- Nghiên cứu thử nghiệm các loại thức ăn, thời gian chuyển giai đoạn và ương nuôi ấu trùng tôm bác sĩ.. Trong thời gian chuyển giai đoạn khoảng thời gian từ bắt đầu lột xác đến sau khi l
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Tôi xin trân trọng kính gửi đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban Chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản lời cảm ơn chân thành, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn: Tiến sĩ Lục Minh Diệp đã tận tình chỉ bảo, dìu dắt và hỗ trợ tôi nhiệt tình trong suốt thời gian thực tập, giúp tôi hoàn thành tốt đồ án tốt nghiệp
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của thầy Võ Ngọc Thám, thầy Ngô Văn Mạnh, thầy Châu Văn Thanh đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập
Tôi chân xin chân thành cảm ơn các thành viên tại Trại Thực nghiệm Sản xuất Giống Đường Đệ, Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang đã giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi thực tập tại đây
Xin cảm ơn sự hợp tác nhiệt tình của bạn Hoàng Hải Long trong quá trình thực tập và thực hiện đề tài
Cuối cùng là lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ và là chỗ dựa tinh thần để tôi luôn học tập và làm việc tốt
Người thực hiện
Lê Nguyễn Văn Khoa
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI CÁM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
Phần 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM BÁC SĨ: 3
1.1.1 Hệ thống phân loại: 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái: 4
1.1.3 Đặc điểm phân bố: 5
1.1.4 Tập tính sống: 5
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng: 5
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển: 6
1.1.7 Đặc điểm sinh sản: 7
1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN TRONG SẢN XUẤT GIỐNG TÔM CẢNH BIỂN: 9
1.2.1 Năng lượng Lecithotrophy và “điểm không hồi phục”: 9
1.2.2 Dinh dưỡng và các loại thức ăn đối với ấu trùng tôm cảnh biển: 10
1.2.3 Nghiên cứu thử nghiệm các loại thức ăn cho ấu trùng tôm cảnh biển: 14
Phần 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU: 15
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 15
2.3 SƠ ĐỒ KHỐI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 15
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 16
Trang 32.4.1 Xác định thời gian bỏ đói không hồi phục: 16
2.4.2 Thử nghiệm các loại thức ăn cho ấu trùng tôm bác sĩ: 18
2.4.3 Thử nghiệm ương ấu trùng tôm bác sĩ: 20
2.5 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU: 22
2.5.1 Phương pháp xác định các thông số: 22
2.5.2 Phương pháp xử lý số liệu: 23
Phần 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM BỎ ĐÓI KHÔNG HỒI PHỤC VÀ THỜI ĐIỂM BẮT ĐẦU CHO ĂN THÍCH HỢP: 24
3.1.1 Kết quả thí nghiệm 1: 24
3.1.2 Kết quả thí nghiệm 2 29
3.1.3 Kết quả thí nghiệm 3 33
3.1.4 Thảo luận: 34
3.2 THỬ NGHIỆM THỨC ĂN CHO ẤU TRÙNG TÔM BÁC SĨ: 36
3.2.1 Kết quả thí nghiệm 4: 36
3.2.2 Kết quả thí nghiệm 5: 41
3.2.3 Thảo luận: 45
3.3 THỬ NGHIỆM ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM BÁC SĨ: 48
Phần 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
Kết luận: 50
Kiến nghị: 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 1 -
PHỤ LỤC - 3 -
Phụ lục 1: Kết Quả Phân Tích Phương Sai Một Yếu Tố (one way ANOVA) - 3 -
Bảng 1.pl1: Kết quả phân tích thí nghiệm 1 - 3 -
Bảng 2.pl1: Kết quả phân tích thí nghiệm 2 - 7 -
Trang 4Bảng 3.pl1: Kết quả phân tích thí nghiệm 4 - 11 -
Bảng 4.pl1: Kết quả phân tích thí nghiệm 5 - 15 -
Phụ lục 2: Tỷ Lệ Sống Và Thời Gian Biến Thái Ấu Trùng - 23 -
Bảng 1.pl2: Tỷ lệ sống và thời giai chuyển giai đoạn của thí nghiệm 1 - 23 -
Bảng 2.pl2: Tỷ lệ sống và thời giai chuyển giai đoạn của thí nghiệm 2 - 25 -
Bảng 3.pl2: Tỷ lệ sống và thời giai chuyển giai đoạn của thí nghiệm 4 - 27 -
Bảng 4.pl2: Tỷ lệ sống và thời giai chuyển giai đoạn của thí nghiệm 5 - 29 -
Phụ lục 3: Số Liệu Môi Trường - 33 -
Bảng 1.pl3: Số liệu môi trường thí nghiệm 1 - 33 -
Bảng 2.pl3: Số liệu môi trường thí nghiệm 2 - 34 -
Bảng 3.pl3: Số liệu môi trường thí nghiệm 3 - 34 -
Bảng 4.pl3: Số liệu môi trường thí nghiệm 4 - 35 -
Bảng 5.pl3: Số liệu môi trường thí nghiệm 5 - 36 -
Bảng 6.pl3: Số liệu môi trường trong quá trình ương - 37 -
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Chế độ cho ăn của thí nghiệm thức ăn……….………….19
Bảng 2.2: Chế độ cho ăn của thí nghiệm ương……….20
Bảng 2.3: Lượng nước cấp vào trong quá trình ương……… 21
Bảng 2.4: Các dụng cụ và thời gian thu thập số liệu……… … 22
Bảng 3.1: Tỷ lệ sống của ấu trùng theo giai đoạn của thí nghiệm 1……… 26
Bảng 3.2: Thời giai chuyển giai đoạn của ấu trùng trong thí nghiệm 1……… …….27
Bảng 3.3: Tỷ lệ sống của ấu trùng theo giai đoạn của thí nghiệm 2……… …30
Bảng 3.4: Thời giai chuyển giai đoạn của ấu trùng của thí nghiệm 2……… …31
Bảng 3.5: Tỷ lệ sống của ấu trùng trong thí nghiệm 3……… ………33
Bảng 3.6: Tỷ lệ sống của ấu trùng theo giai đoạn của thí nghiệm 4………….… … 38
Bảng 3.7: Thời giai chuyển giai đoạn của ấu trùng của thí nghiệm 4………… … 39
Bảng 3.8: Tỷ lệ sống của ấu trùng theo giai đoạn của thí nghiệm 5 đợt 1……… … 41
Bảng 3.9: Tỷ lệ sống của ấu trùng theo giai đoạn của thí nghiệm 5 đợt 2……… …42
Bảng 3.10: Thời gian chuyển giai đoạn ấu trùng của thí nghiệm 5 đợt 1………….…43
Bảng 3.11: Thời gian chuyển giai đoạn ấu trùng của thí nghiệm 5 đợt 2………….…43
Bảng 3.12: Tỷ lệ sống trong quá trình ương……….………….49
Bảng 3.13: Thời gian biến thái của ấu trùng trong quá trình ương……… …49
Bảng 3.14: Phân biệt các giai đoạn ấu trùng……….50
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Tôm bác sĩ Lysmata amboinensis……… … 3 Hình 1.2: Đặc điểm phân biệt loài Lysmata amboinensis và Lysmata grabhami … …4
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu……… ….15
Hình 2.2: Ấu trùng Zoea 5 của Lysmata amboinensis……… 23
Hình 3.1: Tỷ lệ sống ấu trùng ở nghiệm thức không cho ăn của thí nghiệm 1……….24 Hình 3.2: Tỷ lệ sống của ấu trùng theo số lượng ban đầu trong thí nghiệm 1……… 25 Hình 3.3: Tỷ lệ sống của ấu trùng theo số lượng ban đầu trong thí nghiệm 2……… 29 Hình 3.4: Tỷ lệ sống ấu trùng ở nghiệm thức không cho ăn của thí nghiệm 4……….36 Hình 3.5: Tỷ lệ sống của ấu trùng theo số lượng ban đầu trong thí nghiệm 4……… 37 Hình 3.6: Ấu trùng không được cho ăn……….……38 Hình 3.7: Ấu trùng được ăn vi tảo……….…38 Hình 3.8: Tỷ lệ sống của ấu trùng theo số lượng ban đầu trong thí nghiệm 5 đợt 1….42 Hình 3.9: Tỷ lệ sống của ấu trùng theo số lượng ban đầu trong thí nghiệm 5 đợt 2….43
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
E-Rot: Luân trùng làm giàu (Enriched Rotifers)
Tetra + E-Rot: Cho ăn luân trùng làm giàu có bổ sung tảo
TH + Art3: Cho ăn thức ăn tổng hợp kết hợp giai đoạn Zoea 3 cho ăn Artemia
Tetra+E-Rot+Art3: Cho ăn luân trùng làm giàu có bổ sung tảo kết hợp cho ăn Artemia
ở giai đoạn 3
Trang 8MỞ ĐẦU
Những năm qua, kinh tế trong nước có những bước nhảy vượt bậc Năm 2010 chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người một tháng ở khu vực nông thôn đạt 891 nghìn đồng, tăng 62,4% so với năm 2008; khu vực thành thị đạt 1.726 nghìn đồng, tăng 54,9% so với năm 2008 (theo Tổng Cục Thống kê Việt Nam), tỷ trọng chi cho dịch vụ ăn uống có xu hướng giảm Do đó, nhu cầu các loại hình giải trí tăng lên đáng
kể, việc nuôi bể cá cảnh sinh thái đang được người dân yêu thích và lựa chọn
