Mặc dù vậy, hiện vẫn còn nhiều vấn đề bất CBSK đối với người DTTS như còn có sự khác biệt lớn về tình trạng sức khỏe giữa người DTTS và dân tộc Kinh, đặc biệt là trong nhóm yếu thế và dễ
QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng sức khỏe của một số dân tộc thiểu số năm 2019
Trong phần kết quả mô tả thực trạng sức khỏe của một số DTTS tại Việt Nam năm 2019, nghiên cứu sinh lựa chọn trình bày kết quả thực trạng một số vấn đề sức khỏe nổi cộm của nghiên cứu Chi tiết đầy đủ bảng kết quả nghiên cứu các chỉ số sức khỏe khác được trình bày tại Phụ lục số 6
3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu (từ 15 tuổi trở lên) là 5.024 người, phân bố tương đối đồng đều 12 tỉnh, trong đó cao nhất ở tỉnh Lai Châu (chiếm 9,9%) và thấp nhất ở tỉnh Kon Tum (chiếm 7,0%) Tương tự, các đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) phân bổ tương đối đồng đều ở 12 DTTS, cao nhất là dân tôc La Hủ (9,8%) và thấp nhất là Chăm Ninh Thuận và Gié Triêng (7,0%) (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu Đặc điểm nhân khẩu học N Tỷ lệ
Khmer 385 7,7 Đặc điểm nhân khẩu học N Tỷ lệ
Bru Vân Kiều 426 8,5 ĐTNC tập trung chủ yếu ở 2 vùng: Trung du và miền núi phía Bắc (35,8%), Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung (32,1%) Nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới (55,4%) Nhóm tuổi tham gia nghiên cứu chủ yếu là từ 15-34 tuổi (45,9%) Đa số ĐTNC có vợ/chồng (chiếm 73,3%) Tỷ lệ đối tượng có trình độ học vấn cấp 2 chiếm tỷ lệ cao nhất (29,1%), vẫn còn 27,6% đối tượng mù chữ Hầu hết ĐTNC nói được tiếng phổ thông (93,7%) và gần 78,0% đối tượng đang đi làm Trên 70,0% đối tượng không theo tôn giáo và 28,5% đối tượng thuộc diện hộ nghèo/cận nghèo
3.1.2 Thực trạng sức khỏe chung của người dân tộc thiểu số
3.1.2.1.Tình trạng bệnh truyền nhiễm (tự khai báo )
Bảng 3.2 : Tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm (tự khai báo) trong 12 tháng trước cuộc điều tra ở người dân tộc thiểu số năm 2019 (nI76)
Có mắc bệnh truyền nhiễm Đặc điểm nhân khẩu học
Có mắc bệnh truyền nhiễm Đặc điểm nhân khẩu học N Tỷ lệ
Trung du và miền núi phía Bắc 64 3,6
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 169 10,5
Tây Nguyên 28 3,7 Đồng bằng sông Cửu Long 22 2,7
Bảng 3.2 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm (tự khai báo) trong 12 tháng trước cuộc điều tra ở người DTTS vào năm 2019 là 5,7% Phân tích kết quả theo các nhóm dân tộc cho thấy tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm là cao nhất ở dân tộc Chăm Ninh Thuận (31,4%), tiếp đến là dân tộc Tày (7,1%) và thấp nhất là dân tộc La Hủ (0,8%) Tỷ lệ mắc bệnh theo vùng cho thấy cao nhất ở khu vực Bắc Trung bộ và Duyên hải miền trung (10,5%); thấp nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long (2,7%)
3.1.2.2 Tình trạng mắc bệnh không lây nhiễm (tự khai báo) trong 12 tháng trước cuộc điều tra
Bảng 3.3: Tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm (tự khai báo) trong 12 tháng trước cuộc điều tra ở người dân tộc thiểu số năm 2019 (nP24)
Có bệnh không lây nhiễm Đặc điểm nhân khẩu học N Tỷ lệ
Trung du và miền núi phía Bắc 166 9,2
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 504 31,2
Tây Nguyên 234 31,0 Đồng bằng sông Cửu Long 259 30,4
Bảng 3.3 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm (tự khai báo) trong 12 tháng trước cuộc điều tra ở người DTTS là 23,1% Tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm cao nhất ở dân tộc Tà Ôi (45,5%), tiếp đến là dân tộc Gié Triêng (42,8%) và thấp nhất là dân tộc Mông (5,4%) Tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm theo vùng cũng có sự khác biệt, cao nhất là ở vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung (31,2%) và thấp nhất ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc (9,2%)
