Qua thời gian khảo sát tình hình bệnh sinh sản và theo dõi hiệu quả điều trị trên đàn bò sữa tại Công ty cổ phần bò sữa Đồng Nai, chúng ghi nhận: Tỷ lệ bò mắc bệnh sinh sản là 21,94%; tr
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Nhận xét của giáo viên hướng dẫn iii
Lời cảm ơn iv
Mục lục v
Danh sách các bảng viii
Danh sách các biểu đồ ix
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN 3
2.1 SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BÒ SỮA ĐỒNG NAI 3
2.1.1 Quá trình hình thành 3
2.1.2 Nhiệm vụ của công ty 3
2.1.3 Tổ chức sản xuất và cơ cấu đàn bò 3
2.1.3.1 Diện tích đất sử dụng 3
2.1.3.2 Cơ cấu đàn bò 4
2.1.3.3 Chuồng trại 5
2.1.4 Phương pháp chăm sóc và nuôi dưỡng 5
2.1.4.1 Thức ăn 5
2.1.4.2 Cách thức cho ăn 5
2.1.4.3 Vệ sinh 6
2.1.4.4 Công tác thú y 7
2.1.4.5 Khai thác và tiêu thụ sữa 7
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
2.2.1 Đặc điểm sinh sản trên bò sữa HF 7
2.2.1.1 Tuổi thành thục 7
2.2.1.2 Chu kỳ động dục 8
v
Trang 22.2.2.2 Sảy thai 11
2.2.2.3 Sót nhau 13
2.2.2.4 Viêm tử cung 14
2.2.2.5 Viêm vú 16
2.2.2.6 Bại liệt sau khi sinh 19
2.2.2.7 Bệnh vô sinh 20
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 22
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM TIẾN HÀNH 22
3.1.1 Thời gian 22
3.1.2 Địa điểm 22
3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 22
3.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 22
3.3.1 Nội dung 1 22
3.3.2 Nội dung 2 22
3.3.3 Nội dung 3 23
3.3.4 Phương pháp tiến hành 23
3.3.5 Xử lý số liệu 24
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 TÌNH HÌNH BỆNH SINH SẢN TRONG THỜI GIAN KHẢO SÁT 25
4.1.1 Tỷ lệ bò mắc bệnh sinh sản 25
4.1.2 Tỷ lệ bò mắc bệnh sinh sản theo tháng khảo sát 25
4.1.3 Tỷ lệ bò mắc bênh sinh sản theo nhóm máu khảo sát 26
4.1.4 Tỷ lệ bò mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 28
4.1.5 Tỷ lệ bò mắc bệnh sinh sản theo từng dạng bệnh 29
4.2 KẾT QUẢ PHÂN LẬP VI KHUẨN GÂY BỆNH VIÊM TỬ CUNG, VIÊM VÚ VÀ THỬ KHÁNG SINH ĐỒ 32
4.2.1 Kết quả phân lập vi khuẩn từ dịch viêm tử cung 32
4.2.2 Kết quả phân lập vi khuẩn từ mẫu sữa bò bị viêm vú 35
vi
Trang 34.2.3 Kết quả thử kháng sinh đồ ở các mẫu sữa bò bị viêm vú dương tính với vi
khuẩn phân lập được 36
4.3 HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN TRÊN BÒ SỮA 38
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 KẾT LUẬN 40
5.2 ĐỀ NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 44
vii
Trang 4Trang
Bảng 2.1 Cơ cấu đàn bò tại công ty 4
Bảng 2.2 Định mức thức ăn cho đàn bò theo tiêu chuẩn 6
Bảng 4.1 Tỷ lệ bò mắc bệnh sinh sản theo tháng khảo sát 25
Bảng 4.2 Tỷ lệ bò bệnh sinh sản theo nhóm máu khảo sát 26
Bảng 4.3 Tỷ lệ bò mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 28
Bảng 4.4 Tỷ lệ bò mắc bệnh sinh sản theo từng dạng bệnh 29
Bảng 4.5 Kết quả phân lập vi khuẩn từ dịch viêm tử cung 32
Bảng 4.6 Kết quả thử kháng sinh đồ ở các mẫu dịch viêm tử cung dương tính với vi khuẩn phân lập được 33
Bảng 4.7 Kết quả phân lập vi khuẩn từ mẫu sữa bò bị viêm vú 35
Bảng 4.8 Tổng hơp kết quả thử kháng sinh đồ ở các vi khuẩn gây viêm vú 36
Bảng 4.9 Hiệu quả điều trị một số bệnh sinh sản trên bò sữa trong thời gian khảo sát 38
viii
Trang 5DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ bệnh sinh sản theo tháng khảo sát 26
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ bệnh sinh sản theo nhóm máu khảo sát 27
Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ bò mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 28
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ bò mắc bệnh sinh sản theo từng dạng bệnh 29
ix
Trang 6Đề tài: “TÌNH HÌNH BỆNH SINH SẢN TRÊN ĐÀN BÒ SỮA VÀ GHI
NHẬN HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÒ SỮA ĐỒNG NAI”
được tiến hành tại Công ty cổ phần bò sữa Đồng Nai, trong thời gian từ 29/1/2007 đến 29/5/2007
Qua thời gian khảo sát tình hình bệnh sinh sản và theo dõi hiệu quả điều trị trên đàn bò sữa tại Công ty cổ phần bò sữa Đồng Nai, chúng ghi nhận:
