Đảm bảo cung cấp đầy đủ kiến thức, kỹ năng, giúp sinh viên có thể hiểu rõ hơn về những điều tưởng như biết hết ở một tác phẩm, qua quá trình học em biết được rõ hơn về tiến trình, những
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TIEU LUAN HOC PHAN DIEN PHAM TRONG VAN HOC VIỆT NAM
HỌC KY I NĂM HỌC 2023 - 2024
Giang viên hướng dẫn: Dé Thu Hiền & Nguyễn Đào Nguyên
Họ và tên sinh viên: Bùi Thị Minh Hằng.
Mã sinh viên: 21030630.
Mã lớp học phần: 231-LIT3073-01.
Hà Nội, thang 1 năm 2024
2
Trang 2ĐẠI HỌC QUOC GIA HÀ NOI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TIỂU LUẬN HỌC PHAN DIEN PHAM TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
HỌC KY I NĂM HỌC 2023 - 2024
Giảng viên hướng dẫn: Đỗ Thu Hiền & Nguyễn Đào Nguyên
Họ và tên sinh viên: Bùi Thị Minh Hằng.
Mã sinh viên: 21030630.
Mã lớp học phần: 231-LIT3073-01.
Hà Nội, thang 1 năm 2024
Trang 3LỜI CẢM ƠN!
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn ngành Hán Nôm, khoa Văn Học, trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em
học tập và thực hiện bài luận này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Đỗ Thu Hiền và thầy Nguyễn Đào Nguyên
đã tận tình hướng dẫn, trong quá trình giảng dạy môn học Điển phạm trong văn học
Việt Nam đã dạy dỗ và tâm huyết truyền đạt những kiến thức quý giá cho em trong
suốt thời gian học tập vừa qua Trong thời gian tham gia lớp học Điền phạm trong văn
học Việt Nam của thầy và cô em đã trau dồi cho ban thân nhiều kiến thức bồ ích, tinh
thần học tập nghiêm túc và hiệu quả Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức có giá trị
sâu sắc, là hành trang đê em vững bước sau này.
Bộ môn Điền phạm trong văn học Việt Nam là môn học thú vị, bổ ích và có ý nghĩa vô cùng sâu sắc Đảm bảo cung cấp đầy đủ kiến thức, kỹ năng, giúp sinh viên có thể hiểu
rõ hơn về những điều tưởng như biết hết ở một tác phẩm, qua quá trình học em biết
được rõ hơn về tiến trình, những bước chuyên mình của nền văn học nước ta Tuy
nhiên, do khả năng tiếp thu thực tế và cụ thể hơn là về văn học còn nhiều hạn hẹp, kiến thức chưa sâu rộng Mặc dù bản thân đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiéu luận khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy và cô xem xét và góp ý dé bài tiểu
luận của em được hoàn thiện và tôt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4ĐÈ BÀI:
Anh (Chị) hãy phân tích tiễn trình trở thành điển phạm của một hiện tượng văn học
Việt Nam (chọn văn học chữ Nôm hoặc chữ quốc ngữ)
BÀI LÀM:
Cuộc đời con người là hành trình tìm kiếm cái đẹp, cái đẹp trở thành đích đến trên đường đời, ta vì cái đẹp mà tổn tại “Cai đẹp là thứ duy nhất mà thời gian không
thé làm tồn hại” (Oscar Wilde) Không năm ngoài lẽ đó, văn chương đích thực trường
tồn vĩnh cửu với thời gian Văn học tái hiện cuộc đời trên trang viết, nhưng cuộc song
dau chỉ có những bông hoa mà còn có ca những hàng rao dây thép, xung quanh ta dau
chỉ tồn tại cái lương thiện, tốt đẹp mà còn có cả đau đớn, xâu xa Văn chương chân
chính phải phan ánh được trọn vẹn, sâu sắc đời sống, ké cả màu tối lẫn mảng sáng Dé
“cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thuỷ chung, cái nhân đạo” có thể trở thành “thanh nam
châm thu hút mọi thế hệ”, tác phẩm phải trải qua một quá trình dài đấu tranh dé đi tìm
cho mình một chỗ đứng vững giữa lòng biển khơi văn học Những người giải mã tác
phẩm bao thế hệ vẫn lật gid, tìm kiếm những cái hay, cái đẹp, hay đơn giản là những
quá khứ trước kia trong tòa tháp ngôn từ của các nhà văn Điều này thúc đây quá trình soi xét, cảm nhận, mô xẻ và bóc tách viên ngọc bội trong tay người nghệ sĩ cầm bút
tân tảo nhiêu hơn.
