Là hợp đồng được ký giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn nhà đầu tư chuyển gia
Trang 1ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH TẾ - LUẬT VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
KHOA TÀI CHÍNH CÔNG
MÔN ĐỊNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TIỂU LUẬN NHÓM THUYẾT TRÌNH
ĐỀ TÀI 1: DỰ ÁN BOT VÀ BTO TẠI VIỆT NAM
Nhóm 1
ST
T
Giảng viên hướng dẫn: THS.Trương Minh Tuấn
Trang 2TPHCM, ngày 07 tháng 04 năm 2022
2
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Kết cấu bài tiểu luận 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BOT VÀ BTO 4
1 Cơ sở lý luận về BOT (Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao) 4
1.1 Khái niệm BOT 4
1.2 Đặc điểm của dự án BOT 4
1.3 Phương thức thực hiện và quản lý dự án BOT 4
2 Cơ sở lý luận về BTO (Xây dựng – Chuyển giao – Vận hành) 5
2.1 Khái niệm BTO 5
2.2 Đặc điểm của dự án BTO 5
2.3 Phương thức thực hiện và quản lý dự án BTO 6
3 So sánh giữa dự án BOT và BTO 6
3.1 Điểm giống nhau giữa hợp đồng BOT và hợp đồng BTO 6
3.2 Điểm khác nhau của hai loại hợp đồng BTO và BOT 7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÁC DỰ ÁN BOT VÀ BTO TẠI VIỆT NAM 8
1 Thực trạng về nguồn thu phí BOT 8
2 Thực trạng về nợ của dự án BOT 8
3 Thực trạng về việc đặt trạm thu phí BOT 9
4 Thực trạng về dự án BTO ở Việt Nam 10
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP BỀN VỮNG CHO BOT VÀ BTO TẠI VIỆT NAM 12
1 Đánh giá cho BOT tại Việt Nam 12
1.1 Đánh giá về ưu điểm BOT 12
1.2 Đánh giá về nhược điểm BOT 12
2 Đánh giá cho BTO tại Việt Nam 13
2.1 Đánh giá về ưu điểm BTO 13
2.2 Đánh giá về nhược điểm BTO 13
3 Giải pháp bền vững cho BOT và BTO ở Việt Nam 14
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
3
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Năm 2022 có thể thấy, Nhà nước hiện đang đứng trước những áp lực rất lớn để đảm bảo hoàn thành mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước Để thực hiện mục tiêu trên thì việc xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng đóng vai trò tương đối quan trọng Ở Việt Nam để đảm bảo sự quản lý của nhà nước đối với các dự án cơ sở hạ tầng thì nhà nước đã hình thành và phát triển các qui định pháp luật về đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO Sự đầu tư theo hợp đồng BOT và BTO diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế xã hội trong nước và quốc tế có những thay đổi thường xuyên nên việc nghiên cứu hợp đồng BOT và BTO là cấp thiết
2 Mục đích nghiên cứu.
Trong phạm vi bài tiểu luận này, nhóm em xin bàn vấn đề “ BOT và BTO: ( Build Operate Transfer ) : Xây dựng vận hành chuyển giao và ( Build Transfer -Operate) : Xây dựng - chuyển giao - vận hành” với mong muốn phân tích, đánh giá để đưa ra những giải pháp hoàn thiện
3 Phương pháp nghiên cứu.
Bài tiểu luận sử dụng các рhương рháр: рhân tích, thống kê, tổng hợр báо cáо và quy nạр để nghiên cứu, làm rõ vấn đề
4 Kết cấu bài tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì bài tiểu luận được chia ra thành ba phần: phần 1 cơ
sở lý luận về BOT và BTO; phần 2 thực trạng về các hợp đồng BOT và BTO ở Việt Nam; phần 3 đánh giá và giải pháp bền vững cho BOT và BTO ở Việt Nam
4
Trang 5NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BOT VÀ BTO.
1 Cơ sở lý luận về BOT (Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao).
1.1 Khái niệm BOT.
BOT (viết tắt của Build – Operate – Transfer) là hình thức đầu tư Xây dựng –Vận hành-Chuyển giao Là hợp đồng được ký giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu
tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam
1.2 Đặc điểm của dự án BOT.
