Bảng 4.13: Sự thích hợp của các hàm ñối với sự sinh trưởng của cá chẽm giống ương từ kích cỡ 50-75 mm trên từng ñơn vị thí nghiệm trong 25 ngày 47 Bảng 4.14: Ảnh hưởng riêng biệt của các
Trang 1− Ks Ngô Văn Mạnh – Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường ðại học Nha Trang, ñã giúp ñỡ tôi trong quá trình tìm hiểu quy trình cũng như thu thập số liệu
− Ks Huỳnh Kim Khánh cùng các công nhân của Trại Thực nghiệm Nuôi trồng Thủy sản – Trung tâm Khuyến ngư Khánh Hòa ñã tạo ñiều kiện thuận lợi trong thời gian tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp
− GS Chien Yew Hu – Department Aquaculture, National Taiwan Ocean University, người ñã dạy tôi những ñiều tuyệt vời trong thống kê xử lý
số liệu
Nha Trang, tháng 11/2007
Lê Việt Dũng
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
1 MỞ ðẦU 1
2 TỔNG QUAN 5
2.1 Tình hình sản nuôi và xuất giống cá chẽm trên thế giới và trong nước 5
2.1.1 Tình hình nuôi và sản xuất giống cá chẽm trên thế giới 5
2.1.2 Tình hình nuôi và sản xuất giống cá chẽm trong nước 7
2.2 Một vài ñặc ñiểm sinh học của cá chẽm 8
2.2.1 Vị trí phân loại 8
2.2.2 Hình thái 8
2.2.3 ðặc ñiểm phân bố 10
2.2.4 Vòng ñời 10
2.2.5 ðặc ñiểm dinh dưỡng 12
2.2.6 ðặc ñiểm sinh trưởng 12
2.2.7 ðặc ñiểm sinh sản 13
2.3 Các hình thức ương cá chẽm giai ñoạn cá hương lên cá giống 16
2.4 Hệ thống mương nổi dùng ñể ương cá 18
2.5 Nội dung của ñường cong sinh trưởng von Bertalanffy 20
2.6 Các phương pháp làm thích hợp ñường cong sinh trưởng von Bertalanffy 23
2.6.1 Những phương pháp biến ñổi tuyến tính 24
2.6.2 Phương pháp biến ñổi logarit tuyến tính _ Phương pháp của Beverton 25
Trang 32.6.3 Phép lặp Gauss-Newton 26
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 ðối tượng, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 27
3.2 Tìm hiểu thiết kế hệ thống mương nổi 27
3.3 Tìm hiểu quy trình ương cá chẽm giống 27
3.4 Thu thập số liệu 28
3.5 Phân tích thống kê 28
4.1 Thiết kế của hệ thống mương nổi 31
4.1.1 Mương nổi và hệ thống bè nổi 31
4.1.2 Hệ thống khí và ống nâng nước 31
4.2 Quy trình ương nuôi cá chẽm giai ñoạn giống 33
4.2.1 Chọn và thả cá giống 33
4.2.2 Các biện pháp kỹ thuật chăm sóc và quản lý hệ thống mương nổi ương nuôi 35
4.3 Kết quả thử nghiệm ương cá chẽm bằng mương nổi 37
4.3.1 Các yếu tố mối trường nước trong ao 37
4.3.2 Sinh trưởng và tỉ lệ sống 42
4.4 Sinh trưởng của cá chẽm giai ñoạn cá giống theo thời gian nuôi 45
4.5 Ứng dụng ñường cong sinh trưởng von Bertalanffy cho sự sinh trưởng của một số loài cá khác 70
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận 75
5.2 ðề nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 82
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Tuổi, khối lượng và chiều dài trung bình của cá chẽm nuôi trong bể
13
Bảng 2.2: Tuổi và kích thước thành thục lần ñầu tiên của cá chẽm ñực 14
Bảng 2.3: Quan hệ giữa kích cỡ cá cái và số lượng trứng trong buồng trứng cá chẽm 15
Bảng 2.4: Quá trình phát triển phôi của cá chẽm 15
Bảng 4.1: Mật ñộ cá chẽm ương trong mương nổi 34
Bảng 4.2: Mật ñộ cá chẽm cỡ 2cm ương từ các hình thức khác 34
Bảng 4.3: Kết quả quan trắc DO ở ao và ở 12 mương trong quá trình nuôi 39
Bảng 4.4: Kết quả quan trắc nhiệt ñộ ở ao và 12 mương trong quá trình nuôi 40
Bảng 4.5: Kết quả quan trắc pH ở ao và 12 mương trong quá trình nuôi 41
Bảng 4.6: Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá chẽm có kích cỡ thả 15 – 20 mm trong 21 ngày 42
Bảng 4.7: Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá chẽm có kích cỡ thả 26-37 mm trong 21 ngày 43
Bảng 4.8: Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá chẽm có kích cỡ thả 50-75 mm với mật ñộ 4 con/L trong 25 ngày 44
Bảng 4.9: Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá chẽm có kích cỡ thả 50-75 mm với mật ñộ 6 con/L trong 25 ngày 44
Bảng 4.10: Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá chẽm có kích cỡ thả 50-75 mm với mật ñộ 8 con/L trong 25 ngày 45 Bảng 4.11: Sự thích hợp của các hàm ñối với sự sinh trưởng của cá chẽm giống ương từ kích cỡ 15-20 mm trên từng ñơn vị thí nghiệm trong 21 ngày 46 Bảng 4.12: Sự thích hợp của các hàm ñối với sự sinh trưởng của cá chẽm giống ương từ kích cỡ 26-37 mm trên từng ñơn vị thí nghiệm trong 21 ngày 46
Trang 5Bảng 4.13: Sự thích hợp của các hàm ñối với sự sinh trưởng của cá chẽm giống ương từ kích cỡ 50-75 mm trên từng ñơn vị thí nghiệm trong 25 ngày 47 Bảng 4.14: Ảnh hưởng riêng biệt của các yếu tố tới sự thích hợp của hàm von Bertalanffy với sự sinh trưởng cá chẽm giai ñoạn giống 48 Bảng 4.15: Ảnh hưởng tương tác giữa 2 yếu tố kích cỡ và thức ăn tới sự thích hợp của hàm von Bertalanffy với sự sinh trưởng cá chẽm giai ñoạn giống 57 Bảng 4.16: Sự thích hợp của hàm von Bertalanffy với sự sinh trưởng cá chẽm giống có mật ñộ 4 con/L từ ngày thứ 22 64 Bảng 4.17: Số liệu chiều dài và tuổi của small mouth blackbass, Micropterus dolomieu Lacepede 70 Bảng 4.18: Kết quả so sánh mức ñộ thích hợp của 3 phương pháp Ford-
Walford-Chapman, Beverton và Gauss-Newton 71 Bảng 4.19: Chiều dài toàn thân trung bình (mm) của cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigienisis ương nuôi lồng biển tại ðầm Môn, Vạn Ninh 72 Bảng 4.20: Chiều dài toàn thân trung bình cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigienisis ương nuôi lồng biển tại Vũng Me, Nha Trang 73 Bảng 4.21: Sự thích hợp của hàm von Bertalanffy với sự sinh trưởng của cá mõm nhọn Psammoperca waigienisis ương nuôi lồng biển tại Vũng Me và ðầm Môn 74
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1: Sơ ñồ vòng ñời cá chẽm theo Bart (1999) (Trích Võ Ngọc Thám 2000) 11
Hình 2.2: Công thức sinh trưởng von Bertalanffy 22
Hình 2.3: Một nhóm ñường cong von Bertalanffy với các giá trị k khác nhau 22
Hình 4.1: Thiết kế mương nổi 33
Hình 4.2: Ao nuôi và hệ thống mương ñặt trong ao 33