3.1.2.3 Tình trạng ốm/đau mắc bệnh (tự khai báo) trong 3 tháng trước cuộc điều tra
Bảng 3.4: Tình trạng ốm/đau mắc bệnh (tự khai báo) trong 3 tháng trước cuộc điều tra ở người dân tộc thiểu số năm 2019 (nP24)
Có ốm/đau mắc bệnh Đặc điểm nhân khẩu học
Trung du và miền núi phía Bắc 1284 71,3
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 1174 72,7
Tây Nguyên 639 84,5 Đồng bằng sông Cửu Long 573 67,3
Bảng 3.4 cho thấy tỷ lệ ốm/đau bệnh tật (tự khai báo) trong 03 tháng trước cuộc điều tra ở người DTTS là 73,0% Tỷ lệ ốm/đau bệnh tật cao nhất ở dân tộc Chăm Ninh Thuận (98,3%), tiếp đến là dân tộc Mông (89,4%) và thấp nhất là dân tộc Dao (53,2%) Tỷ lệ người khai báo có ốm/đau bệnh tật theo vùng cao nhất ở Tây Nguyên
(84,5%) và thấp nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (67,3%)
3.1.2.4 Tự đánh giá tình trạng sức khỏe tại thời điểm điều tra
Bảng 3.5: Tỷ lệ người dân tộc thiểu số tự đánh giá tình trạng sức khỏe của mình tại 12 tỉnh năm 2019 (nP01)
Tự đánh giá tình trạng sức khỏe Đặc điểm nhân khẩu học
Trung du và miền núi phía Bắc 81 (4,5) 1177 (65,5) 538 (30,0) Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 193 (12,0) 1145 (70,9) 277 (17,2)
Tây Nguyên 100 (13,2) 606 (80,2) 50 (6,6) Đồng bằng sông Cửu Long 92 (11,0) 466 (55,9) 276 (33,1) Bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ người DTTS tự đánh giá tình trạng sức khỏe ở mức độ trung bình là cao nhất (67,9%), ở mức tốt thấp hơn (22,8%) và thấp nhất là mức yếu (9,3%) Tự đánh giá tình trạng sức khỏe mức tốt cao nhất ở dân tộc Mông (46,3%), thấp nhất ở dân tộc Mnông (6,2%) Tỷ lệ người DTTS tự đánh giá tình trạng sức khỏe mức yếu cao nhất ở dân tộc Gié Triêng (17,0%), thấp nhất là dân tộc Mông (2,7%) Tính theo vùng thì tỷ lệ người DTTS tự đánh giá tình trạng sức khỏe tốt cao nhất là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (33,1%) và thấp nhất là vùng Tây Nguyên (6,6%)
Tỷ lệ người DTTS tự đánh giá tình trạng sức khỏe mức yếu cao nhất ở vùng Tây Nguyên (13,2%), thấp nhất ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc (4,5%)
3.1.3 Tình trạng sức khỏe của phụ nữ DTTS có con dưới 5 tuổi và trẻ em dưới 5 tuổi
Bảng 3.6: Tình trạng mắc bệnh tại thời điểm điều tra của phụ nữ dân tộc thiểu số có con dưới 5 tuổi năm 2019 (n9)
Có mắc bệnh Đặc điểm nhân khẩu học
Trung du và miền núi phía Bắc 23 7,1
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 78 33,2
Tây Nguyên 41 25,2 Đồng bằng sông Cửu Long 37 21,1
Bảng 3.6 cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh tại thời điểm điều tra của phụ nữ DTTS có con dưới 5 tuổi là 19,9%, trong đó chủ yếu là đau đầu (chiếm 25,0%), đau dạ dày (chiếm 15,5%) và cảm cúm (chiếm 11,5%) Tỷ lệ mắc bệnh hiện tại của phụ nữ DTTS có con dưới 5 tuổi cao nhất ở dân tộc Tà Ôi (51,2%), tiếp đến là phụ nữ Chăm ở Ninh Thuận (34,1%), Gié Triêng (32,5%), Khmer (32%) Không có phụ nữ dân tộc La Hủ nào báo cáo là có bệnh tại thời điểm điều tra Tính tỷ lệ mắc bệnh theo vùng cho thấy cao nhất là ở vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung (33,2%), thấp nhất tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc (7,1%)
Bảng 3.7: Tình trạng sức khỏe của trẻ em dân tộc thiểu số dưới 5 tuổi qua khai báo của mẹ năm 2019
Tình trạng sức khoẻ của trẻ em dưới 5 tuổi Đặc điểm nhân khẩu học
