ca hữu cơ cũng được đánh giá là sẽ tăng lên trong thời gian tới Phân khúc hạt mắc-ca hữu cơ dự kiến sẽ đạt tốc độ tăng trưởng 10,2% từ năm 2020 đến năm 2027 Sự phát triển ngày càng tăng của thực phẩm hữu cơ là nguyên thông thường vì chúng không chứa thuốc trừ sâu và phân bón tổng hợp Dự báo, hạt mắc- ca hữu cơ sẽ ngày càng được ưa chuộng tại các nước châu Âu và một số nước phát triển khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand,

- Hạt mắc-ca còn nhiều dư địa để gia tăng thị phần tiêu thụ trên thị trường thế giới Hiện nay, mặc dù mắc-ca là hạt có nhiều ưu điểm về các giá trị dinh dưỡng và được ưa chuộng nhưng do mới phát triển, nên lượng tiêu thụ còn chiếm tỷ trọng nhỏ so với các loại hạt khác trên toàn cầu (chiếm 1,3%), điều này cho thấy tiềm năng phát triển cây mắc- ca và mở rộng thị trường đối với hạt mắc-ca còn rất lớn (theo INC,2020)

Tuy nhiên, ngành mắc-ca vẫn tồn tại những thách thức tăng trưởng như:

- Biến động về nguồn cung

- Sự gia tăng mất mùa, đặc biệt là ở các nước đang phát triển đã dẫn đến sự biến động trong nguồn cung hạt mắc-ca Điều này càng làm tăng giá hạt mắc-ca, đây là một trong những yếu tố chính được đánh giá là làm giảm tốc độ tăng trưởng của thị trường hạt mắc- ca

- Tác động của đại dịch Covid-19 ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất, thu hoạch mắc-ca Trong khi thương mại có thể gặp khó khăn bởi các hàng rào kỹ thuật phòng chống dịch bệnh

Giá trị hạt mắc-ca đang có xu hướng tăng trên thế giới và dự báo sẽ còn tiếp tục tăng nhanh chóng trong những năm tới Sự tăng trưởng này đến chủ yếu từ các thị trường mới nơi mà thu nhập của người dân đang được cải thiện, đồng thời, hạt mắc-ca đã được chứng minh có lợi cho sức khỏe và có hương vị hấp dẫn, thậm chí hơn một số loại hạt truyền thống Quy mô thị trường hạt mắc-ca toàn cầu đạt 1,43 tỷ USD vào năm 2020 và dự báo sẽ tăng lên hơn 1,8 tỷ USD vào năm 2027, đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm là 4,5% trong giai đoạn 2021 - 2027 Các thị trường quan trọng bao gồm: Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Đức, Pháp, Vương quốc Anh, Nga, Ý, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á, Australia, Brazil và Ả Rập Xê Út

Còn theo nghiên cứu của Grand View Research (Mỹ), quy mô thị trường hạt mắc-ca toàn cầu dự kiến sẽ đạt 2,4 tỷ USD vào năm 2027, mở rộng với tốc độ tỷ lệ tăng trưởng kép hằng năm (CAGR) là 9,2% từ năm 2020

Thị phần tiêu thụ của hạt mắc-ca trên thị trường hạt toàn cầu dự báo cũng sẽ tăng nhanh chóng Thời gian gần đây các tổ chức như Ủy ban nghiên cứu phát triển mắc-ca thế giới (IMSC), Hiệp hội Mắc-ca Australia, đã và đang thực hiện các chiến lược quảng bá để thúc đẩy thị trường tiêu thụ mắc-ca trên toàn thế giới, mục tiêu đến năm 2025 sản lượng nhân mắc-ca sẽ chiếm 5% thị phần các loại hạt trên thế giới, tương đương với khoảng 220.000 tấn nhân (Hiệp hội Mắc-ca Australia, 2020).

Về năng lực cung ứng, xu hướng sản xuất và công nghệ sản xuất mắc ca trên thế giới52 1.3 Về xu hướng chính sách của các thị trường đối tác có thể ảnh hưởng tới xuất khẩu mắc ca của Việt Nam

Theo Báo cáo thống kê của INC 2020/2021, diện tích trồng mắc-ca trên thế giới trong

10 năm qua(2010 – 2020) tăng từ 140.000 ha năm 2010 lên 451.767 ha năm 2020 (tăng bình quân 31.767 ha/năm), trong đó riêng Trung Quốc tăng 175.500 ha (chiếm 56,3%) và trong thời gian tới dự kiến tăng thêm khoảng 100.000 ha (Hiệp hội Mắc-ca Australia, 2020); một số quốc gia diện tích trồng mắc-ca cơ bản đã ổn định như Hoa Kỳ, Australia, Guatemala, Malawi, các quốc gia khác có diện tích trồng mắc-ca tăng lên không đáng kể Như vậy, việc mở rộng diện tích trồng mắc-ca trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm đến năm 2025 của toàn thế giới ước đạt khoảng 214.100 tấn nhân (tương đương khoảng 850.000 tấn hạt) sẽ rất hạn chế Nguyên nhân khiến diện tích tăng chậm và cơ bản ổn định vì quỹ đất thích hợp trồng mắc-ca bị hạn chế