Muốn chạm được đến phan sâu nhất của tam lòng của người đọc thì tác pham văn học ấy sau quá trình chiến đấu kịch liệt can phải có một dau an đặc biệt, một nét
đẹp riêng, va hon thế nữa là trải qua sự dịch chuyên vị thé, thay đổi vị thế rất nhiều
qua các thời đại Đặc biệt là quá trình trở thành điển phạm đây là quá trình thú vi, đưa tác phẩm trở thành tác phẩm kinh điển Tác phâm có thê không có vị thế, ý nghĩa đối
với thời kì này nhưng qua thời gian, thời đại cùng với những tác động, hoàn cảnh, các
yêu tô bên ngoài tác động, kết hợp với những gì mà tác phẩm ấy có Tất cả đã giúp
một tác phẩm văn học Việt Nam, cấp cho tác phẩm ay một vị thé mới
Khái niệm điển phạm là một thuật ngữ không quá xa lại đối với chúng ta nhưng lại ít người dùng tới Điển phạm là những tác phẩm có tính chất mẫu mực của một nền văn học, nó lưu trữ quá khứ và liên hệ với hiện tại Quá trình hình thành của điển
phạm phải tính từ cả hai phía, trước hết phải là bản thân giá trị thâm mĩ nội tại của tác
Trang 5phẩm, sau đó là sự ảnh hưởng của các yêu tố lịch sử, thiết chế xã hội, giáo dục, kinh tế
và chính trị Sự hình thành và lưu giữ điển phạm được tiến hành chủ yếu qua cách thức sau: một tác phẩm được coi là điển phạm khi xuất hiện sự mô phỏng và sao chép qua
các thé hệ Tuy nhiên cũng có thé tính đến thiết chế giáo dục chính thống là nơi hình
thành hay lưu giữ điển phạm và vai trò của các nhà phê bình Điển phạm không phải là
hiện thân cho các giá trị phi lịch sử và tổng quát, mà nó có tính lịch sử và biến đổi theo
thời gian Có thê nói, điên phạm chính là tự sự vê cách nhìn văn học của môi thời.
