Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ốc đĩa.. 34 Hình 3.11: Hệ số thành thục sinh dục của ốc đĩa đực và ốc đĩa cái qua các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục...
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
HUỲNH THỊ KIỀU MY
TÌM HIỂU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
SINH SẢN CỦA ỐC ĐĨA (Nerita balteata Reeve, 1855)
TẠI QUẢNG NINH
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Nha Trang, tháng 06 năm 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
HUỲNH THỊ KIỀU MY
TÌM HIỂU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
SINH SẢN CỦA ỐC ĐĨA ( Nerita balteata Reeve, 1855 )
TẠI QUẢNG NINH
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
GVHD: TS NGÔ ANH TUẤN
Nha Trang, tháng 06 năm 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình học đại học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quí thầy cô Trường Đại Học Nha Trang
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quí thầy cô Trường Đại Học Nha
Trang, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập
tại trường
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy Ngô Anh Tuấn, thầy Vũ Trọng Đại và
cô Phạm Thị Hạnh, là những thầy cô đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình, giúp
tôi hoàn thành đề tài này
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Nuôi Trồng Thủy Sản, Trường Đại
Học Nha Trang, phòng thực tập – Khoa Nuôi Trồng Thủy Sản, trung tâm giống và
dịch bệnh của thầy Nguyễn Hữu Dũng đã tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất
và trang thiết bị cần thiết cho quá trình thực hiện đề tài vì vậy đã giúp tôi hoàn
thành đề tài này theo đúng thời gian quy định Đồng thời, tôi xin được gửi lời cảm
ơn tới thư viện Trường Đại Học Nha Trang – nơi đã tạo điều kiện trong việc tìm
kiếm thông tin tư liệu, những tài liệu quý báu để làm nền tảng cho đề tài này
Qua đây tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình của tôi đã
tạo kiện về tài chính cũng như tinh thần trong suốt quá trình thực tập, cùng các bạn
gần xa, tập thể lớp 50NT-2 đã luôn động viên giúp đỡ tôi
Đây là đối tượng mới được bắt đầu nghiên cứu ở nước ta, tài liệu tham khảo
chủ yếu là dịch từ các tài liệu nước ngoài, thời gian thực hiện đề tài ngắn và kiến
thức bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận
được những nhận xét, đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn để bài luận văn
được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, tháng 6 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Huỳnh Thị Kiều My
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC HÌNH v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Tình hình nghiên cứu động vật chân bụng trên thế giới và Việt Nam 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 5
1.2 Tình hình nghiên cứu ốc đĩa Nerita balteata Reeve, 1855 trên thế giới và Việt Nam 6
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6
1.2.1.1 Nghiên cứu hệ thống phân loại 7
1.2.1.2 Đặc điểm hình thái 7
1.2.1.3 Đặc điểm phân bố 8
1.2.1.4 Đặc điểm sinh sản 9
1.2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 10
1.2.1.6 Đặc điểm dinh dưỡng 10
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ốc đĩa trong nước 10
1.3 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Ninh 10
1.3.1 Vị trí địa lý 10
1.3.2 Địa hình 11
1.3.3 Khí hậu 12
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 13
2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14
2.3 Phương pháp thu mẫu và phân tích mẫu 15
Trang 52.3.1 Phương pháp thu mẫu 15
2.3.2 Phương pháp phân tích 15
2.3.2.1 Phương pháp xác định các chỉ tiêu hình thái bên ngoài 15
2.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ốc đĩa 16
2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 19
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 19
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 19
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 20
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 Giới tính và tỷ lệ đực cái 21
3.1.1 Giới tính 21
3.1.2 Tỷ lệ đực cái 22
3.2 Mối tương quan giữa các chỉ tiêu kích thước và khối lượng ốc đĩa 26
3.2.1 Các chỉ tiêu về kích thước của ốc đĩa 26
3.2.2 Các chỉ tiêu khối lượng của ốc đĩa 28
3.2.3 Các mối tương quan giữa kích thước và khối lượng của ốc đĩa 29
3.3 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục 31
3.4 Hệ số thành thục sinh dục 34
3.4.1 Hệ số thành thục sinh dục của ốc đĩa đực 34
3.4.2 Hệ số thành thục sinh dục của ốc đĩa cái 35
3.5 Sức sinh sản 39
3.6 Mùa vụ sinh sản 39
3.7 Kích thước thành thục sinh dục lần đầu 43
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 46
KẾT LUẬN 46
ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Tài liệu tham khảo tiếng Việt 49
Trang 6Tài liệu tham khảo tiếng Anh 50 PHỤ LỤC………53
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 : Hình dạng, cấu tạo ngoài của ốc đĩa Nerita balteata Reeve, 1855 8
Hình 1.2: Bản đồ địa lý tỉnh Quảng Ninh 12
Hình 2.1: Ốc đĩa Nerita balteata Reeve, 1855 13
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14
Hình 3.1: Tuyến sinh dục của ốc đĩa đực và cái 21
Hình 3.2: Tỷ lệ đực : cái của ốc đĩa theo thời gian nghiên cứu 23
Hình 3.3: Tỷ lệ đực : cái theo phân nhóm kích thước 25
Hình 3.4: Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân của ốc đĩa 30
Hình 3.5: Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân mềm của ốc đĩa 31