Về sản lượng, giai đoạn 2010- 2020, tổng sản lượng mắc-ca toàn cầu tăng từ 97.600 tấn hạt năm 2010 lên 224.411 tấn hạt năm 2020 (tăng bình quân 12.681 tấn hạt/năm) Đến năm 2022 sản lượng mắc-ca dự báo sẽ tăng gấp đôi hiện nay, do các diện tích trồng mới bắt đầu vào giai đoạn thu hoạch ổn định, sản lượng tăng mạnh ở Trung Quốc và một số nước khác

Tuy nhiên, cho tới nay, sản lượng mắc-ca trên toàn thế giới mới chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu trong khi tốc độ tăng trưởng của thị trường bình quân khoảng 12%/năm Đến năm

2030 lượng cung hạt mắc-ca mới chỉ đáp ứng 50% nhu cầu tiêu thụ

Trong nỗ lực phục hồi thị trường sau đại dịch Covid-19, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và phân phối hạt mắc-ca và các chế phẩm từ mắc-ca trên toàn cầu sẽ cho ra mắt nhiều sản phẩm mới, tiến hành các cuộc mua bán và sáp nhập (M&A), liên doanh và mở rộng thị trường tiêu thụ Đây được xem là những chiến lược quan trọng mà các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp mắc-ca sẽ hướng tới Một số nhà sản xuất và kinh doanh mắc-ca hàng đầu bao gồm: Buderim Group Limited, Hamakua Macadamia Nut Company, Hawaiian Macadamia Nut Orchards, L.P., North Shore Macadamia Nut Company, Makua Coffee, Superior Nut Company Inc, T.M WARD COFFEE COMPANY, MacFarms, Nambucca Macnuts Ltd, và Kenya Nut Company Ltd

1.3 Về xu hướng chính sách của các thị trường đối tác có thể ảnh hưởng tới xuất khẩu mắc-ca của Việt Nam

Về sản xuất, xác định mắc-ca là cây trồng tiềm năng, việc phát triển cây mắc-ca tại tỉnh Vân Nam nói riêng và Trung Quốc nói chung đã nhận được sự quan tâm của Chính phủ Trong vài năm trở lại đây, diện tích trồng mắc-ca của Trung Quốc tăng mạnh mẽ và vượt qua các nước trồng mắc-ca truyền thống như Australia và Nam Phi, trở thành quốc gia có diện tích mắc-ca lớn nhất toàn cầu Đến nay, Chính phủ Trung Quốc vẫn duy trì kế hoạch mở rộng diện tích và tăng năng suất cây mắc-ca cho đến năm 2030 hướng đến phục vụ thị trường nội địa Tại các tỉnh có trồng mắc-ca đều đã thành lập Hiệp hội, phía dưới là các công ty Viện Cây trồng nhiệt đới tỉnh Vân Nam đã có chương trình phát triển mắc-ca từ năm 1993 Hiện nay, Viện đã có 20 nghiên cứu viên chuyên sâu về mắc-ca Viện đang nghiên cứu tạo giống mắc-ca cho quả vỏ mỏng, gọi là quả vỏ giấy, có thể tách lấy hạt bằng tay, đồng thời tăng lượng chất béo không bão hòa trong quả hạt mắc-ca Hiện nay, tất cả mắc-ca sản xuất tại Trung Quốc đều được tiêu thụ trong nước, ngoài ra Trung Quốc nhập khẩu lượng lớn mắc-ca làm nguyên liệu chế biến phục vụ cả thị trường trong nước và xuất khẩu

Nhu cầu tiêu thụ mắc-ca của Trung Quốc đang có xu hướng tăng cao và mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam Bên cạnh đó, cũng không ít thách thức đặt ra, đó là: thứ nhất, thời gian tới, khi phần lớn diện tích mắc-ca vào giai đoạn cho năng suất tốt hơn (cây độ tuổi trên 5 năm), sản lượng mắc-ca của Trung Quốc cũng sẽ tăng; thứ hai, nhu cầu cao tiếp tục thúc đẩy các nhà vườn Trung Quốc mở rộng diện tích trồng; thứ ba, xu hướng gia tăng rào cản thương mại với các hàng hóa nhập khẩu vào Trung Quốc như hàng rào kỹ thuật về tiêu chuẩn, kiểm dịch, vệ sinh an toàn thực phẩm

Kể từ ngày 01/10/2019, phía Trung Quốc sẽ không yêu cầu đăng ký hồ sơ lưu đối với nhãn mác bao bì của thực phẩm đóng gói sẵn lần đầu nhập khẩu vào Trung Quốc

Theo đó, nhà nhập khẩu chịu trách nhiệm đảm bảo nhãn mác bằng tiếng Trung Quốc trên bao bì đóng sẵn của thực phẩm nhập khẩu vào Trung Quốc phải phù hợp với quy định pháp luật liên quan của Trung Quốc, phù hợp với quy định hành chính và yêu cầu về tiêu chuẩn an toàn thực phẩm quốc gia Nếu thẩm tra không đáp ứng tiêu chuẩn sẽ không được nhập khẩu

Bên cạnh đó, thực phẩm đóng gói sẵn khi nhập khẩu sẽ được lấy mẫu kiểm tra xác suất tại hiện trường hoặc kiểm nghiệm trong phòng thí nghiệm Nhà nhập khẩu cần cung cấp tài liệu chứng minh hàng hóa đáp ứng điều kiện nhập khẩu, tài liệu gốc và bản dịch ghi nhãn mác, mẫu ghi nhãn tiếng Trung và các tài liệu chứng minh khác cho nhân viên hải quan