“Chí Phéo” như là một minh chứng nổi bật cho một tiến trình trở thành điển phạm của một hiện tượng văn học Việt Nam cụ thể ở mảng chữ quốc ngữ, năm đó tôi đọc xong Chí Phèo trong một đêm đầu đông, trời bắt đầu trở lạnh Tôi lên giường, kéo chăn, trong đầu chắc mâm ngủ ngon phải biết Nhưng chang hiểu vì điều gì khiến tôi
cứ trăn trở mãi, hàng mớ câu hỏi cứ vụt lên rồi lại chợt tắt trong tâm trí tôi - một cô bé
vừa tròn mười bay: Chí Phèo là quy dữ của làng Vũ Dai hay một anh nông dân tội
nghiệp? Hắn ta đáng trách hay đáng thương? Giờ học lên, biết nhiều hơn chút mới
ngẫm lại mới thấy được cái hay cái độc đáo, ngòi bút ấy vừa sắc sảo vừa chân thực,
trào phúng nhưng không thiếu phần tinh tế Truyện ngăn “Chí Phèo” từ khi ra đời cho đến nay vẫn luôn được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học cũng như độc giả đánh
giá là một kiệt tác của văn học Việt Nam hiện đại Chí Phèo luôn mang trong mình
trong mình một giá tri sâu sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật, chính sự tàn khốc của
hiện thực cùng tính nhân văn cao cả đã khiến thi phâm trở thành một kiệt tác của văn
đàn Việt Nam, trở thành điển phạm của một hiện tượng văn học Việt Nam ở mảng chữ quốc ngữ “Chí Phèo” trở thành điền phạm nhìn vào đó ta thay nó như một tiến trình
bởi điền phạm không phải tất yếu và vĩnh viễn mà như đã nói ở trên đây là quá trình,
tiến trình, sự thay đổi vị thé dé trở thành tác phẩm kinh điển, có chỗ đứng Muốn biết
được quá trình ấy đầu tiên ta cần phải nhìn vào quá khứ của tác phẩm, bối cảnh và thời
đại ra đời, thiết chế chính trị - nhà nước lúc bấy giờ Điều này đồng nghĩa với việc đặt
tác phâm vào bôi cảnh xã hội đê thây được giá trị, tâm quan trọng của văn bản.
Chí Phèo là một truyện ngắn nỗi tiếng của nhà văn Nam Cao viết vào tháng
2 năm 1941 Thời điểm sáng tác của tác phẩm rơi vào giai đoạn văn học Việt Nam thế
kỷ XX giai đoạn 1930 — 1945 Thời điểm này được chia làm ba giai đoạn cùng với ba dòng văn học chính Đầu tiên là văn học hiện thực phê phán (1930 — 1945), văn học
hiện thực phê phán ra đời trong lòng xã hội Việt Nam van đang tồn tại hai mâu thuẫn
Trang 6cơ bản: địa chủ, phong kiến với nông dân; dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp Giai
cấp địa chủ cầm cân nảy mực trong xã hội nhưng lại ôm chặt chân dé quốc — là kẻ thù của nhân dân Chúng đặt ra nhiều sưu thuế nặng làm cho đời sống nhân dân không thé
ngóc đầu lên được, song kiép trâu ngựa, cảnh bán vo do con diễn ra ở khắp nơi Họ
phải sống cuộc đời ban cùng hoá độ (Bước đường cùng — Nguyễn Công Hoan), họ
phải bán chó, bán con (Tắt đèn — Ngô Tat Tố), thậm chí bán cả nhân hình, nhân tinh
cho nhà nước (Chí Phèo — Nam Cao) Đây cũng là sự thật của cuộc sông.
Tuy nhiên, chỉ khi kế đến dòng văn học hiện thực phê phán với những cây bút
vô cùng sâu sắc như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vuc Trọng Phụng,
Nguyên Hồng thì cảnh tượng này mới được các nhà văn miêu tả vô cùng chân thực, sông động Ngô Tat Tố với tác pham Tắt đền, hai thiên phóng sự ” Tập án gia đình”,
“Việc làng” tiêu thuyết “Liều chõng” Nam Cao với tác phẩm “Chi Phéo”, “Lão
Hạc”, “Một bữa no”, “Trẻ con không được ăn thịt chó” Hay Vũ Trọng Phung với tác
phẩm “Giông tổ”, “Số đỏ”, “Lam đĩ”, “Kĩ nghệ lay Tây” Bên cạnh đó, Nguyễn Công
Hoan với “Mất ví”, “Quan huyện”, “Đầu hào có ma” và Nguyên Hồng với “Bi vỏ”, tiêu thuyết “Cửa biển”, “Ngày thơ ấu” Tat cả những nhà văn trên đều phản ánh và
phê phán hiện thực xã hội năm 1930 — 1945 Những nha văn này được gọi là: Trào lưu
văn học của phong trào hiện thực phê phán xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 — 1945.