Hợp đồng BOT có những đặc điểm sau:
Cơ sở pháp lý: Hoạt động đầu tư hay việc đầu tư vốn để kinh được tiến hành trên
cơ sở hợp đồng ký kết giữa nhà đầu tư với Nhà nước (các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) Nhà đầu tư trực tiếp tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh với tư cách pháp lý của mình phù hợp với nội dung thỏa thuận trong hợp đồng Khi đó, nhà đầu tư ngoài việc phải tuân thủ Luật Đầu tư thì việc giao kết, thực hiện hợp đồng còn phải phù hợp với các quy định về hợp đồng trong kinh doanh, thương mại quy định tại Bộ Luật dân
sự và Luật Thương mại 2005
Chủ thể ký kết hợp đồng: chủ thể tham gia đàm phán và ký kết hợp đồng dự án
bao gồm một bên là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và một bên là nhà đầu tư
Đối tượng, nội dung của hợp đồng: đối tượng của hình thức đầu tư theo hợp
đồng BOT là: các công trình kết cấu hạ tầng Các dự án trong lĩnh vực này có thể là xây dựng, vận hành công trình kết cấu hạ tầng mới hoặc mở rộng, cải tạo, hiện đại hóa, và vận hành, quản lý các công trình hiện có được Chính phủ khuyến khích thực hiện bao gồm: đường quốc lộ, đường liên tỉnh, liên huyện, cầu, hầm và các công trình, tiện ích có liên quan; đường sắt, đường xe điện: sân bay cảng biển cảng sông bến nhà…
1.3 Phương thức thực hiện và quản lý dự án BOT.
Phương thức thực hiện:
Nhà đầu tư thực hiện dự án BOT được chọn theo 2 hình thức là đấu thầu rộng rãi và chỉ định thầu Đối với các dự án BOT quy trình lựa chọn nhà đầu tư là lập, thẩm định, phê
5
Trang 6duyệt hồ sơ mời sơ tuyển, tổ chức sơ tuyển, đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển, thẩm định, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà đầu tư; lập, thẩm định, phê duyệt hồ sơ mời thầu, phát hành hồ sơ mời thầu cho các nhà đầu tư trong danh sách ngắn, đánh giá hồ sơ dự thầu, đàm phán hợp đồng sơ bộ, thẩm định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư
Quản lý dự án:
Các dự án đầu tư của lĩnh vực kết cấu hạ tầng là các dự án đầu tư xây dựng, do vậy hoạt động đầu tư xây dựng để hình thành dự án, công trình xây dựng cũng như quá trình bảo trì công trình trong giai đoạn vận hành khai thác thuộc phạm vi điều chỉnh của hệ thống văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng hiện hành
2 Cơ sở lý luận về BTO (Xây dựng – Chuyển giao – Vận hành).
2.1 Khái niệm BTO.
BTO (viết tắt của Build – Transfer – Operate) là hình thức đầu tư Xây dựng – Chuyển giao – Vận hành Là hợp đồng đầu tư được ký bởi chủ đầu tư với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng Sau khi xây dựng xong, chủ đầu tư sẽ phải tiến hành chuyển giao lại cho nhà nước chịu trách nhiệm Cơ quan nhà nước sẽ để nhà đầu tư vận hành, khai thác trong một khoảng thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu
tư và lợi nhuận
BTO là hợp đồng quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan đến việc thực hiện cả ba hành vi xây dựng – chuyển giao – vận hành Tuy nhiên, trong hợp đồng BTO thì thứ tự thực hiện các hành vi này là thỏa thuận cụ thể của mỗi bên để thực hiện hợp đồng dự án lại có một số điểm khác nhau
2.2 Đặc điểm của dự án BTO.
Hợp đồng BTO có những đặc điểm sau:
Cơ sở pháp lý: hoạt động đầu tư được tiến hành trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa
cơ quan nhà nước Việt Nam Nhà đầu tư trực tiếp tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh phù hợp với nội dung thỏa thuận trong hợp đồng trên cơ sở tuân theo quy định pháp luật về đầu tư của Việt Nam và các văn bản pháp luật khác có liên quan
Chủ thể ký kết hợp đồng: một bên là cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt
Nam và một bên nhà đầu tư
Đối tượng của Hợp đồng: là các công trình kết cấu hạ tầng.
Hình thức của hợp đồng: được lập thành văn bản.