Năm 2021, Trung Quốc đã ban hành lệnh 249 về các biện pháp quản lý an toàn thực phẩm xuất nhập khẩu và lệnh 248 ban hành quy định về quản lý đăng ký doanh nghiệp sản xuất thực phẩm nước ngoài nhập khẩu vào Trung Quốc Hai lệnh này sẽ có hiệu lực thi hành kể từ đầu năm 2022 Theo Lệnh 248, toàn bộ doanh nghiệp nước ngoài sản xuất thực phẩm xuất khẩu sang Trung Quốc đều phải đăng ký với Hải quan Trung Quốc Trong đó, nhóm 1 gồm 18 nhóm mặt hàng phải đăng ký thông qua các cơ quan quản lý Nhà nước Nhóm 2 là thực phẩm ngoài 18 mặt hàng thuộc nhóm 1 đăng ký trực tiếp với Hải quan Trung Quốc thông qua website singlewindow.cn Tại Lệnh 249, Hải quan Trung Quốc yêu cầu đánh giá sự phù hợp, đưa ra nguyên tắc quản lý nhập khẩu với thực phẩm chưa có tiêu chuẩn quốc gia; đưa ra nguyên tắc quản lý nhập khẩu với thực phẩm sử dụng nguyên liệu mới; thay đổi về yêu cầu ghi nhãn; cơ sở sản xuất phải tự chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm với thực phẩm mình sản xuất; lần đầu tiên chính thức chấp nhận phương án đánh giá trực tuyến…

Theo quy định mới, từ ngày 1.1.2022, nếu doanh nghiệp chưa hoàn thành đăng ký và được Tổng cục Hải quan Trung Quốc cấp mã, lô hàng xuất khẩu sẽ không được thông quan Hồ sơ hải quan bao gồm: Tờ khai hàng hóa xuất khẩu; Giấy phép xuất khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép xuất khẩu; Commercial Invoice; Packing List; Giấy tờ đầu vào hàng hóa (hóa đơn, bảng kê thu mua); Hợp đồng ủy thác xuất khẩu (nếu ủy thác)

Thủ tục, hồ sơ xuất khẩu thực hiện theo quy định hiện hành tại Điều 16 và 18 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính bao gồm: Bill of Lading/Air Waybill; Invoice; Packing List; Certificate of Quantity/Quality; Phytosanitary Certificate; Fumigation Certificate; Certficate of Origin

Bảng 21: Quy định về thuế nhập khẩu đối với hạt mắc ca (mã HS 08026200) vào

Trung Quốc Đơn vị tính Kilogram Mức thuế suất phổ thông

Thuế GTGT 9% Mức thuế bổ sung đối với hàng hóa từ Hoa Kỳ

Các quy định và hạn chế

Quy định về kiểm dịch

FTA (miễn China-ASEAN FTA; Chứng nhận an Hạn ngạch đối 0 Đơn vị tính Kilogram Mức thuế suất phổ thông

China-Chile FTA; China- Peru FTA; Special Preferential Tariff for LDCs (LDC1); China- Iceland FTA; China- Australia FTA toàn sản phẩm bắt buộc với hàng nhập khẩu

Nguồn: Hải quan Trung Quốc

Thị trường Australia là một thị trường nhập khẩu đầy tiềm năng dù dân số không lớn so với diện tích Tuy vậy, thị trường này mang đến cơ hội cho các nhà cung cấp nước ngoài do phụ thuộc nhiều vào hàng hoá nhập khẩu phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng Thị trường Australia tương đối mở cho các nhà cung cấp nước ngoài, với việc không áp dụng hạn ngạch nhập khẩu và hầu hết thuế nhập khẩu là 5% (mức thuế chung) và 0% cho các nước kém phát triển Theo Hiệp định Khu vực Thương mại Tự do giữa ASEAN và Australia, New Zealand (AANZFTA) thì khoảng 96% thuế quan của Australia được loại bỏ vào năm 2010, phần còn lại sẽ được thực hiện nốt vào năm 2020 đối với hàng hoá nhập khẩu nhập khẩu từ các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam

Tuy nhiên, thị trường Australia cũng tồn tại không ít thách thức cho các nhà cung cấp nước ngoài Hầu hết các nhà nhập khẩu Australia đặt hàng với số lượng nhỏ nhưng trông đợi được chào hàng với giá thấp hơn cả ở Hoa Kỳ và hầu hết các nước châu Âu Ngoài ra, các nhà nhập khẩu Australia yêu cầu thời hạn giao hàng nghiêm ngặt và đưa ra các tiêu chuẩn tương đối cao

Australia sử dụng Biểu thuế chung đối với các mặt hàng nhập khẩu từ các nước phát triển hơn (Nhật, Anh…) Bên cạnh biểu thuế này, Australia cũng dành một số ưu đãi cho nhiều nhóm nước (ví dụ như đối với các nước đang phát triển có đủ điều kiện được hưởng ưu đãi và các nước thành viên Diễn đàn Khu vực đảo Thái Bình Dương (PIF)), các nước đã ký hiệp định thương mại song phương như Papua New Guinea, Canada, New Zealand, Singapore, Hoa Kỳ, Thái Lan, Chi Lê, Malaysia, và các nước ASEAN Thành viên của ASEAN là Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam

Về nhu cầu, xu hướng tiêu dùng, thị trường

* Triển vọng về nhu cầu, tiêu thụ tại thị trường nội địa

Những yếu tố thúc đẩy thị trường:

- Xu hướng tiêu thụ các loại hạt có lợi cho sức khỏe đang là xu hướng chung của cả thế giới và cả ở Việt Nam nói riêng Nhận thức được những lợi ích từ hạt mắc-ca cộng với xu thế tiêu thụ các sản phẩm có hạt trong chế độ ăn kiêng, ăn chay của nhiều người dân thành thị, nhất là ở các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội đã góp phần làm tăng tiêu thụ mắc-ca ở Việt Nam

- Ứng dụng của mắc-ca trong ngành công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm ngày càng đa dạng và kích cầu Thị trường mắc-ca Việt được hưởng lợi từ những công nghệ chế biến mắc-ca hiện đại của thế giới với các sản phẩm phong phú như: sữa hạt, bánh kẹo, ngũ cốc, kem dưỡng da, thực phẩm chức năng, các loại thực phẩm bổ sung, thay thế

- Nguồn cung dồi dào hơn, hạt mắc-ca trở nên phổ biến và dễ dàng tiếp cận sản phẩm hơn Cách đây 10 năm, sự xuất hiện của hạt mắc-ca còn khá ít trên thị trường và chủ yếu là mắc-ca nhập khẩu, giá bán lẻ các loại hạt và nhân mắc-ca cũng rất cao, người tiêu dùng Việt ít có cơ hội tiếp cận và sử dụng Tuy nhiên, đến nay, ở các thành phố lớn, người tiêu dùng có thể dễ dàng tìm kiếm các sản phẩm mắc-ca trong siêu thị, cửa hàng tiện lợi, các quầy hàng bánh kẹo và các kênh bán hàng trực tuyến Các sản phẩm mắc-ca cũng đa dạng hơn về nguồn gốc xuất xứ, chất lượng, hương vị, cách chế biến và cả giá thành

- Thị phần của hạt mắc-ca nội địa vẫn còn hạn chế trong tổng lượng tiêu thụ mắc-ca của Việt Nam, cơ hội cho mắc-ca Việt vẫn còn rộng mở và tiềm năng Hàng năm, Việt Nam vẫn nhập khẩu hơn 1.000 tấn hạt mắc-ca từ Australia, Nam Phi, Kenya và Trung Quốc để phục vụ nhu cầu tiêu thụ của người tiêu dùng trong nước Trong các ngày lễ, nhu cầu tiêu thụ và biếu tặng tại các thành thị lớn như Hà Nội, TP.HCM tăng đột biến Trong khi đó, hiện các siêu thị, cửa hàng vẫn chủ yếu phân phối mắc-ca nhập khẩu

Theo Bộ NN và PTNT Việt Nam, dự kiến, đến năm 2025 Việt Nam, tiêu thụ bình quân hạt mắc-ca của người Việt sẽ là 0,005 kg/người, và đến năm 2030 sẽ tăng mạnh lên 0,016 kg/người, nâng tổng lượng tiêu dùng lên 1.600 tấn nhân, tương ứng với trên 5.000 tấn hạt khô năm 2030

Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia đầu ngành đã đánh giá ngành công nghiệp mắc-ca trong tương lai có triển vọng tăng trưởng ổn đi ̣nh, trong trung và dài hạn kì vọng đạt mức tăng trưởng 5%/năm Giá trị hạt mắc-ca đang có xu hướng tăng trên thế giới Sự tăng trưởng này đến chủ yếu từ các thị trường mới nơi mà thu nhập của người dân đang được cải thiện

* Triển vọng về xuất khẩu mắc-ca của Việt Nam

Mặc dù sản lượng mắc-ca liên tục tăng trong thập kỷ qua, tăng bình quân hơn 30.000 tấn/năm nhưng đến nay mới đáp ứng được 25% nhu cầu của thị trường thế giới Đến các thời điểm năm 2025 và 2030, chênh lệch cung/cầu (cung thiếu so với cầu) là tương ứng 33.600 và 74.000 tấn nhân/năm Đây là cơ sở để đánh giá triển vọng của hạt mắc-ca Việt Nam khi lượng cầu về sản phẩm này ngày càng tăng trên thị trường thế giới nhưng không dễ nâng sản lượng nguyên liệu và thành phẩm Bởi việc mở rộng diện tích trồng mắc-ca bị giới hạn bởi điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và đất đai Quỹ đất phù hợp cho trồng mắc-ca hiện không còn nhiều nên diện tích mắc ca ở các quốc gia trồng mắc ca lớn như Hoa Kỳ, Australia hay Nam Phi khó tăng

Dự báo về thị trường trong thời gian tới, Bộ NN&PTNT cho biết nhóm 22 nước đang sử dụng sản phẩm mắc-ca với dân số hơn 2,2 tỷ dân, có tốc độ sử dụng hàng năm tăng bình quân 8% và dự báo sẽ tăng với tốc độ tối thiểu như hiện tại và tiêu thụ ít nhất khoảng 130.300 tấn nhân vào năm 2030 Trong đó, nhu cầu sẽ còn tăng ở các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, Australia, Đức, Nhật, Hoa Kỳ, Hàn Quốc ngoài ra cũng sẽ tăng mạnh ở các thị trường như Trung Quốc và Đông Nam Á