Tử vong (n1) Trẻ sơ sinh đẻ nhẹ cân (n9)
Chăm An Giang 6 6,3 9 9,6 16 16,7 15 15,6 Chăm Ninh Thuận 1 2,2 1 2,3 8 17,4 18 39,1
Trung du và miền núi phía
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung
Tây Nguyên 1 0,6 2 1,3 36 22,1 56 34,4 Đồng bằng sông Cửu Long 6 3,4 21 12,1 37 20,8 33 18,5 Bảng 3.6 cho thấy, tỷ lệ trẻ DTTS dưới 5 tuổi tử vong năm 2019 là 2,1%, trong đó cao nhất là trẻ dân tộc Chăm ở An Giang Phân bố tử vong trẻ DTTS theo vùng cho thấy tỷ lệ cao nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (3,4%), thấp nhất ở vùng Tây Nguyên (0,6%)
Tỷ lệ phụ nữ DTTS sinh con nhẹ cân năm 2019 là 6,2%, cao nhất ở người dân tộc Ba Na (17,1%) Tính theo vùng thì tỷ lệ này cao nhất ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (12,1%), thấp nhất ở vùng Tây Nguyên (1,3%)
Trẻ DTTS dưới 5 tuổi bị nhiễm khuẩn hô hấp trong 12 tháng trước cuộc điều tra là 25,5% Tỷ lệ này cao nhất ở trẻ dân tộc Tà Ôi (46,3%), thấp nhất ở dân tộc Dao
(14,9%) Phân bố theo vùng cho thấy tỷ lệ này cao nhất ở vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung (36,4%), thấp nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (20,8%)
Tỷ lệ trẻ DTTS dưới 5 tuổi bị tiêu chảy trong 12 tháng trước cuộc điều tra là 27,4% Tỷ lệ trẻ dân tộc Ba Na bị tiêu chảy cao nhất (54,3%) và thấp nhất ở trẻ dân tộc La Hủ (13,3%) Tỷ lệ này cao nhất ở khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (35,1%) và thấp nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (18,5%)
3.1.4 Tình trạng sức khỏe vị thành niên dân tộc thiểu số (15-19 tuổi)
3.1.4.1 Tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân
Bảng 3.8: Tỷ lệ vị thành niên dân tộc thiểu số đã từng quan hệ tình dục trước hôn nhân năm 2019 (n8) Đã từng quan hệ tình dục trước hôn nhân Đặc điểm nhân khẩu học
Trung du và miền núi phía Bắc 15 4,8
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 6 2,4
Tây Nguyên 2 1,3 Đồng bằng sông Cửu Long 3 1,7
Bảng 3.8 cho thấy, tỷ lệ vị thành niên (VTN) DTTS đã từng quan hệ tình dục (QHTD) trước hôn nhân chiếm 2,9%, trong đó cao nhất ở dân tộc Mông (11,9%), tiếp theo là dân tộc Ba Na (7,1%) Tính theo vùng, tỷ lệ này cao nhất ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc (4,8%) và thấp nhất ở vùng Tây Nguyên (1,3%)
3.1.4.2 Tình trạng sức khỏe tự đánh giá của vị thành niên (15-19 tuổi)
Bảng 3.9: Tỷ lệ vị thành niên dân tộc thiểu số tự đánh giá tình trạng sức khỏe năm 2019 (n6)
Tự đánh giá tình trạng sức khỏe Đặc điểm nhân khẩu học
Trung du và miền núi phía Bắc 1 0,3 149 47,5 164 52,2 Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 2 0,8 159 63,1 91 36,1
Tây Nguyên 2 1,3 109 69,0 47 29,7 Đồng bằng sông Cửu Long 1 0,6 70 40,7 101 58,7
Bảng 3.9 cho thấy, tỷ lệ VTN DTTS tự đánh giá tình trạng sức khỏe của mình ở mức độ trung bình là 54,4%, mức tốt là 45,0% và mức yếu là 0,7% VTN dân tộc Mông tự đánh giá tình trạng sức khỏe của mình mức độ tốt là cao nhất (78,6%) và thấp nhất ở nhóm dân tộc Ba Na (10,7%) Phân tích theo vùng cho kết quả tỷ lệ VTN tự đánh giá sức khoẻ của mình ở mức tốt cao nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (58,7%) và thấp nhất ở vùng Tây Nguyên (chiếm 29,7%)
3.1.5 Tình trạng sức khỏe của phụ nữ dân tộc thiểu số 15-49 tuổi có chồng
3.1.5.1 Một số vấn đề sức khỏe của phụ nữ DTTS từ 15-49 tuổi có chồng
Bảng 3.10: Tình trạng sức khỏe của phụ nữ dân tộc thiểu số từ 15-49 tuổi có chồng năm 2019
Vấn đề sức khỏe Đặc điểm nhân khẩu học
Bị bạo lực gia đình (n4)
Mắc bệnh phụ khoa (nW1)
Trung du và miền núi phía