Tiếp đó là văn học lãng mạn Việt Nam (1932 — 1945) — ảnh hưởng sâu sắc của
văn học Pháp Đây là thời kì thực dân Pháp sang đô hộ Việt Nam, chúng dùng chính
sách “chia dé trị” Chúng chia nước ra thành ba kì, ba hình thức cai trị khác nhau
Về văn hoá, thực dân Pháp dùng chính sách “nhdi sọ”, đào tạo cho những người tri
thức Việt bằng nền văn hoá Pháp dé chúng ta lệ thuộc vào Pháp Như chúng ta đã viết, nền văn hoá Pháp là nền văn minh nhân loại, là cái nôi của nền văn chương lãng mạn với những cây bút nồi tiếng như: Paul Verlaine, Rim Beau, Paul ELare rất nhiều nhà thơ Việt Nam bị ảnh hưởng trào lưu văn học Pháp dé hình thành trên diễn dan văn
chương Việt Nam trào lưu văn học lãng mạn Văn học lãng mạn chia làm hai bộ phận:
Thơ mới: gồm những cây bút tiêu biểu như Xuân Diệu (người bị ảnh hưởng nhiều
nhất), Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử, Vũ Hoàng Chương Và văn xuôi: Tự
lực văn đoàn: Khải Hưng, Nhất Linh, Hoàn Đạo, Thạch Lam thường viết về văn
chương thoát ly cuộc đời.
Trang 7Cuối cùng là văn học Cách Mạng năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam thành
lập Ngay sau khi ra đời, Đảng kêu gọi quần chúng nhân dân tham gia Cách mạng
Hiện thực của cuộc sống bước vào văn chương như một quy luật tất yếu với những thư
kí trung thành như: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Thuỷ, Sóng Hồng Chính những
mảnh đất màu mỡ đấy là nơi mà tác giả khắc họa nên các nhân vật trong truyện ngắn
Chí Phèo.
Chí Phéo được tác giả viết nên dựa trên cơ sở người thật việc thật Đó là làng Đại Hoàng — quê hương của nhà Văn Nam Cao Dựa trên cơ sở đó, Nam Cao hư cấu,
sáng tạo nên câu chuyện về cuộc đời của Chí Phèo, tạo nên một bức tranh hiện thực
sinh động về xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng Tháng Tám 1945 Hiện thực này như đã trực tiếp tác động lên tác phẩm Chí Phèo, ta có thê thấy ngay ở việc được
đổi tên ba lần, ban đầu tác phẩm có tên Cái lò gạch cũ, với tên gọi đầu tiên này đã nói
lên hoàn cảnh ra đời của Chí Phèo “Cái lò gạch cũ” là hình ảnh mở đầu và kết thúc tác phẩm, nó là chi tiết không thê thiếu và gắn liền với số mệnh của Chí Phèo Với tên gọi này thì giá trị hiện thực của tác phẩm thêm sâu sắc và sinh động Tác phâm được đổi
tên lần thứ hai sau khi được in thành sách (1941), nhà xuất bản tự đổi tên tác phẩm với nhan đề Đôi lứa xứng đôi Với tên gọi này, sẽ hướng người đọc tới mối tình giữa Thị
Nở và Chí Phèo, dẫn người đọc thấy ra sự tàn ác của làng Vũ Đại và Bá Kiến đối với
Chí Phèo và nêu cao sự gặp gỡ của Chí Phèo với Thị Nở đã làm thay đổi vận mệnh
cuộc đời Chí Nhưng tên gọi này vẫn không đủ nói lên giá trị hiện thực và làm lu mờ
đi nhiều giá trị quan trọng khác trong tác phẩm Và sau cùng nhà văn Nam Cao đã
quyết định đổi tên thành Chí Phèo, lấy tên gọi nhân vật chính của câu chuyện Với
nhan đề này thì mọi giá tri của tác phẩm đều hiện hữu, bởi tựa đề đã đề cập tới một
thân phận cụ thé, số phận ay mang cả giá trị hiện thực lẫn giá trị nhân đạo
Xung quanh tác phâm Chí Phèo với bao là nhân vật, có thể nói những nhân vật
