Biết bao bướm lả ong lơi,Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.Dập dìu lá gió cành chim,Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh.Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,Giật mình mình lại thương mình xót xa.Khi sao phong gấm rủ là,Giờ sao tan tác như hoa giữa đường. Mặt sao dày gió dạn sương,Thân sao bướm chán ong chường bấy thân
Trang 2NỖI THƯƠNG MÌNH
Truyện Kiều – Nguyễn Du
Trang 4I- Giới thiệu chung.
Trang 5o Tiểu dẫn:
SGK /107
1.Vị trí đoạn trích:
• Đoạn trích được trích từ câu 1229 đến câu
1248 trong Truyện Kiều
Trang 62.Nội dung chính:
• Đoạn trích tả cảnh trớ trêu và nỗi niềm thương thân xót phận của Thúy Kiều
trong những ngày sống ê chề, nhục nhã ở chốn lầu xanh.
Trang 73.Bố cục:
• Câu 1229 – 1232: Giới thiệu tình cảnh
trớ trêu của Kiều ở chốn lầu xanh.
• Câu 1233 – 1240: Tâm trạng và nỗi niềm của Kiều : luôn ý thức về nỗi đau thân
phận.
• Câu 1241 – 1248: Thái độ của Kiều
trước cảnh sắc và thú vui ở chốn lầu
xanh.
Trang 8II- Đọc và tìm hiểu văn
bản.
Trang 10Biết bao bướm lả ong lơi, Cuộc say đầy tháng trận cười suốt
Trang 11Mặc người mưa Sở mây Tân,
Những mình nào biết có xuân là gì.
Đòi phen gió tựa hoa kề, Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng
thâu.
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao
giờ?
Đòi phen nét vẽ câu thơ, Cung cầm trong nguyệt nước cờ
dưới hoa.
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
Trang 131 Câu 1229 – 1232: Giới thiệu tình cảnh trớ trêu của Kiều.
Bi t bao b m l ong l i ế ướ ả ơ
Cu c say đ y tháng tr n c i su t đêm ộ ầ ậ ườ ố
a)Tác giả diễn tả thân phận éo le của nàng Kiều qua bút pháp ước lệ:
o Dùng hình ảnh “ ong bướm”, “cuộc say”, “trận
Trang 14Bi t bao b m l ong l i ế ướ ả ơ
Cu c say đ y tháng tr n c i su t đêm ộ ầ ậ ườ ố
b)Tác giả dùng hình thức tiểu đối:
bướm lả / ong lơi
lá gió / cành chim
Nhằm diễn tả rõ hơn cảnh sống ê chề mà Kiều phải chịu đựng
Trang 152.Câu 1233–1240: Thúy Kiều ý thức bề nỗi đau của mình
a)Hoàn cảnh Thúy Kiều ý thức về nỗi đau:
Khi t nh r u, lúc tàn canh ỉ ượ
Đây là hoàn cảnh tỉnh táo nhất để Kiều
có điều kiện đối diện với chính mình
Trang 16b)Kiều tự ý thức về thân phận.
Giật mình mình lại thấy mình xót xa.
Cái “giật mình” ấy thể hiện nhân cách đáng quí
của Kiều: tự ý thức về thân phận và phẩm giá
của mình.
Đây cũng là một đóng góp của Nguyễn Du
trong việc thể hiện thân phận con người ở văn học trung đại.
Trang 17c)Kiều ý thức về sự đối lập giữa quá khứ êm đẹp và hiện tại đau đớn.
Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!
• Phép điệp từ “sao” trong 4 câu thơ có ý nghĩa
nhấn mạnh lời tự vấn luôn trở đi trở lại dày vò,
giằng xé tâm can
Biểu hiện về nỗi đau dồn nén cao độ của Kiều
Trang 19•Phép đối xứng giữa hai câu thơ lục – bát:
Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa
giữa đường…
nhằm nhấn mạnh cái thực trạng phũ phàng bao
trùm và vùi chôn quá khứ êm đẹp
Mặt sao dày gió dạn sương / Thân sao bướm chán
ong chường bấy thân…
nhấn mạnh có ý so sánh và theo mức độ tăng
tiến: thân thể còn đau khổ hơn sự bẽ bàng chua
chát trên vẻ mặt…
Trang 20a)Cảnh sắc và thú vui của khách:
Cảnh sắc: có đầy đủ “phong”, “hoa”, “tuyết”,
“nguyệt”.
Thú vui của khách: “cầm”, “kì”, “thi”, “họa”.
3.Câu 1241-1248: Thái độ của Kiều trước cảnh sắc và thú vui của khách ở chốn lầu xanh
Trang 21b)Thái độ của Kiều:
Thờ ơ và cảm thấy cảnh sống ở chốn lầu
xanh là giả tạo, là vô nghĩa (vì “người buồn
cảnh có vui đâu bao giờ” ).
Kìm nén nỗi đau trong lòng để mua vui cho
khách làng chơi (Vui là vui gượng kẻo là –
Ai tri âm đó mặn mà với ai? ).
Trang 22III – Tổng kết
chung.
Trang 231 Nội dung:
Thể hiện sự than thân xót phận và sự tự ý thức cao độ về phẩm giá của Kiều trong những ngày phải sống ê chề nhục nhã ở chốn lầu xanh, Nguyễn Du
muốn đề cao nhân cách và phẩm chất cao quí của
Trang 24Ghi nhớ
SGK/ 108