6
Trang 7 Nội dung của hợp đồng quy định các quyền và nghĩa vụ của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư liên quan đến 3 việc xây dựng, chuyển giao, kinh doanh
Lợi ích nhà đầu tư được hưởng là Chính phủ dành cho Nhà đầu tư quyền kinh
doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận
2.3 Phương thức thực hiện và quản lý dự án BTO.
Phương thức thực hiện hợp đồng:
Nhà đầu tư phải thành lập doanh nghiệp BTO để tổ chức, quản lý, kinh doanh dự án hoặc thuê tổ chức quản lý, với điều kiện doanh nghiệp chịu toàn bộ trách nhiệm của tổ chức quản lý
Quản lý BTO:
Sau khi hoàn thành dự án, các nhà đầu tư phải chuyển giao dự án lại cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền Sau đó thì các nhà đầu tư sẽ có một khoản thời gian vận hành, tự hoạt động dự án nhằm thu lại nguồn vốn đã bỏ ra và tạo ra lợi nhuận cho bên đầu tư
3 So sánh giữa dự án BOT và BTO.
3.1 Điểm giống nhau giữa hợp đồng BOT và hợp đồng BTO.
Hai loại hợp đồng trên đều là hình thức đầu tư theo hợp đồng
Về mặt cơ sở pháp lý thì 2 loại hợp đồng này đều giống nhau và được quy định khá cụ thể trong Nghị Định 15/2015/NĐ-CP của chính phủ ban hành vào năm 2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Về chủ thể trong việc ký kết hợp đồng cả hai loại hợp đồng này đều có 2 chủ thể
ký kết, một là cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và hai là một nhà đầu tư muốn ký kết hợp đồng
Về đối tượng mà 2 hợp đồng này nhắm tới theo quy định là những công trình có kết cấu hạ tầng, có thể xây dựng, vận hành và các công trình có kết cấu hạ tầng mới hoặc mở rộng, cải tạo hiện đại hóa và vận hành, quản lý các công trình hiện có được chính phủ khuyến khích thực hiện
Về mặt hình thức của hai loại hợp đồng này thì cả hai loại hợp đồng này đều tuân theo quy định của Bộ Luật Dân sự và các văn bản hiện hành liên quan và hình thức của hợp đồng là phải được lập và viết thành văn bản
3.2 Điểm khác nhau của hai loại hợp đồng BTO và BOT.
7
Trang 8dung
- Là sự thỏa thuận của 2 bên về việc
thứ tự và các quyền và những nghĩa
vụ có liên quan của nhau tới những
việc như là xây dựng, kinh doanh và
chuyển giao công trình cho các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt
Nam
- Ở đây hợp đồng BTO thì quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của nhau trong việc xây dựng, kinh doanh và chuyển giao cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam
Thời
điểm
bàn
giao
- Sau khi xây dựng xong dự án thì
phía nhà đầu tư có quyền sử dụng để
kinh doanh trong một thời hạn nhất
định Sau khi đáo hạn thì phải bàn
giao lại cho các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền tại Việt Nam
- Sau khi xây dựng xong phía nhà đầu tư có nghĩa vụ phải bàn giao lại công trình cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam kiểm soát
Lợi ích
từ hợp
đồng
- Lợi nhuận và những lợi ích mà nhà
đầu tư có được phụ thuộc vào việc
kinh doanh của nhà đầu tư đó trước
khi bàn giao lại cho các cơ quan nhà
nước
- Lợi nhuận và lợi ích của nhà đầu
tư do chính phủ cho phép nhà đầu
tư có quyền sử dụng công trình để thực hiện việc kinh doanh trong một thời hạn nhất định để có thể thu hồi vốn và kiếm thêm lợi nhuận
8
Trang 9CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÁC DỰ ÁN BOT VÀ BTO TẠI
VIỆT NAM.