Hình 3.6: Tuyến sinh dục ốc đĩa giai đoạn I 32
Hình 3.7: Tuyến sinh dục ốc đĩa giai đoạn II 32
Hình 3.8: Tuyến sinh dục ốc đĩa giai đoạn III 33
Hình 3.9: Tuyến sinh dục ốc đĩa giai đoạn IV 33
Hình 3.10: Tuyến sinh dục ốc đĩa giai đoạnV 34
Hình 3.11: Hệ số thành thục sinh dục của ốc đĩa đực và ốc đĩa cái qua các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục 37
Hình 3.12: Trứng ốc đĩa soi tươi có các giai đoạn khác nhau trên một cơ thể 39
Hình 3.13: Tỷ lệ các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục ốc đĩa 41
Hình 3.14: Kích thước L (mm) thành thục lần đầu của ốc đĩa 44
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Biến động tỷ lệ đực : cái của ốc đĩa theo thời gian 22
Bảng 3.2: Biến động tỷ lệ đực : cái theo nhóm kích thước……… 25
Bảng 3.3: Biến động tỷ lệ đực : cái của ốc đĩa theo nhóm kích thước 24
Bảng 3.4: Các chỉ tiêu về kích thước của ốc đĩa trong thời gian nghiên cứu 26
Bảng 3.5: Các chỉ tiêu về kích thước của ốc đĩa theo nhóm kích thước 27
Bảng 3.6: Các chỉ tiêu về khối lượng của ốc đĩa 28
Bảng 3.7: Chỉ tiêu khối lượng theo nhóm kích thước 29
Bảng 3.8: Hệ số thành thục sinh dục trung bình của ốc đĩa đực 35
Bảng 3.9: Hệ số thành thục sinh dục trung bình của ốc đĩa cái 36
Bảng 3.10: Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối của ốc đĩa 39
Bảng 3.11: Tỷ lệ các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của ốc đĩa 40
Bảng 3.12: Tỷ lệ ốc thành thục sinh dục theo nhóm kích thước……… 44
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT: Số thứ tự
W: Khối lượng toàn thân
Wtm: Khối lượng thân mềm
Wtsd: Khối lượng tuyến sinh dục
Fa: Sức sinh sản tuyệt đối
Frg: Sức sinh sản tương đối
: Khối lượng toàn thân trung bình
: Khối lượng thân mềm trung bình
Trang 10MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của những ngành kinh tế khác, kinh tế thủy sản đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta, góp phần tích cực trong việc đảm bảo an ninh lương thực, tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư ven biển Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có bờ biển thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản Trong đó có tỉnh Quảng Ninh - một tỉnh nằm ven biển vịnh Bắc Bộ có tổng diện tích khá rộng với khoảng 8.239 km2, đường bờ biển chạy dài gần 200 hải lí với tổng số đảo chiếm 2/3 số đảo
cả nước (2.000 đảo có diện tích 619,913 km2 ) Tính đến năm 2007, tổng diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của tỉnh là 19,041 ha [3] Ở vịnh Bắc Bộ có nhiều nhánh sông chảy ra biển hình thành các bãi triều màu mỡ, tạo nên sự đa dạng và phong phú các quần thể sinh vật Tuy nhiên trong vài năm gần đây, Việt Nam nói chung và vịnh Bắc Bộ nói riêng, có nguồn lợi sinh vật biển tự nhiên, đa dạng sinh học đã và đang suy giảm nghiêm trọng mà nguyên nhân chính là do sự biến đổi khí hậu và tác động của con người đã làm cho môi trường sống có chiều hướng xấu dần dẫn đến tình trạng ô nhiễm ngày càng cao
Nghề nuôi động vật thân mềm ở nước ta nói chung đang phát triển mạnh mẽ
và đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản, điển hình là ốc hương, bào ngư, trai ngọc… Một vai trò đặc biệt nữa của các loài động vật thân mềm là góp phần cải thiện môi trường nước, cân bằng hệ sinh thái Tuy nhiên, các nghiên cứu về sinh học sinh sản, sản xuất giống nhân tạo để đáp ứng việc cung cấp nguồn giống ổn định và có chất lượng cao của các đối tượng thuộc lớp chân bụng chưa thật sự phát triển Ở nước ta, trong những năm qua nghiên cứu về các loài động vật chân bụng chỉ mới phát triển và tập trung vào một số đối tượng như: ốc hương, bào ngư, ốc nhảy
Ốc đĩa (Nerita balteata Reeve, 1855) là một đối tượng rất mới, rất được người
dân ưa chuộng Đây là loài động vật chân bụng có giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu cao do thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng Trên thế giới mới chỉ có các công trình nghiên cứu về xác định hệ thống phân loại và một số đặc điểm sinh học của ốc đĩa
Trang 11Đến nay, trong nước vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về đối tượng này Ở nước ta, ốc đĩa phân bố chủ yếu ở các vùng rừng cây ngập mặn tại Quảng Ninh và một số tỉnh phía Nam Loài ốc này có giá trị kinh tế rất cao, ở Quảng Ninh giá bán tại các nhà hàng hiện nay khoảng 400 - 500 ngàn đồng/kg Nhu cầu tiêu thụ nội địa loài ốc này trong những năm gần đây rất lớn Chính vì vậy, ngư dân đã chạy theo lợi nhuận hiện tại khai thác ốc đĩa quá mức dẫn đến nguồn lợi tự nhiên đang đứng trước nguy cơ bị suy giảm một cách nghiêm trọng, hiện nay ốc đĩa chỉ có ở những hòn đảo xa bờ thuộc Vân Đồn, Cẩm Phả, Cô Tô hay các bãi rừng ngập mặn như Đồng Rui, Tiên Yên, bãi Sú Hà Phong, Hạ Long…Trước tình hình này, một số ngư dân đã tiến hành thả nuôi ốc đĩa thương phẩm xung quanh các hòn đảo xa bờ nhưng còn mang nặng tính tự phát và không ổn định bởi phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn giống tự nhiên
Trước hiện trạng thực tế đó, nguồn lợi ốc đĩa tự nhiên đang đứng trước nguy
cơ bị đe dọa và suy giảm nghiêm trọng nếu như không có các biện pháp kịp thời để bảo vệ, quản lý khai thác và sử dụng nguồn lợi một cách hợp lý Được sự đồng ý của Khoa Nuôi trồng Thủy sản Trường Đại học Nha Trang, tôi đã thực hiện đề tài
cho đồ án tốt nghiệp: “Tìm hiểu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ốc đĩa
(Nerita balteata Reeve, 1855) tại Quảng Ninh”