Hình 4.3: Chiều dài toàn thân cá chẽm ở cá kích cỡ lớn 49
Hình 4.4: Chiều dài thực tế và chiều dài ước tính của cá chẽm theo hàm von Bertalanffy ở cá kích cỡ lớn 50
Hình 4.5: ðồ thị số dư của Lt theo thời gian nuôi ở kích cỡ cá lớn 51
Hình 4.6: Chiều dài toàn thân cá chẽm theo thời gian nuôi ở mật ñộ cá cao 52
Hình 4.7: Chiều dài toàn thân cá chẽm theo thời gian nuôi ở mật ñộ cá thấp 53
Hình 4.8: Chiều dài thực tế và chiều dài ước tính của cá chẽm theo thời gian nuôi ở mật ñộ cá cao 54
Hình 4.9: ðồ thị số dư của Lt theo thời gian nuôi ở mật ñộ cá cao 55
Hình 4.10: Chiều dài thực tế và chiều dài ước tính của cá chẽm theo thời gian nuôi ở mật ñộ thấp 56
Hình 4.11: ðồ thị số dư của Lt theo thời gian ở mật ñộ cá thấp 56
Hình 4.12: Chiều dài toàn thân trung bình của cá chẽm có mật ñộ 8 con/L từ ngày thứ 22 59
Hình 4.13: Chiều dài toàn thân trung bình của cá chẽm có mật ñộ 6 con/L từ ngày thứ 22 60
Hình 4.14: Chiều dài trung bình toàn thân của cá chẽm có mật ñộ 4 con/L từ ngày thứ 22 61
Hình 4.15: Chiều dài toàn thân trung bình của cá chẽm ở ñộ thấp lần 1 và ñường thẳng hồi quy tuyến tính: Lt=33,23+1,36 x t 61
Hình 4.16: Số dư của Lt ở mật ñộ thấp lần 1 ñối với ñường thẳng hồi quy tuyến tính: Lt=33,23+1,36 x t 62
Trang 7Hình 4.17: Chiều dài toàn thân trung bình của cá chẽm ở mật ñộ thấp lần 2 và ñường thẳng hồi quy tuyến tính: Lt=34,77+1,24 x t 62Hình 4.18: Số dư của Lt ở mật ñộ thấp lần 2 ñối với ñường thẳng hồi quy tuyến tính: Lt=34,77+1,24 x t 63Hình 4.19: Chiều dài toàn thân trung bình của cá chẽm ở mật ñộ thấp lần 3 và ñường thẳng hồi quy tuyến tính: Lt=33,46+1,33 x t 63Hình 4.20: Số dư của Lt ở mật ñộ thấp lần 2 ñối với ñường thẳng hồi quy tuyến tính: Lt=33,46+1,33 x t 64Hình 4.21: Chiều dài thực tế và chiều dài ước tính của cá chẽm theo hàm von
Bertalanffy ở mật ñộ 4 con/L lần 1 66Hình 4.22: Số dư của Lt theo hàm von Bertalanffy ở mật ñộ cá 4 con/L lần 1 67Hình 4.23: Chiều dài thực tế và chiều dài ước tính của cá chẽm theo hàm von
Bertalanffy ở mật ñộ 4 con/L lần 3 68Hình 4.24: Số dư của Lt theo hàm von Bertalanffy ở mật ñộ cá 4 con/L lần 3 69Hình 4.25: Chiều dài toàn thân trung bình của cá chẽm mõm nhọn ương nuôi lồng biển tại ðầm Môn, Vạn Ninh 73
Trang 81 MỞ ðẦU
Hiện nay, nghề nuôi trồng thủy sản ở nước ta ñang phát triển mạnh và ñược ñánh giá là ngành kinh tế mũi nhọn với kim ngạch xuất khẩu ñứng thứ
ba trong tất cả các ngành; trong ñó nuôi trồng thủy sản biển và nước lợ ñang
có triển vọng rất lớn Hiện ñã có thị trường xuất khẩu cũng như thị trường nội ñịa ñầy hứa hẹn cho các sản phẩm nuôi trồng thủy sản
Trong những năm gần ñây, nhiều loài cá biển có giá trị kinh tế ñã và ñang ñược nghiên cứu như: cá Mú (Epinephelus spp), cá Giò (Rachycentron canadum), cá Hồng (Lutjanus erythropterus) và cá Chẽm (Lates calcarifer) ðiển hình, cá Chẽm (Lates calcarifer) ñã ñược các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau Hiện nay ñã có quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá chẽm
Trường ðại học Nha Trang và Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II
ñã làm chủ ñược công nghệ sản xuất giống cá Chẽm (Lates calcarifer) và cá Chẽm Mõm nhọn (Psammoperca waigiensis) Trong năm 2004, hai cơ quan nghiên cứu trên ñã sản xuất ñược hơn 400.000 con cá giống cỡ 3-4 cm (Lê Xân, 2005)
Mặc dù chúng ta ñã có thể cho cá ñẻ và tạo ra một lượng lớn cá bột và
cá giống cỡ nhỏ nhưng việc ương nuôi chúng thành cá giống cỡ lớn vẫn gặp khó khăn như kích thước cá quá nhỏ ñể có thể ương trong lồng lưới, khó quản
lý và hao hụt nhiều khi ương trong ao ñất hoặc chí phí sản xuất cao khi ương trong bể có sử dụng hệ thống lọc sinh học … Từ những khó khăn trên, Trường ðại học Nha Trang ñã ñưa vào thử nghiệm mương nổi làm bằng vật liệu rẻ tiền ñể ương nuôi cá giống các loài cá biển có giá trị kinh tế cao trong
ao ñất tại Khánh Hòa Hệ thống này có một số ưu ñiểm là: (i) tận dụng ñược
Trang 9các ao có sẵn với ựộ sâu phù hợp và không phải thay ựổi kết cấu ao; (ii) sử dụng ựược nguồn thức ăn tự nhiên trong ao khi chủ ựộng bón phân gây màu nước; (iii) khả năng kiểm soát ựịch hại và phòng chữa dịch bệnh cao và (iv)
có thể ương nuôi thâm canh đã có các thử nghiệm trên mương nổi này trước ựây về theo dõi các yếu tố môi trường chắnh trong hệ thống, về theo dõi tốc
ựộ tăng trưởng, tỉ lệ sống, mức ựộ phân ựàn, khả năng sử dụng thức ăn, và về hiệu quả kinh tế Kết quả nghiên cứu của Lưu Thế Phương (2006) cho thấy các yếu tố môi trường nước như nhiệt ựộ, pH, ựộ mặn, NH4+, oxy hòa tan, thực vật phù du trong ao ựều nằm trong khoảng thắch ứng của cá Chẽm Tốc
ựộ tăng trưởng tương ựối của cá Chẽm cỡ 2 (cm) theo chiều dài toàn thân ựạt 1,44 ổ 0,03 (%/ngày), và tỉ lệ sống ựạt 53,4 ổ 1,39 (%) qua 45 ngày ương (Lưu Thế Phương, 2006) Hiệu quả kinh tế của mô hình là khá cao do thời gian ương nuôi ngắn, thời gian quay vòng vốn nhanh và lợi nhuận cao
Xuất phát từ thành công của mô hình, ựược sự ựồng ý của Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường đại học Nha Trang, tôi ựề xuất thực hiện ựề tài:
ỘỨng dụng ựường cong sinh trưởng của von Bertalanffy vào nghiên cứu sự sinh trưởng giai ựoạn cá giống của cá Chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) ương trong hệ thống mương nổiỢ với mục tiêu:
đánh giá sự tăng trưởng về chiều dài của cá theo tuổi tương ứng
Các nội dụng nghiên cứu cụ thể của ựề tài như sau:
1 Tìm hiểu quy trình ương nuôi giai ựoạn cá giống của cá Chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1970) trong hệ thống mương nổi
2 Áp dụng công thức của von Bertalanffy ựể xác ựịnh mối quan hệ giữa chiều dài và tuổi cá tương ứng
đề tài thành công sẽ góp phần phổ biến sự sử dụng của mương nổi và tăng sự hiểu biết về ựặc ựiểm sinh học về sự tăng chiều dài của cá Chẽm giai
Trang 10ñoạn cá giống, ngoài ra nó cung cấp thêm một vài phương pháp xử lý số liệu trong thống kê sinh học