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 17 5,8 52 18,6 13 4,5 79 36,2
Mức độ bất công bằng sức khỏe của một số dân tộc thiểu số tại Việt Nam năm 2019
Trong phần kết quả phân tích mức độ bất CBSK của một số DTTS tại Việt Nam năm 2019, nghiên cứu sinh lựa chọn trình bày kết quả một số biến số có mức độ bất công bằng từ mức trung bình trở lên (có chỉ số tập trung ≥0,2) của nghiên cứu Chi tiết đầy đủ bảng kết quả nghiên cứu các biến số khác được trình bày tại Phụ lục số 6
3.2.1 Bất công bằng về một số chỉ tiêu tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân tộc thiểu số
3.2.1.1 Bất công bằng trong khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế gần nhất
Bảng 3.14: Sự khác biệt về khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế gần nhất ở người dân tộc thiểu số năm 2019 (nP24)
Khoảng cách đến CSYT Đặc điểm nhân khẩu học
Trung du và miền núi phía Bắc 1160 64,4 641 35,6
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền
Tây Nguyên 657 86,9 99 13,1 Đồng bằng sông Cửu Long 751 88,1 101 11,9 Điều kiện kinh tế HGĐ
Bảng 3.14 trình bày phân tích bất công bằng dựa trên sự khác biệt về khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế gần nhất theo nhóm dân tộc, vùng và điều kiện kinh tế Tỷ lệ người La Hủ sống cách CSYT trên 5km là cao nhất (63,4%), tiếp theo là dân tộc Mông là 42,3% Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ người DTTS sống cách CSYT trên 5km là cao nhất (35,6%), tiếp theo là vùng Tây Nguyên (13,1%) và thấp nhất ở vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung (3,2%) Người DTTS thuộc hộ nghèo có tỷ lệ người dân sống cách CSYT trên 5km là cao nhất (24,3%) và thấp nhất là ở nhóm người DTTS thuộc hộ không nghèo (16,9%)
Bảng 3.15: Phân tích bất công bằng dựa trên chỉ số tập trung về khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế gần nhất ở người dân tộc thiểu số năm 2019
Nhóm dân số Chỉ số tập trung (CI)
Giới tính Nhóm tuổi Trình độ học vấn Điều kiện kinh tế
Bảng 3.15 trình bày kết quả phân tích bất công bằng dựa trên chỉ số tập trung về khoảng cách từ nhà đến CSYT gần nhất cho từng dân tộc theo giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn và điều kiện kinh tế
Theo giới tính: Mức độ bất công bằng về khoảng cách từ nhà đến CSYT gần nhất đều ở mức trung bình và thấp (CI dưới 0,40) Người Dao có chỉ số tập trung cao nhất (mức độ bất công bằng cao nhất, CI=-0,22)
Theo nhóm tuổi: Mức độ bất công bằng về khoảng cách từ nhà đến CSYT gần nhất đều ở mức trung bình và thấp (CI dưới 0,40) Người Bru Vân Kiều có chỉ số tập trung cao nhất (mức độ bất công bằng cao nhất, CI=0,20)
Theo trình độ học vấn: Mức độ bất công bằng về khoảng cách từ nhà đến CSYT gần nhất đều ở mức trung bình và thấp (CI dưới 0,40) Người Khmer có chỉ số tập trung cao nhất (mức độ bất công bằng cao nhất, CI=0,30)
Theo điều kiện kinh tế: Mức độ bất công bằng về khoảng cách từ nhà đến CSYT gần nhất đều ở mức trung bình và thấp (CI dưới 0,40) Người Mnông có chỉ số tập trung cao nhất (mức độ bất công bằng cao nhất, CI=0,38)
3.2.1.2 Bất công bằng về tỷ lệ người dân tộc thiểu số phải bán tài sản để khám chữa bệnh
Bảng 3.16: Sự khác biệt về tỷ lệ người dân tộc thiểu số phải bán tài sản để khám chữa bệnh năm 2019 (nP24)
Bán tài sản để khám chữa bệnh Đặc điểm nhân khẩu học
Trung du và miền núi phía Bắc 148 8,2
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 111 6,9
Tây Nguyên 9 1,2 Đồng bằng sông Cửu Long 0 0,0
Bán tài sản để khám chữa bệnh Đặc điểm nhân khẩu học
Cấp 3 trở lên 49 4,2 Điều kiện kinh tế HGĐ