Mục tiêu nghiên cứu:
+ Nhằm thu các dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học sinh sản của ốc đĩa, làm
cơ sở cho nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo, nuôi thương phẩm Đồng thời góp
phần phát triển và bảo tồn nguồn lợi ốc đĩa ngoài tự nhiên
+ Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, biết cách thu thập và xử lý số liệu để viết một báo cáo
Ý nghĩa đề tài:
+ Ý nghĩa khoa học: Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về đặc điểm sinh học sinh sản của ốc đĩa Nghiên cứu này góp phần bổ sung và làm phong phú hơn những hiểu biết về đặc điểm sinh học sinh sản của một loài hải sản có giá trị kinh tế ở Việt
Trang 12Nam, từ đó làm cơ sở khoa học cho việc đưa đối tượng mới này vào nuôi trồng nhằm
đa dạng hóa các mặt hàng hải sản phục vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu
+ Ý nghĩa thực tiễn: Tạo tiền đề cho các nghiên cứu tìm ra biện pháp kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo ốc đĩa phục vụ cho công tác nuôi, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi ốc đĩa đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Ứng dụng đưa vào mô hình nuôi nhằm tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo cho người lao động ven biển
Nội dung nghiên cứu của đề tài:
+ Phân biệt đực cái và xác định tỷ lệ đực: cái của ốc đĩa
+ Theo dõi sự phát triển tuyến sinh dục và tỷ lệ thành thục của ốc đĩa
+ Xác định sức sinh sản tuyệt đối, tương đối và mùa vụ sinh sản của ốc đĩa + Xác định kích thước thành thục lần đầu của ốc đĩa
Trang 13
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hình nghiên cứu động vật chân bụng trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Lớp chân bụng là lớp lớn nhất trong ngành động vật thân mềm, bao gồm các loài ốc biển và bào ngư Đa số các loài ốc biển có giá trị kinh tế rất cao Theo Thái Trần Bái (2001) động vật thân mềm nói chung có số lượng loài rất lớn khoảng 130.000 loài có khu vực phân bố rộng và môi trường sống khác nhau nên có tính
đa dạng rất cao [1] Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu thành công
về các loài thuộc lớp chân bụng này Một số loài tiêu biểu để làm nền tảng cho các
nghiên cứu về ốc đĩa như: ốc hương Babylonia areolata, ốc nhảy Strombus
canarium
Nateewathana (1995) đã có công trình nghiên cứu về sự phân bố của ốc hương
B areolata trên thế giới Kết quả cho thấy loài này có khu vực phân bố chủ yếu ở
vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương Ngoài ra còn phân bố ở một số vùng biển Sri Lanka, Trung Quốc, Hồng Kông, Philippines, Đài Loan, Nhật Bản và Việt Nam Chúng sống trong những vùng nước sâu từ 5 – 20 m, nền đáy là nền cát hoặc bùn cát pha lẫn vỏ động vật thân mềm [22] Từ những kết quả đó cho biết được khu vực phân bố của ốc hương Raghunathan và ctv (1994) đã có nghiên cứu về tốc độ sinh
trưởng của ốc hương, sau 10 tháng nghiên cứu trên loài ốc hương B spirata đã cho
thấy rằng sự sinh trưởng của loài này thấp hơn so với 1 số loài chân bụng khác [24] Đặc điểm sinh học, sinh sản và sản xuất giống nhân tạo ốc hương cũng đã tiến hành nghiên cứu trên nhiều nước Ở Ấn Độ, Raghunathan C và K Ayyakkannu
(1995) tiến hành nghiên cứu loài ốc hương B spirata trong phòng thí nghiệm Các
tác giả đã mô tả được hoạt động đẻ trứng, hình thái và quá trình phát triển phôi, ấu trùng Kết quả cho thấy mỗi con ốc cái có chiều cao trung bình 5 -6 cm đẻ được 24 –
35 bọc trứng, mỗi bọc chứa khoảng 900 trứng [23] Và theo như nghiên cứu của Shannmugaraj T, K.Ayykkannu, 1997 cũng đã xác định được mùa vụ sinh sản của loài này kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8 nhưng chủ yếu vào tháng 4 đến tháng 8 Ở
Trang 14Thái Lan, năm 1994 đã nghiên cứu đặc điểm sinh sản và kỹ thuật nuôi ấu trùng loài
B areolata Kết quả về hoạt động đẻ trứng, phát triển phôi, hình thái ấu trùng tương
tự như loài B.spirata Cá thể thành thục có khả năng sinh sản quanh năm từ tháng 1
đến tháng 10 nhưng rộ nhất vào tháng 3 đến tháng 7 mà đỉnh cao là tháng 4 Trung bình mỗi con đẻ 25 bọc trứng/ lần đẻ, mỗi bọc chứa khoảng 400 trứng
Có nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng ốc nhảy Strombus canarium
Năm 2005, Syamsul đã nghiên cứu sự kích thích sinh sản bằng phương pháp sốc nhiệt, thí nghiệm lấy những cá thể ốc mẹ thành thục ngoài tự nhiên cho vào những cái giỏ nhựa, dưới đáy có phủ một lớp lưới và được treo trong bể xi măng có sục khí Qua quá trình nghiên cứu, kết quả cho thấy trứng ốc đẻ ra dính vào lưới, cuộn lại thành từng búi Mỗi cá thể đẻ được 10 – 20 búi với số lượng trứng khoảng 5.000 – 7.000 trứng [25] Betutu Segagau (2005) đã nghiên cứu một trong các yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến tỉ lệ nở của ốc nhảy S.canarium, thí nghiệm được tiến hành
trên các mức độ mặn khác nhau Tuy nhiên, sau quá trình nghiên cứu chỉ có mức 30
‰ cho tỷ lệ sống cao nhất khoảng 96,9% [18] Trước đó năm 1998, Patchee et al đã
công bố kết quả ương nuôi thành công ấu trùng của loài này từ giai đoạn ấu trùng veliger đến giai đoạn tiền con giống Với mật độ 50 con/l, nuôi trong thùng nhựa 40l và đạt tỷ lệ sống cao nhất 97,7% Khoảng thích hợp cho ương nuôi ấu trùng là
50 – 200 con/l Ở Indonesia, Zaidi (2005) cho biết mùa vụ sinh sản của ốc nhảy tập
trung vào khoảng cuối tháng 11 đến đầu tháng 3 năm sau [30]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu về các đối tượng trong lớp chân bụng thuộc ngành động vật thân mềm vẫn còn là những nghiên cứu mới mẻ, có rất ít công trình nghiên cứu vì vậy còn rất nhiều hạn chế Một số đối tượng đã được nghiên cứu