Tỷ lệ bò mắc bệnh sinh sản là 21,94%; trong đó tháng 4 có tỷ lệ mắc bệnh sinh sản cao nhất và thấp nhất là tháng 5
Tỷ lệ bò mắc bệnh sinh sản theo nhóm máu ở F1 là 15,25%, F2 là 23,94%, F3
Vi khuẩn đươc phân lập trong mẫu dịch viêm tử cung chiếm cao nhất là
Streptococcus spp chiếm 40% kế đến là E coli chiếm 30%, Enterobacter aerogenes là
10%
Ở mẫu dịch viêm tử cung, vi khuẩn E coli nhạy cảm với kháng sinh doxycyclin
và neomycin, vi khuẩn Staphylococcus spp nhạy cảm với các kháng sinh cephalexin, norfloxacin, vi khuẩn Staphylococcus aureus nhạy cảm với kháng sinh norfloxacin
Vi khuẩn được phân lập trong mẫu sữa viêm chiếm cao nhất là Staphylococcus spp chiếm 90% kế đến là Enterobacter aerogenes và Streptococcus spp chiếm
(10%)
Ở mẫu sữa bò viêm vú vi khuẩn Staphylococcus spp nhạy cảm với kháng sinh norfloxacin và doxycyclin, vi khuẩn Enterobacter aerogenes nhạy cảm với các kháng sinh norfloxacin, doxycyclin, tetracyclin và neomycin; vi khuẩn Streptococcus spp
không nhạy cảm với tất cả kháng sinh đã thử kháng sinh đồ
Tỷ lệ bò khỏi bệnh viêm vú, viêm tử cung, sót nhau sau điều trị là 100%
x
Trang 7bò đã không những chỉ dừng lại từ việc lấy thịt, xương, da cung cấp cho công nghiệp chế biến mà nó còn cung cấp sữa là nguồn dinh dưỡng có giá trị cao cho người
sử dụng Xuất phát từ lợi ích đó, cùng với những chính sách khuyến khích của nhà nước mà nghề chăn nuôi bò sữa đã không ngừng phát triển với qui mô ngày càng được
mở rộng, trong đó có công ty cổ phần bò sữa Đồng Nai Hằng năm, công ty đã cung cấp một sản lượng sữa khá lớn cho người tiêu dùng Tuy nhiên, việc nuôi bò sữa tại công ty gặp không ít khó khăn về kỹ thuật, con giống, bệnh tật trong đó bệnh về sinh sản
là một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay như: sảy thai, sót nhau, viêm tử cung, viêm vú, bại liệt sau khi sinh đã gây thiệt hại không nhỏ Do đó, việc tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh sinh sản trên đàn bò sữa và biện pháp phòng bệnh là điều cần thiết
Từ những yêu cầu trên, được sự đồng ý của bộ môn Bệnh Lý – Ký Sinh thuộc khoa Chăn Nuôi Thú Y Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lâm Thị Thu Hương và Th.S Đường Chi Mai với sự hỗ trợ của Ban lãnh đạo Công ty cổ phần bò sữa Đồng Nai, chúng tôi đã tiến hành thực hiện
đề tài: “TÌNH HÌNH BỆNH SINH SẢN TRÊN ĐÀN BÒ SỮA VÀ GHI NHẬN
Trang 81.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
1.2.1 Mục đích
Đánh giá tình hình bệnh sinh sản và tìm hiểu một số nguyên nhân gây bệnh sinh sản trên đàn bò sữa tại Công ty cổ phần bò sữa Đồng Nai, nhằm đề ra môt số biện pháp phòng trị thích hợp
1.2.2 Yêu cầu
Theo dõi tình hình bệnh sinh sản và ghi nhận những yếu tố liên quan như giống, lứa
đẻ, tháng khảo sát
Phân lập một số vi khuẩn gây viêm vú, viêm tử cung trên đàn bò sữa và thử
kháng sinh đồ trên những mẫu phân lập dương tính với vi khuẩn như E Coli,
Staphylococus, Streptococcus
Theo dõi hiệu quả điều trị bệnh sinh sản trên đàn bò khảo sát
Trang 93
PHẦN 2: TỔNG QUAN
2.1 SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BÒ SỮA ĐỒNG NAI
2.1.1 Quá trình hình thành
Công ty Cổ Phần Bò Sữa Đồng Nai là một doanh nghiệp nhà nước, tọa lạc tại
Km 14 – Quốc lộ 51, thuộc địa bàn xã Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Công ty được thành lập vào tháng 04 năm 1977 với tên gọi là Trại Bò sữa An Phước Tháng 09 năm 1985, trại được đổi tên thành xí nghiệp Bò Sữa An Phước
Tháng 01 năm 2006 chính thức đổi tên thành Công ty Cổ Phần Bò Sữa Đồng Nai, trực thuộc Tổng Công ty Công Nghiệp Thực Phẩm Đồng Nai
2.1.2 Nhiệm vụ của công ty
Công ty Cổ Phần Bò Sữa Đồng Nai đảm nhiệm các chức năng sau:
- Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu con giống bò sữa, bò thịt và các loại gia súc khác, các loại nông sản thực phẩm, thức ăn gia súc, các loại cỏ và cây trồng
- Chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật trong chăn nuôi bò sữa đến các vùng phụ cận
- Sản xuất, thu mua, chế biến, kinh doanh sữa tươi và các sản phẩm từ sữa