Tulusty (2002); Wabnitz và ctv (2003) đã thống kê hầu hết các sinh vật cảnh từ rạn san hô được buôn bán rộng rãi trên thị trường thế giới [4] Để chọn lựa được loài nuôi phù hợp trong điều kiện nuôi nhốt là điều cần thiết Hiện nay, có rất nhiều loài cá
dễ nuôi và sặc sỡ như: cá bò mặt khỉ (Naso lituratus), cá bò rằn (Balistapus undulatus), cá hề (Amphiprion )… Nhưng như thế vẫn chưa đủ cung ứng cho nhu cầu
khách hàng ngày một nhiều như hiện nay Ngoài đối tượng cá, khách hàng còn ưa
chuộng nhiều loài giáp xác thuộc Bộ Decapoda như: tôm hề (Hymenocera picta), tôm sexy (Thor amboinensis), tôm cẩm thạch (Saron marmoratus), tôm bác sĩ (Lysmata amboinensis)… Calado và ctv (2003) đã nhận định tôm bác sĩ có màu sắc đẹp, dễ nuôi
và còn là loài có thể ăn động vật kí sinh trên cá và các mô hoại tử trên cá bị bệnh nên
được nhiều người chơi cá cảnh ưa thích và chọn lựa [3]
Wabnitz và ctv (2003) cho biết ở các nước phát triển trên thế giới đã đầu tư hàng triệu đô la để hỗ trợ ngành công nghiệp cá cảnh Tổng giá trị hàng năm do ngành
công nghiệp này tạo ra ước tính khoảng 200-300 triệu USD [9], Lysmata amboinensis
là một trong bốn loài tôm cảnh có giá trị cao nhất, trị giá khoảng 65-85 USD/cá thể [6] Do đó, sức ép khai thác rõ rệt đến các rạn san hô ở Ấn Độ-Thái Bình Dương, nơi các quốc gia như Philippines và Indonesia có tỷ lệ khai thác ở mức cao nhất [4];[9] Hiện nay, nguồn tôm bác sĩ ngoài tự nhiên đang giảm đáng kể vì bị khai thác quá mức, một đợt ra ghe đánh bắt chỉ được 40-60 cá thể và có khoảng 5-10 cá thể đạt kích cỡ
sinh sản Mặc dù Lysmata amboinensis rất có giá trị kinh tế nhưng có rất ít thông tin
về nuôi vỗ tôm bố mẹ loài này và đa phần nỗ lực ương nuôi ấu trùng L amboinensis
đều không thành công [6] Vấn đề đặt ra hiện nay là nguồn cung cấp tôm bác sĩ cho thị trường nuôi cảnh hoàn toàn khai thác từ tự nhiên và việc khai thác này còn tạo áp lực
không nhỏ đến các hệ sinh thái rạn san hô
Trang 9Để giảm thiểu những tác động tiêu cực trên, các nhóm nghiêm cứu sinh vật cảnh trên thế giới đã chú trọng tìm hiểu và nghiên cứu, bước đầu đã có những kết quả
về đặc tính sinh học, sinh sản Nhưng để thương mại hóa loài tôm cảnh tiềm năng này
thì việc sản xuất giống nhân tạo là vấn đề đặt ra hiện nay
Khó khăn của sản xuất giống nhân tạo là chưa xác định được các giai đoạn biến thái ấu trùng, đặc điểm hình thái ấu trùng từng giai đoạn, thức ăn phù hợp cho từng giai đoạn và điều kiện ương nuôi Do đó, tỷ lệ sống thấp và chất lượng ấu trùng không
ổn định
Xuất phát từ những khó khăn trên và được sự cho phép của khoa Nuôi trồng
Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang, tôi thực hiện đề tài: “Thử nghiệm loại thức ăn
và ương ấu trùng tôm bác sĩ Lysmata amboinensis (De Man, 1888)” với mong muốn
xác định được những khiếm khuyết trong việc sinh sản nhân tạo đối tượng mới này và góp phần nhỏ vào phát triển ngành sinh vật cảnh biển ở Việt Nam
Nội dung chính của đề tài:
- Xác định thời điểm bỏ đói không hồi phục
- Thử nghiệm các loại thức ăn cho ấu trùng tôm bác sĩ
- Thử nghiệm ương ấu trùng tôm bác sĩ
Mục đích của đề tài:
- Giúp sinh viên làm quen với phương pháp bố trí thí nghiệm và phương pháp làm
báo cáo khoa học, phục vụ cho công tác nghiêm cứu khoa học sau này
- Tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội trực tiếp quản lý, chăm sóc đối tượng nuôi
Từ đó củng cố thêm kiến thức thực tế cho bản thân
- Nghiên cứu thử nghiệm các loại thức ăn, thời gian chuyển giai đoạn và ương
nuôi ấu trùng tôm bác sĩ
Ý nghĩa thực tiễn:
Tạo cơ sở khoa học cho các nghiên cứu sâu rộng hơn để hoàn thiện quy
trình sản xuất giống nhân tạo tôm bác sĩ (L amboinensis)
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã có nhiều cố gắng nhưng trình độ chuyên môn và kiến thức thực tế còn nhiều hạn chế nên khó tránh khỏi sai sót Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của quí thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 10Phần 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM BÁC SĨ:
Giống: Lysmata
Loài: Lysmata amboinensis (De Man, 1888)
Tên thường gọi:
- Tên tiếng Anh: Scarlet Skunk Cleaner Shrimp, Cleaner Shrimp
- Tên tiếng Việt: Tôm bác sĩ, tôm vệ sinh
Trong bài báo cáo này tôi xin gọi là tôm bác sĩ
Hình 1.1: Tôm bác sĩ Lysmata amboinensis
Trang 111.1.2 Đặc điểm hình thái
Tôm bác sĩ có năm đôi chân bơi, năm đôi chân bò, ba đôi chân hàm Năm đôi chân bơi giúp tôm di chuyển trong nước, ôm trứng và quạt nước cung cấp oxy cho trứng Đôi chân bò đầu tiên biến thành dạng kìm phát triển to hơn dùng để giữ và xé thức ăn, đôi chân bò thứ hai thường xuyên xếp lại dùng cho việc tách vỏ khi lột xác Đôi chân hàm thứ 3 phát triển to hơn có màu trắng dùng để gắp thức ăn
Chúng có hai đôi râu Đôi anten A1 tách thành 2 nhánh luôn hướng về phía trước Đôi anten A2 cũng tách thành hai nhánh, nhánh trong kéo dài, luôn hướng về phía sau, nhánh ngoài biến thành vẩy râu Các anten đều có màu trắng, gốc anten A1 bắt màu đỏ và có những gai nhỏ
Tôm bác sĩ là loài tôm có kích thước nhỏ, chiều dài toàn thân tối đa đạt 5-6cm Trên thân tôm bác sĩ có hai ban màu đỏ chạy dọc bên thân, chính giữa có sọc màu trắng kéo dài đến cuối telson nhưng đứt quãng tại nữa đầu của telson Đây là đặc
điểm phân biệt với loài Lysmata grabhami Chân đuôi của Lysmata amboinensis có
Hình 1.2: Đặc điểm phân biệt loài Lysmata amboinensis và Lysmata grabhami
Lysmata amboinensis Lysmata grabhami
Trang 12là ngôi nhà của tôm bác sĩ Ở đó, chúng có quan hệ mật thiết với các sinh vật xung
quanh L amboinensis là loài sống hòa đồng, chúng thường xuyên dùng màu sắc trên
cơ thể phát tín hiệu tới các sinh vật có trong rạn để làm vệ sinh Điều kiện môi trường thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của chúng là:
Trong nghiên cứu của Debelius (1984) cho biết, tôm bác sĩ thường bắt cặp với nhau, nhưng đôi khi chúng sống trong một nhóm lớn [5] Trong nhóm lớn này chúng vẫn phân lãnh địa với nhau, mỗi lãnh địa cách nhau 0,5-1m
Tôm bác sĩ là loài ăn thịt Do đó, chúng sẽ ăn thịt đồng loại khi bị bỏ đói Chúng thường tấn công những cá thể đang lột xác, những cá thể nhỏ hơn hoặc những con yếu sức do bệnh
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm bác sĩ ăn các loại ký sinh trùng, các mô bị hoại tử trên vết thương ở các loài cá ở rạn san hô mà chúng hợp tác Chính vì thế mà chúng được gọi là tôm vệ sinh
Trang 13hay tôm bác sĩ Ở các hang và mỏm đá nơi mà tôm bác sĩ sinh sống, chúng dùng các anten của mình để thu hút các loài cá sống gần đó đến để được vệ sinh Và nơi đó được gọi là trạm làm sạch Nghiên cứu của Randall (1958) và Fiedler (2000) cho biết tôm bác sĩ có quyền xâm nhập vào miệng và mang của các sinh vật chủ kể cả cá chình
mà chúng không bị ăn thịt khi đang làm vệ sinh [5]; [11] Ngoài ra, chúng còn được biết đến như là loài ăn thịt Chúng có thể ăn các động vật chân đốt, động vật không xương sống khác kể cả đồng loại của mình
Tôm bố mẹ trong nuôi vỗ thành thục thường được cho ăn Artemia sinh khối,
nhuyễn thể, tép nhỏ…[4] Khi ta kết hợp cho ăn nhiều loại thức ăn thì tôm mẹ sẽ cho
chất lượng trứng và ấu trùng tốt hơn khi cho ăn một loại thức ăn đơn thuần Theo Coman và ctv (2007) thì cho ăn mực là phương pháp bổ sung quan trọng để kích thích những loài trong bộ Decapoda thành thục tốt ở điều kiện nuôi nhốt [3]; [9] Harrison (1990) và Anger (2001) cho biết những loại thức ăn cung cấp nhiều lipid là cần thiết cho quá trình nuôi vỗ tôm bố mẹ Lipid là nguồn năng lượng dự trữ (triacylglycerols), thành phần cơ bản của màng tế bào (phospholipids) và có trong nhiều loại hormone (sterol) [8] Lipid là đại diện cho nguồn năng lượng quan trọng nhất trong sự phát triển phôi của hầu hết các động vật giáp xác Nhiều nhà nghiên cứu đã cho thấy một sự gia tăng mạnh nồng độ lipid trong buồng trứng lên đến 40% tổng khối lượng khô của buồng trứng khi phát triển hoàn toàn [8]