như ốc hương, ốc nhảy, bào ngư Nghiên cứu được bắt đầu từ những khảo sát về
thành phần loài sinh vật đáy ở một số đầm vịnh và vùng ven biển Việt Nam (Nguyễn Chính, 1996), trong đó có động vật thân mềm và đặc biệt là ốc hương Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Chính (1996) cho biết ốc hương là những
Trang 15loài có vỏ mỏng nhưng chắc chắn, dạng bậc thang với tháp vỏ bằng 1/2 chiều dài
vỏ Trên vỏ có các phiến vân màu tím nâu hình chữ nhật hay hình thoi [2]
Nguyễn Thị Xuân Thu và ctv (2000) tiến hành nghiên cứu thành công đối
tượng ốc hương B.areolata tại Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 3 Đây được
coi là một nghiên cứu toàn diện nhất về ốc hương ở Việt Nam – nghiên cứu về đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm ốc hương Đây cũng là thành công đầu tiên trên thế giới về nuôi ốc hương xuất khẩu từ nguồn giống nhân tạo [14] Ốc hương có khả năng thành thục quanh năm, trong đó tập trung vào tháng 3 – 10 với tỷ lệ thành thục đạt 60 – 90% Trong điều kiện nhân tạo mỗi con cái đẻ khoảng 18 – 75 bọc trứng/lần đẻ (trung bình 38 bọc) và mỗi bọc chứa khoảng 168 – 1849 trứng (trung bình khoảng 743 trứng) So sánh kết quả với
ốc thành thục ngoài tự nhiên thì tác giả cho biết ốc cái thành thục trong điều kiện nhân tạo thấp hơn ốc cái thành thục ngoài tự nhiên Ngoài tự nhiên đạt 56.424 trứng/lần đẻ, trong khi đó nuôi nhân tạo chỉ đạt 38.677 trứng/lần đẻ [15]
Dương Văn Hiệp và ctv (2006) đã nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo ốc nhảy
S canarium Tuy nhiên, do đối tượng này được tiến hành thí nghiệm khi các đặc
điểm sinh học chưa được nghiên cứu, cơ sở vật chất hạn chế Vì vậy các thí nghiệm chưa đưa ra được kết quả, cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về đối tượng này [4]
1.2 Tình hình nghiên cứu ốc đĩa Nerita balteata Reeve, 1855 trên thế giới và
Việt Nam
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Động vật thân mềm được xem là đối tượng thích hợp cho phát triển nuôi biển– một trong những xu thế của nuôi trồng thủy sản thế kỷ XXI Trong sản lượng nuôi trồng thủy sản hàng năm trên thế giới thì động vật thân mềm chiếm 30% về sản lượng và 19% về giá trị [17] Vì vậy cần có nhiều công trình nghiên cứu nhằm góp phần phát triển nghề nuôi động vật thân mềm ngày càng đi lên
Nerita balteata Reeve, 1855 là một đối tượng mới Trên thế giới cũng đã có có
một số công trình nghiên cứu được công bố, nhưng mới chỉ có các công trình
Trang 16nghiên cứu về xác định hệ thống phân loại và một số đặc điểm sinh học của loài này, tuy nhiên những nghiên cứu này còn rất hạn chế
Frey và Vermeij (2008) đã nghiên cứu về vị trí và đặc điểm nền đáy nơi ốc đĩa phân bố Nhưng chưa xác định được điều kiện môi trường sống (nhiệt độ, độ mặn, pH….) và các loài sinh vật đáy điển hình trong cùng khu vực phân bố với ốc đĩa [19] Công trình nghiên cứu của Fred (1993) đã có những nghiên cứu và kết quả về cấu tạo ngoài của ốc đĩa nhưng chưa mô tả được vị trí và hình thái cấu tạo các hệ cơ quan của ốc đĩa [29]
Một số nghiên cứu về đặc điểm sinh sản của Tan và Chou (2000), Tan và Lee (2009) đã mô tả được một số đặc điểm sinh học sinh sản cơ bản của ốc đĩa nhưng chưa phân biệt được giới tính, cơ cấu giới tính, cấu tạo cơ quan sinh dục đực, cái, cũng như sức sinh sản, các giai đoạn phát triển phôi và ấu trùng… của ốc đĩa [26] Như vậy, đến nay trên thế giới chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào về sản xuất giống nhân tạo ốc đĩa
1.2.1.1 Nghiên cứu hệ thống phân loại
Trên thế giới mới chỉ có các công trình nghiên cứu về xác định hệ thống phân loại và một số đặc điểm sinh học của ốc đĩa Theo Frey và Vermeij (2008), ốc đĩa
Nerita balteata Reeve, 1855 có hệ thống phân loại như sau:
Trang 17tạo bằng đá vôi, là bộ phận bảo vệ cho khối thân mềm bên trong Mặt trong vỏ có màu vàng nhạt, có 22 – 28 đường xoắn ốc, các đường xoắn ốc trên vỏ thưa và ngắn hơn so với các đường xoắn ốc trên miệng vỏ Là loài ốc có đỉnh tù, mép trong miệng vỏ có 3 -5 răng cưa, mép ngoài có 18 – 19 răng cưa [29]
Đầu: Lớp Gastropoda nói chung và ốc đĩa N balteata Reeve, 1855 nói riêng
có bộ phận đầu rất phát triển nằm ở phía trước cơ thể, có dạng hình ống tròn Đầu
có một đôi xúc tu, vị trí mắt nằm ở gốc của đôi xúc tu
Hình 1.1 : Hình dạng, cấu tạo ngoài của ốc đĩa Nerita balteata Reeve, 1855
Chân: Nằm ở vị trí mặt bụng cơ thể, đế chân diện rộng thích nghi với đời sống bò lê trên nền đáy Giữa chân có nếp nhăn dọc chia chân làm hai phần lúc
ốc di chuyển thì hai phần này thay đổi động tác cho nhau giúp cho ốc di chuyển
dễ dàng [5]
Màng áo: Màng áo bao bọc bộ phận thân mềm Phần đầu, chân, các lỗ bài tiết, sinh dục và hậu môn không được bao bọc bởi màng áo mà trực tiếp đổ ra ngoài [5] Nắp vỏ: Được tạo thành do đoạn cuối của chân phân tiết ra, nắp vỏ là cơ quan bảo vệ phần thân mềm của ốc lúc cơ thể ốc co rút vào trong vỏ Nắp vỏ của ốc đĩa được cấu tạo bằng chất sừng, có màu vàng nâu [5]
1.2.1.3 Đặc điểm phân bố
Trên thế giới ốc đĩa (Nerita balteata Reeve, 1855) được tìm thấy chủ yếu ở
các nước vùng cận nhiệt đới như: Trung Quốc, Australia, Hồng Kông, Malaixia,
Trang 18Mauritania, Ôman, Singapore, Mỹ [32] Riêng ở Việt Nam loài ốc này phân bố chủ yếu trong các vùng rừng cây ngập mặn tại Quảng Ninh và một số tỉnh phía Nam