được xem là khơi nguồn, làm nên “chuyện”, rồi tạo sự kịch tính, sự xung đột trong tác
phẩm được đây lên cao trào như: Bá Kiến hay vợ Bá Kiến Hoặc nhân vật được nhắc
đến chỉ sau Chí Phèo đó là Thị Nở Thị Nở được nhắc đến trong tác phâm như “đồng
hình”, “đồng dạng” với Chí Phèo và là nhân vật quan trọng, điểm nhắn trong tác phẩm, chính Thị Nở đã đây cuộc đời Chí một ngã rẽ khác, một kết cục khác Thị Nở xứng
đáng là nhân vật tiêu biểu Thế nhưng, tat cả chỉ tiết trên, những nhân vật đó không thé che lấp hay thay vị trí hình ảnh Chí, chất riêng của Chí Phèo trong tác phẩm Nhân vật
Trang 8Chí là nhân vật trung tâm, là “con quỷ dt’ của làng Vũ Đại va cũng that táo bạo khi
cho Chí Phéo là “một thiên than” trong vô số các nhân vật trong tác phẩm Nhân vật
Chí không thé là điểm nhắn, cũng không phải chi phối tác phẩm, nhưng là quyết
định của tác phẩm, có Chí Phèo, có cuộc đời của Chí thì mới có tác phẩm Vì thé
không có sự bất ngờ khi Nam Cao chọn lấy tên nhân vật làm nhân đề cho tác phâm của
mình Chí Phèo và nhân vật trung tâm là Chí Tác phẩm đã đem lại cho người đọc một hiện thực mạnh mẽ, một bức tranh đen tối, bế tắc của nông thôn Việt Nam trước cách mang Tháng Tám Xã hội giai đoạn 1930 — 1945 rối ren, nền kinh tế Việt Nam kiệt
quệ dưới ách thống trị thực dân phong kiến và sự mâu thẫn giữa các giai cấp Đặc biệt
là mâu thuẫn giữa giai câp vô sản và địa chủ phong kiến.
Trong tác phâm Chi phéo, Nam Cao đã khám phá một hiện thực riêng biệt của mình, không chỉ phê phán xã hội thực dân phong kiến, thế lực thống trị xã hội , yêu
thương, cảm thông cho những con người bị vùi dập, chà đạp trong xã hội mà còn suy
ngẫm hiện thực của một con người, khi không còn là chính mình, không còn được xã
hội thừa nhận là con người thông qua bối cảnh xã hội như thế Cái xã hội đức trị và
trọng danh phẩm đã không có xuất hiện trong làng Vũ Đại trong tác phẩm Chí phèo
của Nam Cao thay vào đó là tang lớp thống trị hoành hành và tang lớp bi trị luôn bị tha
hóa Do vậy thứ bậc trong cái làng nông thôn này đã không còn, chữ lễ chữ nghĩa cũng
mắt huống chi là chữ nhân và chữ tình “Xã hội làng Vũ Dai là một xã hội bị tha hóa
toàn thê tha hóa vì quyền lực, tha hóa vì cùng cực, cùng đường, tha hóa vì bản thân
Quan hệ xã hội ở đây là quan hệ giữa các đơn vị đã bị tha hóa cá nhân với cá nhân,
nhóm loại với nhóm loại Làng Vũ Đại không nhiều các kiêu loại người, các thành
phần và sự tiếp xúc, quan hệ giữa chúng không phong phú, vì vậy đời sống tinh thần,
đời sồng tâm hồn của các cá nhân ở đây cũng đơn giản, nghèo nàn” (Các mối quan hệ
xã hội trong làng Vũ Đại — Thái Nguyên 1991)
Bối cảnh xã hội cũng có tác động mạnh mẽ đến từng nhân vật trong tác phẩm, điều này có thé thay rõ với nhân vật Chí Phèo Trong tác phâm, có thé nói nhân vật bi
hệ lụy và ảnh hưởng nặng nề nhất của xã hội bấy giờ chính là Chí Phèo “cái đầu trọc
lóc, cái răng cạo trăng hớn hai mắt gườm gườm trông gớm chết” Là nhân vật trung tâm, Chí Phéo như bị tha hóa, do thúc bách của xã hội và là nạn nhân của chế độ
cường quyền từ một nông dân chân chat trở thành con “quỷ dir” khiến mọi người
99 66