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển
Thời kỳ phát triển phôi của tôm bác sĩ giống với thời kỳ phát triển phôi của một
số loài tôm nước ngọt thuộc họ Palaemonidae Thời kỳ phôi bắt đầu từ khi trứng thụ tinh đến khi trứng nở, thời gian phát triển phôi tùy vào nhiệt độ nước, thường khoảng
13 ngày [7], trải qua tám giai đoạn: trứng mới đẻ, trứng phân chia tế bào, đĩa phôi, phôi nauplius, đầu hậu nauplius, giữa hậu nauplius, cuối hậu nauplius, trứng trước khi
nở
Theo nghiên cứu của Wunsch (1996); Fletcher và ctv (1995) thì Lysmata amboinensis có một chu kì ấu trùng dài và phức tạp, với 14 giai đoạn khác biệt về hình
thái, chiếm đến 150 ngày để hoàn thành các giai đoạn biến thái ấu trùng [8]; [9]; [10]
Để phân biệt các giai đoạn ta dựa vào các đặc điểm: sự xuất hiện cuống mắt, đặc điểm anten, số chân bò, sự xuất hiện mầm chân bơi, sự thay đổi hình thái của đuôi… [10]
Trang 14Các ấu trùng vừa nở ra là giai đoạn Zoea 1, chúng bơi lội bằng các phần phụ ngực, dò tìm và bắt mồi liên tục Chúng trải qua 14 giai đoạn Zoea và sau đó là đến giai đoạn hậu ấu trùng Ấu trùng giai đoạn Zoea có khả năng hướng quang, ánh sáng chiếu trực tiếp ở cường độ cao cũng sẽ làm ấu trùng chết Ở giai đoạn Zoea, ấu trùng rất yếu, nếu
bị nhày đáy bám trên các bộ phận phụ thì ấu trùng sẽ chết
Quá trình lột xác bao gồm bốn giai đoạn: giai đoạn tiền lột xác, lột xác, giai đoạn phục hồi sau lột xác, gian kỳ lột xác Các giai đoạn này xảy ra trong một chu kỳ liên tục Trong thời gian chuyển giai đoạn (khoảng thời gian từ bắt đầu lột xác đến sau khi lột xác xong) nếu như các yếu tố môi trường không thuận lợi: nhiệt độ, độ mặn bị biến động, môi trường ô nhiễm, ấu trùng bị đói thì tỉ lệ sống ấu trùng sau khi lột xác rất thấp Ấu trùng lột xác từ 54–72 giờ/lần, tốc độ tăng trưởng tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển, dinh dưỡng và điều kiện môi trường
Jones, Yule và Holland (1997) cho biết trong tự nhiên, nhu cầu dinh dưỡng của
ấu trùng được đáp ứng thỏa mãn bởi thức ăn rất đa dạng Tuy nhiên, trong nghiên cứu chế độ cho ăn của giai đoạn ấu trùng sống phù du là rất khó khăn do chất lượng thức
ăn, kích thước thức ăn không phù hợp cỡ miệng, sự phân tán của dòng chảy, chế độ ương nuôi không giống tự nhiên Vì vậy, để đạt kết quả cao phải thay đổi chế độ cho
ăn phù hợp trong ương nuôi [8]
Đối với tôm bác sĩ trưởng thành thì chu kỳ lột xác 14 ngày/lần ở nhiệt độ 26 –
28 °C, thường tôm mẹ lột xác khoảng 24 giờ sau khi hoàn thành quá trình ấp trứng và khối trứng nở ấu trùng [11] Ta có thể biết được tôm trưởng thành chuẩn bị lột xác thông qua biểu hiện của tôm, trước khi lột xác, chúng dùng đôi chân bò thứ 2 rà soát khắp cơ thể, dùng chân lồng vào bên trong lớp vỏ tách hẳn lớp vỏ cũ để chuẩn bị cho giai đoạn lột xác
1.1.7 Đặc điểm sinh sản
Các kết quả chỉ ra rằng, tôm bác sĩ là loài lưỡng tính đồng thời về mặt hình thái học, mô học và chức năng Đây là loài tôm đầu tiên được xác định đặc tính này trong
bộ giáp xác mười chân [3]; [5]; [7]; [11]
Mỗi cá thể khi đạt tuổi trưởng thành sẽ mang giới tính đực (male-phase), sau khi đạt đến một độ tuổi, kích thước nhất định sẽ chuyển sang lưỡng tính đồng thời (euhermaphrodite-phase) với hai chức năng đực và cái [5]; [7]; [11] Cá thể trong giai
Trang 15đoạn lưỡng tính đồng thời có lúc đóng vai trò là đực, giao vĩ với một cá thể lưỡng tính đồng thời khác đóng vai trò là cái Trong các nghiên cứu của Zhang và Lin (2005) về
tôm cảnh Lysmata wurdemanni (Gibbes, 1850) và Lysmata boggessi (loài này trước đây được phân loại là Lysmata rathbunae Chace, 1970) cho thấy rằng khi đạt độ tuổi
thành thục thì giai đoạn đầu là đực sau đó chúng sẽ qua 4 giai đoạn chuyển tiếp để trở
thành cá thể lưỡng tính khi đạt chiều TL=23,0mm, chiều dài CL=5-6mm Lysmata amboinensis cũng là loài lưỡng tính đồng thời những thay đổi từ giai đoạn đực sang
giai đoạn lưỡng tính khi TL=34-36mm, CL=8,6mm [7]; [11] Trong quá trình nuôi nhốt, kích thước để chuyển đổi gian đoạn lưỡng tính TL=37,1mm [7]
Những cá thể trưởng thành được nuôi riêng đẻ trứng không thụ tinh đã chỉ ra rằng loài này không lưu trữ tinh trùng ngoại sinh và không tự thụ tinh được Việc đồng
bộ hóa chu kì lột xác của các cặp tôm bố mẹ đảm bảo rằng các cá thể sẵn sàng thụ tinh cho bạn tình của mình, nó có thể hỗ trợ tiếp tục luân phiên vai trò giới tính giữa các đôi bạn tình [5]
Tôm trưởng thành có thể phát hiện bạn khác giới bằng thị giác, khứu giác và cả xúc giác Và những giác quan này giúp chúng nắm bắt được hành vi ve vãn của bạn tình Tôm cái thành thục thường bắt cặp với những con đực nhỏ hơn chúng, nhưng sự khác biệt về kích thước không ảnh hưởng hay gây cản trở đến quá trình bắt cặp và giao phối Hoạt động giao vĩ của tôm bác sĩ không được rõ ràng, tôm đực theo tôm cái trong vòng 30 phút trước khi tôm cái lột xác, tôm đực không theo con cái ngay lập tức sau khi con cái di chuyển, chỉ bắt đầu theo sau 1-5 phút khi con cái di chuyển, không phải lúc nào cũng tiếp cận và theo sau tôm cái, sau khi bắt kịp thì 2 con sẽ ở gần nhau Thời gian từ giao vĩ đến lúc đẻ trứng từ 9,4 ± 0,5 giờ, thời gian giao vĩ khoảng 9,3 ± 3,7 giây, thời gian từ lột xác đến lúc giao vĩ 79,6 ± 82,8 giây, khoảng thời gian lột xác 56,8 ± 6,1 giây [11]
Sau khi đẻ, trứng được tôm mẹ ôm dưới phần bụng, trứng đươc dính trên các sợi tơ ở nhánh trong phần phụ bụng Trứng được ấp và ôm ở đó cho đến khi nở Trứng mới đẻ có màu xanh ngọc bích đậm, sau nhạt dần, đến khi trứng chuyển sang màu bạc, xuất hiện điểm mắt rồi nở Thời gian tính từ khi tôm mẹ đẻ trứng cho đến khi trứng nở
là khoảng 13-14 ngày [7] Điều đặc biệt ở loài tôm này là trong khi đang ôm trứng ở
Trang 16phần bụng, thì buồng trứng bên trong vẫn phát triển và thành thục khi dinh dưỡng được cung cấp đầy đủ
1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN TRONG SẢN XUẤT GIỐNG TÔM CẢNH BIỂN
1.2.1 Năng lượng Lecithotrophy và “điểm không hồi phục”
Sinh vật phù du là loại thức ăn cần thiết cho ấu trùng của Decapoda Một số loài thuộc bộ Decapoda, ấu trùng của chúng có thể duy trì được hoạt động sống bình
thường khi vắng mặt của thức ăn trong một khoảng thời nhất định, chúng dựa vào nguồn dự trữ nội sinh, được gọi là Lecithotrophy [1]; [2]; [3] Đó có thể xem là một thích ứng với sự biến đổi về nguồn năng lượng từ thức ăn của môi trường sống và thích ứng của ấu trùng khi nguồn thức ăn bị giới hạn một cách nghiêm trọng
Đối với tôm cảnh biển, noãn hoàng được tích lũy ở một mức độ cao, tuy nhiên lượng dinh dưỡng tích lũy noãn hoàng chưa đủ để cho ấu trùng của chúng trải qua các giai đoạn tiếp theo mà không sử dụng thức ăn ngoài Theo nghiên cứu của Zhang và ctv (1998); Calado và ctv (2005) cho thấy sự tích lũy cao của dinh dưỡng noãn hoàng cho phép ấu trùng mới nở có thể lột xác và chuyển sang giai đoạn tiếp theo khi lượng thức ăn ngoài dung cấp không đủ Sự tích lũy này được gọi là Primary Lecithotrophy (Lecithotrophy sơ cấp) [2]; [3]
Còn một dạng tích lũy năng lượng nữa là Secondary Lecithotrophy (Lecithotrophy thứ cấp) Tích lũy năng lượng dạng Lecithotrophy thứ cấp là năng lượng mà ấu trùng tích lũy được khi chúng sử dụng thức ăn ngoài Khi bỏ đói ấu trùng vào cuối giai đoạn và gần lột xác, khi đó năng lượng dự trữ được sử dụng, năng lượng này có nguồn gốc từ các chất hữu cơ có mặt trong thức ăn mà ấu trùng sử dụng ở giai đoạn đầu Ngoài khả năng giúp ấu trùng lột xác, thì năng lượng này còn giúp ấu trùng