Báo cáo này trình bày các kết quả thu ñược trong thời gian thực hiện ñề tài từ ngày 31/07/2007 ñến ngày10/11/2007 Do thời gian thực tập và trình ñộ bản thân còn hạn chế nên luận văn này khó tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận ñược sự ñóng góp của quí thầy cô và các bạn ñồng môn ñể luận văn này ñược hoàn thiện hơn
Trang 122 TỔNG QUAN
2.1 Tình hình sản nuôi và xuất giống cá chẽm trên thế giới và trong nước
2.1.1 Tình hình nuôi và sản xuất giống cá chẽm trên thế giới
Trong số những loài cá biển nuôi chính của Úc có cá chẽm (Lates calcarifer), chúng ñược nuôi trong lồng hình chữ nhật hoặc lồng hình tròn có chiều dài hoặc ñường kính lớn hơn 20m Thức ăn sử dụng ñể nuôi các ñối tượng này chủ yếu là thức ăn chế biến thành dạng viên chìm chậm (ñối với nuôi cá lồng) hoặc viên nổi (ñối với cá chẽm nuôi trong nước ngọt) Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cho cá chẽm chứa 45-50% Protein thô, 13-18% chất béo với giá dao ñộng 1,1-2,2 USD/kg; trong khi ñó thức ăn dành cho cá hồi ðại Tây Dương chứa 40-42% Protein thô, 28-30% chất béo có giá trong khoảng 1,30-1,45 USD/kg
ðối với các nước châu Á, thức ăn dành cho cá biển nói chung và cá chẽm nói riêng hiện nay chủ yếu vẫn là cá tạp, ñơn giản bởi vì ñó là nguồn thức ăn sẵn có và rẻ tiền hơn thức ăn công nghiệp rất nhiều Tại Indonesia, người nuôi cá biển thường sử dụng cả thức ăn công nghiệp lẫn cá tạp Mặc dù giá thức ăn công nghiệp ñắt hơn giá cá tạp từ 2 ñến 3 lần song người nuôi ñang có xu hướng sử dụng thức ăn công nghiệp do thức ăn công nghiệp có hàm lượng dinh dưỡng ổn ñịnh hơn cá tạp Ở Thái Lan, hầu hết các trang trại nuôi cá chẽm sử dụng thức ăn viên
Nghề nuôi cá chẽm cũng như các loài cá biển khác ñều khởi ñầu là việc nuôi cá trong mùa mưa theo hình thức quảng canh, với giống cá thu ñược từ
tự nhiên Sau ñó, nghề nuôi cá chẽm bắt ñầu phát triển với mức ñộ thâm canh như nuôi ghép cá chẽm với cá rô phi ðến những năm 1970, nhờ sự phát triển của kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo, hình thức nuôi chuyển dần sang nuôi
Trang 13thâm canh trong ao, trong hệ thống mương, trong lồng bè Ầ ở nhiều quốc gia như Malaysia, Hồng Kông, đài Loan, Na Uy, ÚcẦ Theo thống kê của FAO (2006), tắnh riêng tổng sản lượng cá chẽm nuôi của thế giới năm 2004 ựạt 22.989 tấn, tăng 37,4% so với năm 1990 và tổng giá trị ựạt 77.733 USD
Thái Lan là nước ựầu tiên có báo cáo về những thành công trong nghiên cứu sản xuất giống ựại trà từ giữa thập kỷ 1970 do Wongsomnuk và Manevonk (1973) Kể từ ựó sản xuất giống cá chẽm ngày càng ựược phát triển rộng rãi ở Úc và ở các nước đông Nam Á Theo thống kê năm 1987, các loài cá biển sản xuất chủ yếu của Nhật Bản gồm Pagrus major với sản lượng 58.266.000 con, Seriola quenqueradia với sản lượng 1.192.000 con Ở Thái Lan, hàng năm sản xuất ựược khoảng 100 triệu giống cá chẽm, trong ựó xuất khẩu hơn 70% (Kungvankij, 1986) Năm 1990, đài Loan sản xuất 152 triệu
ấu trùng cá biển, trong ựó có 130 triệu cá măng, 5 triệu cá Acanthopagus chlegeli, 2 triệu cá Ancanthpagus latus, 3 triệu cá Lateolabrax japonicas, 3 triệu cá tráp Sparus sarba, 2 triệu cá mú Epinephelus malabaricus, 1 triệu cá chẽm Lates calcarifer và các ấu trùng các loài cá khác Tắnh ựến năm 2000, Trung Quốc ựã sản xuất thành công con giống nhân tạo của 54 loài thuộc 24
họ cá biển Khoảng 10.000 triệu cá bột ựược sản xuất tập trung vào một số loài có giá trị kinh tế như red drum (Scianeops ocellatus), Japanese sea perch (Lateolabrax japonicus), red seabream (Pagrosomus major), cá măng (Chanos chanos), Japanese flounder (Paralichthys olivaceus), black porgy (Sparus macrocephalus), cá chẽm (Lates calcarifer)Ầ(FAO, 2006; Hong W, 2003) Trong khi ựó, ở các nước châu Âu, cá vược Dicentrachus labrax là loài ựược ưa chuộng trong nghề nuôi và sản xuất giống Ở Pháp, Ý và Hy Lạp, số lượng cá chẽm giống sản xuất vào năm 1987 lần lượt là 2,6 triệu, 5 triệu, 3 triệu con Ngoài ra, nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Na Uy vào năm
Trang 14này cũng sản xuất loài Scophthamus maximus với sản lượng tương ứng là 230.000 con, 75.000 con, 265.000 con, 110.000 con (Kỹ thuật sản xuất giống nước lợ, 2004)
2.1.2 Tình hình nuôi và sản xuất giống cá chẽm trong nước
Việt Nam có ñiều kiện tự nhiên thuận lợi ñể phát triển nuôi cá biển Với diện tích mặt nước lớn, nhiều loài cá biển ñã ñược ñưa vào nuôi và trở thành những loài mang lại nguồn thu nhập cao cho người dân Tuy nhiên, con giống phục vụ cho nghề nuôi cá biển hiện nay ở Việt Nam chủ yếu thu từ tự nhiên nên không ñảm bảo về số lượng cũng như chất lượng giống thả
Phương thức nuôi cá biển chính hiện nay là nuôi trong các ao ñầm nước
lợ hoặc nuôi bằng lồng ở biển Năm 2001, tổng số lồng nuôi trên biển là 23.989 chiếc, nhiều hơn năm 2000 là 5.244 chiếc, trong ñó số lồng nuôi cá biển là 4.077 chiếc Sản lượng nuôi lồng bè nước mặn năm 2001 ñạt 2.635 tấn, cao hơn năm 2000 là 853 tấn, trong ñó sản lượng cá biển là 1.898 tấn Năng suất cá nuôi từ 8-10 kg/m3 (Bộ Thủy sản, 2002) Năm 2004, diện tích nuôi cá biển trong ao là 1.750 ha và số lồng nuôi cá biển trên 8.850 chiếc ñạt sản lượng 7.675 tấn Ngoài ra tại các ñầm nước lợ ven biển cá ñã ñược thả nuôi ghép với các ñối tượng khác Sản lượng cá nuôi nước lợ mặn ñạt 13.865 tấn Kết quả này còn hạn chế, một trong những nguyên nhân chủ yếu là chưa chủ ñộng ñược nguồn cá giống
Việc sản xuất giống cá biển vẫn còn ở qui mô nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu thực nghiệm bước ñầu, chưa có trại sản xuất giống ñại trà chính thức cung cấp giống ñầy ñủ cho nghề nuôi Việt Nam bắt ñầu nghiên cứu sản xuất giống cá biển từ những năm 1993 – 1994 ðến năm 2005, chúng ta cơ bản chủ ñộng sản xuất giống một số loài cá biển trong ñó có cá chẽm Trong