- Kinh doanh thuốc, vật tư thú y và dịch vụ kỹ thuật về chăn nuôi gia súc
- Sản xuất kinh doanh phân hữu cơ vi sinh
- Kinh doanh dịch vụ khu vui chơi giải trí, nhà hàng…
2.1.3 Tổ chức sản xuất và cơ cấu đàn bò
2.1.3.1 Diện tích đất sử dụng
Diện tích: đất do Công ty quản lý gồm 367 ha thuộc loại đất xám bạc màu, nghèo dinh dưỡng Trong đó, diện tích đất trồng cỏ 50 ha bao gồm các loại cỏ chủ yếu như cỏ voi, cỏ sả lá lớn, cỏ sả lá nhỏ và cỏ Stylosanthes Đồng cỏ chăn thả xen lẫn các hàng cây được phân thành từng lô với mỗi lô là 70 ha, một phần diện tích đất khác sử dụng cho việc xây dựng cơ bản như văn phòng Công ty, nhà xưởng, chuồng trại chăn
Trang 115
2.1.3.3 Chuồng trại
Hệ thống chuồng trại của công ty được chia thành 2 khu vực:
- Trại cũ được xây dựng vào năm 1980 theo kiểu chuồng của CuBa, bao gồm 7 dãy chuồng xây kiểu một mái tole, kết cấu nền bê tông, khung gỗ, cao ráo, thoáng mát,
có rãnh thoát nước ở giữa 2 dãy, chuồng có bố trí hệ thống quạt mát và phun sương
- Trại mới được xây dựng năm 2003 với kiểu chuồng khá hiện đại, phù hợp với chăn nuôi bò sữa Nền chuồng cao ráo, thoáng mát, hai mái lệch có khoảng hở để thông khí Kết cấu nền bê tông, cột sắt, trụ bê tông, mái tole, có sân chơi riêng Trại mới gồm 2 dãy, mỗi dãy chia làm nhiều ô riêng biệt để thuận tiện cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng các nhóm bò khác nhau Trong đó:
+ Dãy 1: nuôi bò vắt sữa, bò cạn sữa
+ Dãy 2: nuôi bê, bò tơ lỡ, bò thịt và bò cạn sữa
2.1.4 Phương pháp chăm sóc và nuôi dưỡng
2.1.4.1 Thức ăn
Thức ăn xanh: chủ yếu là cỏ được cho ăn tự do Giống cỏ chủ yếu là cỏ sả lá lớn,
cỏ sả lá nhỏ, cỏ Stylosanthes Vào mùa khô, do thiếu cỏ xanh nên phải cho ăn bổ sung thêm cỏ khô ủ urea Bên cạnh đó, cỏ ủ chua cũng được dự trữ để bổ sung thường xuyên vào khẩu phần
Thức ăn tinh: chủ yếu là cám hỗn hợp, hèm bia và bột cá Ngoài ra, ở trại người
ta còn bổ sung mật, muối, urea, đá liếm vào khẩu phần ăn của bò
Trang 12Số lượng thức ăn được tính riêng cho từng đàn loại, nhóm giống Đàn vắt sữa
có năng suất sữa trên 6 kg/ngày được cho ăn thức ăn tinh theo năng suất sữa, cứ 0,3 kg cám hỗn hợp cho 1 kg sữa và 8 - 10 kg hèm bia/con/ngày Định mức thức ăn cụ thể cho từng đàn loại được trình bày ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Định mức thức ăn cho đàn bò theo tiêu chuẩn (kg/con/ngày)
Trang 132.1.4.5 Khai thác và tiêu thụ sữa
giờ)
Bò được vắt sữa bằng máy 2 lần trong ngày (sáng từ 3 - 5 giờ, chiều từ 3 - 5
Sau khi chuẩn bị dụng cụ, bò được tắm rửa, vệ sinh chuồng, sát trùng bầu vú bằng Iodaman
Phương pháp vắt: Sữa được vắt bằng máy Điều này, hạn chế được sự vấy nhiễm
vi sinh vật trong sữa, giảm công lao động, giảm thời gian vắt sữa trong thời gian
5 - 6 phút
Sữa vắt xong được cho vào can nhựa sạch, vận chuyển ra điểm thu mua sữa của công ty trong thời gian không quá 2 giờ kể từ khi vắt để kiểm tra chất lượng và bảo quản lạnh Các tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng được thực hiện theo quy định của công
đó, khai thác bò cái hướng sữa nên phối giống lúc 15 – 18 tháng khi trọng lượng đạt
60 – 70% trọng lượng trưởng thành của cơ thể
Trang 142.2.1.2 Chu kỳ động dục
Bò là gia súc đa chu kỳ, thời gian trung bình của một chu kỳ khoảng 21 ngày (17 – 24 ngày) Chu kỳ động dục bình thường gồm các giai đoạn: tiền động dục, động dục, sau động dục, yên nghỉ Chu kỳ động dục kéo dài từ 24 đến 48 giờ
+ Dấu hiệu biểu hiện động dục của bò
Việc phát hiện động dục cho bò cực kỳ quan trọng để có kết quả phối giống tốt Quá trình động dục của bò được chia làm ba giai đoạn
- Giai đoạn tiền động dục kéo dài (3 – 8 giờ), bò có biểu hiện ít ăn, giảm sữa, thú ngửi, hít vào thú khác Nhảy chồm lên con khác nhưng không cho con khác nhảy chồm lên nó, thú bồn chồn, hiếu động, âm hộ ấm đỏ và hơi sưng đôi lúc có dịch nhờn
- Giai đoạn động dục kéo dài (6 – 18 giờ), thú có phản xạ đứng yên (không bỏ chạy khi có con khác nhảy chồm lên), hiếu động, gây chú ý và kêu la, ra dịch nhờn trong suốt