có thể ăn trở lại sau thời gian bị bỏ đói Và kiểu năng lượng dự trữ này được gọi là Lecithotrophy thứ cấp
Ấu trùng của Decapoda thường phải được cho ăn ngay sau khi nở, để tránh ảnh hưởng tác hại gây ra bởi thời gian bỏ đói kéo dài Thực nghiệm chứng minh: có một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển của ấu trùng Decapoda được gọi là “ điểm không trở lại” tức thời điểm bỏ đói không hồi phục Theo nghiên cứu của Blaxter & Hempel (1963); Paschke và ctv (2004) đã xác nhận “Điểm không trở lại” là điểm quan
Trang 17trọng trong phát triển ấu trùng, đó là một ngưỡng mà tại đó ấu trùng đã bị đói, và sau
đó được cho ăn lại, chúng vẫn có thể sống thêm một thời gian, nhưng lúc này ấu trùng không có khả năng phục hồi, không thể phát triển thêm nữa do thiếu dinh dưỡng trầm trọng và cuối cùng là chết [1] Các nghiên cứu sơ bộ cho thấy rằng điểm không trở lại
của giai đoạn Zoea đầu tiên ấu trùng L amboinensis xảy ra dưới 24 giờ [3] Nhưng một số nghiên cứu sâu hơn lại cho kết quả rằng, ấu trùng L amboinensis có điểm
không hồi phục trên 24h [2]
1.2.2 Dinh dưỡng và các loại thức ăn đối với ấu trùng tôm cảnh biển
Trong tự nhiên, ấu trùng của giáp xác được tiếp cận với nhiều loại thức ăn như: chất hữu cơ hòa tan, nhóm vi sinh vật thuộc picolankton ( có kích thước bé hơn 2μm)
và nanoplankton (từ 2-20μm) , mảnh vụn và chất thải, thực vật phù du (cụ thể là microplankton với kích thước từ 20-200μm), microzooplankton (từ 20-200μm), mesozooplankton (từ 200-2000μm) và macrozooplankton (lớn hơn 2000 μm) Rõ ràng các loại thức ăn này có sự khác biệt về chất lượng và kích thước, tạo điều kiện cho ấu trùng lựa chọn loại thức ăn phù hợp nhất cho từng giai đoạn của chúng [1]
Vi tảo
Vi tảo được sử dụng phần lớn như là thức ăn sống trong ương nuôi ấu trùng của giáp xác, đặc biệt là tôm he, cũng như trong ương nuôi các loài động vật phù du khác (luân trùng, Copepoda …) Trong những thập kỷ gần đây, nhiều loài vi tảo được xem
là tiềm năng trong nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, chỉ có giới hạn một ít loài (dưới 25 loài) đã được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản Những loài vi tảo được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản phải đảm bảo các tính năng sau:
(1) Có kích thước phù hợp để làm thức ăn (1 - 15 μm)
(2) Dễ tiêu hóa
(3) Có mức tăng trưởng cao cho phép nuôi sinh khối, chịu được biến động về ánh sáng, nhiệt độ và yêu cầu mức độ về dinh dưỡng vừa phải
(4) Có giá trị dinh dưỡng phù hợp
Việc sử dụng các loài vi tảo, cụ thể là Skeletonema costatum và Chaetoceros spp đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công của ương ấu trùng ăn lọc giai đoạn đầu của tôm he Tuy nhiên, ở ấu trùng mới nở của họ Stenopodidea chỉ có khả
Trang 18năng lọc các hạt nhỏ vi tảo Nếu chỉ cho ăn hoàn toàn vi tảo đã được chứng minh là không cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho ấu trùng Caridea hoàn tất quá trình biến thái [1]
Trong nghiên cứu của Cunha và ctv (2008) đã cho thấy tác dụng của vi tảo đối với ấu trùng tôm bác sĩ Khi cho ấu trùng mới nở sử dụng vi tảo sẽ giúp hệ thống tiêu hóa được cải thiện, kích hoạt enzyme và bổ sung protein [4]
Sự hiện diện của vi tảo trong bể ương có thể điều chỉnh các điều kiện ánh sáng,
và cải thiện hành vi, tập tính bắt mồi của ấu trùng Việc bổ sung các vi tảo vào bể nuôi
có thể có lợi cho việc ương nuôi ấu trùng thông qua việc bài tiết vitamin hoặc các chất kích thích tăng trưởng khác Vi tảo giàu HUFA có thể sử dụng để cải thiện hiệu quả giá trị dinh dưỡng của động vật phù du, nghĩa là cho động vật phù du sử dụng vi tảo trước khi dùng chúng cho ấu trùng trong ương nuôi [1]
Luân trùng
Luân trùng Brachionus là loại thức ăn sống quan trọng cho ương nuôi ấu trùng
giáp xác Nó có kích thước từ 100 – 340 μm Chúng dễ nuôi đạt sinh khối cần thiết, dinh dưỡng cao Chất lượng của luân trùng phụ thuộc vào vấn đề vệ sinh, phương pháp nuôi và thức ăn Các vấn đề phổ biến ảnh hưởng đến việc sản xuất sinh khối luân trùng:
luân trùng: sử dụng vi tảo Nannochloropsis để tăng hàm lượng EPA (20:05 n-3), dùng Isochrysis và Rhodomonas để tăng hàm lượng DHA (C22:6 n-3) Ngoài ra, có thể làm
giàu luân trùng bằng các sản phẩm làm giàu thương mại như DHA protein Selco… Vì luân trùng có thể làm giàu vài giờ đã đạt được lượng dinh dưỡng cần thiết nên được sử dụng phổ biến trong ương nuôi ấu trùng giáp xác
Trang 19Nếu cho ăn chỉ hoàn toàn dựa vào luân trùng là không đủ để thành công trong ương nuôi ấu trùng tôm biển cảnh Tuy nhiên, cho ấu trùng ăn luân trùng từ khi nở đến giai đoạn 3 là rất quan trọng cho việc tăng tỷ lệ sống cho ấu trùng và giúp cho sự biến thái ấu trùng để chuyển giai đoạn một cách dễ dàng [1]
ương nuôi ấu trùng giáp xác Nauplius Artemia có kích thước từ 422-517μm chiều dài,
chúng lột xác chuyển sang giai đoạn sau trong vòng 6 – 8 giờ sau đó Khi ương nuôi
ấu trùng giáp xác, điều quan trọng là cung cấp cho ấu trùng sử dụng nauplius Artemia mới nở, không nên lưu giữ số Artemia còn dư cho lần sử dụng tiếp theo Vì Artemia
lưu giữ lâu trong bể thì mức độ dinh dưỡng thấp đáng kể, thể hiện rõ ở năng lượng và
amino axit amin tự do Trong ương nuôi ấu trùng, khi sử dụng nauplius Artemia lưu
giữ lâu luôn cho tỷ lệ sống thấp hơn Nguyên nhân là do năng lượng hấp thụ mà ấu
trùng nhận được từ quá trình tiêu hóa nauplius Artemia này là rất thấp, không đủ cho
duy trì các hoạt động sống [1]
Giá trị dinh dưỡng của Artemia thay đổi theo vùng địa lý và mùa vụ Tuy nhiên,
nó có thể được cải thiện bằng việc sử dụng các loại vi tảo hoặc các sản phẩm làm giàu
khác để nâng cao dinh dưỡng cho Artemia, cải thiện thức ăn cho ấu trùng Tuy nhiên,
kỹ thuật làm giàu cũng có những hạn chế nhất định, do khả năng chọn lọc của chúng đối với các chất làm giàu, cụ thể là DHA và phospholipids [1]
Việc sử dụng Artemia làm giàu sẽ giúp nâng cao chất lượng của ấu trùng tôm cảnh biển Nhưng nếu sử dụng Artemia không làm giàu thì chi phí cho ương nuôi ấu trùng tôm cảnh biển sẽ giảm đi đáng kể Việc sử dụng Artemia cho ương nuôi ấu trùng
giúp cải thiện tỷ lệ sống và biến thái ấu trùng Nhưng mặt hạn chế của chúng nảy sinh
trong quá trình ấp trứng bào xác và làm giàu chúng Việc sử dụng Artemia thu thập từ
ngoài tự nhiên cũng cần được xem xét kỹ lưỡng, vì chúng có thể mang những mầm bệnh và những sinh vật có hại khác trên lớp vỏ bào xác của chúng
Trang 20Artemia sống là loại thức ăn sống phổ biến trong việc thử nghiệm ương nuôi ấu trùng, chủ yếu là vì giá trị dinh dưỡng cao của chúng Tuy nhiên, Artemia cũng có thể
được cung cấp dưới dạng đông lạnh, đông khô và dưới các dạng thức ăn chế biến khác [1]
Khi sử dụng Artemia, các vi sinh vật có hại phát triển trên lớp vỏ bào xác của
chúng đôi khi gây nên những sự cố, vấn đề đáng kể trong các thử nghiệm ương nuôi ấu trùng Đề xuất giải pháp để giảm thiểu và kiểm soát vi sinh vật trong môi trường bằng
cách khử trùng các trứng nang Artemia, ví dụ như: dùng formaldehyde để khử trùng nauplius Artemia trước khi cho vào hệ thống nuôi
Thức ăn tổng hợp
Thức ăn tổng hợp được sử dụng để thay thế một phần hoặc hoàn toàn cho thức
ăn sống trong ương nuôi ấu trùng Nó làm giảm thiểu chi phí sản xuất và ít biến đổi về giá trị dinh dưỡng như thức ăn sống Có giá thấp hơn so với việc sử dụng nauplius