Trang 15năm 2003 – 2004, Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II và trường ðại học Nha Trang ñã sản xuất 400.000 con giống cá chẽm (Lê Xân, 2005)
2.2 Một vài ñặc ñiểm sinh học của cá chẽm
2.2.1 Vị trí phân loại
Theo Greenwood (1976), trích của Nguyễn Trọng Nho et al (2002), giống cá chẽm Lates gồm có 8 loài trong ñó Lates calcarifer phân bố ở các vùng biển thuộc tây Thái Bình Dương và Ấn ðộ Dương còn 7 loài khác phân
bố ở các vùng biển châu Phi Nguyễn Nhật Thi (1991) khi nghiên cứu về hình thái phân loại và ñặc ñiểm nhận dạng ñã xác ñịnh ở Việt Nam chỉ có 1 loài cá chẽm duy nhất và vị trí phân loại cũng giống như hệ thống phân loại cá chẽm của Bloch
Theo FAO (1974), cá chẽm ñược phân loại như sau:
Tên tiếng Việt: cá chẽm, cá vược
Tên tiếng Anh: Asian seabass, Barramundi, Silver barramundi…
Trang 16Răng dạng nhung, không có răng nanh, trên nắp mang có gai cứng, vây lưng gồm có 2 vây: vây trước có 7 – 9 gai cứng và vây sau có 10 – 11 tia mềm Vây hậu môn có 3 gai cứng, vây ñuôi tròn và có hình quạt Vẩy dạng lược, có kích cỡ vừa phải và có 61 vẩy ñường bên (Lưu Thế Phương, 2006)
Sự phát triển của cá chẽm con ñã ñược nhiều tác giả ở nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và mô tả Theo Kosutarak và Watanabe (1984) ở Thái Lan, cá bột mới nở có chiều dài toàn thân 1,6 ± 0,4 mm, nhưng theo Kungvankij et al (1986), cá chẽm bột mới nở có chiều dài 1,21 – 1,65 mm, cá bột có noãn hoàng dài trung bình 0,86 mm Trong túi noãn hoàng có một hạt dầu ñường kính 0,2 – 0,8 mm ở phần trước Vì thế cá bột có thể lơ lửng trong nước theo chiều thẳng ñứng hay nghiêng một góc 45o so với mặt phẳng ngang Lúc này sắc tố chưa hình thành ở nhiều cơ quan, mới có thể nhìn thấy sắc tố ở mắt, trên thân và bề mặt hạt dầu Ống tiêu hóa ñã nhìn thấy rõ nhưng miệng vẫn chưa mở Cá hai ngày tuổi có chiều dài 2,52 ± 0,06 mm, noãn hoàng hầu như ñược hấp thụ hết, miệng ñã mở, cá có thể bắt thức ăn ngoài
Cá bột lúc này có ñặc tính hướng quang
Về màu sắc của cá chẽm, vào giai ñoạn cá giống, cá có màu nâu ô liu ở phía trên với màu bạc ở hai bên và bụng khi cá sống trong môi trường nước biển và màu nâu vàng khi sống trong môi trường nước ngọt Theo Kungvankij
et al (1986), có ít nhất hai giai ñoạn hình thành sắc tố ở cá chẽm bột, ñó là giai ñoạn 10 – 12 ngày tuổi sắc tố xuất hiện có màu xám ñậm hay ñen Giai ñoạn thứ hai vào khoảng 25 – 30 ngày tuổi khi cá bột phát triển thành cá hương, lúc này sắc tố thay ñổi thành màu sáng bạc Khi ñạt 1 tháng tuổi cá hương chuyển thành cá giống, có dạng giống với cá bố mẹ Khi cá ở giai ñoạn trưởng thành cá sẽ có màu xanh lục hay vàng nhạt ở phần trên và màu bạc ở phần bụng (Võ Ngọc Thám, 1995)
Trang 172.2.3 đặc ựiểm phân bố
Phân bố theo vùng ựịa lý
Cá chẽm Lates calcarifer là loài phân bố tương ựối rộng từ vùng nhiệt ựới ựến vùng cận nhiệt ựới thuộc Tây Thái Bình Dương và Ấn độ Dương, bao gồm cả India, Burma, Srilanka, Bangladesh, Malaysia, Peninsula, Java, Broneo, Celebef, Philippines, Papua New Guinea, phắa Bắc Australia và phắa Nam Trung Quốc Theo FAO (1974), vùng phân bố của cá chẽm trải rộng từ kinh tuyến 500 đông ựến kinh tuyến 1600 Tây và kéo dài từ vĩ tuyến 260 Bắc ựến vĩ tuyến 250 Nam
Phân bố theo vùng sinh thái
Cá chẽm Lates calcarifer là loài cá rộng muối, nó sống ựược ở tất cả thủy vực nước ngọt, lợ, mặn và có tắnh di cư xuôi dòng (Kungvankij, 1981)
Sự phân bố theo vùng sinh thái của cá chẽm tuân theo các giai ựoạn phát triển của cá thể Cá chẽm thành thục sinh dục tập trung ở vùng cửa sông ven biển
và ựẻ trứng ở ựây Cá con mới nở ựược dòng chảy của thủy triều ựưa chúng tiến sâu vào các vùng nước lợ sinh sống Khi cá con ựã ựủ khả năng ngược ựược dòng nước ngọt, chúng bắt ựầu di cư ngược dòng lên các dòng sông ựể sinh sống Khi thành thục (3 Ờ 4+), chúng sẽ di cư ra vùng cửa sông, ven biển hay các ựầm nước lợ nơi có ựộ mặn dao ựộng từ 30 Ờ 32 ppt và ựộ sâu 10 Ờ 15
m ựể sinh sản Cá chẽm sinh sản ở những nơi có ựiều kiện môi trường thắch hợp như ựộ mặn, ựộ sâu, dòng chảy, chế ựộ thủy lý, thủy hóa, thời tiết thuận lợi và theo chu kỳ tuần trăng
2.2.4 Vòng ựời
Cá chẽm trải qua phần lớn thời gian sinh trưởng (2 Ờ 3 năm) trong các thủy vực nước ngọt như: sông, hồ nơi nối liền với biển Cá có tốc ựộ tăng trưởng nhanh, thường ựạt 3 Ờ 5 kg sau 2 Ờ 3 năm Cá trưởng thành ở ựộ tuổi
Trang 183+ di cư từ vùng nước ngọt về vùng cửa sông và ra biển nơi có ñộ mặn dao ñộng 30 -32 ppt ñể phát triển tuyến sinh dục và ñẻ trứng Cá ñẻ trứng theo chu
kỳ trăng vào buổi tối (6 – 8 giờ) và thường cá ñẻ ñồng thời với thủy triều lên hay sau những cơn mưa mùa hạ ðiều này giúp trứng và ấu trùng trôi vào vùng cửa sông Ở ñó, ấu trùng sẽ phát triển và di chuyển ngược dòng ñể lớn Hiện tại, chưa biết là cá bố mẹ ñi ngược dòng vào các thủy vực nước ngọt hay chúng sống ở biển sau khi sinh sản
Hình 2.1: Sơ ñồ vòng ñời cá chẽm theo Bart (1999) (Trích Võ Ngọc Thám
2000)
Di cư ñến vùng cửa sông và tiếp ñến vùng nước ngọt
Trưởng thành (Sống ñến 25 năm,
ở vùng nước ngọt
và nước mặn)
ðẻ ở vùng nước mặn xảy ra sau cơn mưa, trứng nở sau 1 ngày
(30-32 ppt)
Cá bột Mới nở TL=1,5 mm
Cá giống Tăng trưởng ñến
300 mm (TL) trong năm ñầu
Di chuyển ñến vùng triều
và ñầm lầy ven bờ, tăng trưởng ñến 20 mm (TL)
Tiền trưởng thành Thành thục sinh dục, tăng trưởng ñến TL=580 mm ở tuổi 3+
Trang 192.2.5 ðặc ñiểm dinh dưỡng
Cá chẽm là loài cá dữ, ăn mồi sống và có khả năng ăn thịt ñồng loại trong suốt cuộc ñời của nó Mồi sống chủ yếu là cá như cá ñối (Mugil sp), cá măng (Chanos chanos); giáp xác như tôm, cua, ruốc, nhuyễn thể 2 vỏ Area, Mytilus; thực vật mềm bám trên ñá Khi cá chẽm còn nhỏ (cỡ 1 – 10 cm), thức ăn chủ yếu của chúng là cá, tôm nhỏ (80%), phần còn lại là sinh vật phù
du (20%), chủ yếu là tảo Silic Tuy nhiên, khi cá chẽm lớn (> 20 cm) thì chỉ thấy trong dạ dày của chúng 100% xác ñộng vật, trong ñó 70% là giáp xác (tôm, cua) và 30% là cá nhỏ (Kungvankij, 1981)