1 Thực trạng về nguồn thu phí BOT.
Theo số liệu từ Tổng cục Đường bộ Việt Nam, cả nước hiện nay đang có 62 dự án BOT được Bộ Giao thông Vận tải trực tiếp quản lý Trong đó có 8 dự án đã tạm dừng thu phí
và 54 dự án vẫn còn đang trong thời gian hoàn vốn Tổng số thu của 54 dự án đó trong năm 2021 đạt hơn 11 nghìn tỷ đồng Chi tiết cho từng quý, doanh thu trong quý I (2021): hơn 3.300 tỷ đồng; quý II (2021): hơn 3.140 tỷ đồng; quý III (2021): hơn 1.700
tỷ đồng và quý IV (2021): gần 3.000 tỷ đồng
Bên cạnh đó, những dự án ghi nhận doanh thu lớn nhất trong nửa đầu năm 2021 gồm có
7 dự án Trạm thu phí có doanh thu ghi nhận cao nhất là trạm thu phí của dự án xây dựng cao tốc Hà Nội - Hải Phòng với tổng số hơn 650 tỷ đồng Các dự án cùng có doanh thu ghi nhận cao thứ hai là dự án nâng cấp tuyến đường Pháp Vân - Cầu Giẽ (Hà Nội), dự án mở rộng tuyến quốc lộ 51, cùng ghi nhận doanh thu hơn 205 tỷ đồng Đứng thứ 3 là dự án xây dựng hầm đèo Cả nằm trên tuyến Quốc lộ 1, có doanh thu hơn 188 tỷ đồng Và cuối cùng là các dự án đầu tư xây dựng tuyến Thái Nguyên - Chợ Mới (Bắc Kạn); nâng cấp, mở rộng quốc lộ 3 đoạn Km75 - Km100 theo hình thức hợp đồng BOT;
dự án xây dựng cầu Việt Trì – Ba Vì với doanh thu hơn 8 tỷ đồng
Nguồn thu của BOT lớn nhưng vẫn còn tồn đọng rất nhiều vướng mắc Thứ nhất, công tác thu phí còn thiếu minh bạch, rõ ràng Người dân đã có nhiều lần phản ánh về việc các trạm thu phí tự động không thu “tự động” mà lại thu bằng “tay”, quản lý cũng bằng
“tay” Sau khi thanh tra, kiểm sát thì đã cho thấy số thu thực tế ghi nhận nhiều hơn số thu trong báo cáo, đó là một điểm hết sức quan ngại Thứ hai, vẫn còn rất nhiều dự án bị thiếu hụt nguồn thu Tình trạng này diễn ra do dự án không thu hút được lưu lượng phương tiện, công tác tính toán địa điểm đặt trạm chưa hợp lý và việc dự tính nguồn thu vẫn chưa đạt độ chính xác cao Thứ ba, tình hình dịch bệnh gây “khốn đốn” cho nhiều
dự án BOT Nhiều tỉnh ban bố chính sách giãn cách, dẫn đến các trạm thu phí phải đóng cửa do quá vắng, làm doanh thu lao xuống phong phanh Các trạm không phải đóng cửa thì cũng phải giảm giá thu phí đến 30% như trạm thu phí dự án cao tốc Hà Nội - Hải Phòng
2 Thực trạng về nợ của dự án BOT.
9
Trang 10“Trong báo cáo mới đây gửi đến Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, tính đến cuối tháng 7/2021, tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông giảm 3,57%
so cuối năm 2020, chiếm 1,07% tổng dư nợ của nền kinh tế Có 56/116 dự án BOT đi vào khai thác có doanh thu không đạt như phương án tài chính tại hợp đồng dự án, với
dư nợ 71.970 tỷ đồng; 30/116 dự án có khả năng phải cơ cấu chuyển nhóm nợ xấu với
dư nợ 28.166 tỷ đồng.”
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu đang “phình to” là do nhà đầu tư có nguồn lực tài chính hạn chế, khi dự án gặp các trở ngại hay biến động bất ngờ, nhà đầu tư khó có thể dàn trải và khắc phục kịp thời Tiếp thêm đó, chính sách thu phí được đưa ra không
ổn định, tình trạng quản lý còn yếu kém cũng là một nguyên do dẫn đến dự án phát sinh
nợ xấu Đặc biệt, trong đợt bùng phát dịch thứ tư vừa qua, do tình trạng cách ly xã hội kéo dài, các trạm thu phí khó có thể hoạt động, nợ xấu cũng từ đó mà “bành trướng” Tình trạng thua lỗ làm cho các dự án không trả được cả nợ vay lẫn nợ gốc, điều này gây nên một mối e ngại về việc đầu tư cho dự án BOT trong thời gian gần đây Không chỉ các nhà đầu tư, ngân hàng cũng càng khó khăn trong việc cho các dự án BOT vay vốn Dẫu biết, cho vay BOT là một loại hình cho vay đặc thù vì không có tài sản bảo đảm, thời gian vay vốn kéo dài từ 10 đến 15 năm và còn có trường hợp lâu hơn Ngân hàng không vì tính đặc thù mà gây khó, họ không còn mặn mà vì các “quả bóng nợ” vẫn còn