Artemia hay Artemia làm giàu hoặc luân trùng hay luân trùng làm giàu Sự thành công
của việc sử dụng thức ăn tổng hợp là do khả năng kiểm soát về hình dạng, kích thước,
độ ẩm và chất kết dính của chúng Ấu trùng của L amboinensis dùng phần phụ miệng
để bắt và sử dụng các hạt thức ăn, có thể làm nhỏ chúng thành nhiều phần trước khi chuyển chúng vào đường ruột Chính vì thế đối với tôm cảnh biển thì hình dạng và kích thước của thức ăn là không quan trọng [1] Thức ăn tổng hợp được sản xuất thường có kích thước hạt phù hợp với từng giai đoạn ấu trùng Thức ăn tổng hợp thường có các chất kết dính và các phụ gia khác nhằm kích thích quá trình bắt mồi của
ấu trùng Độ ẩm trong thức ăn tổng hợp cao hơn thì mức độ sử dụng thức ăn của ấu trùng sẽ tốt hơn Trên thực tế có rất ít nghiên cứu nói đến khả năng sử dụng thức ăn của ấu trùng các loài tôm cảnh biển
Việc xác định thành phần dưỡng chất trong thức ăn tổng hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng và tăng khả năng tiêu hóa của ấu trùng giáp xác vẫn còn là nhiệm vụ trọng tâm cho các nhà nghiên cứu [1] Các loài tôm cảnh biển đang dần được nuôi
thương mại hóa, đặc biệt là trong giống Lysmata và Stenopus đang là mối quan tâm
của các nhà nghiên cứu Cho đến khi tạo ra được một công thức thức ăn hiệu quả hơn
Trang 21thì các loại thức ăn công nghiệp hiện có đóng một vai trò quan trọng khi thức ăn sống không đủ cung cấp cho việc ương nuôi ấu trùng tôm cảnh biển
Ấu trùng mới nở sau 2 – 3 giờ ăn sinh vật phù du như tảo, mặc dù nguồn năng lượng dự trữ vẫn đảm bảo cho chúng duy trì sự sinh tồn trong 24 giờ đầu tiên sau khi
nở Trong thực tế các nhà nghiên cứu thấy rằng tỉ lệ sống của ấu trùng cải thiện đáng
kể nếu thức ăn sống được đưa vào những ngày đầu tiên sau khi nở của ấu trùng Trong
ương nuôi, vài tiếng sau khi ấu trùng nở thì ấu trùng ăn Artemia, luân trùng làm giàu
Theo nghiên cứu Rhyne (2002), trong giai đoạn đầu ấu trùng tôm sẽ không ăn các loại thức ăn công nghiệp nếu như trong bể có sẵn thức ăn sống [1]
1.2.3 Nghiên cứu thử nghiệm các loại thức ăn cho ấu trùng tôm cảnh biển
Nghiên cứu của Cunha (2008) đã nhận định việc xác định quá trình ương nuôi phù hợp cho ấu trùng là chìa khóa để cải thiện chất lượng ấu trùng, rút ngắn thời gian
phát triển giai đoạn ấu trùng và giảm chi phí ương nuôi tôm bác sĩ Lysmata amboinensis Cũng trong nghiên cứu này, Cunha (2008) đã thử nghiệm nhiều loại thức
ăn trong quá trình ương nuôi ấu trùng như: vi tảo, luân trùng làm giàu, Artemia…và đã
có nhiều kết quả [4]
Zhang và ctv (1998) đã cho thấy rằng, ấu trùng Lysmata amboinensis có sử
dụng tảo ngay sau khi nở nhưng nếu chỉ ăn tảo sẽ không đảm bảo được hoạt động sống bình thường của ấu trùng [4]
Trong báo cáo của Calado (2007) về thí nghiệm tìm thời gian bỏ đói không hồi
phục của bốn loài tôm thuộc Giống Lysmata (L amboinensis, L boggessi, L debelius,
L seticaudata) đã sử dụng nauplius Artemia làm thức ăn duy nhất trong tất cả đợt thí
xuất giống nhân tạo tôm bác sĩ Lysmata amboinensis
Trang 22Phần 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Địa điểm nghiên cứu: Trại Thực nghiệm Sản xuất Giống Hải sản, Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 20/02/2012 đến ngày 02/06/2012
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: tôm bác sĩ Lysmata amboinensis (De Man, 1888)
2.3 SƠ ĐỒ KHỐI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Xác định thời gian bỏ đói
Thí Nghiệm 1
Thí Nghiệm 4
Thí Nghiệm 5 (2 đợt)
Thử nghiệm ương ấu trùng tôm bác sĩ
Kết luận và đề xuất ý kiến
- Cho ăn lúc 0 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 12 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 24 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 36 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 48 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 60 giờ sau khi nở
- Không cho ăn
- Cho ăn lúc 0 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 6 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 12 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 18 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 24 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 30 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 60 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 72 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 84 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 96 giờ sau khi nở
- Cho ăn lúc 108 giờ sau khi nở
Các nghiệm thức thức ăn:
- Tảo Tetraselmis chuii (Tetra)
- Luân trùng làm giàu (E-Rot)
- Luân trùng làm giàu và Artemia (E-Rot+Art3)
Trang 232.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vì đây là đối tượng nghiên cứu mới nên trước khi thực hiện các thí nghiệm, đã thử nghiệm ương ấu trùng, bước đầu nắm được các đặc điểm cơ bản để ương ấu trùng
đến giai đoạn Z4
2.4.1 Xác định thời gian bỏ đói không hồi phục
2.4.1.1 Điều kiện thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trong các bình nhựa đáy chóp có thể tích 1L, được đặt trong thùng xốp cách nhiệt có thể tích 250L Mỗi bình đều có một vòi sục khí 2.4.1.2 Bố trí thí nghiệm
a Thí nghiệm 1: thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn, với mật độ ban đầu
là 30 ấu trùng/l, thí nghiệm gồm 7 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Các nghiệm thức cụ thể như sau:
Nghiệm thức 1: 0h (cho ăn ngay sau khi ấu trùng vừa nở)
Nghiệm thức 2: 12h (cho ăn sau 12 giờ từ khi ấu trùng nở)
Nghiệm thức 3: 24h (cho ăn sau 24 giờ từ khi ấu trùng nở)
Nghiệm thức 4: 36h (cho ăn sau 36 giờ từ khi ấu trùng nở)
Nghiệm thức 5: 48h (cho ăn sau 48 giờ từ khi ấu trùng nở)
Nghiệm thức 6: 60h (cho ăn sau 60 giờ từ khi ấu trùng nở)
Nghiệm thức 7: K (không cho ăn)
Kết quả thí nghiệm 1 là cơ sở để bố trí tiếp thí nghiệm 2 và thí nghiệm 3
b Thí nghiệm 2: thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn, với mật độ ban đầu
là 20 ấu trùng/l, thí nghiệm gồm 6 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Các nghiệm thức cụ thể như sau:
Nghiệm thức 1: 0h (cho ăn ngay sau khi ấu trùng vừa nở)
Nghiệm thức 2: 6h (cho ăn sau 6 giờ từ khi ấu trùng nở)
Nghiệm thức 3: 12h (cho ăn sau 12 giờ từ khi ấu trùng nở)
Nghiệm thức 4: 18h (cho ăn sau 18 giờ từ khi ấu trùng nở)
Nghiệm thức 5: 24h (cho ăn sau 24 giờ từ khi ấu trùng nở)
Nghiệm thức 6: 30h (cho ăn sau 30 giờ từ khi ấu trùng nở)
Trang 24c Thí nghiệm 3: thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn, với mật độ ban đầu
là 20 ấu trùng/l, thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Các nghiệm thức cụ thể như sau:
Nghiệm thức 1: 60h (cho ăn sau 60 giờ từ khi ấu trùng nở)
Nghiệm thức 2: 72h (cho ăn sau 72 giờ từ khi ấu trùng nở)
Nghiệm thức 3: 84h (cho ăn sau 84 giờ từ khi ấu trùng nở)
Nghiệm thức 4: 96h (cho ăn sau 96 giờ từ khi ấu trùng nở)
Nghiệm thức 5: 108h (cho ăn sau 108 giờ từ khi ấu trùng nở)
2.4.1.3 Thức ăn, chế độ cho ăn và quản lí thí nghiệm
- Thức ăn và chế độ cho ăn: ấu trùng được cho ăn với tảo Tetraselmis chuii và
luân trùng làm giàu Ấu trùng được cho ăn ngày 2 lần, chế độ cho ăn điều chỉnh hợp lý sao cho mật độ luân trùng là 10 con/ml
- Quản lý thí nghiệm: theo dõi các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH và độ
mặn Hàng ngày, lượng nước thay chiếm khoảng 20% thể tích nước trong bình 2.4.1.4 Các thông số được xác định
- Xác định các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, pH và độ mặn