- Giai đoạn sau động dục (khoảng 12 giờ) thường trong lúc này bò không còn phản xạ đứng yên, ra dịch nhờn trong suốt và keo, có hiện tượng xuất huyết sau 1 – 2 ngày
+ Thời điểm phát hiện lên giống để phối giống đạt hiệu quả cao
Trường hợp bò biểu hiện động dục vào buổi sáng (trước 9 giờ) thì phối giống vào buổi chiều cùng ngày Bò biểu hiện động dục từ 9 – 12 giờ sáng thì phối giống vào buổi chiều tối hoặc sáng hôm sau (trước 10 giờ) Đối với bò có biểu hiện động dục vào buổi chiều thì phối giống vào sáng hôm sau (tối đa 10 giờ)
+ Dấu hiệu sinh đẻ bình thường của bò cái
Khi bò sắp sinh thì đầu vú căng to do xuống sữa, sụt mông, âm hộ sưng to, chảy dịch nhờn đặc, màu trắng đục
Giai đoạn chuẩn bị sinh, thú mẹ bồn chồn lo lắng, làm ổ, thường quay đầu nhìn bụng, đuôi cong có biểu hiện rặn
Trang 159
Khi có dấu hiệu sinh (cổ tử cung mở ra) túi ối vỡ và dịch thoát ra, bò rặn tống
bê con ra ngoài, giai đoạn này là sự phối hợp nhịp nhàng giữa những phản xạ rặn đẻ và
sự phân tiết hormon như: Oxytoxin, Prolactin, Relaxin… để điều khiển quá trình sinh
đẻ của thú mẹ
Thời gian tống thai thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, tuổi, lứa đẻ, kích cỡ xương chậu Thời gian đẻ của bò kéo dài khoảng 4 giờ đến 6 giờ, thời gian tống nhau là 12 – 24 giờ sau khi sinh
2.2.2 Một số bệnh sinh sản thường gặp trên bò sữa
- Do thai quá lớn, thường thấy ở thú mẹ mang thai dài hơn bình thường, giống có thể trạng to, thú con khi ở trong bào thai đươc hấp thu và chuyển hóa tốt chất dinh dưỡng, kích thích tố sinh trưởng của thai tiết ra nhiều, loại gia súc đa thai nhưng vì lý
do gì đó làm ít con
Biện pháp can thiệp:
- Biện pháp kéo thai: cột dây, bơm vào đường sinh dục dầu trơn Dùng tay đẩy bớt 1 chân thai vào trong, dùng tay hoặc kẹp hàm dưới kéo thai ra theo nhịp rặn của thú mẹ Vừa kéo dây vừa kéo một chân từ từ và nhẹ nhàng để tránh âm hộ bị rách Trường hợp thai đã chết thì dùng cây móc để móc vào hốc mắt, mũi, họng
- Biện pháp “cắt thai”: thai sẽ được cắt thành từng mảnh nhỏ (bằng dây đàn) và đem qua đường âm đạo, biện pháp này chỉ nên thực hiện khi khung xương chậu quá hẹp và cần bảo vệ toàn vẹn cho thú mẹ
Trang 16- Biện pháp “xoay thai ngang”: thực hiện bằng cách lách vai bê con từng bên đểlọt qua khung xương chậu, biện pháp này có thể đảm bảo toàn vẹn mẹ và con
Trong một số trường hợp thú mẹ rặn đẻ yếu cần bổ trợ thêm hormon oxytoxin (nhằm tăng cường sự co thắt của tử cung)
• Cổ tử cung mở chậm
Cổ tử cung mở chậm do tính ì và trở ngại trong sự co thắt tử cung, trường hợp này thường do thiếu calcium trong huyết thanh, đôi khi do sốt sữa… Biện pháp nên dùng oxytocin tiêm vào cơ tử cung hay pha oxytocine 5 – 10 UI trong 500 ml dịch truyền, khi cổ tử cung dãn nở và bọc ối lộ ra thì ngưng truyền dịch
• Xoắn tử cung
Do hệ thống các dây treo bị yếu (dây chằng) Ở một số loài gia súc như bò, dê, cừu
có tử cung xoắn dạng chữ U
Biện pháp can thiệp
Kiểm tra qua âm đạo để xác định chiều xoắn
Dùng tay đưa vào âm đạo, tựa vào đầu bê con đẩy mạnh qua thành bụng thú mẹ,
để bê con theo chiều ngược lại
Cột chân thú mẹ và lật cơ thể thú mẹ theo chiều ngược lại chiều xoắn của tửcung
Mổ đường hông và đưa tay vào trong để nắn sửa tử cung lại vị trí cũ
• Đẻ sinh đôi trên thú cái đơn thai
Đẻ khó xảy ra khi hai thai ra cùng một lúc và bị vướng ở khung xương chậu Trong trường hợp này, đưa tay vào âm đạo đẩy bớt một thai vào bên trong và đỡ lần lượt từng con ra ngoài, chú ý sửa lại tư thế thuận lợi và tránh kéo nhầm 2 chân của 2 thai ra
• Tư thế - Vị trí - Hướng thai bất thường
Đầu thai vẹo sang một bên, đầu thai quập xuống ức, đầu thai ngữa ra sau, chi trước
và chi sau co quập lại hoặc cả chi trước và chi sau cùng đưa vào âm đạo
Trang 1711
Thai nằm ngửa hay nghiêng
Thú con đưa lưng ra trước (dạng ngồi)
2.2.2.2 Sảy thai
Các trường hợp thai bị tống ra ngoài trước ngày sinh bình thường đều xem là sảy thai Sảy thai thường xảy ra do hai nguyên nhân chủ yếu sau
+ Nguyên nhân truyền nhiễm