khiép sợ và tránh xa “đê tác quai cho bao nhiêu dân làng”, “han dap đô bao nhiêu sự
Trang 9nghiệp làm tan nát biết bao gia đình, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người” Như là một nhân chứng sống động tố cáo thực dân phong kiến đã cướp mat đi quyền
làm người, quyền được hạnh phúc trong xã hội bay giờ Bởi bàn tay tội ác của những
kẻ như Bá Kiến đã tước đoạt vĩnh viễn con người lương thiện của Chí ngày xưa
Nhung trong hình hài quỷ dữ, vẫn ấn náu giấc mơ ngày nao, dù chỉ nhớ lại một cách lờ
mờ “hình như ” cũng đủ khang định cho sức phản kháng của lương thiện trước tội ác
của Chí.
Với nhân vật Bá Kiến và vợ Bá Kiến Khi ta nói xã hội đương thời này đã thúc đây, dẫn đến Chí Phèo rơi vào cảnh bi kịch thì không quên đến nhân vật được cho là
đại diện của thế lực cường quyền đó là Bá kiến và vợ Bá Kiến Được xem là bộ mặt
của xã hội thực dân phong kiến, Bá Kiến xứng đáng được gọi là nhân vật điển hình
cho những bắt cập, tồn tại có trong xã hội thực dân phong kiến Xấu xa, gian manh, đê
hèn, bóc lột, tàn bạo, những phẩm chất đó được Bá Kiến thể hiện trọn vẹn qua suy nghĩ, hành động, lối sống của mình qua tác phẩm Sự gian manh nham hiểm của Bá
Kiến được thể hiện qua cách dùng người như là một công cụ “không có những thằng
dau bò thì lay ai dé trị những thằng đầu bò?” hay sự ném đá giấu tay, lọc lừa một cách xảo quyệt “hay ngâm ngầm đây người ta xuống sông, nhưng rồi dắt nó lên để nó đền
ơn Hay đập bàn ghế, đòi cho được năm đồng nhưng được rồi thì vất trả năm hào” Vợ
Bá Kiến thì luôn hiện thân cho tầng lớp thống trị, luôn đàn áp và cướp đi quyền tự do
của người khác Vậy nhân vật Bá Kiến và vợ là hiện thân cho xã hội thực dân phong
kiến hay chính xã hội đó tạo nên con người thâm độc như vợ chồng nhà Bá trở thành
bộ máy can quét dân nghèo như thế ? Chỉ biết Bá Kiến và vợ hội tụ đủ tat cả tinh
thần của chế độ cũ đương thời
Hay nhân vật Thị Nở, nhắc đến nhân vật Chí Phèo ta không quên một nhân vật noi trội, mà ai cũng quan tâm và có cái nhìn đầy thương cảm không ai khác chính là
nhân vật Thị Nở Thị Nở được Nam Cao nhắc đến như một “hiện tượng lạ” của làng
Vũ Đại vậy! Dung nhan của Thị là những đường nét tự nhiên, thô mộc đến mức dị
hom: trên một khuôn mặt ngắn ngủn, có cái mũi “vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa san
sùi như vỏ cam sành” và một đôi môi “cũng cô to cho không thua cái mũi” hơn nữa,
lại dày và có “màu thịt trâu xám ngoách” Toàn bộ “nhan sắc” của Thị Nở được Nam Cao tóm lại trong một nhận xét là “xấu đến ma chê quỷ hờn” Ông sẵn sàng viết cho
nhân vật này “người ta không ai sợ kẻ khác phạm đên cái xâu, cái nghèo, cái ngân ngơ
Trang 10của mình, mà thị lại chỉ có ba cái ấy” Nhưng 4n sau vẻ xấu xí, khiến mọi người chê
cười đó lại có tam lòng bao dung, hiền hậu Là người đàn bà đó có đủ đức tính của một người tình tuyệt voi, một người vợ tảo tần và có trái tim người mẹ độ lượng Thị có
đầy đủ phâm chất của một người bình thường biết lo toan, thương hại, có phút “lườm”,
“e lệ” Thi No là nhân vật hiện thân cho sự khao khát hạnh phúc, hạnh phúc gia đình
và có một tình yêu đích thực.