Bảng 3.16 trình bày phân tích bất công bằng dựa trên sự khác biệt về tỷ lệ người DTTS phải bán tài sản để khám chữa bệnh theo nhóm dân tộc, vùng, giới tính, trình độ học vấn và điều kiện kinh tế Tỷ lệ người La Hủ phải bán tài sản để khám chữa bệnh là cao nhất (17,2%), tiếp theo là dân tộc Ba Na, Bru Vân Kiều (11,7%) Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ người DTTS phải bán tài sản để khám chữa bệnh là cao nhất (8,2%), tiếp theo là vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung (6,9%) Tỷ lệ nam giới người DTTS phải bán tài sản để khám chữa bệnh là 6,0%, cao hơn ở nữ giới (4,8%)
Phân tích sự khác biệt theo trình độ học vấn cho thấy tỷ lệ người DTTS phải bán tài sản để khám chữa bệnh ở nhóm có trình độ cấp 2 là cao nhất (6,2%) và thấp nhất ở nhóm cấp 3 trở lên (4,2%) Tỷ lệ người DTTS phải bán tài sản để khám chữa bệnh ở nhóm cận nghèo là cao nhất (7,0%), tiếp theo là nhóm nghèo (6,5%) và thấp nhất ở nhóm không nghèo (4,8%)
Bảng 3.17: Phân tích bất công bằng dựa trên chỉ số tập trung vềtỷ lệ người dân tộc thiểu số đã từng phải bán tài sản để chữa bệnh năm 2019
Nhóm dân số Chỉ số tập trung (CI)
Giới tính Nhóm tuổi Trình độ học vấn Điều kiện kinh tế
Nhóm dân số Chỉ số tập trung (CI)
Giới tính Nhóm tuổi Trình độ học vấn Điều kiện kinh tế
Bảng 3.17 trình bày kết quả phân tích bất công bằng dựa trên chỉ số tập trung về tỷ lệ người DTTS đã từng phải bán tài sản để chữa bệnh cho từng dân tộc theo giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn và điều kiện kinh tế
Theo giới tính: Mức độ bất công bằng về tỷ lệ người DTTS đã từng phải bán tài sản để chữa bệnh đều ở mức trung bình và thấp (CI dưới 0,40) Người Mông có chỉ số tập trung cao nhất (mức độ bất công bằng cao nhất) (CI= 0,21) Tỷ lệ người Bru Vân Kiều phải bán tài sản để khám chữa bệnh chiếm tỷ lệ cao hơn ở nam giới (nam: 13,5%; nữ:10,1%)
Theo nhóm tuổi: Mức độ bất công bằng về tỷ lệ người DTTS đã từng phải bán tài sản để chữa bệnh đều ở mức thấp (CI dưới 0,20) Người Mông có chỉ số tập trung cao nhất (mức độ bất công bằng cao nhất, CI=0,12), tập trung nhiều hơn ở nhóm ít tuổi hơn (nhóm 15-24: 2,4%; nhóm 65+: 5,6%)
Theo trình độ học vấn: Mức độ bất công bằng về tỷ lệ người DTTS đã từng phải bán tài sản để chữa bệnh đều ở mức thấp (CI dưới 0,20) Người Mnông có chỉ số tập trung cao nhất (mức độ bất công bằng cao nhất, CI= -0,18), chiếm tỷ lệ cao hơn ở nhóm có trình độ học vấn thấp hơn (mù chữ: 2,3%; cấp 3+: 0,9%)
Theo điều kiện kinh tế: Mức độ bất công bằng về tỷ lệ người DTTS đã từng phải bán tài sản để chữa bệnh ở mức thấp (CI dưới 0,20); mức trung bình (0,20≤CI≤0,39); và mức rất nghiêm trọng (CI≥0,60) Người Mnông có chỉ số tập trung cao nhất (mức độ bất công bằng cao nhất) (CI= -0,63), tiếp theo là người Tày (CI=0,26) Tỷ lệ người DTTS phải bán tài sản để khám chữa bệnh chiếm tỷ lệ cao hơn ở nhóm có điều kiện kinh tế nghèo ở dân tộc Mnông (nhóm nghèo: 33,3%; nhóm không nghèo: 0,89%) Ngược lại, tỷ lệ này chiếm tỷ lệ cao hơn ở nhóm có điều kiện kinh tế không nghèo ở dân tộc Tày (nhóm nghèo: 0,0%; nhóm không nghèo: 7,0%)
3.2.1.3 Bất công bằng về tỷ lệ phụ nữ có con dưới 5 tuổi khám thai ít nhất 4 lần Bảng 3.18: Sự khác biệt về tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số khám thai từ 4 lần trở lên trong lần mang thai gần nhất thời điểm điều tra năm 2019 (n3)
Có khám thai từ 4 lần trở lên Đặc điểm nhân khẩu học N Tỷ lệ
Trung du và miền núi phía Bắc 89 27,1
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 65 27,3
Tây Nguyên 32 19,6 Đồng bằng sông Cửu Long 124 71,3