Các căn nguyên truyền nhiễm xâm nhập vào cơ thể thú mẹ theo hai con đường: nhiễm trùng máu và nhiễm trùng đường sinh dục Các nguyên nhân truyền nhiễm gây
sảy thai cho bò gồm: Leptospira, Brucella, Salmonella, Trichomoniasis, Pseudorabies,
Rhinotrcheitis và nhóm virus gây sảy thai
+ Nguyên nhân không truyền nhiễm
Rối loạn sự phân tiết các hormon sinh dục trong giai đoạn có mang Do số lượng bào thai nhiều hơn bình thường hay do dây rốn bị xoắn Do nhau bám vào niêm mạc tử cung yếu, do bộ phân sinh dục của thú mẹ có bệnh
Do các yếu tố môi trường ngoại cảnh, do nhiễm trùng trong trường hợp viêm niêm mạc tử cung, âm đạo, do tác nhân là các vi khuẩn thường trực có sẵn hay lây
nhiễm qua đường tinh dịch như: Staphylococcus aureus
Do nhiễm các chất độc từ thức ăn như: nitrate, chì, arsennic, phenolthiazin
Do tác nhân cơ học như thú mang thai bị rượt đuổi, té ngã, chen lấn, đánh đập
Do khẩu phần thức ăn không đủ dưỡng chất như: ptrotein, vitamin, muối khoáng…
Do sử dụng các dược phẩm điều trị không đúng liệu pháp hoặc sử dụng nhằm loại thuốc có khuyến cáo không được dùng cho thú mang thai
+ Triệu chứng:
Tiêu thai: thường xảy ra vào giai đoạn đầu của thời kỳ mang thai Trong thời gian
này, thai chưa phát triển và hình thành các tổ chức Phôi thai bị hấp thu nước vào
Trang 18tử cung Vì thế không còn gì hiện hữu trong tử cung nhưng có dấu hiệu cho thấy thú có mang thai, vì sừng tử cung có kích thước to lớn và mất trương lực Trường hợp này thường do thai yếu, do thú mẹ bị nhiễm trùng khi gieo tinh, cơ thể thú mẹ bị suy nhược
và thú sẽ biểu hiện chậm động dục trở lại
Thai gỗ: thời gian mang thai kéo dài cho nên cần xác định rõ thời gian cần phối
giống, khám thai nhận thấy bụng không phát triển, không nghe được tim thai, khám qua trực tràng nhận thấy thân tử cung cứng, tròn như quả banh Không xác định được rảnh tử cung và sừng tử cung, khám qua tử cung có thể xác định vật thể rắn chắc
Thai thối rữa:
Khi thai mới chết sẽ bị phân huỷ tạo ra mủ và sinh chất khí như: H2, N2, H2S,
CO2 làm cho thai và tử cung phù ra Biểu hiện bên ngoài là bụng to dần ra nhưng không nghe được tim thai, không phát hiện được sự vận động của bào thai
Giai đoạn đầu thú có thể bị sốt và viêm bộ phận sinh dục Sau khi thai đã bị thối rữa, thú giảm biểu hiện triệu chứng bên ngoài, đồng thời do tác động của progesterone làm cổ
tử cung đóng lại không cho mủ thoát ra Nhưng khi lượng mủ quá nhiều, sẽ chảy rỉ ra,
mủ có màu vàng hay hồng rất hôi thối, thành tử cung dãn nở tuỳ vào lượng
mủ
+ Điều trị:
Thai gỗ: dùng tay bóp bể hoàng thể hoặc tiêm prostaglandin (PGF2α) để huỷ
hoàng thể, từ đó hiệu ứng sinh học xảy ra với việc giãm phân tiết progesterone và mở
tử cung Nếu thú không có dấu hiệu sanh thì lập lại lần 2, dùng các loại chế phẩm tương tự như prosolvin, stillbestrol Khi thú có dấu sanh nhưng thai vẫn không tống ra được do thiếu nước ối, thì phải tạo môi trường trơn trợt bằng cách bơm nước xà phòng
và kéo thai ra Khi lấy thai xong cần cho sulfamide và kháng sinh vào để ngừa nhiễm trùng
Thai thối rữa: Qua trực tràng bóp bể hoàng thể hay dùng prostaglandin dạng
prosolvin sẽ có tác động tống thai cùng với mủ sau khi tiêm từ 2 đến 5 ngày
Trang 1913
Nếu thai chưa bị thối rữa thì cẩn thận lấy bào thai ra dần dần, thủ thuật dựa vào lúc cổ tử cung mở cho vào dung dịch lugol hay rivanol hoặc thuốc tím 1/1000, nước xà phòng làm trơn đường sinh dục Cho tay vào tử cung lấy từng mảnh thai ra ngoài Sau
đó bơm thuốc kháng sinh và sulfamide vào tử cung Dùng kháng sinh penicillin tiêm bắp liều 7000 - 10000 UI/kg, và tiêm truyền tĩnh mạch dung dịch glucoza 5%
2.2.2.3 Sót nhau
Bình thường sau khi đẻ 4 - 6 giờ nhau sẽ ra hết, nếu quá thời gian này nhau chưa
ra được xem là sót nhau Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sót nhau ở bò cái
Nguyên nhân: Do khẩu phần của bò cái trong giai đoạn mang thai không cân đối, thiếu nhiều chất khoáng nhất là calci Do chăm sóc quản lí không thích hợp, bò ít được vận động trong thời gian mang thai nhất là trong giai đoạn cuối của kì thai Do