- Tỷ lệ sống của ấu trùng: mỗi giai đoạn của ấu trùng được xác định tỷ lệ sống ở
đầu giai đoạn và cuối giai đoạn thông qua việc đếm trực tiếp ấu trùng Ngoài ra,
ấu trùng trong nghiệm thức không cho ăn còn được xác định tỷ lệ sống theo từng ngày để biết được sự suy giảm ấu trùng khi không cho ăn
+ Đầu giai đoạn: thời điểm sau khi nở đối với Z1, thời điểm sau khi lột xác đối với ấu trùng từ Z2 trở đi
+ Cuối giai đoạn: là thời điểm trước lột xác chuyển sang giai đoạn kế tiếp
- Thời gian chuyển giai đoạn ấu trùng được xác định từ khi xuất hiện giai đoạn
mới
Trang 252.4.2 Thử nghiệm các loại thức ăn cho ấu trùng tôm bác sĩ
2.4.2.1 Điều kiện thí nghiệm
Tương tự thí nghiệm xác định thời gian bỏ đói không hồi phục (mục 2.4.1.1.) 2.4.2.2 Bố trí thí nghiệm
a Thử nghiệm các loại thức ăn (thí nghiệm 4): thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn, với mật độ ban đầu là 20 ấu trùng/l, thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Các nghiệm thức cụ thể như sau:
Nghiệm thức 1: Tetra (cho ăn tảo Tetraselmis chuii)
Nghiệm thức 2: E-Rot (cho ăn luân trùng làm giàu)
Nghiệm thức 3: E-Rot + Art3 (cho ăn luân trùng làm giàu và bổ sung
nauplius Artemia khi ấu trùng đạt giai đoạn 3)
Nghiệm thức 4: TH (cho ăn thức ăn tổng hợp gồm 50% Lansy + 30%
Frippak + 20% tảo khô) Nghiệm thức 5: K (không cho ăn)
b Thử nghiệm kết hợp các loại thức ăn (thí nghiệm 5): được tiến hành 2 lần (2 đợt thí nghiệm)
+ Đợt 1 với mật độ ban đầu là 15 ấu trùng/l + Đợt 2 với mật độ ban đầu là 30 ấu trùng/l Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Các nghiệm thức cụ thể như sau:
Nghiệm thức 1: Tetra + E-Rot (cho ăn luân trùng làm giàu có bổ sung tảo
Tetraselmis chuii)
Nghiệm thức 2: Tetra + E-Rot + Art3 (cho ăn luân trùng làm giàu có bổ
sung tảo T chuii và Artemia bổ sung khi ấu trùng đạt giai đoạn 3)
Nghiệm thức 3: TH (cho ăn thức ăn tổng hợp gồm 50% Lansy + 30%
Frippak + 20% tảo khô) Nghiệm thức 4: TH + Art3 (cho ăn thức ăn tổng hợp gồm 50% Lansy +
30% Frippak + 20% tảo khô và Artemia bổ sung khi ấu trùng đạt
giai đoạn 3)
Trang 262.4.2.3 Thức ăn, chế độ cho ăn và quản lí thí nghiệm
- Thức ăn và chế độ cho ăn:
Bảng 2.1: Chế độ cho ăn của thí nghiệm thức ăn
ăn/ ngày
Liều lượng thức ăn
Giai đoạn cho ăn
đoạn ấu trùng E-Rot - Luân trùng làm giàu 2 10 luân trùng/ml Tất cả giai
Tetra + E-Rot + Art3
Giai đoạn 1 đến giai đoạn 4 Giai đoạn 3 trở đi
TH
- 50% Lansy + 30%
Frippak + 20% tảo khô 4
10mg/l 15mg/l 20mg/l
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3 trở đi
1-2 art/ml 1-2 art/ml
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3 trở đi Giai đoạn 3 trở đi
- Quản lý thí nghiệm: theo dõi các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH và độ
mặn Hàng ngày, lượng nước thay chiếm khoảng 20% thể tích nước trong bình, sau mỗi giai đoạn ấu trùng thì được thay 100% lượng nước Với những bình trong nghiệm thức có cho ăn thức ăn tổng hợp thì được thay hoàn toàn 100% lượng nước
Trang 272.4.3 Thử nghiệm ương ấu trùng tôm bác sĩ
2.4.3.1 Điều kiện ương
Ấu trùng được ương trong bể composite đáy chóp có thể tích 100L, chứa khoảng 30-40 lít nước, mật độ ương khác nhau tùy theo số lượng ấu trùng nở ra, trong khoảng 10-30 ấu trùng/l Mỗi bể ương được lắp đặt một vòi sục khí, điều chỉnh vừa đủ
để ấu trùng được đảo đều trong bể
Bể ương được che phủ tránh ánh nắng chiếu trực tiếp vào bể, tránh trường hợp
ấu trùng tập trung một chỗ và tránh ánh sáng chiếu trực tiếp làm ấu trùng chết
2.4.3.2 Thức ăn, chế độ cho ăn và quản lí bể ương
- Thức ăn và chế độ cho ăn: được điều chỉnh theo bảng 2.2
Đối với ương nuôi ấu trùng thì liều lượng thức ăn và thời gian cho ăn được điều chỉnh mỗi lần cho ăn dựa vào màu nước, sức khỏe ấu trùng và chất lượng của thức ăn Luân trùng được làm giàu bằng DHA Protein Selco (INVE®) với nồng độ là 50 ppm,
thời gian làm giàu là trên 2h Artemia được ấp ngay sau khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn 3, Artemia được ấp 24 giờ, khi thấy trứng bào xác nở dạng bung dù thì tiến hành
lọc, rửa sạch rồi cho ấu trùng ăn Thức ăn tổng hợp được cho ấu trùng ăn vào những lúc thiếu luân trùng, thức ăn tổng hợp được hòa vào nước rồi cho ấu trùng ăn, thức ăn tổng hợp được phối trộn 3 loại theo tỷ lệ sau: Lansy 50% + 30% Frippak + 20% tảo khô
Bảng 2.2: Chế độ cho ăn của thí nghiệm ương
Giai đoạn cho ăn
-Tetraselmis chuii 2 Điều chỉnh Giai đoạn 1 đến giai đoạn 4
-Luân trùng làm giàu 2 10 luân trùng/l Giai đoạn 1 đến giai đoạn 4
Trang 28- Quản lý bể ương:
Do hệ thống sục khí trong trại sản xuất là một hệ thống đồng nhất nên vòi sục khí trong bể ương dễ thay đổi tốc độ sục khí, do đó, phải thường xuyên theo dõi dây dẫn khí trong bể ương để xử lý kịp thời khi có sự cố
Thường xuyên thay nước trong bể ương, định kì mỗi ngày thay 10% lượng nước trong bể, khi dùng thức ăn tổng hợp cho ăn thì thay 30% lượng nước mỗi ngày Cuối mỗi giai đoạn ấu trùng sẽ được cấp thêm nước vào bể để kích thích ấu trùng lột xác và tăng không gian sống cho ấu trùng sau khi lột xác, lượng nước được cấp thêm vào bể ương như sau:
Bảng 2.3: Lượng nước cấp vào trong quá trình ương
2.4.3.3 Các thông số được xác định
- Xác định các thông số môi trường: tương tự (mục 2.4.1.4.)
- Xác định tỷ lệ sống của ấu trùng: tương tự (mục 2.4.1.4.) Số lượng ấu trùng
được xác định bằng phương pháp định lượng thể tích
- Thời gian biến thái ấu trùng: thời gian biến thái của ấu trùng được xác định từ
đầu giai đoạn trước đến đầu giai đoạn kế tiếp
Trang 292.5 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU
2.5.1 Phương pháp xác định các thông số
2.5.1.1 Xác định các yếu tố môi trường
Việc thu thập số liệu các yếu tố môi trường đều dựa trên các thiết bị đo đạc, độ sai số của thiết bị đo đạc là yếu tố hàng đầu cho độ tin cậy của số liệu Thời điểm đo các yếu tố môi trường cũng nói lên tính thiết thực của số liệu thu được
Bảng 2.4 Các dụng cụ và thời gian thu thập số liệu
2.5.1.2 Xác định tỷ lệ sống và thời gian chuyển giai đoạn của ấu trùng
- Tỷ lệ sống theo từng giai đoạn:
Công thức: TLSgđ (%) D1
Trong đó:
TLSgđ là tỷ lệ sống theo từng giai đoạn
D1 là số lượng ấu trùng ở đầu giai đoạn của giai đoạn cần xác định
D2 là số lượng ấu trùng ở đầu giai đoạn trước
- Tỷ lệ sống so với số lượng Z1 ban đầu:
Công thức: TLSsbđ (%) X1
X 2 Trong đó:
TLSsbđ là tỷ lệ sống so với ban đầu
X1 là số lượng ấu trùng Zoea 1 ban đầu
X2 là số lượng ấu trùng ở giai đoạn cần xác định
- Thời gian biến thái ấu trùng: chủ yếu dựa vào sự xuất hiện của xác lột, kiểm tra
về sự thay đổi hình dạng ấu trùng bằng kính hiển vi Thời gian biến thái của ấu trùng được quy ước là thời điểm có khoảng 50% ấu trùng trong lô thí nghiệm lột xác chuyển giai đoạn
Trang 30Công thức: T(h) T1 T2
Trong đó:
T là thời gian biến thái ấu trùng
T1 thời gian chuyển giai đoạn ấu trùng trước
T2 thời gian chuyển giai đoạn ấu trùng sau
Hình 2.2 Ấu trùng Zoea 5 của Lysmata amboinensis
Trang 31Phần 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM BỎ ĐÓI KHÔNG HỒI PHỤC VÀ THỜI ĐIỂM BẮT ĐẦU CHO ĂN THÍCH HỢP
3.1.1 Kết quả thí nghiệm 1
3.1.1.1 Diễn biến yếu tố môi trường
Nhiệt độ: trong quá trình thực hiện thí nghiệm 1, nhiệt độ cao và biến đổi nhiều, nhiệt độ biến thiên trong khoảng 28,24 ± 1,39 oC
Trong thời gian này pH biến thiên không nhiều, luôn nằm ở mức cho phép, pH trong khoảng 8,27 ± 0,09
Độ mặn cũng nằm ở mức ổn định 32,00 ± 0,55 ‰
3.1.1.2 Tỷ lệ sống của ấu trùng:
Tỷ lệ sống của ấu trùng khi không cho ăn được xác định theo các giờ khác nhau (hình 3.1.)