Nhu cầu tăng mạnh mẽ trong khi nguồn cung hạn chế sẽ mở ra cơ hội lớn cho ngành mắc-ca Việt Nam trong thời gian tới Nhất là trong sau khi Việt Nam đã ký hàng loạt các Hiệp định Thương mại tự do với các thị trường tiềm năng như châu Âu (EVFTA), Hàn Quốc (VKFTA), Hồng Kông (AHKFTA), Nhật Bản (VJEPA), Australia-New Zealand (AANZFTA) hay CPTPP

Theo Chủ tịch Hiệp hội Mắc-ca việt Nam, hiện là thời điểm để Việt Nam có thể tự tin phát triển mạnh và bài bản cây mắc-ca, để hướng tới mục tiêu xuất khẩu tỷ USD vào năm

2030 Đặc biệt, nhu cầu mắc-ca hữu cơ sẽ gia tăng nhanh chóng, giá cao hơn đem lại giá trị gia tăng cho ngành xuất khẩu mắc-ca, nhất là các thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ

Về năng lực cung ứng

Trong các năm 2020, 2021, dù bị ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch Covid-19, người dân trồng mắc-ca vẫn có thu nhập tốt vì mắc-ca được mùa và được giá trong khi các loại nông sản khác không tiêu thụ được do đứt gãy chuỗi cung ứng Hạt mắc-ca là hạt khô có đặc tính dễ chế biến, dễ vận chuyển, dễ bảo quản và tích trữ hơn so với các loại cây ăn quả khác, đó cũng là một trong các lý do khiến mắc-ca được giá giữa mùa dịch

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá, Việt Nam có tiềm năng quỹ đất lớn, nhất là diện tích đã qua canh tác phát nương làm rẫy nhiều năm bị thoái hóa, không còn phù hợp để trồng lúa nương, trồng cây truyền thống hoặc nếu canh tác sẽ đem lại hiệu quả không cao có thể đưa vào trồng cây mắc-ca

Dự báo, thời gian tới, cả sản lượng cung và cầu trên thế giới đều tăng nhanh, đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam phát triển vùng nguyên liệu mắc-ca và tham gia vào thị trường sản phẩm này trong giai đoạn 2021 – 2030 và các năm sau đó Bên cạnh đó, Chỉnh phủ cũng đang có những chính sách nhằm phát triển cây mắc-ca theo định hướng bền vững, nâng cao giá trị gia tăng Hai vùng tây bắc và Tây Nguyên được xác định trở thành trọng điểm để phát triển cây mắc-ca

Theo Bộ NN – PTNT, đến năm 2030 cả nước sẽ vượt trên 34.500 ha mắc-ca, tuy nhiên theo đánh giá của Hiệp hội Mắc-ca Việt Nam thì có thể đạt 120.000 ha Trung bình mỗi năm trồng thêm được 3,6 triệu cây

Về sản xuất giống, hiện nay, với 26 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống Mắc-ca trên toàn quốc, hàng năm sản xuất được khoảng 1.790.000 cây ghép, với số giống này nếu trồng thuần sẽ được 6.393 ha (mật độ 280 cây/ha) hoặc 14.917 ha nếu trồng xen (mật độ 120 cây/ha) Năng lực sản xuất giống như vậy có thể đáp ứng được nhu cầu giống để mở rộng diện tích mắc-ca cho tới nay, công suất sản xuất giống mắc-ca của Việt Nam đã đạt khoảng 2,5 triệu cây giống chuẩn và có thể tăng ngay khi cần

Dưới đây là một số dự án về phát triển ngành mắc-ca của Việt Nam trong thời gian gần đây:

- Dự án trồng và phát triển cây mắc-ca tại xã Mường Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu

Dự án đã được phê duyệt theo Quyết định số 1296/QĐ-UBND tỉnh Lai Châu ngày 10/10/2019 về việc Chấp thuận chủ trương dự án đầu tư Trồng và phát triển Mắc-ca kết hợp một số cây lâm nghiệp khác tại các xã các xã Nậm Cần, Mường Khoa, Tà Mít, Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Dự án sẽ tạo ra vùng trồng mắc-ca với diện tích khoảng 1.700 ha

(chiếm tỷ lệ 70% diện tích đất trồng) tại các xã Pắc Ta, Tà Mít, Nậm Cần, Mường Khoa, huyện Tân Uyên thuộc tỉnh Lai Châu Tổng vốn đăng ký là 200 tỷ đồng

Trong tháng 5/2021, dự án đã được khởi công, dự kiến hoàn thành vào năm 2023

- Dự án trồng và phát triển cây Mắc-ca tại xã Pha Mu, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu

Quyết định số 1348/QĐ-UBND tỉnh Lai Châu ngày ngày 01/111/2018 về việc chấp thuận chủ trương đầu tư dự án trồng và phát triển cây Mắc-ca tại xã Pha Mu, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu

- Dự án trồng mắc-ca công nghệ cao tại huyện Mường Nhé, Điện Biên Phủ

Dự án trồng mắc-ca công nghệ cao tại huyện Mường Nhé với tổng diện tích 10.000ha tại 6 xã: Chung Chải, Leng Su Sìn, Mường Nhé, Nậm Vì, Sen Thượng và Sín Thầu Dự án gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 2018 - 2020 thực hiện trồng 7.000ha; năm 2020, Công ty Cổ phần Đầu tư & phát triển Mắc-ca Tây Bắc sẽ triển khai trồng trên 2.500 ha mắc-ca tại các xã Sen Thượng, Chung Chải và Leng Su Sìn Giai đoạn 2 từ sau khi hoàn thành giai đoạn 1 được đánh giá thực sự hiệu quả, nếu điều kiện thuận lợi, doanh nghiệp sẽ tiếp tục trồng 3.000ha Hiện tại, với diện tích gần 300ha tại xã Sen Thượng, Công ty đã trồng trên 70.000 cây mắc-ca và đều được gắn mã định vị cầu GPS để theo dõi chu kỳ sinh trưởng, phát triển.

Về các vấn đề khác

a) Những khó khăn, thách thức đối với ngành mắc-ca Việt Nam

- Về quy hoạch quỹ đất trồng: Nước ta có tiềm năng về diện tích đất và khí hậu thích hợp trồng mắc-ca là rất lớn (453.561 ha), nhưng trên thực tế phần diện tích này cơ bản đã được trồng các loài cây nông nghiệp, công nghiệp và cây lâm nghiệp khác hoặc thuộc đất rừng phòng hộ, đặc dụng

- Thách thức về chi phí đầu tư: Theo tính toán của Hiệp hội Mắc-ca Việt Nam, Chi phí bình quân trồng và chăm sóc 1 ha cây mắc-ca (chưa tính chi phí đầu tư cho hạ tầng như giao thông nội đồng, điện, nước…) đến khi thu hoạch ổn định (7 năm): Trồng thuần (mật độ 280 cây/ha) từ 200 - 300 triệu đồng, trồng xen (mật độ 150 cây/ha) khoảng 100 - 130 triệu đồng trong năm năm đầu Cộng với yêu cầu chặt chẽ về giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch, sơ chế, bảo quản hạt mắc-ca Trong khi, hiện nay, vùng trồng mắc-ca chủ yếu là đồi núi địa hình phức tạp, nguồn lao động đa số là đồng bào dân tộc miền núi, dẫn đến khó khăn về vốn khi phát triển mắc-ca

- Về chất lượng giống: Do giai đoạn đầu cây mắc-ca mới được vào Việt Nam nên một số cơ sở đã vội vàng sản xuất cây giống không đảm bảo, không rõ xuất xứ, không có nguồn gốc, không xác định được bộ giống Một số diện tích trồng giống chất lượng kém nên nhiều cây không ra quả hoặc ra quả rất ít

- Về kỹ thuật chăm sóc: Quá trình trồng mắc-ca không đảm bảo, người dân không chăm sóc hoặc chăm sóc không đúng kỹ thuật, dẫn đến vườn mắc-ca đạt sản lượng thấp

- Công tác chế biến chưa phát triển, các cơ sở chế biến chủ yếu quy mô nhỏ, thiết bị công nghệ đơn giản, sản phẩm chế biến còn thô, chưa có thương hiệu sản phẩm mắc-ca Việt Nam

- Vấn đề về truy xuất nguồn gốc phục vụ xuất khẩu: hiện hệ thống xác định nguồn gốc mắc-ca của Việt Nam còn nhiều hạn chế Thách thức phần lớn do sản xuất, chế biến mắc- ca vẫn còn nhiều cơ sở manh mún, nhỏ lẻ, khó quản lý

- Về cơ chế, chính sách: Mặc dù nhà nước đã có một số cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển cây Mắc-ca Tuy vậy, mức hỗ trợ đầu tư còn thấp, nguồn ngân sách không đảm bảo theo chính sách đề ra, người dân và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay theo chính sách còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế, chính sách về lãi suất vay, thuế và đất đai còn bất cập, chưa khuyến khích, tạo động lực cho người dân và doanh nghiệp đầu tư phát triển Mắc-ca Vì vậy, cần phân tích, đánh giá những bất cập các chính sách hiện nay, để xây dựng bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách trong thời gian tới b) Những chính sách nhằm phát triển ngành mắc-ca

Năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tại Điều 12 về hỗ trợ trồng cây Dược liệu có mắc-ca Đặc biệt, các năm 2011 và 2019 Bộ NN - PTNT ban hành các quyết định công nhận 13 giống mắc-ca, trong đó có 3 giống cấp quốc gia và 10 giống tiến bộ kỹ thuật Đáng chú ý năm 2014, Bộ ban hành quyết định công bố “Danh mục các loài cây trồng lâm nghiệp chủ lực cho các vùng sinh thái”, trong đó có cây mắc-ca Năm 2016, Bộ ban hành quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển cây mắc-ca vùng Tây Bắc và Tây Nguyên đến năm 2020, tiềm năng phát triển đến 2030

Và mới đây, ngày 16/11/2018, Bộ NN – PTNT ban hành thông tư “Quy định danh mục loài cây trồng lâm nghiệp chính; công nhận giống và nguồn giống; quản lý vật liệu giống cây trồng lâm nghiệp chính”, trong đó có cây mắc-ca để quản lý theo chuỗi hành trình về giống.