2.2.6 ðặc ñiểm sinh trưởng
Cá chẽm là loài có tốc ñộ sinh trưởng nhanh, kích thước cá thể lớn, chiều dài có thể ñạt ñến 200 cm và 50kg khối lượng thân Tốc ñộ sinh trưởng của cá chẽm nhanh, tốc ñộ tăng trưởng về chiều dài ở giai ñoạn cá còn non lớn hơn giai ñoạn cá trưởng thành nhưng sự tăng trưởng về khối lượng thì ngược lại
Nghiên cứu của NICA (1986) về tốc ñộ tăng trưởng về chiều dài của cá chẽm ở giai ñoạn sau khi nở ñến 40 ngày tuổi như sau: cá mới nở ra có chiều dài toàn thân 1,5 mm, sau 15 – 20 ngày tuổi ñạt 5 – 8 mm, 20 – 25 ngày tuổi ñạt 8 – 10 mm, 25 – 30 ngày tuổi ñạt 10 – 13 mm và 30 – 40 ngày tuổi ñạt 13 – 30 mm chiều dài toàn thân Cá chẽm ở giai ñoạn cá hương thả vào nuôi sau
5 tháng tuổi ñạt 700 – 900 gram/con, 20 tháng tuổi ñạt 2000 – 3000 gram/con, trung bình sau 1 năm nuôi cá ñạt 1kg/con (Võ Ngọc Thám, 2000) Trong nuôi thương phẩm, cá lớn khá nhanh với ñiều kiện nuôi thích hợp Sau sáu tháng ñến 2 năm nuôi cá ñạt khối lượng khoảng 350 - 3000 (g)
Trang 20Bảng 2.1:Tuổi, khối lượng và chiều dài trung bình của cá chẽm nuôi trong bể
Trang 21ñực chuyển giới tính thì tuổi thành thục lần ñầu là 5+ với chiều dài toàn thân ñạt 73 cm (Hussin, 1986)
Bảng 2.2: Tuổi và kích thước thành thục lần ñầu tiên của cá chẽm ñực
Sức sinh sản của cá chẽm có liên quan ñến chiều dài và khối lượng thân
cá Theo Dunstan (1962) trích từ Nguyễn Trọng Nho et al (2002), cá chẽm có sức sinh sản tương ñối từ 0,6 x 106 – 106 trứng/kg khối lượng thân Nghiên cứu của Wongsomnuk (1974) tại Thái Lan cho thấy rằng cá chẽm cái có khối lượng thân từ 5,5 – 11 kg có sức sinh sản từ 2,1 x 106 – 7,7 x 106 trứng
Trang 22Bảng 2.3: Quan hệ giữa kích cỡ cá cái và số lượng trứng trong buồng trứng cá chẽm
Chiều dài toàn thân
(cm)
Khối lượng cá chẽm
(kg)
Sức sinh sản (Triệu trứng)
Nguồn: Wongsomnuk & Maneewongsa (1976)
Ở Úc, cá chẽm cái ñạt chiều dài 122 cm và 124 cm có sức sinh sản tương ứng là 15,3 x 106 trứng và 45,7 x 106 trứng (David, 1984)
Trứng cá thụ tinh có ñường kính 0,7 mm, bên trong trứng có hạt dầu ñường kính 0,2 mm Sau khi thụ tinh 35 phút thì xảy ra lần phân cắt ñầu tiên
Sự phân chia tế bào tiếp tục sau 15 – 25 phút và trứng phát triển ñến giai ñoạn nhiều tế bào trong vòng 3 giờ Xem hình phát triển của trứng ở phụ lục
Bảng 2.4: Quá trình phát triển phôi của cá chẽm
Trang 23Ương trong bể
Sau 21 ngày tuổi, mật ñộ cá ương giảm xuống 10 – 20 con/L ðộ mặn ñược giảm ñến 20 – 25 ppt và thay nước hàng ngày với tỉ lệ khoảng 80% Thức ăn chủ yếu là thức ăn viên hoặc cá tạp xay với tỉ lệ 10 – 15% khối lượng thân Vitamine và khoáng có thể ñược thêm vào thức ăn với tỉ lệ 2% ñể tăng tỉ
lệ sống và sức khỏe của cá ương Artemia trưởng thành cũng có thể cho ăn từ ngày tuổi 21 ñến ngày 30 Sau 30 – 45 ngày tuổi, cá ñạt 5 – 10 cm chiều dài thân cá sẽ ñược chuyển tới ao hay lồng ñể nuôi thương phẩm
Trang 24Ương cá hương trong bể xi măng thường mang lại hiệu quả thấp vì vài
lý do Thứ nhất, chất thải của cá, thức ăn thừa sẽ tích tụ trong bể nhanh làm cho môi trường nước dễ bị ô nhiễm Thứ hai, cá hoạt ñộng trong bể thường cọ xát vào thành bể, thân bị xây xát dẫn ñến cá bị nhiễm bệnh mà chết Cuối cùng, ương trong bể thể tích hẹp dẫn tới cá dễ tấn công lẫn nhau ñể ăn thịt (Lưu Thế Phương, 2006)
Ương trong ao ñất
Diện tích ao ương 500 – 2000 m2, mực nước trong ao 0,8 – 1 m và ñáy
ao bằng phẳng Ao có 2 cống có lưới chắn (mắt lưới cỡ 1 mm) ñể tránh sinh vật gây hại cá xâm nhập vào ao và ngăn không cho cá theo nước ra ngoài
Trước khi thả cá, ao ñược tháo cạn nước, phới ñáy, cải tạo, diệt tạp … Bón lót gây màu ao bằng phân gà với liều lượng 5 kg/m2 Cấp nước vào ao và thả Artemia ñể gây thức ăn ban ñầu cho cá với lượng 10 g trứng khô/100 m2
ao Sau 10 – 15 ngày Artemia ñạt giai ñoạn trưởng thành thì tiến hành thả cá vào ao
Chọn cá hương ñồng cỡ, thả ñủ mật ñộ trong thời gian ngắn ñể hạn chế
sự cạnh tranh thức ăn và không gian sống của chúng Tùy theo cỡ cá mà thả với mật ñộ khác nhau Tùy theo cỡ cá mà thả với mật ñộ khác nhau Cá kích
cỡ 2 – 2,5 cm chiều dài thân ñược thả với mật ñộ 20 – 30 con/m2, cá cỡ lớn hơn thì ñược thả thưa hơn
Ngoài thức ăn tự nhiên có sẵn trong ao và lượng Artemia cung cấp ban ñầu, trong quá trình ương cho cá ăn thêm cá tạp xay Trong tuần ñầu lượng cá tạp cho ăn bằng 100% khối lượng thân, tuần thứ 2 bằng 60% khối lượng thân
và từ tuần thứ 3 trở ñi lượng cá tạp xay bằng 20% khối lượng thân
Cá chẽm quen ăn mồi ñộng vật và không ăn chìm dưới ñáy ao, vì thế nên thả thức ăn từ từ ñể cá kịp phản xạ ñớp mồi Tuần ñầu, một ngày cho ăn 5
Trang 25– 6 lần Khi cá ñã quen thì giảm số lần cho ăn 3 – 4 lần/ngày và 2 lần/ngày Thời gian cho ăn vào buổi sáng từ 6 – 10 giờ, buổi chiều từ 17 – 20 giờ Hàng ngày nên thay khoảng 30% lượng nước ao Chu kỳ ương kéo dài 30 – 45 ngày, khi cá ñạt kích cỡ 8 – 10 cm/con thì thu toàn bộ
Ương trong lồng lưới
Kích cỡ lồng thích hợp từ 2 x 2 x 1 m ñến 5 x 2 x 1 m, mắt lưới 1 mm,
cỡ cá hương 1 – 2,5 cm và ñược thả với mật ñộ 80 – 100 con/m2 Chế ñộ cho
ăn giống như ương trong ao Sau 45 ngày ương, cá ñạt khối lượng khoảng 10
g, chiều dài thân 5 – 10 cm có thể ñem ñi nuôi thịt
Ưu ñiểm của cá trong lồng lưới là lợi dụng ñược ñiều kiện môi trường nước chảy tự nhiên, cá sống khỏe, lớn nhanh… Tuy nhiên, lồng lưới thường
bị các sinh vật biển bám làm cản trở dòng nước lưu thông cá thường thiếu oxy, lồng mau hư hỏng và trong thể tích hẹp cá dễ tấn công lẫn nhau ñể ăn thịt
2.4 Hệ thống mương nổi dùng ñể ương cá
Mương nổi ñã ñược sử dụng trong nuôi thương phẩm một số ñối tượng thủy sản ở các nước châu Âu, Úc, Mỹ … từ những năm 1992 Mương nổi nhỏ nhất ñược sử dụng ñể ương cá bột có thể tích khoảng 2 m3 Mương ñược sử dụng ñể nuôi thương phẩm cá da trơn có thể tích khoảng 18 m3 Vật liệu chế tạo mương có thể là nhựa dẻo, composite, gỗ… Mương ñược cố ñịnh ở trong