Cấp 3 trở lên 123 42,0 Điều kiện kinh tế HGĐ
LUẬN
Thực trạng sức khỏe của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam
4.1.1 Một số vấn đề sức khỏe chung của người dân tộc thiểu số
Tình trạng mắc bệnh truyền nhiễm (tự khai báo) trong 12 tháng trước cuộc điều tra
Kết quả nghiên cứu hiện tại chưa chỉ rõ các loại bệnh truyền nhiễm mà người DTTS mắc phải, do vậy khó so sánh với kết quả nghiên cứu khác về tỷ lệ mắc từng loại bệnh truyền nhiễm cụ thể
Mặt khác, nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra người dân tộc Chăm Ninh Thuận, vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung có tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm cao nhất Tuy nhiên, các kết quả của nghiên cứu hiện tại chỉ dừng lại ở việc mô tả tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm trong 12 tháng trước cuộc điều tra Do đó, các nghiên cứu tiếp theo để cung cấp thông tin về loại bệnh truyền nhiễm cụ thể, nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng bệnh này ở từng DTTS và vùng kinh tế-xã hội nơi có nhiều người DTTS sinh sống, để từ đó đề xuất được giải pháp để phòng và chống bệnh truyền nhiễm một cách hiệu quả là cần thiết
Tình trạng mắc bệnh không lây nhiễm (tự khai báo) trong 12 tháng trước cuộc điều tra
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Minh Hưng và cộng sự điều tra tại 05 tỉnh vùng Tây Nguyên
(168), (61) Sự khác biệt này có thể do định nghĩa ca bệnh trong nghiên cứu Nguyễn Minh Hưng là tất cả những bệnh hoặc triệu chứng kéo dài trên 3 tháng có hay chưa có chẩn đoán của CBYT Trong khi nghiên cứu này, tiêu chuẩn xác định ca bệnh là cần có chẩn đoán của CBYT Hơn thế nữa, hầu hết các nghiên cứu trước đây đã không đưa ra tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm nói chung của người DTTS, mà chủ yếu là tỷ lệ mắc từng bệnh không lây nhiễm cụ thể
Kết quả phân tích tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ này cao nhất ở dân tộc Tà Ôi, Gié Triêng Trong khi đó, kết quả nghiên cứu cơ cấu bệnh tật của người DTTS sống lâu đời tại vùng khó khăn của tỉnh Đăk Nông năm 2012-2014 cho thấy có 3 dân tộc có tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm chiếm tỷ lệ rất cao gồm Ê Đê, Châu Mạ và M’Nông (169) Sự khác biệt này có thể do địa bàn nghiên cứu khác nhau Do vậy, các nghiên cứu trên quy mô lớn hơn về tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm ở các DTTS và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng mắc bệnh không lây nhiễm ở từng nhóm dân tộc là cần thiết
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy người DTTS mắc bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường chiếm tỷ lệ cao Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Youlian Liao năm 2009, nhóm DTTS AI và cộng đồng da đen có tỷ lệ mắc bệnh tự báo cáo cao như bệnh cao huyết áp, bệnh tim mạch và tiểu đường (40) Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Minh Hưng và cộng sự cho thấy, trong số các bệnh mạn tính phải điều trị thì nhóm bệnh xương khớp và dạ dày chiếm tỷ lệ cao, trong khi tỷ lệ mắc bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ thấp (168) Tỷ lệ mắc bệnh về tim mạch của dân tộc Khmer trong nghiên cứu này thấp hơn kết quả nghiên cứu tại Trà Vinh năm 2017 (60) Lý do giải thích cho điều này có thể địa bàn chọn mẫu người dân tộc Khmer của nghiên cứu này chỉ tập trung ở Sóc Trăng Mặt khác, tỷ lệ tăng huyết áp của người DTTS có thể bị ảnh hưởng do hiểu biết và chẩn đoán bệnh tăng huyết áp ở người DTTS còn hạn chế (59) Theo Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2016, tỷ lệ người cao tuổi mắc bệnh đái tháo đường trong người DTTS cao hơn kết quả nghiên cứu của chúng tôi (58) Sự khác biệt này có thể do đối tượng nghiên cứu này bao gồm người DTTS từ 15 tuổi trở lên, trong khi người cao tuổi có nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm cao (58)