Theo nghiên cứu của Frey và Vermeij (2008), giống Nerita bao gồm khoảng
70 loài ốc có phân bố chủ yếu tại vùng triều dọc theo các bờ biển vùng nhiệt đới [19] Năm 2007, Hurtado và cộng sự đã nghiên cứu về quy luật phân bố của hai loài
N scabricosta và N.funiculata thuộc giống Nerita Kết quả cho thấy đây là hai loài
ốc có vùng phân bố chính tại các bãi đá vùng triều ở vùng nhiệt đới phía đông Thái
Bình Dương, trong đó loài N.scabricosta xuất hiện tới vùng phía nam của Ecuado còn loài N.funiculata có phân bố mở rộng tới Pêru Ở phía Bắc hai loài này phân bố
từ vịnh California tới phía ngoài của bán đảo Baja thuộc Thái Bình Dương [20] Sau 10 năm nghiên cứu về các loài động vật chân bụng phân bố tại Singapore, Tan và Clements (2008) đã công bố tại quốc gia này có 19 loài ốc thuộc họ ốc đĩa
Neritidae, trong đó có 11 loài phân bố đặc trưng trên các loại cây tại vùng rừng
ngập mặn và các bãi đá, bờ kênh vùng nước lợ [27]
Riêng loài ốc đĩa N balteata được xác định phân bố nhiều ở xung quanh các
gốc cây trong vùng rừng ngập mặn tại các vùng triều cửa sông, đầm, phá Đặc biệt hơn, chúng phân bố với mật độ cao tại các bờ kè, ghềnh đá trong các kênh mương,
bờ đê của các vùng biển nhiệt đới
1.2.1.4 Đặc điểm sinh sản
Theo nghiên cứu của Tan và Chou (2000) cho biết tất cả các loài trong họ ốc đĩa đều là những loài thụ tinh trong, trứng trước khi đẻ được đi qua một hệ thống phức tạp có tác dụng đóng gói tạo thành các bọc, nhờ đó trứng đẻ ra được nằm trong bọc trứng bám trên vật bám Tuy nhiên, đặc điểm sinh sản của các loài ốc khác nhau là khác nhau, chúng phụ thuộc vào đặc điểm của cơ quan sinh dục như:
cơ quan dữ trữ tinh trùng của con cái và cấu tạo cơ quan sinh sản của con đực [26]
Trong số 6 loài ốc được nghiên cứu tại Singapore, bọc trứng của ốc đĩa N
balteata có kích thước khá lớn với đường kính lên tới 4mm và chiều cao là 500µm
Bọc trứng được đẻ dính vào các hốc trên vỏ các loại cây rừng nhập mặn, vì vậy chúng nằm ngang bằng với bề mặt của nền đáy Bề mặt ngoài của bọc trứng được
Trang 19bao bọc bởi các tinh thể hình cầu và chia thành 2 nhóm có kích thước riêng biệt Đối với nhóm có kích thước đường kính nhỏ (10 - 20μm) các tinh thể có dạng hình cầu lõm, bề mặt mịn Còn đối với nhóm có kích thước lớn (30 - 70μm), các tinh thể
có dạng hình cầu dẹt, sáu cạnh và rắn Trong mỗi bọc trứng của ốc đĩa N balteata
có 154 phôi, chiếm số lượng lớn nhất trong số các loài ốc thuộc giống Nerita phân
bố tại Singapore (Tan và Lee, 2009) [28] Trong giống Nerita số lượng phôi trong
mỗi bọc trứng khác nhau tùy theo loài Các phôi này bám vào các khoang màng mỏng bên trong của bọc trứng và dễ dàng rời ra khi nó chuẩn bị thoát ra khỏi bọc trứng dưới tác động của áp suất bên trong bọc trứng Áp suất này gây ra do sự làm phồng hai lớp màng mỏng trong suốt ở mặt trong của vỏ và khung bọc trứng
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ốc đĩa trong nước
Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào về đặc điểm sinh học
và kỹ thuật sản xuất giống Cần phải nghiên cứu đầy đủ các đặc điểm sinh học, đặc biệt là đặc điểm sinh học sinh sản và dinh dưỡng để từ đó có cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về khả năng sản xuất giống nhân tạo ốc đĩa
1.3 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Ninh
1.3.1 Vị trí địa lý
Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Phía Tây giáp tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang, phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ, Phía Tây Nam giáp
Trang 20tỉnh Hải Dương và Thành Phố Hải Phòng, Phía bắc giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) với cửa khẩu Móng Cái và Trinh Tường Đây là một trọng điểm kinh tế vùng phía Bắc hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [31] Quảng Ninh nằm trong dải hành lang biển lớn của Bắc Bộ, trên đó có mạng lưới đường bộ, đường sắt và cảng biển lớn đang được mở rộng và phát triển
Toàn tỉnh có tổng diện tích 8.239,243 km2 Biển Quảng Ninh bao gồm hơn 2.000 hòn đảo, số lượng đảo rất lớn chiếm 2/3 số đảo cả nước (2.078/2.779) trong
đó có 1.030 đảo có tên như đảo Cô Tô, đảo Trần… Tổng diện tích các đảo là 619,913 km2 Duyên hải Quảng Ninh chạy dài gần 200 hải lí từ lãnh hải Trung Quốc ở phía Đông đến địa giới thành phố Hải Phòng
1.3.2 Địa hình
Là tỉnh nằm sát biển, địa hình chủ yếu là địa hình đồi núi, diện tích đồi núi chiếm 80% tổng diện tích của tỉnh, tập trung chủ yếu ở phía Bắc Tuy nhiên một phần năm diện tích ở phía Đông Nam tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, cùng với kinh tế đặc biệt phát triển nên Chính phủ xếp Quảng Ninh vào nhóm các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Quảng Ninh có rất nhiều đảo ven biển, vùng biển và hải đảo của tỉnh là một vùng địa hình độc đáo, đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp Trên các vùng ven biển và hải đảo có những bãi bồi phù sa và những bãi cát trắng tấp lên từ sóng biển
Địa hình đáy biển Quảng Ninh không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20m,
có nhiều lạch sâu làm nơi cư trú của các rạn san hô Các dòng chảy nối với các lạch sâu đáy biển tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng Trên dải bờ biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thủy rất lớn
Trang 211.3.3 Khí hậu