Khuyến nghị

Khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước

- Cần rà soát quỹ đất để xác định diện tích trồng mắc-ca phù hợp cho từng giai đoạn với từng phương thức trồng cụ thể, đảm bảo phát triển vùng nguyên liệu, gắn với hệ thống cơ sở sơ chế, chế biến và tiêu thụ sản phẩm

- Tiếp tục tập trung quy hoạch phát triển cây mắc-ca cho vùng Tây Bắc và Tây Nguyên, còn các vùng khác cần thử nghiệm và trồng thí điểm trước khi kết luận trồng đại trà

- Tiếp tục nghiên cứu chọn tạo các dòng giống mắc-ca mới có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với các tiểu vùng sinh thái; đẩy nhanh các bước khảo nghiệm, đánh giá công nhận giống; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống, đáp ứng nhu cầu về số lượng, chất lượng giống cây mắc-ca

- Tăng cường quản lý chất lượng giống mắc-ca được lưu hành trên thị trường, bao gồm cả giống nhập khẩu và giống trong nước sản xuất

- Đẩy mạnh tuyên truyền về hiệu quả của việc sử dụng giống đạt tiêu chuẩn cũng như các kỹ thuật chăm sóc cây hiệu quả, đem lại năng suất cao

* Về liên kết sản xuất:

- Cần quản lý đồng bộ về vấn đề phát triển sản xuất, chế biến mắc-ca gắn với quy hoạch từng vùng Có thể thành lập hợp tác xã phát triển cây mắc-ca từ sản xuất cho đến chế biến, liên kết sản xuất bao tiêu đầu ra cho sản phẩm

- Đẩy mạnh thực hiện các chính sách khuyến khích doanh nghiệp liên kết với nông dân đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm mắc-ca Khuyến khích các thành phần kinh tế liên kết đầu tư các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống đảm bảo chất lượng,cơ sở chế biến tinh, đa dạng sản phẩm

* Về chế biến và tiêu thụ:

- Ứng dụng công nghệ cao, chế biến sâu với những sản phẩm cao cấp, như mỹ phẩm, thực phẩm chức năng; đa dạng hóa sản phẩm và chất lượng đạt theo tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng thị trường nội địa và xuất khẩu

- Tăng cường công tác tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích, dự báo đúng về thị trường tiêu thụ sản phẩm mắc-ca trong nước và quốc tế để định hướng phát triển sản xuất, điều tiết kế hoạch tiêu thụ sản phẩm đảm bảo hiệu quả kinh tế

- Đẩy mạnh tiếp thị, maketing, thiết lập mạng lưới thu mua hàng hoá, phân phối và bán sản phẩm mắc-ca ở trong nước và quốc tế

* Về công nghiệp phụ trợ:

Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, logistics nhằm giảm chi phí sản xuất, vận chuyển trong chế biến, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm mắc-ca trên thị trường quốc tế

- Rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp đầu tư sản xuất phát triển mắc-ca đạt hiệu quả và bền vững, nhất là các vấn đề liên quan đến quy hoạch, thủ tục cấp phép đầu tư

- Cần xây dựng những chính sách hỗ trợ vốn vay phù hợp hơn, dễ tiếp cận hơn, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 nhằm thúc đẩy doanh nghiệp, nhà vườn phục hồi sản xuất, đầu tư vào ngành.

Khuyến nghị đối với các cơ sở kinh doanh, sản xuất và các hiệp hội

- Giống là yếu tố quyết định thành công của việc gây trồng mắc-ca quy mô thương mại Các cơ sở sản xuất, nhà vườn cần phải tìm hiểu và dùng các dòng vô tính đã được tuyển chọn thích hợp với từng vùng để tăng sản lượng và chất lượng mắc-ca Hiện nay có

13 loại giống đã được công nhận và gây giống ở Việt Nam, bên cạnh đó là một số giống mới được nhập khẩu

- Cây mắc-ca là loài cây có thời gian sinh trưởng kéo dài nhiều năm, chi phí đầu tư lớn, để tránh rủi ro, doanh nghiệp hay các nhà vườn cần có kế hoạch đầu tư dài hạn, bài bản ngay từ đầu, tránh tình trạng phát triển ồ ạt nhưng manh mún, tự phát như một số nông sản khác

- Cần ưu tiên phát triển trồng cây mắc-ca xen canh với các cây nông nghiệp theo hướng tận dụng tối đa các diện tích canh tác nông lâm nghiệp, đa dạng hóa các sản phẩm, đồng thời phát triển ngành hàng theo chuỗi sản xuất, từ trồng đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm làm cơ sở đầu tư sản xuất kinh doanh

- Đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở sơ chế, chế biến với quy mô phù hợp với vùng nguyên liệu; nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sơ chế, chế biến sâu để tạo ra các sản phẩm sản phẩm mắc-ca chất lượng cao như: thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, dược phẩm,… phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

- Tăng cường liên kết tiêu thụ, tìm đầu ra cho sản phẩm

- Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, công tác nghiên cứu khoa học, kịp thời chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại phục vụ sản xuất, từ khâu chọn tạo, sản xuất giống đến chế biến sản phẩm Mắc-ca

- Hoàn thiện quy trình công nghệ trong thu hái, sơ chế, chế biến, bảo quản sản phẩm mắc-ca nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao chất lượng sản phẩm; ứng dụng chuyển đổi số trong sản xuất Mắc-ca theo chuỗi giá trị