ao bằng bè nổi hoặc tự nổi ở trong ao Nước ñược bơm từ ao vào trong mương nhờ hệ thống ống nâng nước
Kích thước mương nổi lớn hay nhỏ tùy vào nhu cầu và khả năng ñầu tư của người sản xuất Mương nổi có thể ñược làm thành một mương hoàn chỉnh hoặc là các modun ghép với nhau Thông thường mương nổi bao gồm các bộ phận như hệ thống nâng nước, tấm chắn chống cá nhảy và ñịch hại và thiết bị
Trang 26cho cá ăn tự ñộng, lưới chắn… Lưới chắn ñược lắp ở ñầu mương (kích cỡ mắt lưới 250 µm) và cuối mương có tác dụng không cho cá trong mương thoát ra ngoài và ngăn ngừa ñịch hại từ môi trường ngoài vào mương Thức ăn tự nhiên (ñộng thực vật phù du) có trong ao sẽ theo ống nâng nước ñi vào mương
Nguyên lý hoạt ñộng của mương nổi là nước ñược ñẩy vào mương nhờ
hệ thống ống nâng nước và máy nén khí Ống nâng nước là ống nhựa PVC ñược thiết kế dạng chữ L ngược có ñường kính 75 – 100 mm hoặc lớn hơn, chiều cao khoảng 1 m Các ống nâng nước này ñược gắn với lại với nhau tạo thành một hệ thống ống nâng nước (khoảng 4 – 9 ống) và ñẩy nước vào mương nhờ máy nén khí Các ñối tượng ñược nuôi trong mương nổi thường là những loài ăn mồi trực tiếp như cá rô phi, cá da trơn, cá hồi, bluegill, striped bass, yellow perch… Người nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp là chính và thường sử dụng các thiết bị cho ăn tự ñộng Hệ số chuyển ñổi thức ăn (FCR) của cá da trơn và cá rô phi nuôi trong mương nổi vào khoảng 1,45
Kinh phí ñể làm một mương nổi phụ thuộc vào vật liệu làm mương và kích thước của mương Mương có kích thước 4,88 x 1,22 x 1 m bằng vật liệu composite có giá trị khoảng 3000 USD vào năm 1994 Tuy giá thành làm mương lớn nhưng tuổi thọ của mương cao (khoảng 5 – 10 năm tùy vào vật liệu) Ngoài ra, chi phí sản xuất còn phụ thuộc lớn vào chi phí về nhiên liệu, chi phí thức ăn, con giống và nhân công chăm sóc
Hình thức ương nuôi nước chảy ở nước ta ñã có từ lâu và chủ yếu áp dụng ñể ương nuôi các ñối tượng cá nước ngọt Cá có thể ñược ương nuôi trong ao nước chảy hoặc trong lồng – bè ñặt ở các dòng sông, dòng suối hay ở những nơi có nước chảy qua thường xuyên Hình thức này có thể gặp nhiều ở khắp mọi nơi, từ miền Bắc ñến miền Nam, từ miền xuôi ñến miền ngược
Trang 27Hình thức ương này cũng có những ưu ựiểm giống với ương nuôi bằng mương nổi như (i) thả nuôi với mật ựộ cao, (ii) sinh trưởng nhanh và tỉ lệ sống cao, (iii) cải thiện chất lượng môi trường
Tóm lại, ựây là một hệ thống nuôi dễ vận hành, dễ quản lý và có thể ựược dùng nuôi ghép trong ao nuôi tôm Các hình thức ương nuôi bằng cách tạo dòng chảy chủ ựộng giống hư hệ thống mương nổi hầu như chưa ựược ứng dụng ở Việt Nam, vì thế cần thiết phải xây dựng quy trình ương nuôi hợp
lý cho ương nuôi trong hệ thống mương nổi ựể ựưa vào ứng dụng rộng rãi 2.5 Nội dung của ựường cong sinh trưởng von Bertalanffy
Từ trước tới nay, sự phát triển của ựộng vật ựã ựược mô tả bởi một loạt các công thức liên quan tới sự tăng kắch cỡ trên một ựơn vị thời gian Những công thức này thay ựổi từ dạng ựường thẳng tới dạng ựường cong gần ựúng phức tạp hơn
Sự phát triển của cá thường ựược biểu diễn bởi công thức mà xấp xỉ với kắch cỡ trung bình lớn nhất cá ựạt ựược Một hàm hồi quy biểu diễn cho những ựường cong này là:
Hàm hồi quy này có 3 tham số với 1 giá trị gần ựúng của y Stevens (1951) ựã chứng minh sự sử dụng ựường cong ựơn giản này bằng luật Gompertz, ựường cong logarit và luật Mitscherlich theo dạng này Cũng có thể viết ựường cong sinh trưởng của von Bertalanffy (1938) theo dạng này
đã có những nghiên cứu về công thức sinh trưởng như của Gompertz (1825), Logistic (1981) và Knight (1969), tuy nhiên chưa có công thức nào thõa mãn toàn bộ tất cả các trường hợp Chúng không thể biểu diễn sự phát triển của các loài xuyên suốt toàn bộ quá trình sống hay sự phát triển dưới các ựiều kiện môi trường khác nhau
Trang 28Brody (1927) ñã quan sát ñộng vật ñược gia hóa, sau giai ñoạn ñầu phát triển nhanh, sự phát triển có thể ñược biểu diễn bởi công thức:
trong ñó là chiều dài tại tuổi t, và b là hằng số, k là hệ số phát triển Brody
Faben (1965) có sự giải thích tuyệt vời về ý nghĩa của các thành phần của công thức Brody Khi t tăng ñến vô cùng thì vì thế a là chiều dài tiệm cận trung bình thường ñược viết là ðây là chiều dài mà một ñộng vật bình thường có thể ñạt ñược nếu nó tiếp tục sống và phát triển vô ñịnh như công thức (2) Khi t=0, biểu diễn chiều dài mà ñộng vật ñạt khi t=0 nếu nó luôn phát triển theo (2) Sự sắp xếp lại của (2):
chỉ ra rằng sự khác biệt giữa kích cỡ tiệm cận và kích cỡ thật của ñộng vật giảm theo cấp số mũ với tỉ lệ k k càng lớn thì sự khác biệt này giảm càng nhanh
Dựa trên những ñiều kiện sinh lý của sự phát triển ñộng vật, von Bertalanffy (1938) ñưa ra một dạng khác của cùng mối quan hệ như (2):
trong ñó là chiều dài tại tuổi t, là chiều dài toàn thân lớn nhất trung bình, k là hệ số phát triển Brody, t là tuổi, là tham số ñiều chỉnh lý thuyết biểu diễn tuổi khi chiều dài bằng 0
Trang 29Hình 2.2: Công thức sinh trưởng von Bertalanffy
Hình 2.3: Một nhóm ñường cong von Bertalanffy với các giá trị k khác nhau
ðường cong von Bertalanffy ñã ñược chứng minh thích hợp tốt trong nhiều sự phát triển của ñộng vật khác nhau (Walford, 1944; von Bertalanffy, 1960) Ngoài sự thích hợp tốt với ñường cong sinh trưởng, ưu ñiểm quan
Trang 30trọng nhất là nĩ cĩ thể thích hợp cho những mơ hình nghiên cứu đàn cá, đặc biệt nĩ là nền tảng cho cơng thức về trữ lượng trong động thái học quần thể (Beverton và Holt, 1975)
Gần đây, các nhà sinh học cá tập trung sự chú ý lên bản thân các tham