Tỷ lệ người DTTS có vấn đề về sức khỏe tâm thần trong 12 tháng trước cuộc điều tra
Tỷ lệ người DTTS có vấn đề về sức khỏe tâm thần trong 12 tháng trước điều tra của nghiên cứu này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của tác giả Cara V James và cộng sự năm 2017 thực hiện trên đối tượng người trưởng thành khu vực nông thôn ở Mỹ (43) Một nghiên cứu khác chỉ ra, tỷ lệ trầm cảm sau sinh chiếm tỷ lệ cao ở người châu Á (17,6%), người gốc Tây Ban Nha (14,4%) và người da đen (14,3%)
(41) Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi không cung cấp được cụ thể vấn đề sức khỏe tâm thần cụ thể mà người DTTS gặp phải
Một trong những nguyên nhân dẫn đến những vấn đề sức khỏe tâm thần của người DTTS có thể kể đến như họ gặp biến cố căng thẳng trong cuộc sống 12 tháng trước khi sinh con (86) Hơn thế nữa, việc hút thuốc và các biến cố căng thẳng trong cuộc sống vẫn tồn tại dai dẳng ở phụ nữ thuộc các nhóm DTTS, tuy nhiên tỷ lệ báo cáo về vấn đề này trong nghiên cứu thấp hơn các nghiên cứu khác có thể là do họ không muốn chia sẻ một số vấn đề nhậy cảm của bản thân và gia đình họ Cần có các nghiên cứu chuyên sâu hơn để có thể đánh giá chính xác hiện trạng này và có các giải pháp hỗ trợ nhằm giảm nguy cơ mắc bệnh và tử vong mẹ người DTTS (170)
Tình trạng ốm/đau mắc bệnh trong 3 tháng trước cuộc điều tra
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về tỷ lệ người DTTS ốm/đau mắc bệnh trong
3 tháng trước cuộc điều tra cao hơn nhiều kết quả báo cáo Điều tra mức sống dân cư
2010, Điều tra hộ gia đình vùng Đồng bằng sông Cửu Long (3) và kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Hưng và cộng sự (168) Ngược lại, so sánh với kết quả nghiên cứu của Chaofan Li và cộng sự tỷ lệ mắc bệnh trong 4 tuần qua của người DTTS vùng nông thôn miền Tây Trung Quốc cao hơn nghiên cứu này (118) Điều này có thể giải thích, việc tự khai báo cũng phụ thuộc nhiều vào yếu tố như khả năng nhận biết và đánh giá bệnh tật của từng cá nhân Bên cạnh đó là khoảng thời gian để đối tượng nghiên cứu đánh giá tình trạng ốm đau/bệnh tật trong 3 tháng qua có thể dài hơn nghiên cứu khác cũng tác động đến tỷ lệ khai báo của đối tượng nghiên cứu Một yếu tố ảnh hưởng nữa là thời điểm thu thập số liệu, nguy cơ mắc bệnh trong thời gian 3 tháng trước thời điểm nghiên cứu có thể rất khác nhau giữa các địa bàn nghiên cứu kể cả trong nghiên cứu này
Sự khác biệt về tỷ lệ ốm đau/bệnh tật trong 3 tháng trước cuộc điều tra theo giới tính trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như kết quả của tác giả Nguyễn Minh Hưng và cộng sự với tỷ lệ ở nữ giới cao hơn nam giới (168) Kết quả này cũng được khẳng định trong báo cáo phân tích số liệu về các triệu chứng ốm đau, bệnh tật tự khai báo trong điều tra mức sống dân cư Việt Nam năm 2008 trên cỡ mẫu gồm cả người dân tộc Kinh và DTTS, là nữ giới có tỷ lệ ốm đau, bệnh tật trong 4 tuần cao hơn nam giới (16) Điều này cho thấy các chính sách chăm sóc sức khỏe cần quan tâm đến đối tượng nữ giới người DTTS