bò cái sau khi sinh bị suy yếu, dạ con co bóp không đủ mạnh để đẩy nhau thai ra ngoài, thường gặp ở bò cái lớn tuổi đẻ nhiều lứa, do màng nhau và nội mạc tử cung viêm dính nên khó bóc tróc Có hai dạng sót nhau :
• Sót nhau một phần
Triệu chứng: thường là nhau bị rách, quan sát lá nhau và ráp hai mí rách lại nếu các mạch máu trên lá nhau không liền với nhau thì nhau có khả năng còn sót một mảng bên trong tử cung thú mẹ Nếu phần nhau còn sót lại ít hơn 1/5 lá nhau thì khó xác định Bò kém nhai lại, bỏ ăn, lưng cong, rặn, đuôi cong, sốt và sản lượng sữa giảm
Điều trị: đặt thuốc vào bên trong tử cung, tiêm vitamin C, vitamin B - complex
• Sót nhau toàn phần
Triệu chứng: là toàn bộ nhau nằm lại trong tử cung, sau 6 - 12 giờ một đoạn nhau rồi lồi ra ngoài nhưng không ra được Con vật có triệu chứng toàn thân như: bồn chồn, ủ rủ, bỏ ăn, giảm sản lượng sữa, rặn cong đuôi Nếu không điều trị kịp thời thì
bò sẽ bị bại huyết và chết trong 2 - 3 ngày sau
Điều trị:
- Tránh lôi kéo ở bên ngoài hoặc cột vật nặng hay cắt bỏ phần nhau lồi ra Phải
để tự trọng lượng của lá nhau thoát ra, trì kéo phần nhau còn lại trong đường sinh dục
Trang 20của thú mẹ Tránh đưa dung dịch rửa tử cung vào khi nhau chưa ra hết, vì nó có thể gây viêm tắt ống dẫn trứng Dùng tay đưa vào giữ phần nhau và đè lớp niêm mạc âm đạo Dùng tay bóc từng núm nhau theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, từ trong ra ngoài bằng ngón tay trỏ và ngón cái Chú ý: khi bóc nhau tránh làm đứt núm
tử cung, sau đó đặt kháng sinh (Sulfamide) vào bên trong tử cung để ngừa nhiễm trùng Có thể rửa, sát trùng bên ngoài âm đạo bằng các dung dịch như: thuốc tím, dung dịch lugol 1/1000
- Khi sức bám giữa núm nhau và núm tử cung quá chắc chắn có thể áp dụng biện pháp bảo lưu nhau lại trong tử cung và chỉ cần đặt thuốc kháng sinh ngừa viêm nhiễm, chờ đợi thêm 6 - 12 giờ lại bóc nhau tiếp Một số trường hợp khi bóc nhau bò còn sức rặn mạnh nên khó đưa tay vào để can thiệp, ta có thể dùng phương pháp gây tê màng cứng tủy sống để làm giảm cơn rặn và bóc nhau sẽ dễ dàng hơn
2.2.2.4 Viêm tử cung
Nguyên nhân:
- Do nhiễm trùng cơ quan sinh dục khi sinh và có thể do lúc phối Sau khi sinh
tử cung thường bị viêm do can thiệp, sảy thai, đẻ khó, áp dụng các thủ thuật sản khoa, sau đó niêm mạc đường sinh dục có thể bị tổn thương Sự suy nhược của cơ thể thú mẹ,
sự căng thẳng do sinh đẻ (stress)
- Do cơ thể học bất thường tạo điều kiện thuận lợi trong việc viêm nhiễm đường tiết niệu như ống thoát tiểu hoặc nhiễm bẩn quanh âm hộ làm viêm âm đạo, sẽ gây hiện tượng mở cổ tử cung và dẫn đến chứng viêm tử cung Mầm bệnh có trong ruột, truyền qua lớp niêm mạc, đi vào máu, xâm nhập vào tử cung Nguyên nhân chính của cách xâm nhiễm này là do hoạt động của nhu động ruột kém Nhất là khi táo bón và sự giảm sút sức đề kháng của cơ thể, bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu
- Do sinh lý cơ thể: các thay đổi sinh lý học vào cuối kỳ mang thai, do thai lớn
có thể chèn ép làm giảm nhu động ruột và gây ứ đọng nước tiểu trong bàng quang Cổ
tử cung mở gây viêm nhiễm
Trang 21Phân loại:
° Viêm nhờn (hay còn gọi là viêm cata)
Triệu chứng: là thể viêm nhẹ thường xuất hiện sau khi sanh, niêm mac tử cung bịviêm nhẹ, tử cung tiết nhiều dịch đục lợn cợn có mùi tanh Thường sau vài ngày dịch tiết giảm dần, đặc lại, sốt nhẹ, nhiệt độ cơ thể khoảng 400C Tuy nhiên thú vẫn cho sữa bình thường, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt, nó chuyển từ dạng viêm nhờn sang viêm tử cung có mủ
Điều trị: thụt rửa tử cung, đặt kháng sinh vào tử cung, kết hợp tiêm vitamin C
° Viêm có mủ
Triệu chứng: có thể do viêm nhờn kế phát, bò thường nằm nhiều, sốt 40 - 410C,
từ trong tử cung mủ sẽ chảy ra nhày đặc, lợn cợn, có mùi tanh, thường kéo dài từ 4 ngày và có thể đến 7 ngày Sau đó xuất hiện mủ đặc dính vào âm hộ, thể viêm này nếu không can thiệp kịp thời nó sẽ chuyển sang dạng viêm rất nặng, nếu vi vinh vật xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng huyết