Hình 3.1: Tỷ lệ sống ấu trùng ở nghiệm thức không cho ăn của thí nghiệm 1
Qua đồ thị (hình 3.1) cho thấy, khi ấu trùng không được cho ăn, tỷ lệ sống của
ấu trùng giảm mạnh khi bắt đầu bước sang ngày thứ 3 (67,78% xuống còn 30,00%) Sau đó giảm chậm từ 60-120 giờ (30,00% xuống 17,78%), ấu trùng chết hết trước khi lột xác và không chuyển được giai đoạn Z2 Ấu trùng không được cho ăn, khi sử dụng hết năng lượng noãn hoàng, ấu trùng vẫn không được cung cấp thức ăn Lúc này, ấu trùng không đủ năng lượng cung cấp cho hoạt động sống bình thường Thiếu dinh
Trang 32dưỡng trầm trọng, không đủ năng lượng cho hoạt động sống và đặc biệt là không có năng lượng cho quá trình lột xác dẫn đến ấu trùng chết hoàn toàn Điều đó thể hiện rõ
ở nghiệm thức K (không cho ăn), ấu trùng bị chết ở cuối giai đoạn Z1 và không lột xác chuyển giai đoạn Z2 (hình 3.2)
Kết quả đạt được cũng giống như nghiên cứu của Calado (2007) Khi không
cho ấu trùng tôm bác sĩ ăn, chúng cũng chết trước khi lột xác và không chuyển được
giai đoạn Z2, thời gian sống được 4 ngày [2]
- Tỷ lệ sống của ấu trùng so với giai đoạn ban đầu được trình bày ở hình 3.2
- Tỷ lệ sống của ấu trùng theo giai đoạn được trình bày tại bảng 3.1
Hình 3.2: Tỷ lệ sống của ấu trùng theo số lượng ban đầu trong thí nghiệm 1
Qua đồ thị (hình 3.2) cho thấy, ấu trùng ở các nghiệm thức 24h, 36h, 48h và 60h đều giảm mạnh trong giai đoạn đầu tiên, riêng nghiệm thức 0h và 12h có tỷ lệ sống cao hơn từ giai đoạn Z1 đến đầu Z4, sau đó cũng giảm mạnh và chết ở đầu giai đoạn Z5 Từ đó cho thấy, cung cấp thức ăn trong những giờ đầu tiên sau khi nở là rất quan trọng, ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ sống của ấu trùng
Đầu Z1 Cuối Z1 Đầu Z2 Cuối Z2 Đầu Z3 Cuối Z3 Đầu Z4 Cuối Z4 Đầu Z5 0h 100.00 95.56 76.67 60.00 47.78 45.56 37.78 14.44 0.00 12h 100.00 93.33 82.22 73.33 65.56 53.33 46.67 16.67 0.00 24h 100.00 74.45 61.11 46.67 35.56 18.89 5.55 1.11 0.00 36h 100.00 68.89 53.34 33.33 20.00 8.89 2.22 0.00
Trang 33Nghiệm thức 0h có tỷ lệ sống tới cuối giai đoạn Z1 là cao nhất nhưng từ đầu giai đoạn Z2 tới đầu giai đoạn Z3 tỷ lệ sống đột nhiên giảm mạnh (95,56% xuống 47,78%), sau đó giảm ít trong giai đoạn Z3 và tiếp tục giảm mạnh từ đầu giai đoạn Z4 (37,78%) chết ở đầu giai đoạn Z5
Đối với nghiệm thức 24h, trong 24 giờ đầu tiên, ấu trùng không được tiếp xúc với thức ăn, tỷ lệ sống của ấu trùng giảm mạnh tới cuối giai đoạn Z1 (74,45%) Khi ấu trùng được tiếp xúc với thức ăn thì tỷ lệ sống giảm chậm lại ở đầu giai đoạn Z2 (61,11%) và giảm đều tới đầu giai đoạn Z4 và chết ở đầu giai đoạn Z5
Tỷ lệ sống của ấu trùng ở các nghiệm thức 36h, 48h và 60h cho thấy: ấu trùng tiếp xúc với thức ăn càng chậm thì tỷ lệ sống càng giảm và ấu trùng chết càng sớm, nghiệm thức 36h chết ở cuối Z4, nghiệm thức 48h và 60h chết ở cuối Z3
Từ hình 3.2 có thể nói rằng, ấu trùng được cho ăn ngay sau khi nở đến 12 giờ có
tỷ lệ sống tốt nhất Điều này được làm rõ hơn khi phân tích tỷ lệ sống theo từng giai đoạn (bảng 3.1) và thời gian chuyển giai đoạn (bảng 3.2) của ấu trùng
Bảng 3.1: Tỷ lệ sống của ấu trùng theo giai đoạn của thí nghiệm 1
Nghiêm thức 0h và 24h được xem là giống nhau ở giai đoạn Z1 (67,67% và 61,11%) và giai đoạn Z2 (61,73% và 59,24%) nhưng ở giai đoạn Z3, nghiệm thức 0h
Trang 34(75,25%) được đánh giá tốt hơn nghiệm thức 24h (14,54 %) Vì vậy, ấu trùng có thể được cho ăn ngay sau khi nở đến 12 giờ
Các nghiệm thức còn lại có tỷ lệ sống giảm dần từ giai đoạn Z1 đến Z3, nghiệm
thức 48h và 60h chết ở giai đoạn Z3 Do đó, thời gian cho ăn của ấu trùng L amboinensis không nên vượt quá 12 giờ
3.1.1.3 Thời gian chuyển giai đoạn của ấu trùng:
Bảng 3.2 Thời giai chuyển giai đoạn của ấu trùng trong thí nghiệm 1
Nghiệm thức 0h và 12h có thời gian chuyển giai đoạn ở Z1 là khác nhau có ý nghĩa (P<0,05) nhưng các giai đoạn về sau là sai khác không có ý nghĩa (P>0,05) Qua
đó cho thấy, lúc này, ấu trùng bắt mồi tích cực để bù đắp năng lượng tiêu hao trong 12 giờ qua và tích lũy năng lượng lecithotrophy thứ cấp Khi lột xác chuyển giai đoạn Z2,
ấu trùng đã hồi phục sau thời gian bỏ đói
Ngay sau khi nở, ấu trùng có thể sử dụng thức ăn ngoài vì vậy, nghiệm thức 0h
và 12h có tỷ lệ sống cao hơn các nghiệm thức khác Ở nghiệm thức 0h, ấu trùng được tiếp xúc với thức ăn sớm hơn 12 giờ so với nghiệm thức 12h, có nghĩa ấu trùng ở
Trang 35nghiệm thức 0h được cung cấp năng lượng sớm hơn nghiệm thức 12h thì ấu trùng sẽ
có tỷ lệ sống cao hơn và thời gian chuyển qua giai đoạn mới sẽ sớm hơn Trong thí nghiệm này, ấu trùng ở nghiệm thức 0h có thời gian chuyển giai đoạn là nhanh nhất, nghiệm thức 12h, 24h, 36h, 48h và 60h có thời gian chuyển giai đoạn lần lượt kéo dài
ở giai đoạn Z1 và có khả năng hồi phục lại ở các giai đoạn Z2 và Z3, riêng có nghiệm thức 12h được xem là hồi phục hoàn toàn và được đánh giá là nhanh như nghiệm thức 0h ở giai đoạn Z3, ở các nghiệm thức còn lại vẫn chưa có thời gian chuyển giai đoạn nhanh nhất
Trong thí nghiệm này chưa xác định được thời điểm bỏ đói không hồi phục vì khi bỏ đói 60 giờ sau khi nở (nghiệm thức 60h) ấu trùng vẫn tích trữ được năng lượng
và lột xác chuyển giai đoạn Z2 và Z3 Do đó, thí nghiệm 3 được tiến hành với các nghiệm thức kéo dài thời gian ấu trùng tiếp xúc với thức ăn hơn
Khi ấu trùng tiếp xúc với thức ăn sớm sẽ cho kết quả tốt hơn nhưng ở nghiệm thức 0h có tỷ lệ sống thấp hơn nghiệm thức 12h, đến giai đoạn Z3 ấu trùng 0h mới có
tỷ lệ sống (72,25 ± 21,87%) được xem là cao hơn so với nghiệm thức 12h (69,38 ± 10,61%) Điều này dẫn đến 2 trường hợp cần xem xét
- Một là, do một yếu tố ngẫu nhiên nào đó đã làm sai lệch kết quả trên
- Hai là, trong thời gian đầu đến 12 giờ, ấu trùng có năng lượng dự trữ noãn
hoàng, do đó không cần phải tiếp nhận thức ăn bên ngoài và khi cho thức ăn (luân trùng) vào sớm, luân trùng không được ấu trùng sử dụng mà luân trùng bị bỏ đói trong
12 giờ liền Sau 12 giờ ấu trùng cần bắt thức ăn thì lúc này luân trùng đã bị giảm hàm lượng dinh dưỡng rất nhiều so với nghiệm thức 12h
Từ những vấn đề cần giải quyết như trên, thí nghiệm 2 được tiến hành để giải quyết vấn đề đã đặt ra Trong thí nghiệm 2, ngoài giải quyết thắc mắc nêu trên, còn có hướng tìm hiểu sâu hơn để xem xét cụ thể về thời gian cho ăn trong giai đoạn đầu sau khi nở Thí nghiệm được thực hiện bằng các nghiệm thức chia nhỏ thời gian ấu trùng tiếp xúc với thức ăn Trong thí nghiệm 1 mỗi nghiệm thức cách nhau 12 giờ thì ở thí nghiệm 2 mỗi nghiệm thức cách nhau 6 giờ
Trang 363.1.2 Kết quả thí nghiệm 2
3.1.2.1 Diễn biến yếu tố môi trường
Nhiệt độ: trong quá trình thực hiện thí nghiệm, nhiệt độ nằm ở mức cho phép và không biến đổi nhiều, nhiệt độ biến thiên trong khoảng 27,02 ± 1,08 oC