Khí hậu tỉnh Quảng Ninh nằm trong vùng nhiệt đới – gió mùa, tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam Một năm có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông Trong đó mùa Hạ và mùa Đông có nét đặc biệt hơn cả Mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều, gió thịnh hành là gió Đông Nam Mùa đông lạnh, khô hanh, ít mưa, chủ yếu
là gió Đông Bắc
Lượng mưa hàng năm lên tới 1.700 – 2.400 mm, số ngày mưa hàng năm từ
90 - 170 ngày Do nằm trong vùng nhiệt đới, Quảng Ninh có lượng bức xạ trung bình hàng năm 115,4 kcal/cm2
nhiệt độ không khí trung bình hàng năm trên 22,9oC Độ ẩm không khí trung bình năm 82% Tuy nhiên, mưa chỉ tập trung vào mùa Hạ (hơn 85%), nhất là các tháng 7 và tháng 8, trong khi đó mùa đông chỉ mưa khoảng 150 đến 400 mm Diện tích tỉnh Quảng Ninh lớn lại có nhiều vùng địa hình nên khí hậu giữa các vùng cũng có sự khác nhau Tỉnh Quảng Ninh chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc mạnh hơn, nên so với các nơi cùng vĩ độ thường lạnh hơn 1-3oC
Hình 1.2: Bản đồ địa lý tỉnh Quảng Ninh
( Ngôi sao màu đen cho biết những địa điểm tiến hành thu mẫu thí nghiệm)
Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn, Tiên Yên, Đầm Hà
Trang 22CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
- Thời gian thực hiện: Từ ngày 20/02/2012 đến ngày 02/06/2012
- Địa điểm thu mẫu: Vùng biển Quảng Ninh (Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn, Tiên Yên, Đầm Hà)
- Địa điểm phân tích mẫu: Phòng thực hành bệnh học, Trung tâm thí nghiệm thực hành - Trường Đại Học Nha Trang
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Tên khoa học: Nerita balteata Reeve, 1855
+ Tên tiếng việt: Ốc đĩa
Hình 2.1: Ốc đĩa Nerita balteata Reeve, 1855
Trang 232.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Toàn bộ nội dung nghiên cứu được biểu diễn qua sơ đồ khối sau:
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ốc đĩa
(Nerita balteata Reeve, 1855) tại Quảng Ninh
Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục
Mùa
vụ sinh sản
Kích thước thành thục sinh dục lần đầu
Thu thập và xử lý số liệu
Kết luận và đề xuất ý kiến
Hệ số thành thục sinh
dục
Mối tương quan giữa kích thước
và khối lượng thân
Phân biệt đực
cái, xác định
tỷ lệ đực: cái
Xác định sức sinh sản và mùa vụ sinh sản
Xác định kích thước thành thục lần đầu
Sự phát triển tuyến sinh dục và tỷ lệ thành thục
Trang 242.3 Phương pháp thu mẫu và phân tích mẫu
2.3.1 Phương pháp thu mẫu
- Mẫu được thu ngẫu nhiên ở vùng biển tỉnh Quảng Ninh, bao gồm các địa điểm: Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn, Tiên Yên, Đầm Hà Đưa mẫu sống về phòng thí nghiệm để tiến hành các thao tác nghiên cứu
- Tiến hành thu mẫu mỗi tháng một lần (tháng 1/2012 đến tháng 5/2012) và số mẫu thu hàng tháng ≥ 30 mẫu
- Tổng số mẫu phân tích: 207 mẫu
- Các dụng cụ dùng cho phân tích mẫu: Khay, panh kẹp, kéo, bộ dao phẩu thuật, cân điện tử Sartorius BP 110S, thước kẹp Palme, kính hiển vi quang học Olympus và một số dụng cụ hỗ trợ khác
2.3.2 Phương pháp phân tích
2.3.2.1 Phương pháp xác định các chỉ tiêu hình thái bên ngoài
Đo kích thước ốc đĩa (đơn vị tính là mm): Dùng thước kẹp Palme có độ chính xác 0,1 mm để đo chiều dài (L), chiều rộng (R), chiều cao (H) Trong ba chiều kích thước này, chiều dài (L) được sử dụng làm thông số trong việc tính toán các thông
số và để phân nhóm ốc đĩa theo kích thước Cách đo như sau [5]:
+ Chiều dài (L): Đo khoảng cách từ đỉnh đến mép ngoài miệng vỏ
+ Chiều rộng (R): Đo khoảng cách rộng nhất của tầng thân và vuông góc với chiều cao vỏ
+ Chiều cao (H): Đo khoảng cách từ đỉnh đến tận cùng mương trước
Cân khối lượng (đơn vị tính là gam): Dùng cân điện tử Sartorius BP 110S có
độ chính xác 0,001g, cân khối lượng toàn thân (W), khối lượng thân mềm (Wtm), khối lượng tuyến sinh dục (Wtsd)
+ Khối lượng toàn thân (W): Để mẫu ráo nước và cân nguyên mẫu
+ Khối lượng thân mềm (Wtm): Dùng búa đập tách vỏ, lấy phần thân mềm đem cân + Khối lượng tuyến sinh dục (Wtsd): Tách tuyến sinh dục ra và đem cân
Trang 252.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ốc đĩa
Các đặc điểm sinh học sinh sản của mỗi loài như mùa vụ sinh sản, kích thước tham gia sinh sản, sức sinh sản, tập tính sinh sản …được coi như là “chỉ số khoa học” để đánh giá sự phong phú của quần thể, khả năng bổ sung nguồn lợi hàng năm của loài, đặc biệt làm cơ sở cho những kế hoạch quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn lợi các loài thủy sản có giá trị kinh tế ở mỗi vùng biển [12] Đây cũng là nội dung quan trọng nhất trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài, làm cở sở cho những nghiên
cứu sâu hơn về sinh sản và sinh sản nhân tạo loài ốc đĩa này
Giới tính và tỷ lệ đực cái
Xác định giới tính: Đối với loài ốc đĩa, giới tính không được xác định bằng
cách dựa vào hình thái bên ngoài của chúng, mà dựa vào giải phẫu để quan sát tuyến sinh dục bên trong bằng mắt thường và trên kính hiển vi quang học Olympus
Tỷ lệ đực cái được xác định theo phương pháp của Pravdin (1973) [7]
Công thức tính tỷ lệ đực cái như sau:
Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục
Các mẫu ốc đĩa được tiến hành đo kích thước chiều dài, chiều rộng, chiều cao
và cân khối lượng bằng cân điện tử Sartorius Sau đó, dùng búa đập vỏ lấy phần thân mềm bên trong, quan sát phân biệt đực cái Khi quan sát xong, lấy một ít tuyến sinh dục hòa đều với ít nước biển quan sát bằng kính hiển vi quang học Olympus để xác định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục
Trang 26Phương pháp làm tiêu bản mô buồng trứng và tinh sào theo phương pháp Seckan và Hrapchack (1980)
+ Tuyến sinh dục được cố định bằng bằng Buoin từ 12 – 36 giờ Sau đó chuyển sang cồn Etanol 70% để bảo quản
+ Xử lý mẫu: Mẫu được ngâm lần lượt trong cồn Etanol 95%, 100%, mỗi loại ngâm trong 4 giờ, sau đó ngâm trong Methyl salicylate từ 12 – 24 giờ
+ Đúc parafin: Đúc parafin tạo thành các khối parafin có chứa mẫu với kích thước khoảng 2x2x1
+ Cắt mẫu: Cắt mẫu bằng máy cắt Microtome Lát cắt dày 5-7 µm đưa vào trong nước ấm (40 – 50oC) có albumin khoảng 1 -2 phút để lát cắt giãn ra, không bị nhăn + Tiêu bản nhuộm bằng thuốc nhuộm Hematocylin – Mayer và Eoxin Làm mất parafin và làm trong mẫu bằng dung dịch xilen Làm no nước, mất nước mẫu bằng cồn Etanol với các nồng độ khác nhau (100%, 95%, 80%, 50%)
+ Tiêu bản được quan sát và chụp ảnh bằng kính hiển vi quang học Olympus với độ phóng đại 400 lần
Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục ốc đĩa dựa theo thang 5 bậc của Quayle và Newkirk (1989) mô phôi học thủy sản được chia thành 5 giai đoạn từ giai đoạn I đến giai đoạn V như sau:
+ Giai đoạn I: Tuyến sinh dục chưa phát triển, tuyến sinh dục có kích thước rất nhỏ không rõ ràng, chưa có sự hiện diện của nang follicule, mô leydig chiếm toàn
bộ tuyến sinh dục, ở giai đoạn này chưa xác định được giới tính
+ Giai đoạn II: Tuyến sinh dục đang phát triển, có thể phân biệt đực cái thông qua màu sắc của tuyến sinh dục Quá trình tạo giao tử bắt đầu với sự xuất hiện của các nang follicule chen lẫn trong các mô leydig
+ Giai đoạn III: Giai đoạn bắt đầu thành thục, nang follicule phình to chiếm gần hết khối nội tạng, mô leydig giảm nhanh
+ Giai đoạn IV: Giai đoạn chín (thành thục sinh dục) Nang tinh phồng lên và hầu hết chứa trứng và tinh trùng, vách nang mỏng dần, tuyến sinh dục ở trạng thái chín Trứng sẵn sàng thụ tinh và tinh trùng có khả năng hoạt động
Trang 27+ Giai đoạn V: Giai đoạn sau khi đẻ và phóng tinh, buồng trứng và túi tinh rỗng Quan sát trên kính hiển vi thấy bên trong còn sót lại một ít tinh trùng và trứng Giai đoạn này mô sinh dục bị thay thế dần bởi mô leydig
Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối
Sức sinh sản của thủy sinh vật là khả năng đẻ của con cái trong một mùa sinh
sản hay trong cả đời sống của nó
- Sức sinh sản tuyệt đối: (Fa) (số trứng/ cá thể) được xác định bằng cách đếm số
Frg2 (số lượng trứng/gam tuyến sinh dục) =
W: Khối lượng toàn thân ốc đĩa (g)
Cách tiến hành: Lấy tuyến sinh dục đem cân bằng cân Sartorius Xác định đực cái bằng kính hiển vi quang học Olympus Nếu là cá thể cái, lấy tuyến sinh dục pha với 15ml nước biển để tạo dung dịch huyền phù Sử dụng buồng đếm động vật để đếm số lượng trứng Lấy 1ml ra để tính số lượng trứng Thao tác đếm trứng lặp lại 3 lần, tính số lượng trứng trung bình/1ml mẫu rồi tính tổng số lượng trứng của cả buồng trứng
Mùa vụ sinh sản
Mùa vụ sinh sản ốc đĩa được xác định dựa trên số mẫu phân tích sinh học hàng tháng, tỷ lệ các cá thể chín mùi sinh dục và đang tham gia sinh sản (tuyến sinh dục
Trang 28ở giai đoạn IV), cá thể đã đẻ xong (tuyến sinh dục ở giai đoạn V) Tháng có trên
50% số cá thể chín mùi sinh dục và đang tham gia sinh sản hoặc đã đẻ xong được
coi là mùa vụ sinh sản chính của ốc đĩa [12] Mùa vụ sinh sản của ốc đĩa được xác
định trên cở sở phân tích mẫu kết hợp kết quả điều tra xác định mùa vụ xuất hiện
của ốc đĩa giống tại các bãi phân bố
Hệ số thành thục sinh dục (GSI):
Hệ số thành thục sinh dục được xác định theo phương pháp của Pravdin [7]:
Là tỷ lệ phần trăm của khối lượng tuyến sinh dục trên khối lượng toàn thân (gồm cả
Wtsd: Khối lượng tuyến sinh dục (g)
W: Khối lượng toàn thân (g)
Kích thước thành thục sinh dục lần đầu
Kích thước thành thục sinh dục lần đầu được xác định là nhóm kích thước nhỏ
nhất mà tại đó các cá thể có tuyến sinh dục phát triển ở giai đoạn III trở lên (giai
đoạn tuyến sinh dục đang chín, đã chín và sau khi đẻ) chiếm tỷ lệ ≥ 50% trên tổng
số mẫu thu được [7]
2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Dựa trên cơ sở lý thuyết đã học, số liệu sơ cấp được thu thập thông qua tìm
hiểu và tiếp thu ý kiến của giáo viên hướng dẫn, cán bộ kỹ thuật và trong quá trình
thực nghiệm…
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như: các tài liệu, giáo
trình, các báo cáo đã được công bố, các cơ quan, ban ngành liên quan…
Trang 29
: S = :
0,81 < R² < 1: tương
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Giới tính và tỷ lệ đực cái
3.1.1 Giới tính
Ốc đĩa Nerita balteata Reeve, 1855 là loài phân tính với tính đực cái được
phân biệt rõ ràng dựa trên đặc điểm, màu sắc của tuyến sinh dục Vị trí tuyến sinh dục nằm ở khối nội tạng, ở cận gan Tuy nhiên, đối với giai đoạn I khó phân biệt được giới tính của ốc vì tuyến sinh dục chưa phát triển Từ giai đoạn II tuyến sinh dục mới bắt đầu có thể phân biệt dựa vào đặc điểm như sau:
Ốc đĩa đực: tuyến sinh dục có màu vàng nâu
Ốc đĩa cái: tuyến sinh dục có màu trắng sữa
a.Tuyến sinh dục ốc đĩa đực b Tuyến sinh dục ốc đĩa cái
Hình 3.1: Tuyến sinh dục của ốc đĩa đực và cái
Ngoài ra, phần lớn các loài thuộc lớp chân bụng còn có thể phân biệt giới tính đực cái bằng cách dựa vào đặc điểm gai giao cấu Ở con đực có gai giao cấu và con cái có lỗ sinh dục nằm ở phần đầu phía sau xúc tu Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu đã chưa phân biệt được đặc điểm này đối với ốc đĩa Cần có những nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm này của ốc đĩa