lơ lửng với các dự án BOT
3 Thực trạng về việc đặt trạm thu phí BOT.
Như đã nêu ở trên, việc đặt trạm thu phí vẫn còn là vướng mắc đáng quan tâm đối với các dự án BOT Tính toán vị trí đặt trạm vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý, gây ảnh hưởng đến việc thu hút lượng phương tiện đi vào con đường xây dựng bởi dự án Trong
đó, nổi bật về việc người dân liên tục phản ánh về việc “đặt trạm thu phí không đúng vị trí”
Điển hình như trạm BOT Cai Lậy (Tiền Giang) đã nhiều lần phải xả trạm do người dân phản đối gay gắt, khiến giao thông ùn tắc Trạm thu phí Bắc Thăng Long - Nội Bài cho tuyến đường tránh Vĩnh Yên của tỉnh Vĩnh Phúc đã phải tạm dừng nhiều lần vì các phương tiện không chịu trả phí, họ nói rằng họ không đi tránh Vĩnh Yên thì không cần trả phí Gần đây, trạm BOT T2 đặt trên Quốc lộ 91 cũng gặp tình trạng tương tự khi các phương tiện không đồng tình với việc thu phí ở trạm Họ cho rằng kể cả họ đi từ An
10
Trang 11Giang đến ngã ba Lộ Tẻ và Quốc lộ 80 đi Kiên Giang hay là qua cầu Vàm Cống để về
TP Hồ Chí Minh (và ngược lại), họ cũng chỉ sử dụng khoảng 300 mét đường Quốc lộ 91 nhưng phải trả tiền cho toàn con đường ở trạm T2
Ngoài ra, vấn đề về số lượng trạm thu phí trên một tuyến đường cũng gây ra nhiều ý kiến tiêu cực cho người dân Như tại Bình Định, trên quãng đường 200 kilomet tính cả Quốc lộ 1A theo hướng Bắc Nam và Quốc lộ 19 theo hướng Đông - Tây, đã phải “nhồi”
3 trạm thu liên tiếp suốt dọc đường Các trạm bao gồm trạm BOT Bắc Bình Định ở huyện Hoài Nhơn, trạm Nam Bình Định ở thị xã An Nhơn và trạm Quốc lộ 19 Km 49+50 Người dân đã có nhiều động thái bất bình khi mức phí đã cao lại còn liên tiếp nhiều trạm, khiến cho chi phí di chuyển ngày càng tăng cao
Việc đặt trạm thu phí sai do các nguyên nhân về tính hấp dẫn của dự án Nếu đặt ở vị trí khác sẽ không thu được nhiều tiền bằng vị trí này, dù gây ra ý kiến trái chiều Khi lập
dự án, có thể bên chủ đầu tư và chính phủ chỉ tính đến việc duy trì dự án, thu hút thêm đầu tư (dựa trên doanh số) mà không tính đến lợi ích mà người dân được hưởng Nếu người dân hưởng lợi ích từ dự án thì họ hoàn toàn có thể không dùng đến dự án và không sẵn lòng trả phí khi muốn sử dụng Điều này sẽ tác động ngược lại chủ đầu tư, tình trạng thua lỗ có thể bùng phát mạnh mẽ
4 Thực trạng về dự án BTO ở Việt Nam.
Dù đã được quy định cụ thể tại Luật Đầu tư 2005, tại nghị định số 18/2009/NĐ-CP Về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao,… đến nay, do các tính chất đặc thù riêng của từng loại hợp đồng mà số lượng hợp đồng BTO là rất ít
ỏi, không được các nhà đầu tư lựa chọn nhiều so với BOT
Đầu tư theo hình thức hợp đồng BTO hay BOT đều là hình thức đầu tư có sự phối hợp giữa nhà đầu tư và Nhà nước nhằm xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng cho đất nước Do vậy, Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách với rất nhiều sự hỗ trợ, ưu đãi cho các dự án đầu tư theo cả 2 loại hình thức hợp đồng này, có thể kể đến ưu đãi về quyền sử dụng đất, ưu đãi về thuế, và nhiều biện pháp đảm bảo đầu tư khác Mỗi hình thức hợp đồng đều có những đặc thù, lợi thế và ưu điểm riêng, việc này giúp các nhà đầu tư có linh động trong việc lựa chọn giữa các hình thức này, đặc biệt là tùy từng hoàn
11