số liên quan tới ý nghĩa sinh lý học của chúng, những ảnh hưởng của cả những yếu tố mơi trường hữu sinh và vơ sinh lên chúng, những mối quan hệ giữa chúng và các thơng số quần thể khác như tỉ lệ chết tự nhiên, các đặc điểm sinh sản và thành thục k hay , hay cả hai phụ thuộc vào sự cung cấp thức ăn vì vậy mật độ quần thể đã được bàn luận ở giai đoạn sớm trong sự áp dụng những cơng thức này và cơng thức của Taylor (1958, 1959) và Holt (1959, 1960) đã xem xét mối quan hệ giữa k và nhiệt độ nước
Hiện nay cĩ ít những tài liệu về sinh trưởng của cá con trong những tháng đầu mặc dù các tài liệu đĩ cĩ ý nghĩa lớn Nhịp điệu sinh trưởng của cá con chưa được một tuổi là tài liệu tốt để nghiên cứu các ảnh hưởng của các yếu tố thủy học (nhiệt độ, thành phần khí và muối của nước) và thủy sinh vật (thức ăn) lên sự sinh trưởng của cơ thể non cĩ thụ cảm đặc biệt với các nhân
tố đĩ; nhịp điệu sinh trưởng của cá nhỏ hơn một tuổi ảnh hưởng mạnh mẽ lên
sự sinh trưởng về sau của cá (Pravdin, 1963)
2.6 Các phương pháp làm thích hợp đường cong sinh trưởng von Bertalanffy
Trong quá khứ, những phương pháp được sử dụng để làm thích hợp đường cong von Bertalanffy với chiều dài của cá đã địi hỏi những kỹ thuật khơng hiệu quả như đốn bằng mắt (von Bertalanffy, 1938) hay xấp xỉ qua biến đổi hàm (Beverton và Holt, 1957; Ricke, 1958)
Ford (1933), Walford (1946), Chapman (1961) và Beverton (1954) đã phát triển những phương pháp tuyến tính để làm thích hợp đường cong sinh
Trang 31trưởng von Bertalanffy Một kỹ thuật lặp bước thông minh Gauss-Newton có thể dễ dàng ñược áp dụng ñể tính các tham số của ñường cong sinh trưởng von Bertalanffy với hỗ trợ của SAS (Barr et al 1982) Những phương pháp này ñược kiểm ñịnh và so sánh thống kê
2.6.1 Những phương pháp biến ñổi tuyến tính
Ford (1933) ñã quan sát thấy rằng chiều dài trung bình quần thể cá herring trong bất kỳ năm nào cũng tỉ lệ với chiều dài của năm trước ñó với tỉ
lệ k không ñổi và ñã phát triển một công thức mô tả:
Gần như với cùng khái niệm của Ford, Walford (1946) ñã chỉ ra rằng khi ñược vẽ ñồ thị với , chiều dài tiệm cận là ñiểm mà ñường thẳng quan hệ cắt ñường chéo 450 từ gốc tọa ñộ Chapman (1961) gợi ý vẽ ñồ thị ( ) với , trong ñó trường hợp ñộ nghiêng của ñường thẳng là
và là ñiểm mà ñường thẳng cắt hoành ñộ
Phương pháp Ford-Walford và Chapman có thể ñược giải thích như sau Mở rộng công thức ñường cong sinh trưởng von Bertalanffy (ñể t0=0) ta có:
Chiều dài tại tuổi t+1 là
Chiều dài tăng từ tuổi t tới t+1 là
=>
=>
Trang 32Và khi cả (9) và ñược thỏa mãn thì
và k có thể ñược xác ñịnh trực tiếp từ ñường thẳng thích hợp với ñồ thị ñiểm bằng phân tích tương quan hoặc bằng mắt; sau ñó t0 có thể ñược ước tính từ công thức (3) từ bất kỳ chiều dài quan sát thực tế nào tại tuổi t Nhưng
t0 xác ñịnh chỉ từ một quan sát không ñại diện cho t0 thật của quần thể trong suốt cả tuổi thọ Một giải pháp cho t0 ñược phát triển:
Lấy tổng cho cả 2 phía của công thức (3):
2.6.2 Phương pháp biến ñổi logarit tuyến tính _ Phương pháp của Beverton
Beverton (1954) ước tính thông số bằng cách lấy một giá trị thử và
sử dụng nó trong một công thức biến ñổi từ (3) bằng cách lấy logarit
Vì vậy một ñồ thị giữa với t sẽ là ñường thẳng và mức ñộ thẳng này phụ thuộc vào sự thay ñổi của Một vài ñồ thị thử nghiệm sẽ tính ñược nhanh chóng và ñưa ra ñường thẳng tốt nhất (thẳng nhất) – cái
mà luôn ñược chọn bởi mắt hoặc bởi hồi quy tuyến tính của ñối
Trang 33với t và ñường thẳng tương ứng lập tức xác ñịnh k_ñộ nghiêng của ñường thẳng; nó cũng cung cấp giá trị t0 và tham số bậc không của (11) có thể ñược
2.6.3 Phép lặp Gauss-Newton
Cơ bản, ñường cong sinh trưởng von Bertalanffy, một hàm phi tuyến có
Gauss-Newton có thể ñược áp dụng ñể ước tính tham số a, b và k Quá trình lặp cơ bản là lựa chọn một nhóm các ñiểm, một khoảng của các tham số ñể ñược ước tính trong công thức phi tuyến và ñể tính tổng bình phương hàm số tại mọi ñiểm của nhóm Sự tính toán của mặt tổng bình phương có thể ñưa ra giá trị nhỏ nhất hoặc lân cận hội tụ, cái ñược sử dụng như những tham khảo
ñể giảm và ñể giới hạn nhóm tới khi giá trị nhỏ nhất tốt nhất ñược tìm thấy Nhóm các ñiểm ñược thiết kế bởi sự kết hợp của các giá trị khởi ñầu, các giá trị tăng và các ñiểm cuối cùng của các tham số
Trang 343 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ðối tượng, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu
ðối tượng: Cá chẽm giống sản xuất nhân tạo cỡ 2 cm ñược cung cấp bởi Trại Nghiên cứu Thực nghiệm Hải sản của Trường ðại học Nha Trang
ðịa ñiểm: Trại Thực nghiệm Nuôi trồng Thủy sản – Trung tâm Khuyến Ngư Khánh Hòa – Ninh Lộc – Ninh Hòa – Khánh Hòa
Thời gian nghiên cứu: 30/7/2007 – 10/11/2007
3.2 Tìm hiểu thiết kế hệ thống mương nổi
Mương nổi ñược chế tạo bằng vật liệu composite và ñược ñặt trong ao
có ñộ sâu tối thiểu là 1,6 m và diện tích là 2000 m2 Hệ thống mương ñược cố ñịnh trong ao bằng bè nổi và hệ thống cọc Nước luân chuyển qua mương nổi nhờ airlift Mương nổi ñược thiết kế phải ñáp ứng các yêu cầu về ñộ chắc chắn, về chế ñộ vận hành chăm sóc, về mức ñộ thay nước…
- Thiết kế của mương ñược ño ñạc và tìm hiểu cùng với các thiết bị phụ trợ khác
- Xác ñịnh khả năng luân chuyển nước trong mương
- Xác ñịnh hàm lượng oxy hòa tan bằng máy ño oxy tại ñầu mương và cuối mương
3.3 Tìm hiểu quy trình ương cá chẽm giống
Thông qua thực nghiệm và tìm hiểu từ những người ñã ương nuôi cá giống trong hệ thống mương nổi ñể xây dựng nên một quy trình ương tương ñối hợp lý với các phần chính như sau:
Trang 35- Chọn cá giống và thả giống
- Xác ñịnh mật ñộ thả cá giống
- Chọn thức ăn và cách cho ăn
- Quản lý môi trường nước
(%/ngày) Trong ñó,Wt1,Wt2, Lt1, Lt2 là khối lượng và chiều dài toàn thân của cá vào thời gian t1, t2 tương ứng
Thu thập số liệu từ một số tài liệu nghiên cứu trước ñây
3.5 Phân tích thống kê
Số liệu ñược xử lý bằng phương pháp thống kế sinh học trên phần mềm SAS 9.1 Phân tích Tukey ñể kiểm tra sự khác nhau về các yếu tố môi trường giữa các mương và ao Dùng mô hình hồi quy tuyến tính và phi tuyến ñể xác ñịnh mối quan hệ giữa tuổi (hoặc thời gian nuôi) và chiều dài Sử dụng các