Điều trị: việc điều trị phải được tiến hành sớm khi thấy có tiết dịch viêm và thú sốt Ngoài việc thụt rửa tử cung, kháng sinh được coi là liệu pháp bắt buộc
(enrofloxacin, norfloxacin, getamycin phối hợp cephalexin), cung cấp vitamin C, truyền dung dịch glucoza 5% sẽ góp phần giúp thú mau khỏi bệnh Việc phân lập vi sinh vật, thử kháng sinh đồ để tìm ra kháng sinh mẫn cảm và sử dụng kháng sinh sẽ đem lại hiệu quả điều trị cao
Trang 22Viêm vú là bệnh thường gặp trên bò sữa Đặc thù của bệnh là tuyến vú bị viêm, sữa
bị biến đổi về lý tính và hóa tính, sản lượng và chất lượng sữa giảm
Thùy vú tổn thương nếu viêm nặng, bầu vú teo và mất khả năng tiết sữa Bò sữa
bị viêm vú lâm sàng thì tỷ lệ sữa giảm từ 10 – 30%, nếu viêm vú ở thể tiềm ẩn thì tỉ lệtrung bình giảm 19%
Nguyên nhân: có ba nhóm nguyên nhân chính được trình bày như sau:
- Do tác nhân gây nhiễm: thường do các vi sinh vật chẳng hạn như: Streptococus,
Staphylococus…
- Do bản thân con vật, do bầu vú quá to và dài dễ gây sây sát, lỗ thông đầu vú to
dễ rò rỉ, bò có bầu vú xệ, bò cao sản, đẻ nhiều lứa là những điều kiện bộc phát bệnh
- Do môi trường, do chuồng trại vệ sinh kém, không thông thoáng và thiếu ánh sáng, quản lý và phương pháp vắt sữa không đúng kỹ thuật, dinh dưỡng không phù hợp
Dựa vào triệu chứng lâm sàng và biến đổi bệnh lý người ta chia bệnh viêm vú thành 4 thể
• Viêm vú thể cata
Nguyên nhân: do liên cầu trùng, tụ cầu trùng hoặc E.coli Vi trùng thông qua đầu vú
xâm nhập vào bể sữa rồi tỏa ra các tuyến vú gây viêm
Triệu chứng: đặc trưng của thể này là tế bào thượng bì biến dạng và tróc ra Sữa
bị loãng lợn cợn hoặc sữa vón làm tắt đầu vú Sản lượng sữa giảm, đầu vú và bầu vú
Trang 23- Dùng penicilline thụt vào vú có kết quả tốt Trong khi điều trị nên giảm thức
ăn tinh, thức ăn có nhiều nước và hạn chế nước uống
• Viêm vú thể có mủ
Viêm vú thể có mủ gồm viêm cata có mủ và viêm vú có mủ
+ Viêm vú cata có mủ:
Nguyên nhân: do kế phát viêm cata, do liên cầu trùng Ngoài ra còn có tụ cầu
trùng, E.coli và các vi trùng gây mủ khác Bệnh có tính lây lan khi nuôi nhốt chung bò
bị viêm với bò khoẻ
Triệu chứng: có 2 thể cấp tính và mãn tính
- Cấp tính: thùy vú bệnh sưng, nóng, đỏ, đau, sản lượng sữa giảm và ngưng hẳn Con vật có triệu chứng toàn thân, sốt 40 - 41oC, mạch nhanh, ủ rủ, kém ăn Sữa loãng màu, hồng nhạt do sung huyết và xuất huyết tuyến sữa Trong sữa có những lợn cợn của cục sữa vón có dịch mủ
- Mãn tính: thú bệnh qua các thời kỳ cấp tính sau 3 - 4 ngày bệnh trở thành mãn tính Các triệu chứng trên giảm dần, bầu vú giảm hiện tượng sưng, nóng, đỏ, đau, nhưng lượng sữa vẫn ít, loãng nhớt, màu vàng nhạt hoặc vàng
Điều trị: phải điều trị kịp thời và tăng tần số vắt sữa Ban ngày 2 giờ vắt 1 lần, ban đêm 6 giờ vắt 1 lần Dùng rivanon 1 - 2% bơm vào bầu vú mỗi ngày 2 - 3 lần, mỗi
lần 200 – 250 ml sau mỗi lần bơm thuốc phải xoa nhẹ bầu vú, trước khi bơm thuốc phải vắt kiệt sữa, sau mỗi lần bơm thuốc thứ nhất phải xoa bóp cho thuốc ra hết rồi bơm thuốc mới Có thể dùng penicilline hoặc dùng hỗn dịch peniciline và sulfathiazole
Trang 24natri 5%, bơm vào bầu vú Trong khi điều trị không nên chườm nóng bầu vú vì chườm nóng sẽ kích thích máu lưu thông, đưa vi trùng bầu vú toả ra toàn thân
+ Viêm vú có mủ:
Nguyên nhân: thường do viêm cata có mủ gây ra, khi đường tiết sữa bị tắt thì hình thành các bọc mủ
Triệu chứng: khó phát hiện khi bọc mủ còn nhỏ và nằm sâu trong bầu vú Nếu bọc
mủ ở cạn thì hiện tượng viêm rất rõ, nếu có nhiều bọc mủ thì trên bề mặt của thùy
vú viêm có nhiều chỗ phồng lên, lượng sữa giảm, chất lượng sữa biến đổi Nếu bọc mủ
to thì con vật có triệu chứng toàn thân, hạch lâm ba của thùy vú sưng to, con vật đi lại khó khăn
Điều trị: đối với bọc mủ ở ngoài da đã chín thì tiến hành mổ, khi mổ nên chọn chổ thuận lợi cho mủ chảy ra và tránh các mạch máu Đối với bọc mủ nằm sâu thì dùng ống bơm hút các chất bên trong, sau đó bơm vào khoảng 500.000 UI penicilline Nếu