Trong thời gian này pH biến thiên không nhiều, luôn nằm ở mức cho phép, pH trong khoảng 8,30 ± 0,10
Độ mặn cũng nằm ở mức ổn định 32,73 ± 0,83 ‰
3.1.2.2 Tỷ lệ sống của ấu trùng
- Tỷ lệ sống ấu trùng so với ban đầu của thí nghiệm 2 được trình bày ở dạng đồ
thị (hình 3.3)
- Tỷ lệ sống của ấu trùng theo giai đoạn được trình bày tại bảng 3.3
Hình 3.3: Tỷ lệ sống của ấu trùng theo số lượng ban đầu trong thí nghiệm 2
Với thí nghiệm 2 này có thể khẳng định việc cấp thức ăn càng sớm sẽ tránh được ảnh hưởng tác hại gây ra bởi thời gian bỏ đói kéo dài Ở nghiệm thức 0h có tỷ lệ sống cao nhất trong tất cả các giai đoạn, tỷ lệ sống của ấu trùng giảm tương đối đều, từ
Đầu Z1 Cuối Z1 Đầu Z2 Cuối Z2 Đầu Z3 Cuối Z3 Đầu Z4 Cuối Z4 Đầu Z5 Cuối Z5 0h 100.00 91.67 86.67 75.00 70.00 56.67 43.33 21.67 0.05 0.00 6h 100.00 85.00 81.67 66.67 56.67 38.33 18.33 3.33 0.00
Trang 37cuối Z2 (75,00%) sang đầu Z3 (70,00%) giảm chậm hơn so với các giai đoạn còn lại hơn Kết quả này đã giải quyết được vấn đề trong thí nghiệm 1 Trong thí nghiệm 1, tỷ
lệ sống nghiệm thức 0h thấp hơn nghiệm thức 12h là do yếu tố ngẫu nhiên tác động làm sai lệch kết quả
Trong nghiệm thức 6h, ấu trùng bị bỏ đói 6 giờ chưa tiêu tốn nguồn năng lượng
dự trữ nhiều lắm nên chúng vẫn có thời gian chuyển giai đoạn như bình thường Nhưng chọn lọc tự nhiên là một nguyên tắc bất biến, những cá thể không thích nghi được trong điều kiện thay đổi bất thường sẽ bị loại bỏ, vì thế nghiệm thức 6h có tỷ lệ giảm hơn so với nghiệm thức 0h và càng bỏ đói lâu thì tỷ lệ sống càng giảm cũng như thời gian chuyển giai đoạn càng kéo dài hơn, điều này được chứng minh ở các nghiệm thức 12h, 18h, 24h và 30h Từ kết quả trên cho thấy, cho ấu trùng tiếp xúc với thức ăn sau 6 giờ khi nở không ảnh hưởng nhiều đến năng lượng dinh dưỡng của ấu trùng
Ở nghiệm thức 12h, tỷ lệ sống của ấu trùng giảm không đều ở các giai đoạn Tỷ
lệ sống của ấu trùng giảm nhanh trong giai đoạn sống và giảm chậm hơn khi chuyển qua giai đoạn mới
Các nghiệm thức còn lại đều có tỷ lệ sống giảm khi thời gian bỏ đói kéo dài Điều này là phù hợp với kết quả thí nghiệm 1
Bảng 3.3 Tỷ lệ sống của ấu trùng theo giai đoạn của thí nghiệm 2
Trang 38Các nghiệm thức 6h và 12h được đánh giá là sai khác không có ý nghĩa (P>0,05) ở các giai đoạn, giai đoạn Z1 lần lượt là 81,67 ± 2,89% và 75,00 ± 0,00%, giai đoạn Z2 là 69,36 ± 1.06% và 66,66 ± 11,55%, giai đoạn Z3 là 32,07 ± 8,315 và 24,62 ± 11,15% Số liệu trên đã củng cố kết quả thí nghiệm 1 Khi nở ra, ấu trùng có nguồn năng lượng dự trữ noãn hoàng, chúng có thể sống trong khoảng thời gian thiếu vắng thức ăn, nhưng nếu được cung cấp thức ăn ngay từ đầu và với nguồn năng lượng
dự trữ sẵn có sẽ giúp ấu trùng có tỷ lệ sống cao nhất
3.1.2.3 Thời gian chuyển giai đoạn của ấu trùng
Bảng 3.4 Thời giai chuyển giai đoạn của ấu trùng của thí nghiệm 2
Số liệu được trình bày: trung bình (TB) ± độ lệch chuẩn (SD) Ký tự mũ chữ cái trên
Phân tích thời gian chuyển giai đoạn ấu trùng của thí nghiệm 2 (bảng 3.4) cho thấy, khi cho ấu trùng ăn ngay sau khi nở (nghiệm thức 0h) và sau 6 giờ (nghiệm thức 6h) sẽ cho thời gian lột xác chuyển giai đoạn là như nhau, thời gian chuyển giai đoạn giữa hai nghiệm thức có chênh lệch nhưng không đáng kể, thời gian chuyển giai đoạn Z1 của 0h và 6h lần lượt là 53,67 ± 0,55 giờ và 55,00 ± 1,00 giờ, thời gian chuyển Z2 lần lượt là 60,00 ± 1,73 giờ và 60,33 ± 0,58 giờ, thời gian chuyển Z3 lần lượt là 67,67
± 1,53 giờ và 67,00 ± 1,00 giờ Tuy nghiệm thức 6h có thời gian chuyển giai đoạn tương đương với nghiệm thức 0h nhưng tỷ lệ sống của nghiệm thức 0h cao hơn so với nghiệm thức 6h trong tất cả các giai đoạn
Nghiệm thức 12h cho thấy rằng, khi bỏ đói 12 giờ, ấu trùng đã tiêu tốn khá nhiều năng lượng dự trữ Do đó, chúng cần nhiều thời gian hơn để tích lũy nguồn năng lượng cần thiết cho quá trình sống Ngoài việc giảm sút về tỷ lệ sống, chúng còn có
Trang 39thời gian chuyển giai đoạn chậm hơn ở giai đoạn Z1 (60,67 ± 1,53 giờ) và Z2 (66,00 ± 1,00 giờ) Điều này cho thấy, thời gian bỏ đói kéo dài làm chúng gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình khắc phục điều kiện bất lợi của môi trường, chúng phải mất hai giai đoạn để thực hiện điều đó và đến giai đoạn Z3, chúng mới phục hồi hoàn toàn thông qua thời gian chuyển giai đoạn (68,67 ± 1,15 giờ) được xem là tương đương với các nghiệm thức 0h và 6h
Các nghiệm thức còn lại khi kéo dài thời gian cho ăn, ấu trùng có thời gian chuyển giai đoạn kéo dài hơn Thời gian bỏ đói kéo dài là một bất lợi trong quá trình biến thái ấu trùng của chúng, các nghiệm thức này đều có tỷ lệ sống và thời gian chuyển giai đoạn chậm hơn rất nhiều so với nghiệm thức 0h Ở nghiệm thức 18h, ta có thể thấy ấu trùng ở nghiệm thức này có khả năng hồi phục lại ở giai đoạn Z3 (78,67 ± 1,53 giờ) so với nghiệm thức 0h (67,67 ± 1,53 giờ)
Cả hai giai đoạn Z1 (85,00 ± 1,00 giờ) và Z2 (90,33 ± 1,53 giờ) của nghiệm thức 30h đều có thời gian chuyển giai đoạn là chậm nhất so với các nghiệm thức và được đánh giá là có sự sai khác có ý nghĩa (P<0,05) đối với các nghiệm thức còn lại nghiệm thức này cũng chết ở giai đoạn Z3
Trong thí nghiệm 2 đã cho thấy diễn biến tỷ lệ sống và thời gian chuyển giai đoạn của ấu trùng qua các thời gian bỏ đói khác nhau Bên cạch đó cũng cho thấy được khả năng phục hồi của chúng ở các thời điểm bỏ đói Đây là cơ sở khoa học đóng góp một phần nhỏ vào quy trình sản xuất giống nhân tạo loài có giá trị kinh tế này Thí nghiệm 3 sau đây được tiến hành nhằm tìm khoảng thời gian mà ấu trùng khi được tiếp xúc với thức ăn nhưng không có khả năng hồi phục trở lại
Trang 403.1.3 Kết quả thí nghiệm 3
3.1.3.1 Diễn biến yếu tố môi trường
Nhiệt độ: trong quá trình thực hiện thí nghiệm 1, nhiệt độ rất cao và biến đổi nhiều, nhiệt độ biến thiên trong khoảng 30,75 ± 1,45 oC, do thời tiết nắng nóng kéo dài, tuy có sử dụng các biện pháp ổn nhiệt nhưng vì cơ sở vật chất có giới hạn
Trong thời gian này pH biến thiên không nhiều, luôn nằm ở mức cho phép, pH trong khoảng 8,23 ± 0,05
Độ mặn hơi cao so với các thí nghiệm trước nhưng cũng nằm ở mức ổn cho phép 33,67 ± 0,82 ‰
3.1.3.2 Tỷ lệ sống và thời gian sống của ấu trùng
Tỷ lệ sống của ấu trùng trong thí nghiệm 3 được trình bày trong bảng 3.5
Bảng 3.5: Tỷ lệ sống của ấu trùng trong thí nghiệm 3
Với nghiệm thức 60h, ấu trùng vẫn chuyển được sang giai đoạn Z2 và còn sống
chứng tỏ rằng đây chưa phải là điểm không hồi phục của ấu trùng Lysmata amboinensis, nhưng khi bỏ đói 72h thì ấu trùng lại chết trước khi chuyển giai đoạn Từ
đó, chúng ta có thể nhận định rằng thời gian bỏ đói không hồi phục của ấu trùng
Lysmata amboinensis hơn 60 giờ sau khi nở, với điều kiện thí nghiệm như nhiệt độ
30,75 ± 1,45 oC, độ mặn 33,67 ± 0,82 ‰, pH 8,23 ± 0,05