* Đối với Hiệp hội ngành hàng

- Hiệp hội mắc-ca Việt Nam cần tiếp tục nâng cao vai trò là đầu mối liên kết giữa các cơ quan quản lý - cơ sở sản xuất – cơ sở kinh doanh và phân phối; phát huy vai trò là cầu nối gắn kết chặt chẽ giữa các hộ dân và doanh nghiệp trong phát triển sản xuất mắc-ca theo chuỗi, hỗ trợ vay vốn, cung ứng dịch vụ giống và phân bón, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển ngành mắc-ca

- Đồng hành cùng Cơ quan quản lý Nhà nước đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nâng cao năng lực, nhận thức cho người dân và doanh nghiệp về hiệu quả kinh tế trồng mắc-ca

* Doanh nghiệp kinh doanh, phân phối

- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá các sản phẩm mắc-ca không chỉ ở thị trường nước ngoài mà cả ở thị trường nội địa Bởi lẽ, nhu cầu tiêu thụ mắc-ca của người Việt đang có xu hướng tăng, trong khi các thương hiệu mắc-ca Việt vẫn còn xa lạ với thị trường nội địa

- Xây dựng thương hiệu kinh doanh, phân phối uy tín Đây là yếu tố chính trong việc phát triển kinh doanh bền vững của doanh nghiệp

- Tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp đầu mối thu mua với các đại lý phân phối, các cơ sở bán lẻ

- Phát triển các kênh phân phối mới, phù hợp với xu hướng mua sắm của người dân, nhất là các kênh phân phối hiện đại như kênh bán hàng trực tuyến Đây cũng là kênh phân phối phát huy hiệu quả trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 như hiện nay.

Ngày đăng: 15/10/2024, 12:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Diện tích hạt mắc-ca toàn cầu trong năm 2020 - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 1. Diện tích hạt mắc-ca toàn cầu trong năm 2020 (Trang 8)
Bảng 2. Sản lƣợng hạt mắc-ca toàn cầu trong năm 2020 – 2021 (nguyên vỏ, độ - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 2. Sản lƣợng hạt mắc-ca toàn cầu trong năm 2020 – 2021 (nguyên vỏ, độ (Trang 9)
Bảng 3. Sản lƣợng nhân mắc-ca toàn năm 2020 - 2021 - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 3. Sản lƣợng nhân mắc-ca toàn năm 2020 - 2021 (Trang 11)
Bảng 4. Sản lƣợng nhân mắc-ca toàn cầu bình quân trong 2015 - 2020 - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 4. Sản lƣợng nhân mắc-ca toàn cầu bình quân trong 2015 - 2020 (Trang 12)
Bảng 5. Năng suất mắc-ca bình quân ở các tuổi khác nhau (kg/cây), phân theo vùng - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 5. Năng suất mắc-ca bình quân ở các tuổi khác nhau (kg/cây), phân theo vùng (Trang 14)
Bảng 6.  Tỷ lệ sản phẩm chế biến từ hạt mắc-ca trên thế giới - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 6. Tỷ lệ sản phẩm chế biến từ hạt mắc-ca trên thế giới (Trang 21)
Bảng 7.  Lượng và tỷ trọng xuất khẩu mắc-ca  của các nước trong năm 2018 - 2019 - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 7. Lượng và tỷ trọng xuất khẩu mắc-ca của các nước trong năm 2018 - 2019 (Trang 23)
Bảng 8. Lượng và tỷ trọng nhập khẩu hạt mắc-ca của các nước trên thế giới - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 8. Lượng và tỷ trọng nhập khẩu hạt mắc-ca của các nước trên thế giới (Trang 25)
Bảng 10. Cung cầu và thương mại hạt mắc-ca (nguyên vỏ và không vỏ) của Hoa - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 10. Cung cầu và thương mại hạt mắc-ca (nguyên vỏ và không vỏ) của Hoa (Trang 30)
Bảng 11. Diện tích trồng mắc-ca tính đến tháng 6/2021 - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 11. Diện tích trồng mắc-ca tính đến tháng 6/2021 (Trang 34)
Bảng 13. Sản lƣợng mắc-ca theo vùng - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 13. Sản lƣợng mắc-ca theo vùng (Trang 36)
Bảng 16.  Hiện trạng các cơ sở chế biến mắc-ca - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 16. Hiện trạng các cơ sở chế biến mắc-ca (Trang 41)
Bảng 17.  Xuất khẩu mắc-ca của Việt Nam trong năm 2020 – 2021 - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 17. Xuất khẩu mắc-ca của Việt Nam trong năm 2020 – 2021 (Trang 44)
Bảng 18.  Nhập khẩu mắc-ca của Việt Nam năm 2020 – 2021 - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 18. Nhập khẩu mắc-ca của Việt Nam năm 2020 – 2021 (Trang 47)
Bảng 21: Quy định về thuế nhập khẩu đối với hạt mắc ca (mã HS 08026200) vào - BẢN TIN THÔNG TIN THỊ TRƢỜNG VÀ NGÀNH HÀNG BÁO CÁO NGÀNH HÀNG MẮC CA
Bảng 21 Quy định về thuế nhập khẩu đối với hạt mắc ca (mã HS 08026200) vào (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w