Trình độ học vấn cũng là một yếu tố liên quan đến tình trạng ốm đau/bệnh tật ở người DTTS Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như một số nghiên cứu khác cho thấy nhóm có trình độ học vấn thấp có tỷ lệ khai báo ốm đau/bệnh tật cao hơn nhóm trình độ học vấn cao hơn (16) Trình độ học vấn thấp là một trong những khó khăn trong việc tiếp cận và hiểu biết về kiến thức, kỹ năng CSSK của người DTTS Do vậy, để chăm lo cho sức khỏe bản thân như chế độ dinh dưỡng, dự phòng bệnh tật, các chính sách liên quan CSSK người DTTS cần quan tâm, ưu tiên đối tượng người DTTS thuộc hộ nghèo
4.1.2 Tình trạng sức khỏe của các đối tượng người dân tộc thiểu số
Tình trạng tử vong trẻ em dưới 5 tuổi
Nghiên cứu của chúng tôi điều tra tình trạng tử vong của trẻ dưới 5 tuổi thông qua phỏng vấn đối tượng bà mẹ có con dưới 5 tuổi Trong khi đó, ở hầu hết các nghiên cứu khác, tình trạng này được đo lường thông qua tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi Theo Thông tư hướng dẫn của Bộ Y tế về hệ thống chỉ tiêu thống kê chuyên ngành y tế, tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi là tổng số trẻ dưới 5 tuổi tử vong ở một khu vực trong một khoảng thời gian xác định trên 1.000 trẻ đẻ sống của khu vực đó trong cùng khoảng thời gian Do vậy, khó có thể so sánh về tình trạng tử vong trẻ dưới 5 tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi với các nghiên cứu khác Tuy nhiên, nếu xét theo vùng, sự so sánh cũng có ý nghĩa nhất định
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy vùng Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ tử vong trẻ em DTTS dưới 5 tuổi (qua khai báo của bà mẹ) cao nhất Trong khi đó theo kết quả Tổng Điều tra dân số và nhà ở năm 2019, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi năm 2019 của vùng Trung du và miền núi phía Bắc chiếm tỷ lệ cao nhất và vùng Đồng bằng sông Cửu Long xếp thứ 5 (63) Sự khác biệt này có thể do cỡ mẫu nghiên cứu này chưa bao phủ toàn bộ 53 DTTS như kết quả của Tổng Điều tra dân số và nhà ở năm 2019 Về các yếu tố liên quan, nghiên cứu của chúng tôi cũng có một số kết quả giống với kết quả nghiên cứu từ số liệu điều tra chỉ số theo cụm tại Việt Nam năm 2010-2011 (16) Các yếu tố được cho là có liên quan đến tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi gồm: i) Thu nhập thấp (thu nhập bình quân tăng lên 100 nghìn đồng/người/tháng thì tỷ suất tỷ vong ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm là 1,8 điểm phần nghìn); ii) Khoảng cách từ nhà đến trung tâm y tế càng xa thì càng có tỷ suất tỷ vong ở trẻ em càng cao; iii) Tỷ lệ phụ nữ sinh con tại CSYT cũng như tỷ lệ phụ nữ đi khám thai tại CSYT làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em; iv) Tỷ suất sinh càng cao thì tỷ lệ tử vong càng cao; và v) Tuổi kết hôn lần đầu của thanh niên càng cao thì tỷ lệ tử vong ở trẻ em càng giảm (4)
Tình trạng trẻ sơ sinh đẻ nhẹ cân
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ sơ sinh đẻ nhẹ cân (qua phỏng vấn mẹ) thấp hơn tỷ lệ này trong Điều tra MICS năm 2014 (6) cũng như Niên giám thống kê năm 2016 (55) và năm 2018 (70) Điều này có thể do ở các vùng sâu vùng xa, người đỡ đẻ có kỹ năng ít khi tham gia vào quá trình sinh nở nên cân nặng khi sinh thường không được ghi nhận Trong các trường hợp sinh con tại nhà không có sự giám sát của các CBYT, cân nặng thường không được đo sau khi sinh Cân nặng được đo sau đó có thể không phản ánh chính xác cân nặng khi sinh vì trẻ sơ sinh có xu hướng sụt cân trong tuần đầu tiên (71) Độ chính xác của cân và kỹ thuật khi cân trẻ khi đẻ cũng là yếu tố quan trọng để xác định cân nặng của trẻ sau sinh Cân trẻ với cả áo, tã hoặc dùng cân không có đơn vị đo không tính được đến gram thì khó có thể xác định được trẻ nhẹ cân (