Trang 36phương pháp Chapman, Ford-Walford và Gauss-Newton ñể làm thích hợp công thức của von Bertalanffy Cuối cùng, ứng dụng công thức của von Bertalanffy cho các số liệu từ các tài liệu tham khảo
Chương trình xử lý thống kê SAS với quá trình NLIN dựa trên thuật toán lặp bước thông minh ñược sử dụng ñể ước tính những thông số trong công thức sinh trưởng von Bertalanffy Khi quá trình NLIN ñược sử dụng những ñiều sau cần xác ñịnh:
- Tên và khoảng của giá trị khởi ñầu của những tham số ñược ước tính
- Hàm số (sử dụng một biến phụ thuộc)
- ðạo hàm riêng của hàm cho mỗi tham số
Phương pháp so sánh mức ñộ thích hợp cho các phương pháp Chapman, Ford-Walford và Gauss-Newton ñược dựa trên những tiêu chí sau:
- Chỉ số thích hợp (Index of fitting, ký hiệu là I):
Trong ñó A, B, k là những tham số và , , là những tham số ước tính
Giá trị I càng nhỏ thì tham số và tham số ước tính càng gần nhau, hệ quả là sự thích hợp càng tốt hơn Tuy nhiên, chỉ số thích hợp không phù hợp với số liệu mà các tham số (giá trị thực) không ñược biết
- SSE (Sum of Square of Error)
SSE ñược ñịnh nghĩa là tổng bình phương của phương sai của những giá trị ước tính, , từ giá trị quan sát SSE nhỏ hơn luôn chỉ ra mức ñộ thích hợp hơn
Trang 37- ASSE (Average Sum of Square for Error)
ASSE ñơn giản ñược ñịnh nghĩa là SSE ñược chia bởi kích thước mẫu Khi SSE tăng với kích thước mẫu ASSE ñược sử dụng ñể so sánh mức ñộ thích hợp của các phương pháp giữa hai tập số liệu khác nhau
MSE (Mean Square of Error) không ñược dùng làm tiêu chí cho mức
ñộ thích hợp bởi vì MSE = SSE/DFE (Degree of Freedom for Error) khác nhau giữa ba phương pháp này Trong phương pháp Gauss-Newton 3 tham số (a, b và k) ñược ước tính và DF=(n-3)-1 Một DF ñầu tiên ñược thỏa mãn cho
sự ghép cặp trong phương pháp Ford-Walford- Chapman và 2 DF cho hệ số bậc 0 và ñộ nghiêng trong hồi quy tuyến tính, vì thế DF=[(n-1)-2]-1 Trong phương pháp Beverton 2 DF cũng dành cho hệ số bậc 0 và ñộ nghiêng nên DF=(n-2)-1
- R Square (Coefficient of Determintation)
Một quá trình rất thông thường cho sự lựa chọn giữa các hàm tuyến tính là bước thông minh, dĩ nhiên là chọn một cái thích hợp nhất_cái có R2cao nhất Trong hàm phi tuyến R2 là không thể xác ñịnh Trong phương pháp Beverton_phương pháp biến ñổi logarit tuyến tính, số liệu ñược sử dụng trong hồi quy tuyến tính ñã ñược logarit hóa trước và khác với số liệu ñược sử dụng trong phương pháp Ford-Walford- Chapman Hệ quả, R2 chỉ ñược sử dụng trong phương pháp Beverton ñể làm sáng tỏ ảnh hưởng của các giá trị thử khác nhau của a trong quá trình làm thích hợp công thức
Trang 384 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thiết kế của hệ thống mương nổi
4.1.1 Mương nổi và hệ thống bè nổi
Mương nổi ñược thiết kế dạng hình thang với thể tích là 70 L Mương ñược làm bằng vật liệu composite, ñây là vật liệu phù hợp nhất tại Việt Nam nhờ ưu ñiểm dễ tạo hình, tuổi thọ cao, khả năng chống chịu với ñiều kiện môi trường tốt, dễ vệ sinh và giá thành sản xuất chấp nhận ñược Mương ñược sơn ñen bên trong
Một ñầu của mương ñược gắn với hệ thống ống nâng nước, ñầu còn lại ñược gắn lưới chắn cá ra ngoài và ñịch hại xâm nhập vào mương Lưới chắn này có kích thước 20 x 25cm Kiểu mương này có kích thước nhỏ phục vụ ương cá hương lên cá giống
Hệ thống bè ñược thiết kế với mục ñích làm giá ñỡ cho hệ thống mương nổi nổi trên mặt nước Vật liệu làm bè là gỗ và ống nhựa PVC Bè có dạng hình chữ nhật và ñược chia làm các ngăn nhỏ Xung quanh bè ñược lát ván tạo ñường ñi lại ñể thuận lợi cho quá trình chăm sóc và quản lý cá Các mương ñược che một lớp lưới phong lan màu ñen phía trên ñể hạn chế ánh sáng chiếu vào mương nhằm ngăn chặn sự phát triển của tảo ñáy trong mương
4.1.2 Hệ thống khí và ống nâng nước
Hệ thống nâng nước bao gồm 3 ống nhựa PVC có Ф = 34 mm, chiều dài của ống ngập trong nước là 80 cm và ñược gắn cố ñịnh vào mương Hệ thống ống nâng nước này ñược thiết kế giống với hệ thống nâng nước của Masser và Lazur (1997) Trong ống nhựa PVC có ñặt dây khí mềm và cục ñá bọt Chiều dài của dây khí này là 60 cm ðể hệ thống ống nâng nước hoạt
Trang 39ñộng ñảm bảo yêu cầu không hút các chất bẩn từ ñáy ao vào mương thì ñộ sâu của mức nước trong ao chỉ cần lớn hơn 1,3 – 1,5 m ðộ sâu này rất thích hợp cho các ao nuôi tôm bỏ hoang hiện nay
Nước ñược ñẩy vào trong mương nhờ máy nén khí Công suất của máy nén khí phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng của người nuôi và số lượng ống nâng nước Hệ thống ống dẫn khí từ máy nén khí ñến hệ thống ống nâng nước ñược thiết kế khép kín chạy xung quanh bè Thiết kế như vậy sẽ ñảm bảo lượng khí
và áp suất khí nén ở mọi ñiểm là như nhau trên hệ thống ống dẫn
Lượng nước của một ống nâng nước ñẩy vào trong mương là 11 – 13 L/phút/ống ðây là lượng nước ñẩy vào trong mương theo thiết kế, tuy nhiên, lượng nước này có thể ñược thay ñổi theo ý muốn của người sử dụng khi ñộ sâu của dây khí mềm ñược thay ñổi Với thiết kế như trên, hệ thống sẽ thay toàn bộ nước trong mương trong khoảng 7 phút – 7 phút 15 giây
Cá sẽ ñược cho ăn ở khu vực ngay sau tấm chắn ñầu mương nơi không
bị ảnh hưởng bởi dòng nước mặt trong mương và cũng là nơi xa chỗ thoát nước Tấm chắn ở ñầu mương có tác dụng tạo dòng chảy ngầm bên dưới và gom tụ chất thải về phía cuối mương Thức ăn thừa, chất thải của cá sẽ ñược dòng nước cuốn trôi về phía cuối mương Một phần chất thải ấy ñi ra môi trường ngoài qua lưới chắn cá và phần còn lại sẽ lắng ñọng ở phía cuối mương Không hạn chế khả năng nếu chất thải và thức ăn dư nhiều thì chúng vẫn nằm rải rác khắp trong mương
Trang 40Hình 4.1: Thiết kế mương nổi
Hình 4.2: Ao nuôi và hệ thống mương ñặt trong ao
4.2 Quy trình ương nuôi cá chẽm giai ñoạn giống
4.2.1 Chọn và thả cá giống
Chọn cá giống
Tấm chắn Dây khí