Nam Cao không hề bỏ sót dù chỉ là một nhân vật nhỏ, đã viết là viết cho tới
cùng nên nhân vật bà cô Thị Nở cũng không phải là ngoại lệ Bên cạnh nhân vật Chí
Phèo, Thị Nở và Bá Kiến thì còn có một hình tượng nhân vật điển hình nữa mà ta vẫn
ít nhắc tới Sự xuất hiện của nhân vật này là một bước ngoặt đối với sự chuyên biến
của câu chuyện cũng như đối với cuộc đời, số phận của nhân vật trung tâm Chí Phèo
Hơn nữa, nhân vật này còn mang tính điển hình rất rõ nét đó là nhân vật bà cô Thị Nở
Là một nhân vật phụ, ngay cả tên cũng không, nhưng bà cô Thi No là nhân vật điền
hình cho người nông dân ở “làng Vũ Đại ngày ấy” nói riêng và làng quê nông thôn
Bắc Bộ trước Cách mạng 1945 nói chung Đó là một xã hội bị tha hóa hoàn toàn
Nghiêm trọng nhất, đó là xã hội sống trong những định kiến nghiệt ngã Chính định
kiến đó đã làm Chí và Thị Nở không đến được với nhau, nên duyên vợ chồng
Những cảnh đời, cảnh người, cảnh thiên nhiên mà Nam Cao miêu tả về nông dân và nông thôn tuy san sùi, thô ráp nhưng luôn được thông qua một thé giới nội tâm phúc tạp, sinh động của nhân vật Ông như nhập vào nhân vật dé viết ra cái tinh
thần của nó Ở nhân vật Chí Phèo, Nam Cao mồ xẻ những gì sâu kín nhất (như trạng
thái mơ hồ ngái ngủ của ý thức, những hành động bản năng của nhân vật) nhằm cung
cấp cho người đọc những cái thật nhất, bản chất nhất Chí Phèo lúc tỉnh, lúc say, say
nhiều hơn tỉnh Trong cơn say cuối cùng ở đời, Chí đã vác dao đến nơi cần đến đề đòi lương thiện Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng, sở dĩ Chí Phèo không thực hiện
ý đồ ban đầu là tìm giết chết bà cô của Thị Nở mà tìm giết Bá Kiến là do ma men dẫn lối, theo kiểu ngựa quen đường cũ, là do ảnh hưởng chủ nghĩa tự nhiên Nhưng theo
chúng tôi, chính là lúc ấy tiềm thức mách bảo Chí biết rõ ràng nhất nguyên nhân gây
nên số phận bi dat của mình Chí đã bỏ qua nguyên nhân trực tiếp mà truy tìm tới
nguyên nhân sâu xa Cái nguyên nhân đã biến Chí thành lưu manh, không cho trở về
làm người lương thiện được nữa Bằng một giọng điệu ngôn ngữ văn chương lạnh
lùng, Nam Cao đã tái hiện lại hình ảnh cái làng Vũ Đại bức bối trong tăm tối, những