Trang 313.1.2 Tỷ lệ đực cái
Trong một quần thể tỷ lệ giới tính phụ thuộc vào nhiều yếu tố, phụ thuộc vào tính di truyền của loài, đồng thời cũng chịu sự kiểm soát của yếu tố môi trường mà trong đó yếu tố nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến cấu trúc giới tính của quần thể Như vậy sự cân bằng đực cái trong quần thể đảm bảo sức sống cho thế hệ sau tốt hơn vì nó
đã tạo nên sự kết hợp chéo các đặc tính di truyền và góp phần làm giàu vốn gen [12]
* Tỷ lệ đực cái theo thời gian nghiên cứu
Tỷ lệ đực, cái của ốc đĩa được phân tích qua 5 tháng thu mẫu ngẫu nhiên với tổng số mẫu là 207 mẫu Qua phân tích chúng tôi thấy sự biến động tỷ lệ đực cái theo thời gian nghiên cứu Kết quả phân tích mẫu trong các tháng được thể hiện qua bảng 3.1
Bảng 3.1: Biến động tỷ lệ đực : cái của ốc đĩa theo thời gian
Tháng
Tổng số
cá thể (con)
Số cá thể đực Số cá thể cái
Tỷ lệ đực : cái
Số cá thể (con) Tỷ lệ (%) Số cá thể
Trang 32Hình 3.2: Tỷ lệ đực : cái của ốc đĩa theo thời gian nghiên cứu
Bảng 3.1 và hình 3.2 cho thấy tỷ lệ ốc đĩa đực và ốc đĩa cái qua các tháng dao động không đều nhau Đối với con đực, tỷ lệ dao động từ 28,21% - 57,58% Tỷ lệ đực theo xu hướng giảm dần theo các tháng từ tháng 1 đến tháng 5 Trong đó tỷ lệ cao nhất vào tháng 1 đạt 57,58%, đến tháng 5 giảm xuống thấp nhất chỉ còn 28,21% Tuy nhiên, ở tháng 3 tỷ lệ đực có tăng lên so với tháng 2 đạt 50% nhưng tăng không đáng kể
Tỷ lệ cái dao động từ 42,42% - 71,79% và có xu hướng ngược lại với tỷ lệ cá thể đực Tỷ lệ cái thấp vào tháng 1 đạt 42,42% và cao vào các tháng 4; 5 Tại tháng
Xét tỷ lệ đực: cái từ tháng 1 đến tháng 5 lần lượt là 1:0,74; 1:1,21; 1:1; 1:2,21; 1:2,54 Và nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau về tỷ lệ đực và tỷ lệ cái giữa các tháng như vậy có thể là do quá trình thu mẫu tại nhiều địa điểm trên một vùng và trong các
Trang 33khoảng thời gian, điều kiện môi trường khác nhau Một số yếu tố môi trường được thể hiện trong bảng 3.2 như sau:
Bảng 3.2 Điều kiện môi trường một số vùng thu mẫu
thước Kết quả phân tích 207 mẫu được thể hiện ở bảng 3.3
Bảng 3.3: Biến động tỷ lệ đực : cái của ốc đĩa theo nhóm kích thước
Số cá thể đực Số cá thể cái
Tỷ lệ đực : cái
Trang 34nhiều hơn cá thể đực Riêng nhóm kích thước > 32mm có sự khác biệt là tỷ lệ đực cao hơn tỷ lệ cái Tỷ lệ đực đạt 59,09% cao hơn tỷ lệ cái 18,18%
Tỷ lệ cái cao hơn tỷ lệ đực thể hiện rõ nhất ở nhóm kích thước 23 – 27mm và nhóm 28 – 32mm Trong đó nhóm 28 – 32 mm có tỷ lệ cái cao hơn tỷ lệ đực tới 37,78%
Hình 3.3: Tỷ lệ đực cái theo phân nhóm kích thước
Xét trên toàn bộ các cá thể trong 5 tháng nghiên cứu, tỷ lệ trung bình ốc đực : ốc cái là 1: 1,38 So sánh với tỷ lệ giới tính của ốc hương và ốc nhảy, cho thấy giữa 3 loài này không chênh lệch nhau nhiều Trong đó tỷ lệ giới tính trung bình của ốc
hương là 1: 1,49 [15] và ốc nhảy S luhuanus là 1: 1,27 [8] Như vậy tỷ lệ giới tính trung bình của ốc đĩa Nerita balteata Reeve, 1855 nằm trong tỷ lệ chung của đa số
các loài thuộc lớp chân bụng
Qua 4 nhóm kích thước của ốc đĩa trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi không thấy hiện tượng tỷ lệ đực chiếm đa số trong những nhóm kích thước nhỏ Cũng như tỷ lệ đực giảm dần và tỷ lệ cái tăng dần theo chiều tăng kích thước như quy luật chung của một số loài động vật thân mềm khác Đồng thời trong quá trình quan sát, giải phẩu và xem tiêu bản nhuộm màu, chúng tôi chưa phát hiện hiện tượng lưỡng tính ở ốc đĩa, mặc dù hiện tượng này cũng thường gặp ở một số động vật thân mềm như điệp seo, điệp quạt, nghêu [16], [13], [6] Như vậy có thể kết luận
ốc đĩa là loài có tính đực cái phân biệt Tuy nhiên cần có những nghiên cứu sâu hơn nữa về vấn đề này và thời gian nghiên cứu nhiều hơn để có kết luận chính xác
020406080
Trang 353.2 Mối tương quan giữa các chỉ tiêu kích thước và khối lượng ốc đĩa
3.2.1 Các chỉ tiêu về kích thước của ốc đĩa
* Chỉ tiêu kích thước theo thời gian nghiên cứu
Bảng 3.4: Các chỉ tiêu về kích thước của ốc đĩa trong thời gian nghiên cứu
Tháng
Số mẫu (con) (mm) (mm) (mm)
/ (%)
/ (%)
Số liệu bảng 3.4 cho thấy chiều dài trung bình của tháng 1 lớn nhất trong các tháng đạt 33,27 mm, đồng thời chiều rộng và chiều cao cũng tăng và đạt giá trị lớn nhất, chiều rộng 23,76mm, chiều cao 20,91mm Tháng có các chỉ tiêu kích thước nhỏ nhất là tháng 3 Như vậy, các chỉ tiêu trung bình về chiều dài, chiều rộng và chiều cao trong các tháng tương ứng với nhau Khi chiều dài tăng, chiều rộng và chiều cao cũng tăng
Tỷ lệ giữa chiều rộng với chiều dài luôn cao hơn tỷ lệ giữa chiều cao với chiều dài trong các tháng nghiên cứu Hai tỷ lệ này càng giảm khi kích thước chiều dài của ốc đĩa tăng lên
Trang 36(con)
(%)
/ (%)
18 – 22mm đến nhóm > 32mm, tỷ lệ giữa chiều rộng với chiều dài dao động từ 69,82 –80,95%, trong khi đó tỷ lệ giữa chiều cao với chiều dài dao động nhỏ hơn từ 62,33 – 67,64% Hai tỷ lệ này giảm dần khi các nhóm kích thước càng lớn Đối với nhóm kích thước nhỏ nhất 18 – 22mm, tỷ lệ giữa chiều rộng với chiều dài là 80,95%, nhưng đến nhóm > 32mm thì tỷ lệ này chỉ có 69,82% Tương tự, tỷ lệ giữa chiều cao với chiều dài cũng giảm dần được thể hiện ở bảng 3.5 Như vậy chiều rộng của vỏ là nơi ốc đĩa sinh trưởng và lớn lên nhanh hơn, đồng thời kéo theo sự sinh trưởng các chiều kích thước khác của vỏ Khi ốc lớn đến một kích thước nhất định thì tốc độ tăng kích thước chiều dài lớn hơn so với chiều rộng và chiều cao