mủ đặc thì tiêm 20 ml bicacbonat natri 5% cho mủ tan, sau đó mới rút hết mủ Đối với những ổ mủ nằm sát bể sữa thì dùng dung dịch rivanon 0,1% rửa sạch, sau đó tiêm dung dịch iốt 0,2% hoặc dung dịch sulfamide 5% Trường hợp có nhiều ổ mủ mà điều trị lâu khỏi thì có thể nghĩ đến cắt bầu vú
• Viêm vú thể tương mạc
Nguyên nhân: do liên cầu trùng, tụ cầu trùng, E.coli chui vào các tổ chức liên kết
bầu vú khi bầu vú bị sây sát Bệnh có thể do viêm tử cung hoặc viêm nội mạc tử cung hóa mủ, vi trùng đi vào máu và đi vào sâu trong tuyến vú làm toàn bộ tuyến vú sưng
to, sờ nhẹ không đau, lượng sữa giảm ở thùy bị sưng Sữa sẽ loãng và lợn cợn, con vật
có triệu chứng toàn thân, sốt 39,6 – 400C, ủ rủ, kém ăn
Điều trị: Nếu bầu vú có vết thương thì phải chữa theo phương pháp ngoại khoa Nếu
bộ phận sinh dục bị viêm thì phải chữa ngay Nên tăng cường vắt sữa, giảm thức
ăn tinh và những thức ăn có nhiều nước, đồng thời xoa bóp bầu vú ngày 3 lần, mỗi lần
từ 10 – 15 phút Thời kỳ đầu có thể bôi các kháng sinh (clotetracycline, penicilline), nếu bệnh đã phát ra 2 – 3 ngày thì mỗi ngày chườm nóng 2 – 3 lần Dùng 500.000 UI
Trang 25Nguyên nhân: do viêm cấp tính hoặc viêm cata phát triển lên, nhưng cũng có thể
là một triệu chứng nhiễm trùng toàn thân
Triệu chứng: chỗ bị viêm sưng to rõ rệt, xuất hiện những đốm đỏ, thân nhiệt cao, khi vắt sữa con vật tỏ ra đau đớn, sữa loãng như nước, màu hồng hoặc đỏ ứ máu,
có những mảnh sữa vón lại, con vật ủ rủ kém hoặc bỏ ăn
Điều trị: phải để con vật ở nơi yên tĩnh, không chăn thả để tránh chảy máu nhiều Hạn chế uống nước, không cho ăn thức ăn nhiều nước, chỉ cho ăn thức ăn khô
Có thể cho uống nước chứa các thuốc tẩy nhẹ như sulfat magie 400 – 500 g Nếu trong bầu
vú và bể sữa nhiều cục máu thì thụt 200 ml dung dịch nước muối 1% để làm tan
Để ngăn các cục máu ứ đọng lại, nên tăng tần số lần vắt sữa, khi vắt sữa không được
xoa bóp bầu vú, có thể thụt dung dịch novocain 0,5 % vào bầu vú, thùy vú trước bơm
60 - 80 ml, thùy vú sau bơm 100 ml, trước khi bơm thuốc phải vắt kiệt sữa
2.2.2.6 Bại liệt sau khi sinh
Sau thời kỳ sinh đẻ là thời kỳ hậu sản, thú cái bại liệt thường có triệu chứng không đứng dậy được hay đi đứng khó khăn, do 2 chân sau yếu, bệnh thường xảy ra trên bò sữa cao sản
Nguyên nhân : thường do các cơn rặn đẻ kéo dài, sự co thắt của tử cung quá mãnh liệt, do sự can thiệp không cần thiết của con người khi kéo thai hay do sử dụng oxytoxin không đúng thời điểm Bệnh thường xảy ra trên bò đẻ nhiều lứa, gia súc cái
bị bại liệt từ lúc có mang kéo dài đến khi sanh Do thai quá lớn, dây chằng sinh dục yếu, các cơ mông, cơ âm đạo nhão, do thiếu vận động trong thời gian mang thai, thiếu vitamin D, thiếu khoáng calcium và phospho
Trang 26do thần kinh thì biểu hiện của thú rất kém, có thể dùng kim châm vào đùi để phân biệt Bại liệt do thiếu calcium khi làm tăng lượng calcium trong huyết thanh tạm thời, thân nhiệt sẽ tăng trở lại Trường hợp bệnh nhẹ thú có thể đứng dậy được Bệnh nặng thú có thể bị hôn mê, giảm phân tiết sữa hay mất sữa
Điều trị:
- Nếu do thần kinh xương chậu, cần sử dụng một số thuốc có tính chất kích thích hệ thần kinh, đặt thú nằm trên rơm khô dày, xoay trở bò thường xuyên để phòng ngừa tụ máu phần dưới của cơ thể hay cho thú nằm võng cột trên nóc chuồng
- Khi thú bị liệt do thiếu calcium và phospho nên cung cấp các chất có calcium như các loại dược phẩm gluconate calcium, calcium chloride, dùng cafein trợ tim, truyền glocose 5%
2.2.2.7 Bệnh vô sinh (hội chứng nân sổi)
Bệnh xảy ra phổ biến ở bò sữa cái bò đến tuổi thành thục về tính hoặc đã qua chu kỳ động dục vẫn không thấy động dục, không thể phối giống được Một số bò cái khác vẫn động dục và phối giống đúng chu kỳ nhưng không thấy thụ thai Hiện tượng này được xem như hội chứng “nân sổi” ở bò cái
Nguyên nhân:
Bộ máy sinh dục phát triển không bình thường
- Chai và thoái hóa buồng trứng: Do viêm buồng trứng mà không phát hiện và điều trị kịp thời Cũng có thể do nuôi dưỡng bò cái không được tốt và chăm sóc kém